Tàu khu trục lớp Cơ Long có chiều dài 172 m, có lượng choán nước tiêu chuẩn 6.950 tấn và khi đầy tải là 9.574 tấn, thực tế đây là tàu tuần dương chứ không phải khu trục hạm. Mỗi tàu có đội thủy thủ đoàn lên đến 363 người. Tàu Cơ Long là khu trục hạm lớn thứ 4 trên thế giới hiện nay.
Khu trục Cơ Long được trang bị một loạt thiết bị điện tử hiện đại. Đầu tiên là Hệ thống dữ liệu chiến thuật hải quân (NTDS), thông tin từ các thiết bị thu nhận của tàu đều được tập trung vào hệ thống NTDS. Sau đó, NTDS sẽ đánh giá mối đe dọa, ưu tiên mục tiêu, lập kế hoạch và lựa chọn loại vũ khí để tiêu diệt.
Cơ Long (DDG-1801) và Suao (DDG-1802) Các tàu lớp Cơ Long còn được lắp đặt hệ thống tự động tìm kiếm và khoanh vùng khu vực hỏng hóc hoặc tổn thất, tự động đóng cửa và nắp các khoang, khởi động máy bơm nước và hệ thống cứu hỏa tự động. Tàu được thiết kế theo module, giảm thiểu tối đa thời gian sửa chữa và loại trừ các tổn thất trong chiến đấu bằng giải pháp thay thế các block bị phá hủy. Tàu được áp dụng các biện pháp đặc biệt nhằm giảm thiểu trường thủy âm như hệ thống giảm rung thủy lực và các bộ khí tài cách âm, hệ thống Prarie, cung cấp dòng không khí qua các lỗ ở đuôi tàu vào cánh chân vịt và trục chân vịt, hệ thống Masker đẩy các bong bóng nước xuống dưới đáy tàu.
Hệ thống radar trên tàu gồm: radar định vị phát hiện mục tiêu trên không SPS-48E hoạt động trên dải tần sô E và F, tầm hoạt động 410km, độ cao tìm kiếm 30.000m. AN/SPS – 48E cung cấp thông tin cự ly, phương hướng, độ cao mục tiêu; radar định vị nhận dạng và theo dõi mục tiêu Hughes Mk.23; radar định vị phát hiện mục tiêu nổi SPS-55; radar hàng hải Raytheon SPS-64V9; radar định vị điều khiển hỏa lực SPQ-9A và SPG-60; đài thủy âm chủ động, tìm kiếm và điều khiển hỏa lực SQS-53D. Anten sonar của đài SQS-53D được trang bị trong quả cầu giọt nước đáy tàu, anten được tách rời khỏi các khoang trên tàu bằng bộ phận cách âm, giảm tối thiểu nhiễu thủy âm khi sonar hoạt động.
Hệ thống mục tiêu giả, gây nhiễu, cảnh báo sớm sử dụng radar tổ hợp SLQ-32 (V)3 dùng để dò tìm tín hiệu vô tuyến phát từ radar tàu và tên lửa đối phương, đồng thời phát tín hiệu gây nhiễu gây khó khăn cho đối phương trong việc phát hiện và tấn công tàu.
Hệ thống nhử mồi ngư lôi kiểu mảng kéo SLQ-25 Undine bao gồm một số mồi bẫy được kéo bằng dây phía sau tàu. Những mồi bẫy này sẽ có khả năng mô phỏng tiếng động phát ra đúng với tần số của các thiết bị trong tàu như động cơ, buồng máy với cường độ lớn hơn để lôi kéo các loại ngư lôi sử dụng đầu dò sonar thụ động về phía nó thay vì lao về phía tàu chiến.
Hệ thống nhử mồi ngư lôi kiểu mảng kéo SLQ-25 Biến thể nâng cấp AN/SLQ-25B còn có thể thu thập được các tín hiệu thủy âm của ngư lôi sử dụng sonar chủ động, sau đó trả tín hiệu giả về phía ngư lôi khiến nó bắn lệch mục tiêu. Trong khi đó, biến thể nâng cấp mới nhất AN/SLQ-25C có khả năng khuếch đại tín hiệu âm lớn hơn và dây cáp kéo dài hơn (tới 300 mét). Mỗi hệ thống AN/SLQ-25A được bán với giá khoảng 1 triệu USD và mỗi tàu chiến cần từ 1-2 hệ thống này tùy theo lượng giãn nước.
Hệ thống thông tin liên lạc trên tàu được kiểm soát bởi hệ thống NACMAVS. Hệ thống này với sự hỗ trợ của các hệ thống liên lạc vệ tinh, hệ thống liên kết dữ liệu cho phép thực hiện việc kết nối thông tin trên tàu với tốc độ cao. Các thiết bị thông tin liên lạc khác bao gồm các đài radio UHF, VHF và HF.
Tàu khu trục lớp Cơ Long được trang bị các hệ thống vũ khí đa năng cho phép tiến công tiêu diệt mọi mục tiêu trên không và trên biển. Tàu được bố trí hai tổ hợp tên lửa chống ngầm Mk-26 và hai hệ thống phóng tên lửa Mk-141 dành cho 8 tên lửa đối hạm cận âm RGM-84 Harpoon. Do được thiết kế theo phương nằm nghiêng và đặt đối xứng nhau, hệ thống Mk-141 rất cồng kềnh, tốn nhiều diện tích trên tàu. Khi phóng tên lửa, tàu phải xoay ngang làm tăng độ bộc lộ trước đối phương và mỗi lần chỉ phóng được 50% cơ số tên lửa Harpoon mang theo.
Tên lửa hành trình đối hạm tầm ngắn đối hạm RGM-84Tên lửa hành trình đối hạm tầm ngắn đối hạm RGM-84 do tập đoàn Boeing (Mỹ) phát triển. RGM-84 mang nhiều lợi thế của dòng tên lửa cận âm, bay bám mặt biển, khó bị phát hiện. RGM-84 Harpoon có chiều dài 4,64m, đường kính thân 0,34m, trọng lượng khi phóng 682kg. Nó được bắn từ hệ thống ống phóng Mk 131, Mk 10 hoặc Mk 112. RGM-84 trang bị hai động cơ, động cơ rocket nhiên liệu rắn hoạt động trong giai đoạn phóng, khi tên lửa đạt trạng thái ổn định, hết nhiên liệu động cơ sẽ tự tách bỏ. Ở giai đoạn bay chính tên lửa dùng động cơ tuốc bin phản lực cánh quạt đẩy. Hệ thống dẫn đường quán tính (INS) sẽ hướng dẫn tên lửa trong pha giữa, radar chủ động sẽ hoạt động ở pha cuối. RGM-84 lắp đầu đạn thuốc nổ mạnh nặng 222kg, tầm bắn xa 130km.
Tàu khu trục lớp Cơ Long được trang bị hai bệ phóng kiểu Mk26 lắp 2 đạn tên lửa đối không tầm xa RIM-66L (cơ số tên lửa trên tàu lên đến 62 quả). Tên lửa RIM-66L chính là tên lửa chuẩn Standard-2 Medium Range Block IIIA — phiên bản nâng cấp cuối cùng của dòng tên lửa SM-2MR cho tầm bắn đến 170 km, độ cao bay tiêu diệt mục tiêu 24,4km, tốc độ hành trình Mach 3,5. . Đặc điểm của tên lửa phòng không chống tên lửa này là hệ thống tự dẫn hai chế độ: bán chủ động với radar dẫn đạn trên tàu, hoặc chế độ chủ động với đầu đạn tự dẫn hồng ngoại. Nổ phá mảnh bán cầu nhỏ. Mỗi quả tên lửa Standard Missile-2 có giá khoảng 3 triệu USD.
Tàu khu trục Makung (DDG-1805) phóng tên lửa Standard Missile II (SM-2) trong một cuộc tập trận ở vùng biển phía đông năm 2013Tàu được trang bị hai pháo hạm Mk 45 Mod 4 127 mm. Đây là thứ vũ khí rất hữu dụng cho việc chống mục tiêu cỡ nhỏ trên biển, hỗ trợ hỏa lực chiến dịch đổ bộ và thậm chí là cả phòng không tầm thấp. Pháo có thể bắn với tốc độ 16 đến 20 viên một phút trong một phạm vi 24km.
Tàu còn được trang bị 2 hệ thống pháo phòng không tầm gần Mk-15 Phalanx 20mm. Phalanx CIWS là hệ thống vũ khí, bao gồm pháo nhiều nòng Gatling M61A1 Vulcan cùng radar điều khiển hỏa lực nằm trên một bệ xoay. Trong điều kiện chiến đấu, radar của hệ thống Phalanx CIWS sẽ rà soát bầu trời, xác định các mục tiêu và lọc ra mục tiêu nguy hiểm nhất. Sau khi xác định được mục tiêu, radar điều khiển hỏa lực sẽ tính toán chính xác vị trí của địch để pháo 6 nòng Gatling M61A1 Vulcan, với khả năng bắn đạn đường kính 20 mm và tốc độ 4.500 viên/phút, khai hỏa. Ngoài ra, radar của hệ thống Phalanx CIWS còn sở hữu công nghệ chỉ điểm khép kín - với khả năng thực hiện nhiệm vụ tìm kiếm, phát hiện, đánh giá, khóa mục tiêu và đánh giá hiệu quả hoàn toàn tự động - khiến chúng trở nên linh hoạt trong tác chiến. Bên cạnh đó, pháo Gatling M61A1 Vulcan còn có khả năng bắn nhiều loại đạn - bao gồm đạn thông thường, đạn xuyên giáp hay đạn bọc vonfram hoặc uranium nghèo - để tăng uy lực. Khi lọt vào tầm bắn của Phalanx CIWS, mọi mục tiêu - từ máy bay, tên lửa, bom hay đạn pháo - đều không thể thoát. Hoạt động hoàn toàn tự động dưới sự giám sát của con người, Phalanx CIWS có thể tiêu diệt mục tiêu ở khoảng cách 3,6 km. Trong một số điều kiện tác chiến, hệ thống Phalanx CIWS có thể bắn hạ các mục tiêu trên mặt nước, bao gồm các chiến hạm của đối phương. Tuy nhiên, tầm hoạt động cực ngắn khiến hệ thống Phalanx CIWS phát huy hiệu quả cao nhất với các mục tiêu trên không.
Hệ thống pháo phòng không tầm gần Mk-15 Phalanx 20mmTrong tác chiến chống ngầm, tàu được trang bị 2 cụm (3 ống/cụm) ống phóng ngư lôi Mk-32 sử dụng ngư lôi hạng nặng Mk-46 (cơ số ngư lôi trên tàu là 32 quả). Mk-46 là ngư lôi động cơ điện, cỡ đạn 324mm, chiều dài 2,6m, khối lượng 235 kg, đầu đạn 45 kg, tốc độ 43 hải lý/giờ, tầm bắn là 13 km, hoạt động ở độ sâu đến 400 m.
Ngoài ra, tàu còn được lắp đặt một bệ phóng tên lửa Mk 112 tám nòng để bắn tên lửa chống ngầm RUR 5 ASROC.
Ống phóng ngư lôi Mk-32 phóng ngư lôi hạng nặng Mk-46Tàu khu trục lớp Cơ Long được trang bị hệ thống động lực kết hợp tuabin khí COGAG (tức là kiểu hệ thống động cơ kết hợp 2 tuabin khí để quay một chân vịt), 4 động cơ tuabin LM2500 cung cấp lực đẩy cho 2 chân vịt với tổng công suất 100.000 mã lực. 4 động cơ tuabin LM2500 có khả năng từ trạng thái nguội sang trạng thái công suất cực đại trong vòng 15 phút.
Hệ thống động lực này giúp tàu đạt tốc độ tối đa 32 hải lý/giờ, phạm vi hoạt động 6000 hải lý với tốc độ 20 hải lý/giờ.
Đuôi tàu có nhà chứa và sàn đáp cho hai trực thăng săn ngầm S-70B Seahawk. S-70B Seahawk được phát triển bởi hãng Sikorsky (Mỹ). Seahawk được tích hợp radar tìm kiếm, thiết bị thả phao thủy âm, thiết bị dò tìm từ tính (để dò tàu ngầm), bộ phận xử lý tín hiệu thủy âm, thiết bị quan sát hồng ngoại. Nó có thể mang theo ngư lôi chống ngầm hạng nhẹ 324mm EURO Torp A244 hoặc Mk-46, tên lửa chống tàu tầm ngắn Penguin, tên lửa chống tăng Hellfire. Tốc độ tối đa của S-70B là 270km/h và tầm bay của nó là 592km.
Pháo hạm Mk-45 Mod-4 127mm và khu vực nhà chứa trực thăng ở phía đuôi tàu khu trục Suao (DDG-1802)