Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:31:51 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam  (Đọc 121492 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #30 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2013, 10:21:33 pm »

Việc sở chỉ huy Tokyo không chịu điều chỉnh với những gì đang diễn ra không làm George Kennan ngạc nhiên, ông này vừa rời Tokyo sau một chuyến làm việc ngay trước đó, ông rất nghi ngờ chất lượng và năng lực của ban tham mưu MacArthur, đặc biệt là khối tình báo, mà ông cho là vênh vang, quá ý thức hệ và quá tự tin một cách đáng nguy hiểm. Khi ông lưu ý một sỹ quan Không lực cao cấp về điểm yếu địa-chính trị của Triều Tiên một khi các lực lượng trên bộ của Mỹ rút ra, thì viên sỹ quan bảo rằng không cần lực lượng đó bởi máy bay ném bom chiến thuật từ Okinawa sẽ đảm nhiệm được bất kỳ kẻ thù tiềm tàn nào. Kennan đã từng theo dõi người Trung quốc chiến đấu trong cuộc nội chiến, họ dường như trơ trơ trước không lực quân thù, nên không dám khẳng định về việc đó. Trong tháng Năm và tháng Sáu năm 1950, vài người thuộc cục Kế hoạch Chính sách Liên bang của ông, đã bắt đầu nghe phong thanh rằng có điều gì đó rất lớn đang diễn ra trong thế giới cộng sản và rằng một lực lượng quân sự lớn sẽ hành động sớm. Với điểm này, các điệp viên Mỹ cài trong thế giới cộng sản đã xem xét kỹ lưỡng và thống nhất rằng điều đó không phải ở Nga hay các nước chư hầu Đông Âu. Kennan nghĩ, có lẽ, đó là Triều Tiên. Còn giới quân sự thì bảo rằng một cuộc tấn công của cộng sản sẽ “thực nghiệm cho câu hỏi: Lực lượng quân sự Nam Hàn được trang bị và huấn luyện rõ ràng vượt trội so với quân Bắc”.

Khi tin tức từ cụm tình báo Singlaub được tập hợp đưa lên cấp cao hơn, thì nó đã qua bàn tay nhào nặn của Willoughby với nhãn F-6 – các điệp viên không được tin cậy hoàn toàn, và các báo cáo không chắc đúng – tức là mức khả tín thấp nhất. Và rồi khi bộ đội Bắc Triều Tiên (Inmin-gun) tấn công sáng ngày 25 tháng Sáu, họ đã làm cho quân miền Nam và cố vấn Mỹ hoàn toàn bất ngờ. Đó không phải là trận chiến công bằng. Bộ đội Bắc Triều Tiên rất giỏi và trang bị tốt. Nhiều minh chứng cho thấy vũ khí của họ là thứ mới tinh sản xuất ở Nga và được gởi qua chỉ để phục vụ cho trận đánh này. Bộ đội được huấn luyện tốt và vượt trội quân Nam về số lượng, có lẽ là gần 2 trên 1. Đến phân nửa trong số đó đã kinh qua chiến đấu, có khoản 45 ngàn người (đoạn trước  nói 14 k chẳng biết tin vào đâu) Triều Tiên từng tham chiến ở Trung Quốc được chuyển dần từ quân đội nhân dân Trung Hoa về bộ đội Triều Tiên theo sự đồng ý của Mao Trạch Đông. Có nhiều người đã từng chiến đấu hơn một thập kỷ và đã sống sót trong một cuộc chiến mà phía quân thù luôn có vũ khí tối tân hơn. Bộ đội Triều Tiên phản ánh chính xác một ngoại lệ của một xã hội độc tài ở miền bắc: một quân đội kỷ luật, tự chủ, cực kỳ tôn ti trật tự, được tuyên truyền tốt – họ chiến đấu cho một chính quyền có kỷ luật, trật tự và tôn ti cao. Binh lính phần lớn có gốc nông dân và sự bất bình của họ rất thực tế: họ căm thù chống lại cảnh nghèo, chống lại người Nhật đã thống trị họ một cách tàn bạo, chống lại tầng lớp quý tộc Triều Tiên đã hợp tác với người Nhật;  giờ họ được tuyên truyền là chống lại người Mỹ, theo ý họ, vào thay chân người Nhật ở miền Nam.

Tại Seoul, những người Mỹ thuộc các phái bộ chính trị hay cố vấn quân sự có vẻ phản ứng rất chậm, và cũng chậm hiểu sự kiện đang diễn ra rằng đang có hàng trăm ngàn bộ đội Bắc Triều Tiên đang hành động. Cuộc tấn công của quân Bắc bắt đầu lúc 4 giờ sáng ngày Chủ Nhật theo giờ địa phương hay 3 giờ chiều thứ Bảy theo giờ Washington. John Mucio, đại sứ Hoa Kỳ tại Nam Hàn – một cán bộ Bộ Ngoại giao xem ra thật khác thường, nghe về điều đó sau bốn tiếng đồng hồ, lúc đó ông nhận được một cuộc gọi từ một trong những phụ tá cao cấp của mình. Everett Drumwight, tham tán đại sứ nói với Mucio “Xin ngài đừng sốc, quân cộng sản đã tấn công trên toàn tuyến”. Còn Lý Thừa Vãn thì nghe tin đó lúc 6h30, điều này có nghĩa là trong suốt 1 tiếng 30 phút ông ta không chịu báo động với người Mỹ. Sau khi Mucio nói chuyện với Drumwight xong, họ quyết định gặp nhau ở tòa đại sứ. Trên đường đến đó, Mucio gặp Jack James, một phóng viên từ United Press, anh này định làm vài thứ cho xong trước khi đi picnic. Mucio bảo James rằng ông đang kiểm tra lại báo cáo rằng quân miền Bắc tấn công trên toàn biên giới. Khi James đến tòa đại sứ, anh chạy ngay đến gặp một người bạn làm trong bộ phận tình báo quân đội.

- “Cậu có nghe tin gì ở biên giới không?” viên sỹ quan hỏi James

-  “Ơ, chẳng có mấy” James trả lời “Thế cậu nghe được gì?”

-  “Mẹ kiếp, chúng vượt biên giới ở khắp nơi trừ khu vực sư đoàn 8” viên sỹ quan trả lời.


Bản đồ cuộc Nam tiến của bộ đội Inmin-gun 11/1950
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #31 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2013, 10:27:58 pm »

Nghe vậy, James chạy tới một máy điện thoại và điên cuồng gọi và cố ghép các mảnh tin rời rạc lại với nhau. Sau đó một chút, khoản 8h45 sáng, giờ Seoul, một lính thủy cảnh vệ, trung sỹ Paul Dupras hỏi anh việc gì đang sảy ra vậy.

-          “Quân bắc vượt biên giới” anh trả lời.

-          “À, có gì đâu – chuyện thường xuyên mà” Dupras nói.

-          “Đúng, nhưng lần này chúng nó có xe tăng” James trả lời.

James cố thu thập nhiều tin tức hơn, và đến 9h50 sáng, anh gửi đi bảng tin đầu tiên. Anh đã chạy giáp vòng thành phố, khi trở lại tòa đại sứ và nghe một trong các anh bạn ở bộ phận tình báo nói vài điều phải cho Washington biết, anh nghĩ rằng nếu thông tin chừng đó là đủ với họ thì cũng đã đủ với anh. Sau này, anh nói, là anh đã thận trọng, không cường điệu lên, bởi đó là một câu hỏi về chiến tranh và không cần làm nó quá sự thật vốn có, rằng chắc chắn sẽ có nhiều thứ được chi tiết hơn trong vài giờ, vài ngày sau. Dù UP nổi tiếng là kẹt sỉ, nhưng anh vẫn quyết định gửi bản tin theo kiểu điện khẩn. Vì anh nhanh nhạy nhất và bài của anh là bài duy nhất gửi về Mỹ để có trên số báo sáng Chủ Nhật. Nó bắt đầu theo kiểu điện tín thông thường: “UNGENT UNPRESS NEWYORK 25095 JAMES FRAGMENTARY REPORTS EXTHIRTY EIGHT PARALLEL INDICATED NORTH KOREANS LAUNCHED SUNDAY MORNING ATTACKS…”

Tại Washington, có mỗi lúc càng nhiều hơn các báo cáo rời rạc gửi về từ tòa đại sứ. Nhưng chính bản tin của James trên báo United Press đã báo động cho mọi người. Như ở tòa soạn báo UP và rất nhanh là các tòa soạn báo khác, họ bắt đầu gọi lên các quan chức cao cấp để xác nhận thông tin, và rồi những vị đứng đầu chính phủ được cảnh báo một sự thật rằng một cuộc chiến mới và rất không mong đợi đã bắt đầu ở bán đảo Triều Tiên.

 

Khi quân Bắc tấn công, Douglas MacArthur, rất ngạc nhiên là chậm chạp phản ứng. Ông dường như lãnh đạm trước những tin tức đầu tiên của cuộc xâm lược đến nỗi cán bộ quanh ông lấy làm lo. Cũng không có các nhân chứng xác minh tự do, nhóm người này ông xem là kẻ thù bất cộng đái thiên chuyên ngấm ngầm chơi sau lưng ông vì những lý do chính trị cục bộ; trong nhóm đó có cả John Foster Dulles, một nhân vật bảo thủ hạng nhất có liên quan đến bộ máy an ninh quốc gia Hoa Kỳ, một tay Cộng hòa trong ngành ngoại giao, hiện đang làm việc với tư cách cố vấn ở Bộ Ngoại giao; và John Allison một nhân viên cứng rắn của Bộ Ngoại giao, ông này thì đang làm trợ tá cho Dulles trong chuyến công tác đến Seoul và Tokyo

Ngay lúc Dulles và Allison đến Tokyo nhằm thảo luận về vấn đề ký hiệp định hòa bình để chấm dứt sự chiếm đóng của Mỹ tại Nhật Bản, thì miền Bắc (Triều Tiên) tấn công. Chỉ vài hôm trước trận đánh, cả hai ông đó đã đến thăm một boongke của lính miền Nam gần vĩ tuyến 38. Họ còn chụp hình với một đám lính Nam Hàn. Lúc đó Dulles, đội cái mũ mềm trứ danh, trông như kiểu ông đang trên đường tới một buổi họp với các chủ nhà băng ở phố Wall. “Foster leo lên chốt với chiếc mũ mềm trên đầu – đó thật là một bức ảnh rất buồn cười” bộ trưởng ngoại giao Dean Acheson nói, ông này không ưa Dulles vì đã nhăm nhe vị trí của mình hồi mười tám tháng trước, lúc Tom Dewey tham gia chạy đua vào nhà Trắng. Hôm sau, Dulles đã phát biểu trước Quốc Hội Nam Hàn rằng: “Các ngài không đơn độc. Các ngài sẽ không bao giờ đơn độc miễn là các ngài tiếp tục góp phần đáng trọng của mình vào sự nghiệp tự do của nhân loại”. Những dòng trên được viết riêng cho Dulles và cả cho chuyến trở về Washington bởi một người mà vài tháng sắp tới sẽ rất nổi bật như là một nhân vật cứng rắn hàng đầu: Dean Rusk, tân trợ lý ngoại trưởng đặc trách Viễn Đông và Paul Nitze cục trưởng cục Hoạch định Chính sách. Những xúc cảm từ bài hùng biện của Dulles vẫn còn nguyên vẹn đó, nên chẳng có lý do gì để ngờ rằng Nam Hàn trong cơn nguy biến. Chỉ vài hôm trước, Dulles và Allison còn được tướng Willoughby báo cáo, chủ đề là khả năng tấn công từ Bắc Triều Tiên là không bao giờ có.

Lúc Bắc Triều Tiên tiến đánh, Dulles và Allison có cái nhìn cực kỳ thiện cảm về hoạt động của sở chỉ huy MacArthur, một cái nhìn đồng cảm về ý thức hệ, nhưng không là thành viên trong bộ sậu của MacArthur. Lúc đầu, tin tức báo về rất tệ, nhưng MacArthur và bộ tham mưu của mình dường như hờ hững một cách lạ kỳ về nó. Có tin rằng trong đêm Chủ Nhật đầu tiên, ngày 25 tháng 6, MacArthur trông có vẻ rất thoải mái. Những báo cáo đầu tiên, ông nói với Dulles và Allison rất lửng lơ: “Có lẽ đó chỉ là một lực lượng trinh sát. Chỉ cần Washington sẽ không ràng buộc tôi, tôi có thể giải quyết gọn, chấp chúng một tay”. Rồi ông thêm rằng Tổng Thống Lý Thừa Vãn có yêu cầu vài chiếc chiến đấu cơ, và dù ông nghĩ quân Nam Hàn sẽ chẳng sử dụng hợp lý thì ông cũng định gửi cho một ít, để hỗ trợ về mặt tinh thần.

Dulles và Allison nghĩ, dù có vẻ yên tâm bởi sự tự tin toát ra từ MacArthur, thì cũng nên gửi điện cho Acheson và Rusk để trợ giúp khẩn cấp cho Nam Hàn. Dulles và Allison càng nói chuyện với những người ngoài-hệ-thống MacArthur càng nhiều thì họ càng thấy không ổn. Lúc tối muộn của ngày đầu tiên, Allison đi ăn với trung tướng Crump Garvin, tư lệnh cảng Yokohama. Garvin làm ông giật mình khi nói rằng có những báo cáo rất nghiêm trọng từ phòng tình báo tập đoàn quân 8 cho biết dân thường ở gần giới tuyến miền bắc đã bị di dời đi từ hai ba tuần nay, và rằng Bắc Triều Tiên tập trung một số lượng lớn quân ngay trên đường biên. “Ai đọc được những báo cáo này thì cũng hiểu được việc gì sẽ xảy ra, sớm xảy ra. Nhưng tui không hiểu bọn G-2 (*) ở Tokyo đang làm cái giống gì” Garvin nói.

(*)G-2: ban/phòng tình báo.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #32 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2013, 10:36:22 pm »

Sang ngày thứ Hai, khoản cách giữa thực tế chiến trường và thứ mà sở chỉ huy MacArthur nghĩ dường như rộng thêm ra. Đại sứ Muccio, đại diện cao cấp của bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tại Nam Hàn, đã lệnh di tản khẩn cấp phụ nữ và trẻ em Mỹ ra khỏi đất nước này. MacArthur vẫn còn mông muội, cho rằng việc đó là quá sớm. Ông còn khăng khăng bảo: “không có lý do gì làm hoang mang Nam Hàn”. Nhưng tin tức đưa về đều xấu giống nhau. Tối đó, hai vị khách cao cấp đi riêng nhau, Allison thì ăn tối với vài quan chức cao cấp ở Tokyo còn Dulles thì dùng bữa riêng với MacArthur. Bữa tiệc của Allison liên tục bị gián đoạn bởi dòng các phóng viên hạng nhất và các nhà ngoại giao, tất cả đến chỉ để phối kiểm với các nguồn tin mà họ có, với những báo cáo càng lúc càng ảm đạm – rằng Nam Hàn đang bị tràn ngập. Cuối buổi tối, Allison quyết định xác minh lại với Dulles, chắc là ông ta biết nhiều hơn tý từ bữa ăn tối. “Tôi tin là ông nghe được tin xấu từ Triều Tiên”, Allison bắt đầu. Nhưng Dulles chẳng nghe được gì. “Không phải ông ăn tối với tướng quân à?”. Đúng rồi, Dulles trả lời, chỉ hai người, nhưng sau bữa ăn họ đi coi phim, món giải trí ưa thích của vị tướng. Và không ai làm gián đoạn cả buổi tối. Ngay sau đó Dulles lập tức gọi dây nói cho MacArthur và báo lại những thứ nghe được về sự sụp đổ của Nam Hàn.   Viên tướng bảo ông sẽ nghiên cứu. “Đây có lẽ là một trong rất hiếm trường hợp của lịch sử Hoa Kỳ: đại diện Ngoại giao phải báo cho tư lệnh quân sự cao cấp của Mỹ về những gì đang diễn ra trong khu vực sân nhà của ông ta”, sau ngày Allison viết lại như vậy.

Ngày kế tiếp mang lại nhiều dấu hiệu hơn nữa về một thảm họa đang dần mở ra trước mắt họ. Đại sứ Muccio báo cáo rằng Seoul đang di tản, ông ta và Lý Thừa Vãn đang lui về hướng Nam, đến Taejon, bên kia sông Hàn. Ngày hôm đó, theo lịch Allison và Dulles lên máy bay về lại Mỹ. Lúc đang đợi ở phi trường Haneda, một MacArthur hoàn toàn biến đổi gặp họ. Allison sốc trước sự thay đổi này. Con người tự tin tự mãn của hai ngày trước khi nói về một lực lượng trinh sát, rơi đâu mất. Giờ ông ta hoàn toàn thoái chí, như thể đang liệm trong tấm màng đen. MacArthur thông báo “Hàn Quốc thất thủ. Giờ điều duy nhất ta có thể làm là đưa người mình ra khỏi nước đó an toàn.” Sau này Allison viết lại rằng “Tôi chưa bao giờ thấy ai chán nản, tuyệt vọng như tướng MacArthur trong sáng thứ Ba, ngày 27 tháng Sáu năm 1950 đó”.

Hành vi của MacArthur cũng xáo trộn thể hiện trong thời gian delay của chuyến bay vì lý do kỹ thuật. Buổi lễ tiễn cứ phải kéo mãi, kéo mãi, ngay cả khi có tin báo rằng bộ trưởng Quốc Phòng muốn điện đàm với viên tướng lúc 1 giờ chiều, giờ Tokyo. Vào cái thời sơ khai của viễn thông đó, cách thức điện đàm giống như kiểu nói chuyện điện thoại nhưng thông qua một điện báo viên, gõ thông điệp và truyền đi qua lại. Cả Dulles và Allison đều nhận thức được rằng đó là một yêu cầu gặp ngoại lệ và quan trọng, Washington rất cần trao đổi với tư lệnh chiến trường để biết được phương án giải quyết một vấn đề khủng hoảng nghiêm trọng. Để tham gia cuộc điện đàm đó thì MacArthur phải rời phi trường Haneda ngay lập tức. Nhưng trước sự ngạc nhiên của họ, MacArthur khá hời hợt khi nói với sỹ quan trợ tá rằng ông bận tiễn Dulles và Allison, nên Washington có thể trao đổi với tham mưu trưởng của ông. Dulles thất kinh, và ông dùng mánh khóe để MacArthur trở về với công việc: vờ gọi loa thông báo lên máy bay. Chỉ việc này mới khiến MacArthur quay về sở chỉ huy. Ngay sau đó Dulles và đoàn tùy tùng lại quay về lại phòng VIP và đợi thêm vài tiếng. Như sau này Allison được biết, thì trong cuộc điện đàm đó, chính quyền Truman đã quyết định điều động hải quân và không quân đến Triều Tiên. Đó không phải là một sự khởi đầu an ủi.

Với nhiều người, điều này làm nhớ lại sự thiếu chuẩn bị của lực lượng dưới quyền Douglas MacArthur trước cuộc chiến với Nhật Bản, ông đánh giá không đúng mức một cách có hệ thống khả năng của người Nhật trong việc tấn công vào các vị trí của Mỹ ở Thái Bình Dương, và rồi, bởi sự bố trí quân quá thiếu chuẩn bị nên các máy bay ném bom dưới quyền ông ở đảo Wake bị máy bay Nhật hủy diệt ngay trên mặt đất, lúc đó là sau trận Trân Châu Cảng cả chín tiếng đồng hồ. “Không mấy sĩ quan ở quốc gia nào hứng chịu trách nhiệm lớn về sự sụp đổ của quân đội Hoa Kỳ ở Philippin trong năm 1941-1942 mà thoát ra được” sử gia người Anh Max Hasting viết “Và còn ít hơn chối bỏ được sự chỉ huy tồi tệ ở Bataan,  thoát khỏi tòa binh một cách an toàn, mà còn được tuyên rằng  giá trị của ông ta với đất nước mình còn cao hơn biểu tượng hi sinh của những người lính”. Luật lệ áp dụng cho những người khác không bao giờ áp dụng cho DouglasMacArthur.

Hết chương 2
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #33 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2013, 02:14:01 pm »

Chương 3

Khi quân Bắc tổng tấn công qua vĩ tuyến 38, đại tướng Douglas MacArthur đang dồn hết tâm trí vào việc phát triển hệ thống chính trị Nhật Bản, ông đang làm một công việc khác thường nhằm cố gầy dựng một quốc gia chiến bại trở thành một xã hội dân chủ, công bình hơn. Quay trở lại lúc bắt đầu Thế Chiến II, Nhật Bản là một quốc gia pha trộn một cách dị thường giữa nền kinh tế – quân sự hiện đại với thể chế chính trị – xã hội phong kiến. MacArthur đã nỗ lực và có thành tựu lớn lao trong việc tạo lập thế lực cân bằng, cải cách ruộng đất, lập nghiệp đoàn công nhân và quyền bầu cử cho phụ nữ.  Ông ta ban phát cơ hội một cách hoàn hảo – Nhật Bản sau chiến bại ở Thái Bình Dương là một quốc gia dường như Chúa đã từ bỏ, nhưng giờ đã tìm được một vị Chúa mới, một vị Chúa thế tục: MacArthur; người không có gì khác là luôn muốn được thần tượng hóa, và giờ đây ông đã kiếm được một quốc gia hiện hữu sẵn sàng xem ông như một dạng thần linh. Với một người rất vị kỷ và độc đoán từ trong máu, thì sự giao thiệp của ông ta với một quốc gia chiến bại mềm dẻo một cách đáng ngạc nhiên. Ông khôn ngoan chỉ đạo thông qua Nhật hoàng, và như vậy làm gia tăng quyền lực của cả hai. Dù bản chất của ông thuộc nhóm thủ cựu hơn là tự do, ở Mỹ ông nằm trong nhóm những phần tử chính trị thủ cựu nhất, nhưng tại Nhật, đáng ngạc nhiên ông lại là một vị thánh người Mỹ hiện đại, tự do. Trong nước, ông đã và tiếp tục là một nhà chỉ trích cay độc chính sách Kinh tế mới (New Deal) (*), nhưng ở Nhật ông nồng nhiệt tham gia nhóm những nhân vật trẻ, tự do, ủng hộ Kinh tế mới, mang cho họ nền tự do đáng ngạc nhiên trên đất nước chiến bại tan hoang. Họ có được quyền tự do ấy, lãnh tụ của họ Charles Kades (*) tin tưởng như thế, bởi phần nhỏ là vì đó là điều đúng đắn để làm và để tạo dựng một xã hội tốt hơn, ngoài ra phần lớn là bởi nếu nước Nhật được dựng từ một quốc gia cũ kỹ thành một quốc gia hiện đại bao nhiêu thì vai trò của MacArthur trong vai nhà kiến tạo còn lớn bấy nhiêu.

(*) New Deal: Chính sách kinh tế mới dưới thời F.D. Roosevelt, là một tổ hợp các đạo luật kinh tế – xã hội nhằm đưa nước Mỹ thoát khỏi cuộc đại khủng hoảng 1929-1933

(*) Charles Kades là một trong những trợ tá thân cận nhất của MacArthur.


Những đổi thay ở Nhật Bản và bản Hiệp ước Hòa Bình Nhật đã lấy hầu hết thời gian làm việc của MacArthur. Ông chỉ còn để ý tí chút tới những đơn vị Mỹ dưới quyền mình – các lực lượng chiếm đóng – lúc đó lực lượng ấy chỉ còn là cái bóng mờ của đội quân oai hùng  đã chiến thắng quân Nhật trên mặt trận Thái Bình Dương. Họ thiếu sức chiến đấu, trang bị kém và huấn luyện kém, nhưng ông không hề bận tâm. Ông còn ít để tâm hơn với Nam Hàn, vùng đất phía nam của phân nửa cái nước cựu thuộc địa của Nhật Bản, được quân Mỹ và Liên Xô giải phóng và chia cắt từ năm 1945. Người Mỹ xác lập ảnh hưởng lên miền Nam và Liên Xô cũng vậy ở miền Bắc. Nam Hàn không mấy làm ông hứng thú, và ông chỉ đến đó mỗi một lần – rất ngắn- từ khi lập quốc. Ông bỏ qua lời khẩn nài liên tục của tướng John Hodge, tư lệnh quân Mỹ ở Nam Hàn, ông này muốn tổng tư lệnh quân đồng minh (SCAP) – danh xưng chính thức của MacArthur – dành nhiều quan tâm hơn đến đất nước này. Thay vì vậy, MacArthur lệnh cho viên tướng này phải tự quyết nhiều hơn. “Tôi không đủ thông số với những vấn đề địa phương để khuyến nghị anh làm gì, nhưng tôi sẽ ủng hộ mọi quyết sách của anh” MacArthur trả lời như vậy cho một trong số các điện yêu cầu.

Rõ ràng là MacArthur không muốn để ý chút nào đến Triều Tiên trong giai đoạn 1945 – 1950. Có hàng đống điện văn đến bàn làm việc của ông từ tướng Hodge, van xin ông giúp hoặc có chỉ đạo: “Tôi khẩn khoản đề nghị ngài tham gia tích cực vào tình hình khó khăn …”. Faubion Bowers, một sỹ quan phụ tá quan trọng của MacArthur trong giai đoạn đó bởi anh biết tiếng Nhật, nhớ lại rằng tướng Hodge đã tự quyết định bay về Tokyo để gặp MacArthur, ông này phải đợi hàng giờ để gặp, và chỉ được lời khuyên là hãy tự lo. “Tôi sẽ không đặt chân đến Triều Tiên. Đó là việc của Bộ Ngoại Giao”, MacArthur nói với Bowers lúc trên xe trở về nhà. “Họ đã muốn và đã làm điều đó. Họ có quyền. Tôi thì không. Tôi sẽ không dính vào đó. Cái đám ngoại giao khốn nạn đã gây chiến và chúng ta chiến thắng. Tại sao tôi lại nể mặt họ? Tôi sẽ không giúp Hodge. Hãy để chúng tự giúp nhau”. Chuyến thăm duy nhất của ông đến Nam Hàn nhân dịp lễ nhậm chức của tân tổng thống Lý Thừa Vãn, lúc đó ông khá ngẫu nhiên bảo với Lý Thừa Vãn – dù ông chưa có tham khảo ý ai ở Washington về lời hứa này – rằng Hoa Kỳ sẽ bảo vệ Nam Hàn một khi bị tấn công “như thể điều chúng tôi sẽ làm với California”
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #34 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2013, 02:18:50 pm »

Những fan hâm mộ và cán bộ thuộc quyền ông đều đồng lòng mô tả ông là một người cường tráng đầy năng lượng hiếm có ở tuổi bảy mươi. Nhưng với những ai không thuộc nhóm đó thì đều lo ngại về vấn đề tuổi tác và sức khỏe của ông. Từ lúc Nhật Bản thua trận, năm 1945, thì các sỹ quan cao cấp bắt đầu lo lắng về ông.  Tướng Joseph Stilwell, quan sát viên của lễ chấp nhận Nhật Bản đầu hàng trên tàu Missouri trong vịnh Tokyo, tháng 9 – 1945, đã bất ngờ nhận ra từ cú bắt tay tệ hại của MacArthur. Đầu tiên Stilwell nghĩ là do thần kinh kích động, nhưng tướng Walter Krueger, một trong các sỹ quan cao cấp của MacArthur đã xác nhận đó là do bệnh Parkison. Stilwell nghĩ: tệ thật. Còn có những dấu hiệu khác về việc sức khỏe ông  suy giảm. Khả năng chú ý của ông bị hạn chế và thỉnh thoảng lẩn thẩn, ông chậm hiểu ra tính nghiêm trọng của những thách thức mới. Ông cũng bị lãng tai, và một số sỹ quan phụ tá am tường cho rằng ông không muốn họp hành bởi lý do đó. Một số khác thì tin rằng đó là lý do mà khách khứa thường phải chịu nghe ông độc thoại bởi ông không thể nghe người khác nói gì và không bắt kịp những cuộc nói chuyện tay đôi. Dù có già hay không, dù có đủ đáp ứng yêu cầu công việc ở cấp tư lệnh chiến trường hay không, thì ông vẫn là một biểu tượng, một phần thế lực chính trị to lớn. Có nhiều thăng trầm trong cuộc đời binh nghiệp lâu dài và nổi bật của ông, có lúc cực kỳ thông thái, nhưng cũng có lúc tệ hại, rất tự phụ nhưng cũng rất dễ dãi, có nhiều người phải trả giá cho những sai lầm của ông, nhưng riêng cá nhân ông thì đến năm 1950 vẫn là một hình tượng tuyệt vời, một tư lệnh nổi tiếng táo bạo trong thế chiến thứ nhất, một lãnh đạo quân sự tinh khôn trong cuộc chiến với quân Nhật ở Thái Bình Dương trong suốt thế chiến thứ hai với việc sử dụng thận trọng các lực lượng có giới hạn. Và trong thời điểm nổ ra chiến tranh Triều Tiên, là người thi hành một công việc đáng khâm phục : hiện đại hóa nước Nhật.


Tướng Douglas MacArthur

MacArthur không để tâm đến Triều Tiên, thái độ với đất nước bất hạnh kia cũng tiêu biểu cho các đồng chí khác của ông trong nước. Triều Tiên không có bất cứ mối quan hệ nào với tiến trình chính trị lẫn tinh thần người Mỹ. Trong khi Trung quốc có sự quyết rũ lâu dài với người Mỹ, họ tò mò, họ cảm thấy sự thâm sâu của chủ nghĩa gia trưởng trong quan hệ với cái đói cái nghèo của người Trung Hoa. Với Nhật Bản thì khâm phục xen lẫn sợ hãi. Còn Triều Tiên, thì trái lại, không có chút hứng thú hoặc tý quan tâm nào, với người Mỹ. Một nhà truyền giáo tên là Homer Hulbert đã viết về người Triều Tiên như sau vào năm 1906: “dân đó thường dè bỉu nhau và không có mấy hấp dẫn. Họ không so được với người Hoa về số lượng, không bằng được người Nhật về tính dí dỏm. Họ cũng không phải là những thương nhân giỏi, và cũng không là chiến binh tài. Và sắc dân đó còn lâu mới là sắc dân thân thiện nhất ở phương Đông để cùng sống. Nhược điểm của họ trải dài cùng sự dốt nát khắp mọi nơi, và cơ hội cải tiến sẽ mang lại sự thay đổi hoàn cảnh nhanh chóng.” Bốn thập kỷ tiếp theo, sự quan tâm của người Mỹ cũng chẳng tăng được mấy. Người Nga tham chiến ở Thái Bình Dương muộn màng, và khi chiến sự đột ngột chấm dứt sau những tiếng nổ bom nguyên tử, Triều Tiên bị chia đôi ở vĩ tuyến 38, gần như là một việc đã rồi, sự phân chia này gần như rất ngẫu nhiên với lầu Năm góc. Các chỉ huy quân quản đầu tiên của Mỹ đến Triều Tiên tuyệt nhiên không biết chút gì về sự khó chịu của người dân với các ông chủ Nhật, không biết chút gì về sự chiếm đóng tàn bạo của người Nhật ở đây, và lúc đầu còn muốn dùng các lực lượng hiến binh Nhật để giữ trật tự cho người Triều Tiên. Với tướng Hodge, tư lệnh quân quản Mỹ đầu tiên sau chiến tranh, một quân nhân lỗ mãng, chẳng ưa cả người Nhật lẫn người Hàn, với ông thì “chúng tương tự cùng giống mèo như lũ Nhật”. Người Mỹ bắt đầu hiện diện ở Triều Tiên như vậy đó, rất ngẫu hứng và thực vậy bất cẩn; nhưng sự kiện này cũng mang đến một tay chơi mới điều khiển quỹ đạo của một đất nước có vị trí địa chính trị trọng yếu hơn là tài nguyên thiên nhiên vốn bị các cường quốc lân bang nhòm ngó từ nhiều năm nay. Như nhà sử học Bruce Cuming đã chỉ ra rằng: đó là vấn đề mới trong sự cân bằng vốn có, đó là sự xuất hiện của một thế lực mới, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Đó không phải là một vấn đề nhỏ ở những năm sau năm 1945 bởi người Nga đã có mặt, và rồi rất nhanh,  bởi an ninh quốc phòng Nam Hàn dính liền với an ninh quốc phòng Nhật Bản.

Cuộc hôn phối giữa Triều Tiên, mà nói cho chính xác là Nam Hàn với Hoa Kỳ bắt đầu từ năm 1945 dù không mấy quan trọng nhưng là một sản phẩm của Chiến tranh lạnh nên không phải là một chuyện dễ dàng. Nó mang đến một quốc gia phụ thuộc đầy giận dữ với niềm đau còn sót lại sau giai đoạn đô hộ mới vừa kết thúc và đắng cay với việc bị chia đôi bởi tay siêu cường mới nổi mà siêu cường này không chắc muốn làm vai trò của một đế chế. Với người Triều Tiên, việc kết thúc Thế chiến hai và chế độ thực dân Nhật đã không mang lại hơi thở của tự do và cơ hội xây dựng lại đất nước theo ý chí chính trị của họ, dù đây là hi vọng của phần lớn người dân. Việc từ một quốc gia duy nhất trở thành hai nước là một sự bất công, đau buồn trong mắt họ; hơn thế nữa khả năng phát triển đất nước theo  định hướng riêng, theo cách riêng cũng không được chủ động mà một lần nữa rơi vào quyền điều khiển của quốc gia khác. Điều trước tiên người dân miền Nam nghĩ là đất nước họ, hay chính xác hơn là nửa phần đất nước họ hiện bị điều khiển bởi những con người xa lạ sống cách xa hàng ngàn cây số, ở bên kia bờ đại dương rộng lớn và hầu như không quan tâm, không hiểu biết gì cái đất nước mà họ định đoạt số mệnh. Mối quan hệ bắt đầu với sự căng thẳng và thiếu hiểu biết lẫn nhau như vậy đó. Chỉ khi Chiến tranh lạnh gia tăng mức độ mãnh liệt thì mối quan hệ đó mới trở nên chân thật, có giá trị và quan tâm nhau. Nếu không có sự đe dọa của Quốc tế CS, thì nước Mỹ chẳng quan tâm gì đến Triều Tiên; bởi vì mối nguy đó mà người Mỹ sẽ chiến đấu và sẽ chết.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #35 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2013, 02:25:58 pm »

Triều Tiên là đất nước nhỏ bé, kiêu hãnh nhưng bất phước lại nằm cạnh ba cường quốc, lớn, mạnh và rất tham vọng: Trung Quốc, Nhật Bản và Nga. Mỗi quốc gia đó điều muốn dùng Triều tiên như một bàn đạp để tấn công hai nước kia khi cần hoặc làm tuyến phòng thủ từ xa trước cuộc tấn công của hai nước còn lại (nếu có). Rất lâu từ trước năm 1950, các láng giềng ghê gớm của Triều Tiên luôn xâm lược nước này mỗi khi họ tin đó là một biện pháp phòng vệ – một bước đi trước – chống lại các địch thủ kia. Vị trí địa – chính trị bất hạnh này chẳng khác gì vị trí của Ba Lan trong lòng châu Âu, giữa Đức và Nga, vị trí địa lý này góp phần không nhỏ trong số phận đất nước Triều Tiên. Như Lý Thừa Vãn – tổng thống Nam Hàn – luôn thích trích dẫn một câu ngạn ngữ cổ Triều Tiên là : “Một con tôm bị nghiến giữa cuộc chiến của những con cá voi”.

Trong phần lớn giai đoạn lịch sử Triều Tiên, Trung Quốc luôn ảnh hưởng lên nước này nhiều nhất, hơn hẳn các quốc gia thù địch còn lại, nhưng kể từ cuộc chiến Nhật – Trung 1894-1895 Nhật trèo lên thay Trung Quốc, nước Nhật lúc này vừa trải qua công cuộc công nghiệp hóa nhanh chóng kết hợp cùng chủ nghĩa quân phiệt, họ bắt đầu nổi lên thành một thế lực thống trị trong vùng – nỗ lực thành lập một đế quốc Nhật bản mới. Năm 1896, nước Nga – trong cố gắn che đậy sự thối rữa về chính trị – xã hội và kinh tế của mình – đã ký hiệp ước với một Nhật Bản hung hăng hơn về việc phân chia vùng ảnh hưởng ở Triều Tiên (trớ trêu thay) theo vĩ tuyến 38. Nếu Nga lúc đó là một quốc gia bề ngoài trông mạnh hơn thực tế, thì Nhật lại ngược lại. Do đó, hiệp ước đó chỉ là một giải pháp tình thế.

Tháng Hai năm 1904, Nhật tấn công hạm đội Nga, và trên thực tế là đã hủy diệt hạm đội này sau trận eo Đối Mã; trận này diễn ra sau khi Nhật nện những đòn mãnh liệt lên quân Nga ở Thái Bình Dương và vùng Mãn Châu Lý. Người Nhật sau đó biện minh cho việc tấn công các lực lượng Nga ở Viễn Đông là do mối nguy từ vùng Triều Tiên do Nga kiểm soát gây ra.  Rikitaro Fujisawa, một chính trị gia nổi bật của Nhật nói rằng: Nhật phải tấn công Nga bởi: “Vị trí Triều Tiên là một con dao găm, trỏ thẳng vào trái tim Nhật”, câu này cũng được lập lại gần nửa thế kỷ sau bởi hầu hết các quan chức an ninh quốc gia cao cấp Mỹ. Rikitaro còn thêm rằng: “Triều Tiên trong vòng kiềm tỏa của Nga, hoặc chỉ cần Triều Tiên yếu kém thì sẽ thành một miếng mồi ngon cho con đại bàng Nga thì lúc đó số phận của Nhật Bản sẽ nằm trong tay “Gã khổng lồ phương Bắc” vô đạo đức. Nhật Bản không thể chấp nhận số phận đó. Cuộc chiến Nga – Nhật không chỉ là một chiến phòng vệ mà sự đấu tranh của Nhật còn là vì sự tồn tại và độc lập của đất nước. Điều này quá rõ ràng không cần minh xác hay giải thích”. Đó là cách hay nhất để thanh minh cho một cuộc chiến gây hấn – người Triều Tiên, chứ không phải quỷ dữ, buộc họ làm điều đó.

Dường như một phần trong định mệnh quốc gia Triều Tiên là việc không được nói nhiều về tương lai của chính mình. Trung gian hòa giải cho cuộc chiến Nga – Nhật không phải là người Triều Tiên mà chính là tổng thống Mỹ, Theodore Roosevelt, và ông đã có được giải Nobel hòa bình vì nỗ lực này, nhưng nỗ lực này chẳng có tý gì tốt đẹp cho người Triều Tiên. Roosevelt đại biểu cho một nước Mỹ mới, mạnh mẽ hơn và bắt đầu chứng tỏ mình là một xung lực đế quốc tiềm ẩn. Ông là người ủng hộ nhiệt tình của cuộc chiến Mỹ – Tây Ban Nha 1898 mà kết quả là Philippines thành thuộc địa Mỹ. Ông là người đàn ông đích thực trong thời đại đó: ông tin tưởng và thực tế đã phổ cập quan điểm rằng trách nhiệm của người da trắng, mạnh mẽ, tin cậy và xứng đáng cai trị thế giới không-phải-da-trắng không đáng tin và ít phẩm giá. Song song với đó, nghĩa vụ của phần thế giới không-da-trắng là phải chịu sự cai trị. Một quốc gia mà ông miễn trừ trong góc nhìn của mình với các nước châu Á và các dân tộc bản chất thấp kém hơn, đó chính là nước Nhật. “Người Nhật hấp dẫn tôi và tôi thích họ” ông viết cho bạn mình như vậy. Nhìn chung, trừ màu da, thể hình và kiểu mắt thì họ nguy hiểm như người Anglo-Saxon – chăm làm việc, kỷ luật, có tổ chức, mạnh mẽ theo cách của họ và xốc vác.

Một vài hình ảnh Triều Tiên đầu thế kỷ 20 (xem chú thích bằng tiếng Anh trực tiếp trên ảnh)







Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #36 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2013, 02:32:37 pm »

Roosevelt ấn tượng tốt với Nhật vì đó là một quốc gia năng động mà ông hâm mộ “có quyền đứng hoàn toàn ngang hàng với tất cả các dân tộc khác của thế giới văn minh”. Tất cả những điều này đưa Triều Tiên, như theo cách nói của Robert Myers – một nhà văn cựu sỹ quan tình báo rất thành thạo Triều Tiên, là: “ở vị trí không khác gì một con bê mới sinh, bất khả tự vệ trước con sói đế quốc Nhật”. Quốc gia duy nhất có thể tạo nên sự khác biệt đó là Mỹ thì ở rất xa. Thực tế là từ năm 1882 vương quốc Triều Tiên đã ký hiệp ước với Hoa Kỳ (và vài quốc gia Âu Châu khác) về việc hỗ trợ bảo vệ Triều Tiên khi bị tấn công. Vấn đề trợ giúp này hoàn toàn mang tính lý thuyết: Triều tiên ở quá xa; còn hải quân Mỹ trong giai đoạn chiến tranh Nga – Nhật thì nhỏ bé một cách đáng buồn; và dù sao đi nữa thì Teddy Roosevelt cũng có các ưu tiên khác ở Á Châu hơn, Triều Tiên không nằm trong số đó. Hoa Kỳ không lưu tâm đến việc giúp Triều Tiên mà dành điều đó cho Phillipines thuộc địa mới của mình. Và với việc lờ đi hiệp ước của người Mỹ, Nhật bản được phép điều khiển Triều Tiên chặt chẽ hơn dưới danh hiệu “chính phủ bảo hộ” sau cuộc chiến Nga – Nhật, rồi đến năm 1910, sáp nhập một cách trơ tráo, công khai thành một thuộc địa hoàn toàn của Nhật.

Bởi tiếng Anh lưu loát, nên thanh niên Lý Thừa Vãn được chọn trong số các đồng bào tham gia chuyến viếng thăm Theodore Roosevelt vào mùa hè 1905, khi vị tổng thống này đang làm nhiệm vụ trung gian cho hòa ước Nga – Nhật. Họ Lý xin Roosevelt giúp để Nhật bản không đô hộ nước ông. Theo nhà báo – sử gia Joseph Goulden, thì Roosevelt đã nói với họ Lý theo kiểu: “lịch thiệp nhưng rõ ràng nước đôi”. Roosevelt thừa hiểu các thành phần ủng hộ Nhật bản trong sứ quán Triều Tiên tại Washington cũng sẽ không giúp gì cho họ Lý; và ông cũng không thèm báo, ngay trong khi họ đang trao đổi, thì Ngoại trưởng Mỹ William Howard Taft trên đường tới Tokyo để thống nhất một hiệp định bí mật dành quyền cho người Nhật ở Mãn Châu Lý và Triều Tiên, đổi lại người Nhật sẽ để Mỹ hoàn toàn tự do ở Phillipines. Không có gì ngạc nhiên khi Lý Thừa Vãn trở nên quá kích động và hay ngờ vực, trong mắt những đồng minh người Mỹ của ông. Nước Mỹ đã phản bội ông nhiều hơn một lần và dối ông một cách có hệ thống. Rốt cuộc thì người Nhật – đổi tên Korea thành Chosen (*) – cũng bắt đầu một giai đoạn thực dân đô hộ tàn bạo gần bốn mươi năm. Còn Hoa kỳ, theo hồi ký của Roosevelt, không thể làm gì “cho người Triều Tiên thứ mà họ hoàn toàn không thể tự làm”. Chế độ thực dân Nhật ở Triều Tiên là một trong các chế độ tàn bạo một cách bất thường, nhưng nó không được mấy chú ý bên ngoài biên giới nước này.


Cụ Lý Thừa Vãn


Cụ Woodrow Wilson

Bản thân Lý Thừa Vãn sống ở Mỹ, và có được sự giáo dục rất tốt so với người Triều Tiên cùng thế hệ, ông có nằm trong nhóm người Triều Tiên được tin cậy và có một số quan hệ với vài nhân vật ở Mỹ, những nhân vật này có mối liên quan thông qua tôn giáo, để từ đó tiếp cận đến các chính khách có ảnh hưởng. Những mối quan hệ này giúp Lý Thừa Vãn có cơ hội gặp gỡ và đưa ra vấn đề độc lập cho nước ông, nhưng ông vẫn luôn cảm thấy ảnh hưởng thực tế là không cao. Ông tốt nghiệp trường Princeton, bằng tiến sỹ khoa học chính trị và được ngài Woodrow Wilson yêu quí (**). Họ Lý là một thành viên có mặt thường xuyên trong các buổi tụ tập thân mật do nhà Wilson tổ chức, họ vây quanh gia đình Wilson, đánh piano và hát hò. Lý Thừa Vãn không hát, nhưng ông thích cái không khí ấm áp không nghi thức của buổi ăn tối kiểu Mỹ, còn ngài Wilson thì vừa thích vừa khen họ Lý và giới thiệu ông với những người chưa quen với tư cách là “nhân vật cứu rỗi cho nền độc lập Triều tiên trong tương lai”

Nhưng một Wilson chủ tịch trường Princeton và một Wilson tổng thống Mỹ vài năm sau đó, người trên thực tế đưa Hoa Kỳ tham chiến ở Thế Chiến thứ nhất, là hai người rất khác nhau. Trong hội nghị hòa bình hậu chiến ở Paris , nơi ngài Wilson đã hi vọng tạo lập một trật tự thế giới mới, các nước bàn về vài vấn đề trong đó có quyền tự quyết cho các quốc gia bị đô hộ. Không ai quan tâm đến vấn đề này hơn kẻ được bảo trợ, người bạn nhỏ của Wilson: Lý Thừa Vãn, cơ hội tốt nhất cho việc đòi lại tự do của tổ quốc được nằm trong tay của người thầy thông thái, người dường như đã ngầm phong cho ông là lãnh tụ của một Triều Tiên mới, một Triều Tiên độc lập. Với họ Lý đây là thời khắc mà ông mong đợi. Ông mong được rời Mỹ để đến Paris, để thay mặt cho nhân dân cả nước đến vận động người bạn vĩ đại nhất, trước mắt là nới lỏng bớt vòng kim cô của người Nhật. Nhưng Wilson không hề muốn ông ta có mặt ở Paris. Vị Tổng thống, thật vậy , cần  Nhật Bản ở vai trò cường quốc khu vực châu Á, ngoài ra, người Nhật cũng đã chọn đúng phe trong suốt Thế Chiến, và giờ đây cũng là một quốc gia thắng trận trong khối đồng minh, đang sẵn sàng cho việc thừa kế các quyền lợi của nước Đức ở Trung Quốc. Lúc đó Lý Thừa Vãn đã học được điều luật đầu tiên của thế chiến: các nước phe thắng trận sẽ giữ lại các thuộc địa. Và BỘ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã không cấp chiếu khán (passport) cho Lý Thừa Vãn.

(*) Chosen là cách phát âm theo tiếng Nhật của Joseon (âm Hán – Việt là Triều Tiên mà tôi sử dụng dịch thống nhất cho từ Korea trong loạt bài này), còn tại thời điểm bị Nhật đổi tên, thì danh xưng chính thức là Daehan Jeguk – Đại Hàn Đế quốc – do vua Gojong (Cao Tông) đặt từ 1897. Nhìn chung trong lịch sử Korea có 3 tên chủ yếu là: Joseon (Triều Tiên) được dùng dài nhất , rồi đến Goryo (Cao Ly) và Deahan (Đại Hàn) hay Hanguk (Hàn quốc do viết tắt từ Daehan minguk – Đại Hàn Dân quốc)

(**) Woodrow Wilson là tổng thống thứ 28 của Hoa Kỳ và là cựu chủ tịch trường Princeton

Lưu ý: các giải thích (*) là do người dịch tự chú giải, không phải nguyên bản trong sách, nếu có sai sót xin các bạn hiệu đính.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #37 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2013, 02:36:46 pm »

Nhưng tại thời điểm tháng 6 năm 1950, thực tế trớ trêu là Mỹ khi ấy lại sẵn sàng chiến đấu và hi sinh vì Triều Tiên. Với Hoa Kỳ, Triều Tiên có giá không vì tự thân nước này như thế, mà bởi Hoa Kỳ lo lắng cho quốc gia láng giềng – kẻ đàn áp Triều Tiên một thời gian dài: Nhật Bản – nếu Mỹ không can thiệp và đáp trả sự khiêu khích từ phe cộng sản. Những khúc quanh của chặng đường lịch sử thật quái dị, Nhật giờ lại hóa ra là bạn hữu, còn Trung Hoa – một đồng minh dũng cảm lại đang trở thành kẻ thù.

Thời kỳ thực dân lâu dài của Nhật Bản đã mang lại hậu quả nặng nề với người Triều Tiên. Nó hủy diệt khả năng tiến hóa của nền chính trị xã hội cũng như công cuộc hiện đại hóa ở đất nước này – không chỉ bởi sự tàn bạo và áp bức tuyệt đối của cảnh binh Nhật mà còn bởi thực tế là phần lớn những chính trị gia tài năng đã bị bắt, bị giết; trong khi những người khác như Lý Thừa Vãn và đối thủ tương lai Kim Nhật Thành phải đi sống lưu vong. Một số người miền Nam còn bị tha hóa bởi việc hợp tác với kẻ địch Nhật Bản. Trong suốt thế chiến 2, như Robert Myers đã chỉ ra, nhân dân các quốc gia tạm chiến ở châu Âu luôn hi vọng rằng sẽ sớm có trợ giúp, rằng các quốc gia đồng minh hùng cường rồi cũng sẽ tập hợp lại với nhau để đánh đuổi và kết thúc sự chiếm đóng của Đức trên quê hương mình. Còn với người Triều Tiên thì không hề có hi vọng như thế. Mười năm, hai mươi năm, hai nhăm năm trôi qua, nhưng không hề có một lực lượng từ quốc gia nào đến để cứu dân tộc Triều Tiên khốn khó, nô dịch, để đuổi quân Nhật ra khỏi đất đai của họ.


Hình cụ và hình phạt thời kỳ đầu thế kỷ XX ở Triều Tiên



Chỉ đến tháng Mười hai năm 1941, khi Nhật Bản mưu mẹo tấn công các vị trí của Mỹ, Anh,  Hà Lan ở khu vực Nam Á và Đông Nam Á thì mới có hi vọng le lói nhưng mỏng manh, bởi lúc đầu người Nhật chiến thắng phần lớn trận đánh trong chiến cuộc Thái Bình Dương còn khi ngọn triều đổi hướng thì chẳng có mấy chút thông tin lọt qua lưới kiểm duyệt đến với người dân Triều Tiên. Đồng minh phương Tây đến, nếu không vì Triều Tiên thì cũng vì lý do riêng, và thành công của họ báo hiệu cho sự sụp đổ của Nhật Bản. Nhưng vào năm 1945, chủ nghĩa yếm thế – sản phẩm của thời kỳ chiếm đóng – bộc lộ ra: nhiều người ở tầng lớp trung lưu và thượng lưu lại thích nghi theo các mức độ khác nhau với bọn thực dân, chấp nhận luật lệ của người Nhật và trở thành một phần trong cấu trúc quyền lực của Nhật Bản dù không có mấy quyền hành và thỏa hiệp hoàn toàn. Một số người Triều Tiên còn bắt đầu trông mong vào Nhật Bản, dù có bất nhẫn, thì đó cũng là dân Châu Á đầu tiên đánh bại được những ông chủ da trắng trên hầu hết đất Châu Á.

Năm 1945, Triều Tiên hầu như là một quốc gia không có thể chế chính trị, và không có lãnh đạo bản địa. Miền Bắc, khi Hồng quân Liên Xô quét vào, thì các cơ quan nhà nước từ cao tới thấp ngay lập tức được người Nga áp vào ngay cùng với một nhà lãnh đạo mới: Kim Nhật Thành. Còn miền Nam, Lý Thừa Vãn, người phần lớn cuộc đời sống lưu vong ngoài nước, là ứng viên của người Mỹ, dù có thích hay không. Lúc đó ông ta đã bảy mươi tuổi, khắc nghiệt, tự kỷ, không kiên định, cực kỳ yêu nước, cực kỳ chống cộng và không thiếu tính độc đoán; ông là một người dân chủ cực kỳ tới mức ông hoàn toàn điều khiển toàn bộ thể chế dân chủ của đất nước mà không ai khác được phép thách thức ý định của mình J. Ông thật sự là thứ được Nhật và Mỹ nhào nặn ra qua những lần bị phản bội, tù đày, lưu vong chính trị, vì những lần thất hứa, những thay đổi nhẫn tâm. Ông là một hình mẫu do một giai đoạn lịch sử khắc nghiệt của đất nước ông tạo ra, còn chính trị gia trẻ đầy tham vọng Kim Nhật Thành cũng là sản phẩm tương tự của bi kịch đó, chẳng qua là theo một lối rất khác.

Lý Thừa Vãn là một tù nhân chính trị khi còn rất trẻ và vừa may thoát án tử hình; thực tế là ông có bằng đại học Harvard và bằng tiến sỹ Princeton, nhưng cuộc đời ông đầy gian khổ và thất vọng tương đồng với những gian khổ và thất vọng của đất nước ông. Tình trạng vô năng của ông lúc lưu vong chẳng khác gì của đất nước, một quốc gia mồ côi trong mắt các cường quốc. Sau khi nhận bằng tiến sỹ, ông trở về Triều Tiên trong một thời gian ngắn, rồi quay lại Hoa Kỳ sống tiếp 35 năm nữa. Ông trở thành một người chuyên đi van xin trong tình trạng không khả quan mấy, ông liên tục vận động cho một Triều Tiên tự do thoát khỏi cảnh lệ thuộc thực dân do chính ông đứng đầu. Nếu ông là một kiểu người theo chủ nghĩa dân tộc nồng nhiệt nhất, thì chính ông cũng là một nhà tổ chức khắc nghiệt nhất: khi lấy được quyền lực, thành công của ông xác nhận cho sự độc tưởng.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #38 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2013, 02:40:43 pm »

Khi chiến tranh Thái Bình Dương kết thúc trong năm 1945, Lý Thừa Vãn có trong tay con bài tẩy để chơi, ông đã đợi điều này trong ba thập kỷ ròng – đó chính là sự hỗ trợ của Hoa Kỳ. Với một số người Mỹ chịu trách nhiệm tính toán cho Triều Tiên thời hậu chiến mà không có hiểu nhiều về tình trạng của nước đó, thì Lý Thừa Vãn, với thời gian dài lâu sống ở Mỹ và nhiều năm vận động, nổi lên thành ứng cử viên Triều Tiên duy nhất trong lòng người Mỹ. Ngoài ra, ông được ủng hộ bởi có mối liên hệ lâu dài với những người quốc gia Trung quốc (Trung Hoa dân quốc) vốn có quan hệ tốt một cách khác thường với Washington. Ở Triều Tiên, cũng như Trung Quốc, người được [Mỹ] chọn cho vị trí lãnh đạo phải vừa là người theo chủ nghĩa quốc gia và vừa là người Thiên chúa; điều này hợp với các tiêu chuẩn tôn giáo và chính trị của phương Tây.

Có Tưởng Giới Thạch chống lưng thì cũng giống như có hộ chiếu bước vào vòng ảnh hưởng của Washington. Thực tế là Lý Thừa Vãn trở nên hữu danh, dù tốt hay xấu, cả từ  những người ngưỡng mộ họ Tưởng lẫn những người ghét ông, như Tưởng thiếu gia. Không như Tưởng Giới Thạch, ông là một người Thiên Chúa mộ đạo. Trên một đất nước đa số không theo Công giáo, ông là một người Thiên chúa giáo, tín ngưỡng này mang lại nhiều cơ hội cho ông. Với những người Mỹ ủng hộ ông từ những năm đầu, thì niềm tin tôn giáo này rất phù hợp. Trong những năm trước chiến tranh Triều Tiên, khi có một nhà ngoại giao Mỹ nhận xét không tốt về Tưởng Giới Thạch lẫn Lý Thừa Vãn, thì nhân vật đầy ảnh hưởng John Foster Dulles, sau này là ngoại trưởng dưới thời Dwight D. Eisenhower đã trả lời rằng: “Tôi nói cho anh điều này. Bất kể anh nói gì về họ, thì hai ông đó trong thời buổi này có giá trị tương đương với những người sáng lập nhà thờ. Họ là những quý ông giáo dân hiến mình cho đức tin”.

Chính Tưởng Giới Thạch đã lưu ý với Lý Thừa Vãn về Douglas MacArthur, nên khi họ Lý quay về Hàn quốc để nắm quyền tổng thống, ông đã đi bằng máy bay của MacArthur, mà đây chính là một thông điệp chính trị. Dường như người Mỹ đã có người của họ, hay có lẽ chính xác hơn là người của họ đã có được người Mỹ. Roger Makim một nhà ngoại giao cao cấp Anh quen thuộc Mỹ, tin rằng trong giai đoạn đó, Mỹ cho thấy hình ảnh một quốc gia biệt lập giờ lại bung ra một cách không sẵn sàng trong vai trò mới, một cường quốc, một cực của thế giới, luôn thể hiện xu hướng mời gọi một cá nhân – một vài người họ cảm thấy phù hợp”. Chọn họ Lý, Makim tin rằng, phản ánh một sự thật là: “Người Mỹ luôn thích ý tưởng làm việc với một nhà lãnh đạo nước ngoài được xác định là người-phe-mình. Họ không thấy thoải mái với việc vận động”. Tuy vậy, sự thoải mái đó không có được với Lý Thừa Vãn bởi những người Mỹ ở Triều Tiên, những người thực tế giao dịch công việc hằng ngày với ông ta, họ ghê tởm ông. Tướng John Hodge, tư lệnh quân Mỹ ở Hàn quốc, một quân nhân cục súc và không biết ngoại giao, ghét Lý Thừa Vãn. Theo nhà sử học quân sự Clay Blair thì ông nghĩ về họ Lý là “xảo quyệt, không kiên định, tàn ác, tham nhũng và hoang dại không lường trước được”.

Hết chương 3
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #39 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2013, 04:36:20 pm »

Chương 4

Ở miền Bắc, Kim Nhật Thành được đưa lên trong trạng thái tốt hơn và có tầm nhìn xa hơn của Liên Xô, họ vốn đã để ý đến Triều Tiên một thời gian dài hơn. Ông về nước lúc cuối thế chiến hai theo mệnh lệnh của Stalin, cùng với sức mạnh tuyệt đối của Hồng quân vào chiếm đóng. Bởi vậy, nên ngay từ đầu ông đã triển khai theo hệ thống cứng rắn của Liên Xô, và quanh ông là các chuyên gia, cố vấn Nga. Đến mùa xuân 1950, Kim Nhật Thành đã nắm quyền lực được 5 năm, và, ít ra trong số hai kẻ đối địch, thì ông được thúc đẩy nhiều hơn trong việc có được quyền xâm lược miền Nam. Ông ta hứa với người Nga rằng, cuộc tiến công sẽ được hỗ trợ vì nhân dân miền Nam sẽ đồng khởi. Hai trăm ngàn đảng viên Cộng sản miền Nam cùng những người yêu nước sẽ đồng thời cầm vũ khí chống lại Lý Thừa Vãn, ông này theo cách gọi của phía cộng sản trong thời đó, là chó săn đế quốc Mỹ.  Tuy vậy, chỉ có duy nhất một người có thể bật đèn xanh cho cuộc xâm lược – đó chính là Stalin.


Trong ba nhân vật chính của chiến tranh Triều Tiên bên phía cộng sản, thì Kim Nhật Thành là người ít có tính chính danh nhất. Với Stalin, dù ông không là kiến trúc sư chính cho Cách Mạng Nga, thì ít ra ông cũng tham gia ngay từ đầu, ông là một nhà điều hành cứng rắn, từng bước có hệ thống thu tóm quyền lực của những người xung quanh, và đến thời điểm hậu chiến thì ông cũng đã lãnh đạo toàn trị Liên Xô được gần một phần tư thế kỷ. Cùng với chiến thắng của quân đội Nga trước nước Đức Hitler, hình ảnh của Stalin được nâng cao rất nhiều, bất kể ông đã sai nghiêm trọng trong việc định lượng quyết tâm của  Hitler và tệ hơn ông đã gần như hủy hoại Hồng quân bằng việc thanh trừng từ thượng tầng chỉ huy cho đến các sỹ quan cấp quân đoàn chỉ trong vài tháng trước khi Hitler phát động cuộc xâm lăng. Nhưng bất kể sai lầm, Stalin vẫn là nhà lãnh đạo biểu tượng của cuộc Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại. Những sai lầm kể trên đã giúp cho quân Đức tiến rất gần đến việc đánh bại nước Nga, và trớ trêu thay, cũng đủ khiến cho ông trở thành người hùng trong mắt dân Nga, do đó tăng mạnh hình ảnh cá nhân trong việc bảo vệ đất nước và ghép chung huyền thoại về tinh thần quốc gia với huyền thoại về tài lãnh đạo của ông. Ông trở thành hiện thân, không phải ở những thất bại ban đầu của nước Nga, mà ở trận chiến Stalingrad bất tử và ở chiến thắng sau cùng của Hồng quân ở Berlin. Riêng chiến thắng này đã xác lập vị trí vĩ đại của ông với người dân Nga, khiến ông trở thành một hiện thân thời hiện đại của các Sa hoàng huyền thoại, và – dù tốt hay chủ yếu là tệ hơn – vẫn là biểu tượng chính của nước Nga trong thế kỷ hai mươi.


Còn Mao Trạch Đông, năm 1950, là lãnh đạo của chính phủ cách mạng Trung quốc vừa chiếm được chính quyền sau nhiều năm bị đàn áp, đấu tranh và sau cuộc nội chiến; có lẽ nhìn toàn cảnh lịch sử ông còn là một biểu tượng to lớn hơn. Ông là kiến trúc sư trưởng của cách mạng Trung Hoa và đã lãnh đạo cách mạng vượt qua một chặng đường trường chinh gian khó, thường phải chống trả lực lượng kết hợp giữa Tưởng Giới Thạch và các lãnh chúa địa phương. Ông là nhà chiến lược cả về chính trị và quân sự trong nội chiến Quốc – Cộng Trung Hoa và cũng là nhà sáng lập ra trường phái chiến tranh mới trong đó chính trị và chiến tranh gắn kết chặt chẽ, hòa lẫn vào nhau; và quân sự luôn chỉ là một công cụ của cánh chính trị. Sự vận dụng sáng tạo đường lối chủ nghĩa Mác với giai cấp nông dân cùng lý thuyết cách mạng của ông còn vang dội trên trường quốc tế trong nửa sau thế kỷ hai mươi hơn cả những gì Stalin đã làm được. Vào thập niên 1960, khi tội ác của Stalin chống lại dân trong nước và các nước Đông Âu được phơi bày, thì biểu tượng lý tưởng – trong sáng của các chính trị gia cánh tả ở phương Tây có ít nhiều rạn vỡ, ngượng ngùng; còn với thế giới thứ ba, họ tránh nói tới nhà lãnh đạo được yêu thích này người cho thấy sức mạnh thì ít mà hung ác thì nhiều. Mao Trạch Đông thì ngược lại, trong một thời gian dài – mãi đến khi mặt tối đời sống cá nhân và sự tàn bạo ông phủ lên người dân của mình được biết nhiều hơn – ông là một hình tượng lãng mạn; kiểu như một hiện thân của cách mạng. Trong những năm ấy, ông, vượt hơn cả Stalin, được xem như là nhà lãnh đạo của thế giới vô sản chống lại thế giới tư sản.


Kim Nhật Thành thì khác hẳn, một nhà ái quốc nhiệt thành được một thế lực đế quốc – Liên Xô, dựng lên. Ông là một người nhiệt tình với chủ nghĩa dân tộc bởi sự đô hộ của Nhật Bản và cũng chính bởi thời kỳ thực dân này, mà ông trở thành một người Cộng sản chân chính, một chiến binh du kích kiên cường và gần như ngay từ đầu ông đã hoàn toàn là một công cụ có trách nhiệm của chính sách Sô viết. Người ngoài nhìn vào thì không thấy ông mấy mà thay vào đó là bàn tay của Liên Xô; còn ông, ông tự nhìn mình và thấy mình là một người hiện thân chân chính nhất cho chủ nghĩa dân tộc Triều Tiên. Thật ra, chính thời kỳ ông trưởng thành đã gọt đẽo nên con người ông. Với Kim Nhật Thành, không có gì mâu thuẫn giữa việc là một người Triều Tiên yêu nước, với một nhà cộng sản chân chính và một phương tiện của người Nga.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM