Xin giới thiệu bài viết của tieungoclang - 1 thành viên của VMH. Bài gốc ở
https://tieungoclang.wordpress.com/2014/06/30/viet-tiep-nhan-ky-niem-45-nam-ngay-con-nguoi-dat-chan-len-mat-trang-vi-sao-nga-that-bai/#more-699Viết tiếp nhân kỷ niệm 45 năm ngày con người đặt chân lên Mặt trăng – Vì sao Nga thất bại
Vì sao người Nga thất bại trong cuộc đua lên mặt trăng
Trong công cụôc chinh phục vũ trụ, người Nga đã luôn là người dẫn đầu cho đến tận cuộc đua đưa người lên mặt trăng. Họ đã từng đi trước với Sputnik, với Laika, Luna và Gagarin, thế mà trên đường lên cung trăng, họ đã thua đau đớn, họ thậm chí chưa từng đưa được người lên đó, dù muộn hơn Mỹ. Và tại sao?
Thật ra chương trình không gian của Nga đã thể hiện tham vọng đưa người lên mặt trăng từ rất sớm với nghị quyết của quốc gia về chương trình không gian ký ngày 31 tháng 1 năm 1956 với các nội dung:
– Đưa vào quỹ đạo các vệ tinh có trọng lượng 1,8-2,5 tấn trong năm 1958 (đây cũng là năm NASA ra đời)
– Đưa phi thuyền có người lái sống trên quỹ đạo 1 tuần vào năm 1964
– Vệ tinh do thám không người lái vào năm 1970
– Tên lửa có khả năng mang theo 12 tấn tải trọng vượt qua quỹ đạo trái đất vào năm 1970
– Tên lửa có khả năng mang theo 100 tấn tải trọng lên quỹ đạo thấp của trái đất và đưa 2-3 người lên mặt trăng (không xác định rõ thời hạn)
Chương trình này được chia cho ba tổng công trình sư nổi tiếng triển khai đó là S.P. Korolev, V.Glushko và V. Chemolei. Và ba ông, về mặt nguyên tắc, là không ưa nhau và không hợp tác với nhau. Khác với Mỹ, Von Braun là người đứng đầu tuyệt đối trong chương trình không gian, còn ở Nga Korolev luôn bị cạnh tranh bởi hai vị kia.
Đến tháng 1 năm 1960, không hài lòng với những mục tiêu đó, ngoài ra, trứơc sự áp sát nhanh chóng của người Mỹ, Korolev đã trình lên Bộ chính trị Liên Xô bảng kế họach mới đầy tham vọng với các mục tiêu kinh khủng:
– Từ năm 1960 – 1963: phát triển hệ thống tên lửa N-1 với tải trọng 40 đến 50 tấn
– Từ năm 1963-1965: phát triển hệ thống N-2 với tải trọng 60 đến 80 tấn
Và với những tên lửa này sẽ triển khai:
– Phóng 3 đến 6 vệ tinh liên lạc địa tĩnh, nặng 2-3 tấn phục vụ công tác thông tin liên lạc tòan cầu
– Trạm không gian trên quỹ đạo 350-400km của trái đất với 3-5 phi hành gia thường trực. Các trạm này có trọng lượng 30-50 tấn
– Phóng tàu chứa 2-3 phi hành gia đến mặt trăng và trở về trái đất, trọng lượng tàu lên mặt trăng từ 10-12 tấn, khoang trở về nặng 2-3 tấn, dùng hệ thống tên lửa N-1
– Dùng N-2 để đưa các tàu liên hành tinh có người lái lên sao Hỏa, sao Kim, tên lửa dự kiến đủ đưa tàu vượt tốc độ vũ trụ 1 (11,2 km/s)…
– Phát triển thành hệ thống tên lửa liên lục địa có tầm bắn từ 3000-12000 km đủ bắn đến mọi điểm trên trái đất và mang theo đầu đạn các loại có trọng lượng 40-100 tấn
– Hình thành lá chắn không gian từ đó có thể chặn, diệt bất kỳ vệ tinh, tên lửa nào phóng đến lãnh thổ Liên Xô
– …
Ông còn đề nghị đựơc thành lập Học viện Nghiên cứu Liên hành tinh trong đề án kể trên. Khi đề án đựơc trình lên Khrushev và Bộ Chính trị LX vào ngày 03/03/1960, dù Khrushev là người hết sức ủng hộ cho các chương trình vũ trụ, nhưng trước một đề án quá tham vọng cùng với việc các nhà khoa học, các tổng công trình sư khác không đồng tình, nên đề án của Korolev đã bị bác. Rút kinh nghiệm từ thất bại này, Korolev đã phải bàn bạc, chia phần và thống nhất với các địch thủ: Chemolei , Glushko và Yangel để cùng xây dựng một đề án mới, và may mắn thay, đề án này đựơc thông qua với cái tên nghị quyết 715-296 ký vào ngày 23/06/1960 v/v ” Sản xuất các hệ thống phóng, phi thuyền cho lực lượng quân sự không gian trong giai đọan 1960-1967″ . Kết quả của nghị quyết này là những sản phẩm mà đến nay vẫn còn sử dụng như hệ thống Vostok (và hậu nhận là Soyuz), Proton.. Và quan trọng nhất, là theo nghị quyết đó, dự án N-1 dành phóng lên mặt trăng đã đựơc thông qua bước đầu (bài sau sẽ viết chi tiết hơn về các hạng mục trong nghị quyết này). Vạn sự khởi đầu nan….
Nhưng mọi rắc rối với chương trình N-1 chưa dừng lại ở đó. Ngay từ đầu nó đã gặp phải vấn đề với việc thiết kế động cơ, phần này lúc đầu đựơc chia cho Glushko làm, bên cạnh mâu thuẩn cá nhân giữa Glushko và Korolev (do Glushko mà Korolev từng bị Stalin cho đi tù) thì còn do Glushko không hòan thành đựơc yêu cầu của Korolev với các dòng động cơ do ông phát triển như RD-108, RD250. Từ đó dẫn đến việc Korolev phải quay sang làm việc với phòng thiết kế của Kuznetsov, hai ông này thì quan hệ với nhau tốt hơn. Ngoài ra, Korolev cũng đụng chạm với Chemolei và tìm mọi cách để đưa mẫu động cơ NK-9 vào thay cho UR500 của Chemolei nhưng không thành công. Dù sao đi nữa thì sau hai năm vận động, nghiên cứu và chiến đấu ác liệt Korolev cũng đã thành công khi Khrushev và chính phủ LX đã ra một nghị quyết cho việc chế tạo vào ngày 24 tháng 9 năm 1962 và qui định chuyến bay đầu tiên sẽ diễn ra trong năm 1965. Sau cùng thì Korolev cũng có được trong tay quyền thực hiện. Nhưng bấy nhiêu chưa đủ, bởi lẽ ông có đựơc quyền chế tạo rocket nhưng lại không có hỗ trợ nào từ phía quân đội cho một thứ gì để chứa lên roket đó phóng đi. Barmin’s GSKB SpetsMash là đơn vị được trao nhiệm vụ thiết kế và xây dựng bệ phóng N-1. Vào tháng 3 năm 1963, công việc thiết kế hệ thống phóng N1đã hoàn tất. Một lễ động thổ đã được tổ chức một năm sau đó và bệ phóng N1 cùng các công trình liên hợp đã đựơc tiến hành xây dựng… (còn tiếp…)