Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:10:19 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam  (Đọc 121499 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #50 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2013, 05:47:01 pm »

Stalin là một dạng Sa hoàng mới, một Sa-hoàng-nhân-dân, và còn bị tác động của chứng hoang tưởng tuổi già trong điều đình với phương Tây, một con người chẳng mấy hấp dẫn hoặc đáng tin trong số những đồng minh thời hậu chiến. Đến năm 1950, nhân vật Harry Truman vốn lúc đầu rất cảm thông với Stalin đã trôi về quá khứ rất xa. Mà thay vào đấy là một vị tổng thống đầy nghi ngờ và thẳng tưng, chính ông cũng cảm thấy tay Truman trước kia, Truman trong vụ Postdam là một «kẻ mơ mộng ngây thơ ». Về phần Stalin, ông cũng nhận định sai về Truman như Truman đã từng. Sau cuộc gặp Postdam, cũng như các chính trị gia thủ cựu Mỹ khác, Stalin đã đánh giá sai, một cách rất nguy hiểm, vị tổng thống mới của Hoa Kỳ, ông nói với Nikita Khrushchev – lúc này là một ngôi sao đang lên trong bộ máy chính quyền Liên Xô – rằng Truman là kẻ vô dụng. Một ván cờ siêu cường diễn ra ngay sau kết thúc cuộc chiến, ắc hẳn, sẽ đưa thế lực đó vươn ra toàn thế giới với sự sụp đổ của Anh, Pháp, Đức và Nhật, cùng sự tan rã của các đế chế đó. Lúc Bắc Triều Tiên xâm lăng, thì Chiến tranh lạnh cũng đạt tới mức căng thẳng cao nhất của nó, cùng cỡ với cuộc khủng hoảng hạt nhân khi hai cường quốc đối đầu với nhau qua sự kiện tên lửa ở Cuba diễn ra đúng một giáp sau. Cuộc chiến ngày 25 tháng Sáu diễn ra sau bốn năm kể từ khi Churchill có bài phát biểu về bức màn sắt và hai năm kể từ ngày Liên Xô phong tỏa Berlin,  Mỹ lập cầu hàng không tiếp vận cho thành phố ấy. Vào năm 1950, đồng minh phương Tây đang trên đường hoàn thành tốt kế hoạch Marshall, và Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương NATO đã sớm được thành lập – đây là điều mà Hoa Kỳ xem như để tăng cường sức mạnh của các quốc gia Châu Âu yếu ớt vẫn bị chiến tranh tàn phá, nhưng phía Cộng Sản thì lại xem đó như là một phần của nỗ lực tạo dựng vòng vây lớn bằng những quốc gia thù địch quanh họ, và được trang bị vũ khí hạt nhân.


Khi các viên chức hàng đầu của Truman họp với nhau trong ngày 25 tháng Sáu, họ cố xác định ý nghĩa thực sự của cuộc xâm lăng này, đó không chỉ là việc một nửa nước Triều Tiên tấn công nửa kia, họ cố săm soi vào góc khuất, vào bản chất của vấn đề. Vào những ngày ấy, mọi thứ về Liên Xô được bao phủ trong màn bí mật dày đặc, ngay cả danh bạ điện thoại ở Moscow còn được xem như một loại tài liệu. Nên ngay tức khắc mọi nhân vật quanh tổng thống ở Washington đều tin rằng cuộc xâm lăng là một nước cờ trực tiếp của Moscow, Stalin ra lịnh và những kẻ thụ ủy ở Bắc Triều Tiên tuân hành. Thật ra điều này không đúng, nhiều năm sau mọi thứ sáng tỏ từ những tư liệu giải mật ở Moscow, chính nhân vật trẻ tuổi quá tự tin Kim Chính Nhật đã đưa các lực lượng quân sự vào cuộc xâm lăng, ngay cả một Stalin đầy thận trọng cũng bất đắt dĩ bị cuốn theo. Lúc đó, những chuyên viên quản trị Liên Xô nghĩ rằng Bắc Triều Tiên đơn giản chỉ là một phiên thuộc của mình, hoàn toàn dưới tay của Kremlin, nhưng rõ ràng trong tình huống này Stalin chỉ là tòng phạm hơn là chủ mưu. Câu hỏi chính yếu nhất mà Washington quan tâm đó là : Phải chăng cuộc xâm lăng chỉ là đòn nghi binh, một diễn tiến đầu tiên trong một kế hoạch xâm lược lớn hơn của người Nga ? Và nếu như vậy, đòn kế tiếp của Stalin là gì ? Phải chăng Stalin bí mật để mắt vào châu Âu hay mục tiêu là Trung Đông ? Acheson cho rằng cuộc xâm lăng chỉ là đòn nghi binh và kế tiếp sẽ là người Trung quốc – được Liên Xô hỗ trợ – tấn công Tưởng Giới Thạch ở Đài Loan hoặc, có lẽ cũng nguy hiểm tương đương, một cuộc tổng phản công của Cộng Sản sau khi Tưởng khiêu khích.

Ngược lại, Truman thì cho rằng mục tiêu kế tiếp sẽ là Iran. Douglas MacArthur, người hiếm khi đồng ý với ông trong bất kỳ vấn đề gì, cũng cho là vậy. Vào ngày 26 tháng Sáu, Truman, trong cuộc gặp với một số rất ít người thân cận, đã bước tới một quả địa cầu, quay nó đến khu Trung Đông và chỉ vào Iran. « Đây là nơi họ sẽ gây rối nếu ta bất cẩn. Triều Tiên là một kiểu Hi Lạp ở vùng Viễn Đông. Nếu giờ chúng ta đủ cứng rắn, nếu chúng ta ủng hộ họ như ở Hi Lạp ba năm trước, chúng sẽ không triển khai bước kế tiếp nào. Nhưng nếu chúng ta chững lại, chúng sẽ tiến vào Iran và như thế sẽ làm chủ vùng Trung Đông. Không thể nói trước chúng sẽ làm gì nếu bây giờ chúng ta không tham  chiến »
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #51 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2013, 05:53:21 pm »

Khi tổng thống về lại Washington vào đầu buổi tối ngày 25, đón tại phi trường là Acheson, bộ trưởng Bộ Quốc Phòng Louis Johnson và thứ trưởng Bộ Ngoại giao James Webb. Lúc đó cả ba cùng vào chiếc limo của Truman, không có chút hồ nghi nào về cách thức mọi việc sẽ diễn tiến. « Lạy Chúa,  tôi sẽ cho chúng biết tay! » Truman nói. Johnson nhanh chóng trả lời rằng ông ủng hộ. Web thì nói đơn giản rằng Truman nên tham khảo thêm những người khác trong chính phủ. Họ có nhiều đề xuất phức tạp về các hành động đáp trả dựa vào tin tức rời rạc đến từ Triều tiên – mà tất cả đều rất xấu: họ muốn tổng thống cho phép tướng MacArthur cung cấp cho Nam Hàn những vũ khí cần thiết, dùng không lực – hải lực Mỹ để bảo vệ công cuộc di tản và giữ các cảng Nam Hàn để chúng không bị rơi vào tay quân Bắc. Đồng thời, căn cứ vào dự kiến của tổng thống, họ đề nghị Hội đồng Tham mưu Liên quân thảo luận về các biện pháp quân sự để ngăn chặn quân Bắc Triều Tiên. Yêu cầu hạm đội Bảy đi chuyển đến eo biển Đài Loan để khóa chặn  cuộc tấn công (nếu có) của quân Cộng sản Trung Hoa lên Đài Loan (và cũng để ngăn ngừa Tưởng Giới Thạch có hành động khiêu khích với tân chính quyền ở Đại lục). Thêm vào đó, họ cho rằng Hoa Kỳ đồng thời nên bắt đầu chương trình hỗ trợ quân sự cho quân Pháp ở Đông Dương, cho Burma ở Thái Lan. Khi chiếc limo đến nhà khách chính phủ Blair House, Webb – lúc đó đang một mình cùng Truman, đưa ra một đề nghị nữa: nên tách biệt các vấn đề Triều Tiên và Đài Loan ra, nhất là một khi Washington định đưa trường hợp Bắc Triều Tiên xâm lược lên Liên Hiệp Quốc.

Nếu giới tuyến không bị tấn công trong ngày ấy, thì chắc mọi thứ đều sẽ mù mờ, và không nhất thiết chỉ ở Triều Tiên. Trong những năm ngay sau thế chiến II, có hai vấn đề chính mà các nhà hoạch định chính sách ở Washington phải đương đầu đồng thời với việc tìm cách giải quyết bài toán trật tự thế giới cũ đã bị hủy hoại và những tàn tích khác do cuộc chiến gây ra. Vấn đề đầu tiên, rành mạch nhất, cấp bách nhất là cần vạch ra một tuyến chống lại chủ nghĩa bành trướng của Liên Xô tại châu Âu. Điều này được giải quyết với một kỹ thuật và viễn kiến tuyệt vời, nhưng phần đáng tiếc nằm ở sự trả giá cho vấn đề lớn còn lại của thời đại, vấn đề này dường như ít cấp bách và đầy tính ngoại vi của bài toán quyền lực: phương thức cho việc kết thúc thời kỳ thực dân, việc này đang diễn ra ở  các quốc gia đồng minh lớn nhất khi họ đang chịu sự phản đối bằng chính trị, đôi khi bằng cả quân sự từ những vùng đất cựu – thuộc – địa của họ. Trước những đòi hỏi đúng đắn của các lực lượng ái quốc dân tộc chủ nghĩa từ những nước chưa phát triển, dù đôi khi dưới bóng chủ nghĩa cộng sản, thì ghi nhận từ Washington là không đồng đều. Thực tế là có hai bộ mặt hoàn toàn khác biệt của chủ nghĩa Cộng sản ở hai trường hợp: một chủ nghĩa cộng sản Liên Xô khắc nghiệt ào qua châu Âu dưới gót Hồng quân, và một chủ nghĩa cộng sản đã biểu lộ ở thế giới thứ ba, nơi nó trở thành kim chỉ nam cho các lực lượng chống thực dân, họ đã quay sang Moscow (như trường hợp Đông Dương) để xin giúp đỡ sau khi đã bị Washington từ chối. Dù có nói như thế nào thì cuộc tấn công của Bắc Triều Tiên cũng là một cuộc xâm lược kiểu cũ, nhưng còn với Đông Dương, nơi Hoa Kỳ cũng bắt đầu cột chặt mình vào đó như ở Triều Tiên và phần lớn châu Âu; thì đó vẫn là một cuộc chiến tranh thực dân thuần túy.

Đêm ấy, những nhân vật dân sự và quân sự hàng đầu ăn tối tại nhà khách Blair. Sau bữa tối họ quay lại với chủ đề cuộc xâm lăng. Vài điểm đã trở nên rõ ràng: dù chưa ai biết chắc mũi tấn công Bắc Triều Tiên sâu tới đâu, nhưng rõ ràng đây là một cuộc xâm lăng và lực lượng Nam Hàn đã không chiến đấu tốt. Họ không thể tự đứng vững. Sau bữa tối, tướng Omar Bradley, chủ tịch hội đồng tham mưu liên quân, người đã rất hân hoan khi rút các đơn vị thực binh của Mỹ ra khỏi Triều tiên hồi năm trước bởi đó là nơi rất tệ cho việc chiến đấu và cũng bởi thấy rằng không có mấy giá trị chiến thuật, là người phát biểu đầu tiên. Ông nói, trên tuyến chống cộng đã được vẽ, Triều Tiên là một tiền đồn như bao nơi khác. Nhưng giá trị của nó đã thay đổi trong đêm. Truman ngắt lời ông ta và nói rằng ông hoàn toàn nhất trí. Tại thời khắc đó, bút sa gà chết. Bradley tiếp tục, rằng dựa vào quy mô của cuộc tấn công, hẳn phải có Liên Xô đứng đằng sau. Rồi đô đốc Forrest Sherman, tham mưu trưởng Hải quân Mỹ, tướng Hoyt Vandenberg, tham mưu trưởng Không quân, cũng phát biểu. Cả hai đều phản ánh cho thấy sự lạc quan – và tin tưởng – mà người Mỹ cảm nhận về sự vượt trội của không lực, hải lực của mình, cũng như mỗi ông đều tin rằng lực lượng của mình là vô song. Không một ai lưu tâm đến khả năng chiến đấu của bộ đội Bắc Triều Tiên. Cả hai đều cho rằng không lực và hải lực có thể bắt quân Bắc quay lui. Nhưng Joe Collins, tham mưu trưởng lục quân, nói rằng: dựa trên những báo cáo mà ông có, dường như cần phải có lục quân. Việc dùng các lực lượng bộ chiến là vấn đề rất khác biệt – nghiêm trọng hơn nhiều. Collins, Bradley và Frank Pace, bộ trưởng lục quân, tất cả đều khăng khăng đòi không ra quyết định đó. Tuy nhiên, rất nhanh sau đó, Bradley ghi lại rằng ông đã dự báo không đúng về khả năng của bộ đội Bắc Triều tiên. “Không ai tin rằng quân Bắc Triều tiên lại mạnh như chúng thể hiện” sau này ông bộc lộ.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #52 vào lúc: 01 Tháng Mười Một, 2013, 01:21:40 pm »

Rồi ý chí chung cũng từng bước được thống nhất: Không lực phải dùng ngay để chậm bước tiến bộ đội Bắc Triều, và vấn đề Triều Tiên sẽ phải đưa lên Liên Hiệp Quốc để có sự hỗ trợ, dù, nếu cần, Hoa Kỳ sẽ đơn phương triển khai các hành động để dừng cuộc xâm lăng. Gần cuối buổi họp, Web có đề nghị Truman thảo luận về khía cạnh chính trị của vấn đề. “Chúng ta sẽ không nói gì về chính trị” Truman mạnh mẽ nói “Tôi sẽ xử lý các vấn đề chính trị”. Rồi Truman ra lịnh cho không quân tiến hành công tác bảo vệ cuộc di tản những gì liên quan đến người Mỹ và giao tranh với Bắc Triều Tiên trên không phận miền Nam. Ông cũng bảo Pace yêu cầu MacArthur gửi một đội đến Hàn quốc để tìm hiểu xem họ cần gì về mặt quân sự, và, oan nghiệt thay, ông lệnh cho Sherman đưa hạm đội Bảy từ Philippine về eo biển ngăn cách giữa Đài Loan và đại lục, giờ nằm trong tay của những người Cộng Sản. Nhưng ông nói ông muốn không có thông báo gì cả cho đến khi hạm đội đã đến được vị trí.

Quyết định đối với các đơn vị bộ chiến vẫn treo lại, lơ lửng như đám mây bão đen ngòm trên đầu. Không ai trong số các cố vấn của Tổng thống có chút niềm tin vào khả năng quân đội Nam Hàn chống đỡ được. Ngày hôm sau, Truman viết thư cho vợ, Bess (vẫn ở Independence), rằng đây là một chuyến đi gay cấn ngay từ lúc còn trên không. Cuộc họp ở nhà khách Blair rất thành công, nhưng vấn đề Triều Tiên vẫn là thứ rất khó nhằn. “Đã không có sự lộn xộn nào kể từ khi Hi Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ rơi vào quỹ đạo của chúng ta. Hãy vững tin…”. Cái ý tưởng rằng Stalin chỉ ngầm đồng thuận và không chỉ đạo trực tiếp cuộc xâm lăng nghe thật không quen. Mà gì đi nữa thì cũng vậy thôi. “Người Nga nói sẽ xâm chiếm; xe tăng Đỏ tiến vào Seoul” là những tít bài được ưa dùng trên tờ New York Herald Tribune.

Với những nhân vật hàng đầu của giới an ninh quốc gia, như Acheson, tin tức, tuy bực bội, nhưng không bất ngờ khi có hiển hiện mối nguy, bởi họ đã rất muốn gia tăng mạnh ngân sách quốc phòng nhưng không có cớ. Trong thực tế họ đã đợi những sự kiện như vậy nổ ra, lo sợ, nhưng cũng biết chắc điều đó sẽ đến, và rằng một khi đã sảy ra thì nó có thể đánh thức được một quốc gia trước những thách thức mới.

George Kennam, một chuyên gia hàng đầu trong nước về Liên Xô, đã cực kỳ thất vọng khi không được dự buổi họp ở nhà khách quốc gia Blair. (“bữa tối đó có tác dụng xác định ra cái nhóm chịu trách nhiệm triển khai các quyết sách của nhà nước trong những ngày kế tiếp” sau này ông viết). Còn ông, theo ngôn từ của ông, thì đứng bên lề. Ông đã không còn là Vụ trưởng Vụ kế hoạch chính sách, thực chất là đã rời chính phủ để đến trường đại học Princeton, để suy ngẫm về quá khứ thay vì hiện tại hoặc tương lai. Bởi vẫn còn lo rằng vụ Triều Tiên chỉ là một đòn nghi binh nhỏ, nên vài ngày sau Acheson đã hỏi Kennam một cách cẩn thận, rằng người Nga sẽ làm gì tiếp sau. Kennan thì không cho rằng cuộc tấn công này đại diện cho bất kỳ điều gì lớn lao hơn. Ông đã viết thư cho Acheson rằng phía Liên Xô không tìm kiếm một cuộc chiến lớn hơn với Hoa Kỳ, nhưng có lẽ họ sẽ thích thú một khi thấy Hợp Chủng quốc bị sa lầy “ trong một cuộc chiến tai tiếng và không ích lợi” hoặc đứng bên lề mà không làm điều gì (và như vậy cũng bị mang tiếng trong khu vực) một khi Bắc Hàn chiếm được toàn thể bán đảo. Hiểm họa lớn nằm ở chỗ việc Hoa Kỳ định vị ra điểm phản hồi như thế nào, ông khuyến cáo, không nên ở châu Âu mà là  Á châu. Ở nơi đó, người Nga có lẽ đang bận rộn với người Trung quốc. Có nghĩa là Kennam không trông thấy có triển vọng của một cuộc chiến lớn hơn và chúng ta lẽ ra nên cẩn thận đặt giới hạn của nó. Điều này cho thấy đó lời khuyên mang tính tiên tri và chín chắn từ một nhà Nga học hàng đầu của quốc gia.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #53 vào lúc: 01 Tháng Mười Một, 2013, 01:35:17 pm »

Khi các chính khách gặp nhau lần nữa ở nhà khách Blair trong ngày kế tiếp, Acheson,  nhân vật quan trọng nhất trong vấn đề Triều Tiên sau tổng thống, thông báo rằng hạm đội Bảy đã sẵn sàng và như vậy đây là lúc để ra lệnh cho hạm đội bảo vệ Đài Loan. Cùng lúc, ông báo thêm rằng Tưởng Giới Thạch đã được yêu cầu một cách thẳng thừng là ngưng mọi chiến dịch chống lại Đại lục. Các sỹ quan Hạm đội Bảy sẽ đảm bảo việc ông ta tuân thủ yêu cầu. Rồi Acheson phác ra những đề xuất của mình không chỉ cho Triều Tiên mà cả khu vực châu Á. Hoa Kỳ cần tăng cường hỗ trợ Philippin, hiện đang bị lôi vào một cuộc chiến du kích với phía du kích thân cộng Huk, và cho Pháp, hiện cũng đang đánh nhau với những người Cộng sản – dân tộc chủ nghĩa Việt Minh trong cuộc chiến thực dân ở Đông Dương. Với Đông Dương đó là một sự leo thang nghiêm trọng: nguyên ủy Hoa Kỳ phản đối việc Pháp quay lại chiếm quyền thực dân ở đó, nhưng rồi lại miễn cưỡng thay đổi dưới áp lực của Paris, sau bốn năm chiến tranh, chính quyền Pháp bắt đầu xuất hiện những dấu hiệu chia rẽ, và Hoa Kỳ sửa soạn cho việc gánh lấy phần lớn gánh nặng tài chính cho cuộc chiến đó. Rất nhanh người Mỹ trở thành nơi chống lưng chính và là nhà cung cấp tài chính cho người Pháp. Gửi một sứ mệnh quân sự đến Đông Dương đồng nghĩa với việc người Mỹ đã nhúng chân mình vào vùng nước mới, một cuộc chiến thực dân cay đắng, mà không ai tưởng tượng ra, hoặc chú ý đến những hậu quả đầy đủ. Không tốn thời gian cho việc đó. Ngày 29 tháng Sáu, chỉ bốn ngày sau khi quân Bắc Hàn vượt biên, tám chiếc phi cơ vận tải C-47 bay qua Thái Bình Dương mang theo những khí tài đến cho quân Pháp, bắt đầu của đợt viện trợ quân sự to lớn và rồi một ngày kia lại dính vào sâu hơn, thậm chí đã trở thành một cuộc phiêu lưu đầy u uất của nước Mỹ.

Trong buổi họp tối thứ Hai, những nhà hoạch định chính sách của Washington cũng bàn về khả năng sử dụng quân Tưởng Giới Thạch ở Triều Tiên. Vị tổng tư lệnh đó xung phong cung cấp những đoàn quân tinh nhuệ nhất của mình. Truman đã được vận động ngầm bởi phía ấy và lúc đầu đã định chấp thuận. Nhưng Acheson mạnh mẽ khuyến nghị không thuận. Ngay khi cuộc khủng hoảng Triều Tiên bắt đầu, ông đã suy nghĩ và đã xem xét các vấn đề của Tưởng giới Thạch, nên ông không hề ngạc nhiên trước đề xuất của họ Tưởng. Ông hiểu rằng thứ Tưởng muốn (một cuộc chiến mở rộng và bằng cách nào đó sẽ kéo những người Cộng sản Trung quốc nhúng vào) và thứ Mỹ muốn (một cuộc chiến giới hạn và Trung quốc đứng ngoài) là hai điều không thể song hành. Hai quốc gia vẫn là đồng minh, nhưng những điều họ muốn hoàn toàn cách biệt nhau. Acheson chắn chắn rằng ông đúng trong trường hợp này. Ngoài ra, ông cũng đã thấy hết biểu hiện của quân đội Tưởng Giới Thạch trong cuộc chiến ở đại lục và biết rằng mình không nên phụ thuộc vào quân đội đó trong cuộc chiến này, đặc biệt khi đánh nhau với các lực lượng thông minh vừa đánh bại họ. Có một số người cánh hữu, trong đó có MacArthur, bị quyến rũ bởi ý tưởng dùng quân đội của họ Tưởng – nhưng Acheson không nằm trong số đó, phần còn lại của Hội đồng tham mưu liên quân cũng vậy,với họ thì bởi hoàn toàn thận trọng về mặt quân sự.

Nhưng các chính khách đối lập trong chính quyền lại muốn sử dụng chúng và thấy rằng cuộc chiến Triều Tiên nổ ra như là một đòn đánh vào tổng thống và ngoại trưởng của ông ta, và cột chặt Triều Tiên vào cái sự kiện mà họ vốn dùng để đánh Truman: sự thất bại ở Trung Quốc. Phản ứng của họ là tức thời và hoàn toàn bản năng. Ngày 26, thượng nghị sỹ Styles Bridges, một nhân vật ngoại hạng trong cái gọi là Nhóm vận động Trung Hoa, đứng lên chất vấn tại Thượng viện: “Chúng ta sẽ lại nhượng bộ sao? Chúng ta lại sẽ chờ “bụi lắng”? [một cách chơi lại Acheson, vì trước đó ông đã dùng cụm từ này trong vấn đề Trung quốc với hi vọng rằng rốt cuộc cũng sẽ có cơ hội chia rẽ Nga và Tàu]. Giờ là lúc phải định ra giới tuyến”. Bill Knowland đại diện bang California, cũng là một nhân vật rất gần gũi với Nhóm vận động Trung Hoa và ông này còn có danh hiệu là Thượng nghị sỹ Formosa (Đài Loan), thêm vào: “Nếu quốc gia này phải chịu thua, chấp nhận một cuộc xâm lăng công khai như kiểu này, thì không có mấy cơ hội để ngăn chặn Cộng sản ở bất cứ nơi nào trên lục địa Á Châu”. Và cuối cùng Thượng nghị sỹ Geogre (Molly) Malone của bang Nevada còn gắn tình hình hiện nay vào vụ Hiss, một quan chức ngoại giao – Alger Hiss, bị buộc tội là phản bội và hoạt động gián điệp cho Liên Xô. Những gì xảy ra ở Trung Hoa giờ lại diễn ra tại Triều Tiên, Malone nói, và điều này là do các cố vấn cánh tả ở Bộ Ngoại Giao.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #54 vào lúc: 01 Tháng Mười Một, 2013, 08:22:08 pm »

Trong lúc những phản ứng cá nhân Truman với sự kiện Bắc Hàn xâm lăng là hoàn toàn tự động và phi chính trị, thì rõ ràng là sự cạnh tranh giữa hai đảng chính trị cũng được triển khai ngay từ đầu. Có một thực tế là vài bộ phận ngay trong chính phủ của ông đối với vấn đề Tưởng Giới Thạch đang tính toán đến việc bảo vệ nên Tưởng và đảo Đài Loan hay bỏ rơi. Việc tiếp tục hỗ trợ Tưởng Giới Thạch được xem là một thứ ung nhọt không chỉ là chủ đề chính của những kẻ thù địch nhất với chính phủ mà ngay cả trong nội bộ chính quyền. Acheson cho rằng Tưởng là một trường hợp thất bại, theo nghĩa đen, và việc hỗ trợ ông ta là một chính sách đáng ngờ vực, đây sẽ là điều khó tiêu với Hoa Kỳ một khi diễn ra dài hơi, và làm cho bộ mặt chính trị ở Châu Á thay đổi. Nhưng đa số ở Bộ Quốc Phòng không đồng ý với Acheson, còn bộ trưởng Louis Johnson, người hi vọng sẽ kế vị Truman ở vị trí ứng viên tranh cử Tổng thống của đảng Dân chủ cũng rõ ràng là ủng hộ Tưởng giới Thạch. Trong suy nghĩ của nhiều thành viên nhóm cận thần của Truman, ông ta (Johnson) rõ là một thành viên nhóm vận động Trung Hoa, người ta đã hứa với tay chân Tưởng Giới Thạch trong tòa đại sứ ở Washington rằng Johnson sẽ không chỉ làm vô hiệu Acheson mà còn đưa ông này ra khỏi chính phủ (trợ lý hàng đầu của ông, Paul Griffith rất thân thiết với Wellington Koo, đại sứ của Dân quốc  và là nhân vật chính của nhóm vận động Trung hoa, chừng chín tháng trước chính Koo đã sắp xếp cho bà Tưởng gặp ăn tối với Johnson tại Riverdale, New York). Mối quan hệ của Johnson với phe Dân quốc (Trung hoa Dân quốc) là có thật trong chính quyền, điều này đồng nghĩa với những chỉ trích thường xuyên của cánh Cộng hòa với các chính sách Trung Hoa của chính phủ cũng được nghe y như trong nhà, và những gì trao đổi trong các cuộc họp cấp cao nhất cũng ngay lập tức được truyền ra cho bên Dân quốc.

Điều thích hợp cho một cuộc chiến không mấy vui vẻ trong nhà, thứ luôn lơ lửng trên đầu chính phủ trong những ngày đầu chiến tranh Triều Tiên, là vấn đề Trung Hoa, chính nó luôn hiện diện trong mỗi quyết sách. Đây không là một trận đánh mà Johnson có thể thắng. Bởi trong giới hạn chính trị thì Truman gần với Acheson hơn; vị tổng thống khâm phục và tin cậy ông ta cùng những ý kiến về chính trị của ông và sau chót, đó là sự thận trọng trước bất cứ điều gì có thể làm cuộc chiến lan rộng. Nhưng đồng thời Truman cũng mang ân nghĩa của Johnson, người gần như duy nhất trong số những nhân vật có quan hệ với giới tài chính đã đứng cạnh ông trong những ngày tồi tệ sau hội nghị chính trị 1948, lúc đó không ai nghĩ rằng Truman có thể đắc cử tổng thống. Johnson là người gây quỹ chính cho Truman lúc két bạc của đảng Dân chủ đang rỗng tuếch, và như là một phần thưởng, ông ta có được Bộ Quốc Phòng.

Ngay từ lúc Truman triệu tập nội các đến nhà khách Blair, thì đã có sự bất đồng rõ ràng giữa Acheson với Johnson trong vấn đề Đài Loan, chủ đề mà Johnson đang phát động. Mọi người khác trong buổi họp muốn tập trung vào Triều Tiên, nhưng Johnson, cố chống lại mong muốn của tổng thống và Acheson để đưa Đài Loan vào vành đai phòng thủ của Hoa Kỳ ở Á Châu, lại đặt vấn đề đó ra lần nữa. An ninh Hoa Kỳ, ông ta nói, bị tác động bởi Đài Loan nhiều hơn là Hàn Quốc. Acheson cố lái chủ đề quay lại Triều Tiên. Sau rốt, Truman phải cắt ngang và bảo rằng họ phải ăn tối. Sau bữa tối, Johnson lại cố gắng tiếp tục đưa ra câu hỏi về Đài Loan, và một lần nữa Truman lại cắt ngang.

Trong buổi trao đổi tại nhà khách Blair, vấn đề quân đội của Tưởng Giới Thạch nhanh chóng bị bỏ lại đằng sau một sự việc nghiêm trọng hơn đó là tình hình trên chiến trường. Joe Collin chỉ ra rằng quân Nam Hàn (ROK) đã tan tác. Tham mưu trưởng ROK, theo như cách nói của Collin là “không còn lính bên cạnh”. Tất cả họ đều biết việc này mang ý nghĩa gì: cần phải có lực lượng chiến đấu Mỹ. Nhưng ngay từ thế chiến II, có một chính sách của Mỹ là tránh đưa lực lượng chiến đấu vào lục địa châu Á. Omar Bradley đề nghị tổng thống nên thư thả theo dõi vài ngày trước khi đưa ra một quyết định nghiêm trọng. Thế rồi Truman yêu cầu vị Tham mưu trưởng liên quân cân nhắc vấn đề đó. Lúc đó, như phản ánh lại giây phút long trọng, Truman nhìn mọi người với vẻ nghiêm trang và nói: “Tôi không muốn tham chiến”. Nhưng ông cũng biết rằng ông đang tiến đến gần, rất gần một quyết định sau cùng.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #55 vào lúc: 01 Tháng Mười Một, 2013, 08:26:37 pm »

Sáng ngày 27 tháng 6, tổng thống cùng Acheson gặp các lãnh đạo lưỡng viện để xem xét quyết định của ông. Phản ứng của nghị viện nhìn chung là rất thuận lợi. Lúc đó, Alexander Smith, một thượng nghị sỹ đảng Cộng hòa của bang New Jersey hỏi rằng phải chăng Truman đang đề nghị lưỡng viện thông qua một nghị quyết chung cho các hành động quân sự ở Triều Tiên. Đó là một câu hỏi hay, một câu hỏi đủ rõ rệt, hai ngày qua dày đặt các cuộc họp nhưng không ai trong chính phủ đã thực sự cân nhắc kỹ. Chính trị, họ tin, phải được gác sang một bên, hay ít nhất chính họ phải gạt ra. Truman bảo Smith rằng họ sẽ làm điều đó sau khi nghe các khuyến nghị. Đến cuối ngày, Truman trao đổi với cả Acheson và Averell Harriman – ông này đã trở thành một cố vấn cao cấp đặc biệt chỉ ngay vài giờ sau khi cuộc xâm lăng diễn ra. Dù không như Acheson  đến từ một gia tộc giàu có, Harriman luôn sắc sảo với chính trị Hoa Kỳ. Ông mạnh mẽ đề nghị Truman nên tìm kiếm giải pháp ở nghị viện. Acheson thì phản đối; vấn đề, như ông nói, cần tốc độ. Truman có khuynh hướng đồng ý với Acheson, dù rằng Lưỡng viện chắc chắn sẽ giận dữ trước việc một tổng thống vượt qua đầu trong vấn đề chiến tranh và hòa bình. Truman không muốn bị chậm trễ, và những tranh cãi liên miên giữa ông với lưỡng viện trong vấn đề Trung Hoa và Tưởng Giới Thạch đã khiến ông đề phòng những kẻ thù ở Thượng viện. Ba ngày sau, sáng ngày 30 tháng Sáu, Truman lại gặp lãnh đạo Lưỡng viện. Lúc này, Thượng nghị sỹ Kenneth Wherry thuộc bang Nebraska, một nhân vật mà chính phủ không mấy thích, hỏi thẳng tưng về việc thông qua lưỡng viện. (Trước đó, nghe đồn rằng Acheson đã định đấm vào mũi ông ta, và phải được các cố vấn cản lại; chính Truman thì gọi Wherry là “đồ dân nhà đòn đầu đất Nebraska”). Truman cố gạt ông ta ra “Nếu có cần hoạt động gì từ lưỡng viện, tôi sẽ đến nhờ. Nhưng tôi hi vọng rằng chúng tôi có thể giải quyết bọn Triều Tiên mà không cần tới điều đó”.

Đó là thời điểm lý tưởng để đưa ra một nghị quyết, nhưng rồi thời điểm đó trôi qua rất nhanh, sự nhất trí về chính trị hiện hữu ở những giờ phút đầu cuộc xâm lăng đã tan mất. Khi cuộc chiến trở nên gay go hơn những tưởng tượng ban đầu, thì chính trị cũng trở nên khó khăn theo, và sự hỗ trợ bắt đầu tan rã. Bởi Truman cố không dùng các hỗ trợ từ lưỡng viện, nên các địch thủ đã hết gặp trở ngại về mặt nhận trách nhiệm với các phản ứng của Hoa Kỳ. Lúc bộ trưởng lục quân (*Secretary of the Army: chức danh này hơi lạ với cơ cấu VN, gọi là bộ trưởng nhưng dưới cấp nội các ) Frank Pace đề nghị họ cần có nghị quyết (của lưỡng viện), thì Truman trả lời: “Frank, không cần đâu. Tất cả họ nhất trí với tôi”. Pace trả lời: “Vâng, thưa ngài tổng thống, nhưng chúng ta không chắc rằng họ sẽ nhất trí với chúng ta sau một thời gian nữa”. Lúc đó, dường như mọi người đều chung xuồng. Khi tin đến với lưỡng viện rằng tổng thống đã quyết định gửi quân đến Nam Hàn, hầu như cả nghị trường đã đứng dậy chúc mừng. Joseph Harsch, một phóng viên kỳ cựu và tốt nhất ở Washington, thuộc báo The Christian Science Monitor đã viết: “Trước giờ tôi chưa bao giờ thấy cái cảm giác tin cậy và thống nhất như thế trên toàn thủ đô”.

Trong tuần ấy, tất cả những cố vấn của tổng thống đều hiểu rằng họ đang tiến đến rất, rất gần với việc sử dụng quân bộ trên lục địa châu Á, thứ sau chót mà bất kỳ ai, dù quân hay dân sự, muốn làm, và nó đè nặng lên họ qua từng ngày. Không quân và hải quân sẽ không thể hoàn thành nổi. MacArthur được lệnh – nếu ông ý có thể gọi đó là lệnh – đến Triều Tiên và báo cáo lại những gì cần để giữ vững được phòng tuyến. Lúc đó, là sáng sớm ngày 30 tháng Sáu, điện từ Tokio đang đến và tất cả họ đều hiểu, sẽ không có gì tốt. Lúc chừng 1h30 sáng, giờ Washington, John Muccio báo Acheson rằng MacArthur sẽ yêu cầu lực lượng lớn hơn. Tình hình ở bán đảo Triều Tiên là tuyệt vọng, Muccio nói. Chuẩn bị cho việc MacArthur điện về xin quân.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #56 vào lúc: 01 Tháng Mười Một, 2013, 08:30:09 pm »

Chừng một giờ rưỡi sau, MacArthur, vừa trở về từ Triều Tiên, báo cáo với Tham mưu trưởng liên quân rằng cần tăng quân nhiều. Nguyên văn của ông ta là: “Chỉ có thể chắc chắc giữ được tuyến hiện nay và lấy lại những vùng đã bị mất nếu có sự hiện diện của lục quân Mỹ trên chiến trường Triều Tiên. Chỉ dùng hải lực và không lực mà không có lục quân thì không thể giải quyết được”. MacArthur nói, ông muốn đưa một đơn vị cấp trung đoàn vào chiến đấu ngay ở vài khu vực đang giao tranh, và rồi sẽ nhanh chóng bố trí khoản 2 sư đoàn trong lực lượng của ông ở Nhật đảm trách nhiệm vụ phản công. Nếu không làm vậy, ông nói: “khá nhất là sẽ phải tổn phí vô ích tiền bạc, sinh mệnh và uy tín, còn tệ nhất là đổ vỡ, thất bại”.

Ở Washington, Dean Rusk, trợ lý ngoại trưởng đặc trách vùng Viễn Đông và Joe Collin, tham mưu trưởng lục quân, làm việc với nhau để giải quyết cuộc điện đàm, lúc ấy đâu đó khoản từ 3 đến 4 giờ sáng. Nhưng bởi vì họ, nói một cách tương đối, là các cán bộ cấp không cao, và lúc đó mới chỉ mờ sáng, nên tiến trình xử lý bị chậm và lóng ngóng. Cần phải có cấp thẩm quyền cao hơn. Đây không là một vấn đề nhỏ như góc nhìn ở Tokio: bởi đó chính là chiến tranh hay hòa bình. Câu trả lời không nhanh chóng có được. Mọi việc phải chậm rãi và không làm MacArthur vui: “Thiệt là tệ hại! Khi tôi còn là tham mưu trưởng, cỡ Herbert Hoover (*) tôi còn lôi ra để trao đổi! Nhưng giờ đấy, không chỉ tham mưu trưởng lục quân trễ nãi, mà cả bộ trưởng Lục quân, bộ trưởng Quốc phòng. Lắm thầy nhiều ma”.

(* Herbert Hoover là tổng thống Hoa kỳ thứ 31 từ 1929 – 1933)


Đến khoản 4h30 sáng, giờ Washington, MacArthur xác nhận lại yêu cầu về lực lượng bộ chiến với Collins, rồi Collins gọi Pace, ông này lại gọi cho Truman. Truman luôn thức dậy sớm. Cái đồng hồ sinh học của một cậu trai nông dân trong ông không bao giờ mất đi. Ông đang cạo râu lúc Pace gọi. Và ngay trước 5h sáng ngày 30 tháng Sáu năm 1950, ông chuẩn y cho việc sử dụng bộ binh ở Triều Tiên. Và thế là bút sa… Ngay từ lúc mới bắt đầu MacArthur đã bảo rằng ông có thể dễ dàng khống chế được cuộc xâm lăng chỉ cần Washington để ông tự lo. Giờ ông bảo cần hai sư đoàn. Và lần này, ông lại tiếp tục đánh giá thấp kẻ thù trong khi định giá quá cao các lực lượng dưới quyền ông, tất nhiên định giá đó bao gồm cả quân Mỹ.

Truman vẫn còn băn khoăn về vụ quân Tưởng Giới Thạch. Ông gọi Acheson, Harriman, Johnson và tham mưu trưởng liên quân để họp lần chót về việc có dùng quân Tưởng không. Với việc quân Nam Hàn sụp đổ từng phần thì đề nghị của Tưởng vẫn làm cho tổng thống có cảm giác thấy đó là một giải pháp lấp chỗ trống. Nhưng Acheson vẫn chắc chắn rằng việc này sẽ đưa nước Trung hoa Cộng sản vào cuộc chiến. Và tham mưu trưởng liên quân cũng không muốn.

Giữa cảnh u ám đó, có một tia sáng, đó là quân Mỹ sẽ chiến đấu dưới ngọn cờ Liên Hiệp quốc. Trước khi Truman chấp thuận việc dùng quân bộ Hoa Kỳ, thì ông cũng đã có được sự chuẩn y của Liên Hiệp Quốc – dễ dàng hơn nhiều so với các thập niên sau. Liên Hiệp Quốc của năm 1950 vẫn chủ yếu phản ánh quyền lợi của Mỹ và các nước Tây Âu, bất đồng duy nhất đáng kể đến từ Liên Xô và chư hầu. Trong chừng mực nào đó có thể nói đây đây là tàn tích sau chót của thế giới da trắng. Trong cái Hội đồng Bảo An để biểu quyết việc dùng vũ lực ở Triều Tiên, chỉ có hai phiếu trắng từ các nước-không-da-trắng Ấn độ và Ai Cập. Bắt đầu từ cuối thập niên 1950s và gia tốc mạnh hơn trong thập niên 60, sự kết thúc của thời đại thực dân, cùng với những quốc gia vừa được độc lập ở châu Phi châu Á và Trung Đông đã làm thay đổi bộ mặt Liên Hiệp Quốc một cách đầy kịch tính, giảm bớt đi rất nhiều ảnh hưởng của phương Tây và trở thành một tổ chức bị các phái chính trị bảo thủ ở Hoa Kỳ và Phương Tây cực kỳ khinh bỉ. Người Nga đã rất ngu khi tẩy chay phiên họp của Hội Đồng Bảo An về vấn đề Triều Tiên (trớ trêu thay nguyên nhân sự thể đó là bởi họ chống lại việc Trung Hoa Dân quốc – Đài Loan vẫn giữ ghế trong hội đồng), và không có sự phủ quyết của họ, người Mỹ đã có được nghị quyết họ muốn vào ngày Thứ ba, 27 tháng Sáu, rốt cuộc cũng đưa các lực lượng chủ yếu là quân Mỹ tham chiến dưới ngọn cờ Liên Hiệp Quốc.

  (Hết chương 6)
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #57 vào lúc: 01 Tháng Mười Một, 2013, 08:35:42 pm »

Chương 7

Thế là Hoa Kỳ tham chiến tại Triều Tiên, và Harry Truman khá bất đắt dĩ làm một vị Tổng tư lệnh trong một cuộc chiến mà ông không muốn, ở một vùng đất trên thế giới mà người của ông không cho là quan trọng, và ngay từ đầu phải tin cậy vào viên tư lệnh chiến trường mà ông không ưa, người đó ngược lại cũng không tôn trọng ông. Những ngôi sao không xếp đúng đắn ngay từ đầu. Ba ngày sau khi chiến cuộc nổ ra, Dwight Eisenhower, khi đó là chủ tịch trường đại học Columbia, tạt vào lầu Năm góc và trao đổi về tình huống Triều Tiên với trung tướng Matt Ridgway, lúc ấy là phó tham mưu trưởng lục quân, nhưng cũng là người được nể trọng nhất trong thế hệ tướng lĩnh cao cấp mới và vì vậy được phần lớn các sỹ quan cao cấp cho là ứng viên lý tưởng cho vị trí tư lệnh chiến trường Triều Tiên dưới quyền MacArthur. Rất ít người hiểu rõ hơn Eisenhower về cách MacArthur khiển quân. Ông là trợ tá của MacArthur cả lúc ở Washington lẫn thời Manila, nên hiểu khá rõ về cái cách MacArthur khôn ngoan “điều chế” sự thật trong báo cáo gửi về giới dân-quân sự ở Washington. Eisenhower bảo Ridgway rằng rất cần một tướng lãnh trẻ hơn ở đó, ông nói thêm “một người với những hành động anh không đoán trước được, một con người luôn tự quyết định những thứ tin tức gì ông ấy muốn Washington biết và những gì bị giấu đi”. Sau này Eisenhower viết lại, rằng có một giới tuyến rõ ràng giữa các vấn đề quân sự với chính trị mà hầu hết các quan chức cao cấp đều thận trọng tuân theo “nhưng nếu tướng MacArthur có nhận ra tuyến đó tồn tại, thì thường ông chọn cách lờ nó đi”. Như MaxHasting có lần viết: trong cả cuộc đời, MacArthur hành động “với giả định rằng luật lệ được dựng ra dùng những kẻ kém cỏi và không liên quan gì tới ông ta”.

Biểu hiện đáng lo của MacArthur trong vài ngày đầu tiên khi quân Bắc Triều Tiên tấn công, mà Dulles và Allison chứng kiến, người dân Mỹ không bao giờ được thấy. Thay vào đó là một MacArthur đầy huyền bí với công chúng, hoàn toàn không chút tỳ vết giữa những nhân vật truyền thông cao cấp; đặc biệt với giới chủ báo và phóng viên, ông có tầm quyến rũ hàng đầu, rất mạnh. Điển hình, bốn ngày sau cuộc xâm lăng nổ ra tờ NewYork Times chạy một bài xã luận sôi nổi rằng vận nước hưng thịnh bởi có MacArthur nơi tuyến đầu: “Không dễ chọn đâu có một nhân vật tốt hơn để làm tư lệnh xứng đáng với lòng tin vô hạn của nhân dân nước ta. Đây là một nhà chiến lược siêu hạng và là một nhà lãnh đạo đầy nghị lực; chí bền tâm định trước những áp lực kẻ thù, một con người cân bằng giữa dũng cảm và quả quyết”

Ông đã bảy mươi tuổi, một tướng lãnh cao cấp của quân đội Mỹ – chỉ có Chúa, mới cao hơn MacArthur, một tài năng trẻ đã về già của West Point (nguyên văn: the aging wunderkind of West Point). Khi còn trẻ, ông đã bắt đầu quân nghiệp với số điểm cao nhất ở đó, 98.14 trong 4 năm, và ông còn làm được nhiều hơn những điểm số đó hứa hẹn. Ông luôn là sỹ quan trẻ nhất ở bất kỳ vị trí nào ông đạt tới – không chỉ là sư đoàn trưởng trẻ nhất đóng ở Pháp trong thế chiến thứ nhất mà còn là Viện trưởng trẻ nhất của West Point, tham mưu trưởng lục quân trẻ nhất, thiếu tướng trẻ nhất, và là người đạt quân hàm cấp tướng cao nhất trẻ nhất (* thống tướng năm sao). Hào quang của ông không đến một cách ngẫu nhiên: không chỉ bởi một sự nghiệp vĩ đại và có chiều sâu; mà nó còn là kết quả của những nổ lực to lớn trong việc xây dựng hình ảnh cá nhân; vì rằng ông ta luôn nhận được danh tiếng cực đại cho mỗi chiến thắng trong khi thuộc cấp của mình lại nhận ít vinh dự nhất trong khả năng. Ông là một kịch sỹ hạng nhất, luôn bận rộn không đơn thuần bởi công việc một viên tướng mà còn vì làm mọi việc theo cách kịch nhất có thể, MacArthur-vĩ-đại không làm thứ gì thấp hơn sân khấu lịch sử – như thể cuộc đời này luôn là một sàn diễn và cả thế giới là khán giả của ông.

(* Nhận xét riêng của người dịch: có vẻ Halberstam rất có ác cảm với MacArthur – và phần lớn người theo đảng Dân chủ cũng vậy. Thực ra, sự nghiệp của MacArthur được nhìn nhận rất khác nhau, tùy theo góc nhìn của từng người. Đến giờ vẫn còn nhiều tranh luận về vị thống tướng này: một tướng lãnh siêu tài năng, hay một con người vô kỷ luật bất tài.)
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #58 vào lúc: 01 Tháng Mười Một, 2013, 08:43:34 pm »

Dù sao thì tờ Times, trong trang xã luận nồng nàn lòng tôn kính với MacArthur, cũng không quá nịnh như tạp chí Time với những lời tán dương viên tướng này. Henry Luce, sáng lập viên, biên tập viên của Time, yêu Trung Hoa và Tưởng Giới Thạch, nên tờ tạp chí này có mối quan hệ rất gần gũi với nhóm Vận động Trung Hoa; những người Mỹ này xem Trung Hoa đồng nghĩa với Tưởng Giới Thạch, và tin rằng chính phủ đã không hỗ trợ đầy đủ cho Tưởng. Là tạp chí có sức ảnh hưởng rất cao đến chính trị và xã hội (Mỹ) trong cuối thập niên 1940 và thập niên 1950, Time luôn quan tâm đến châu Á hơn bất kỳ ấn bản nào ở Hoa Kỳ trong cùng thời, trong đó có phần không nhỏ bởi Luce là con một nhà truyền giáo làm việc ở Trung Hoa. Có lẽ Tưởng Giới Thạch là một nhà lãnh đạo mà Luce ưu thích khác bên cạnh Winston Churchill; trong khi Douglas MacArthur rõ ràng là viên tướng được ông mến mộ; bởi họ cũng chia sẽ niềm tin về địa vị hàng đầu của châu Á và đồng cảm với nhau về việc quốc tế quá ít chú ý đến khu vực đó. Khi tạp chí Time đưa MacArthur lên trang bìa số ra ngày 10 tháng Bảy 1950, ngay sau lúc Bắc Triều Tiên tấn công – xuất hiện trên bìa tạp chí này là cực kỳ quan trọng trong những năm đó – thì đó là lần lên bìa thứ bảy của ông, bằng với Tưởng Giới Thạch. Một đoạn trong bài báo này đã đưa ra tiêu chuẩn mới cho việc thánh hóa một vị tướng ưu thích trên mặt báo: “Trong tòa nhà Dai Ichi, nơi từng là trung tâm đế chế bảo hiểm Nhật, một sỹ quan tham mưu mắt đã mờ, nhìn xuống từ chồng hồ sơ giấy tờ, thầm thì đầy tự hào ‘Chúa ơi, ông ấy thật vĩ đại’. Tướng Almond, tham mưu trưởng, nói thẳng: ‘Ông ấy là nhân vật vĩ đại nhất còn sống’. Còn viên tướng không quân tôn kính George Stratemeyer thì còn mạnh mẽ hơn … ‘Ông ấy là người vĩ đại nhất trong lịch sử’ “

Không phải ai ai cũng đồng ý, dĩ nhiên thế. Nếu ông ta đã thành công trong việc quyến rũ các chủ bút, chủ biên; thì các ký giả tác nghiệp lại thường xuyên bị hoãn hẹn bởi tính huênh hoang, tự đắc của MacArthur, và đa số họ chuyển sang khinh thường cái môi trường bợ đỡ trong ban tham mưu của ông. Một cuộc gặp với ông ta không đơn giản là trao đổi mà giống như một buổi biểu diễn; quan trọng hóa mọi thứ với người tham gia. Vấn đề của MacArthur, như theo lời tướng Joseph Stilwell khi nói với Frank Dorn, một trong những trợ tá hàng đầu của ông, là ông ta (MacArthur) đã “làm tướng quá lâu”. Stilwell nói điều này vào năm 1944, trước khi MacArthur trở thành một-hoàng-đế-do-Mỹ-bổ-nhiệm tại quốc gia bị chiếm đóng Nhật Bản. “Ông ấy nhận ngôi sao cấp tướng đầu tiên vào năm 1918 và điều này có nghĩa là ổng đã có gần ba mươi năm ở vị trí tướng quân” Stilwell nói, “ba mươi năm để mọi người làm việc cho ổng, bợ đít ổng và làm những gì ổng muốn. Điều này hổng tốt cho bất kỳ một ai”.

Vào năm 1950 MacArthur là một nhân vật lớn nên mọi người phải chơi theo luật của ông. Thực tế mà nói ông không chỉ lập nên một quân đội của riêng mình trong lòng quân đội lớn – nơi chỉ có ông được quyền ra lịnh, mà còn lập cả một tiểu thế giới ở đó ông tự cai trị. Các hướng dẫn, mệnh lệnh hay cả khuyến nghị do Washington phát tới thường bị lờ đi, kể cả khi được đưa ra từ các tướng lĩnh là cấp trên danh nghĩa của MacArthur, những người này, theo góc nhìn tôn ti thứ bậc của ông, không là thượng cấp của mình và như vậy không có quyền hạch hỏi hay ra lịnh cho ông. Ông dựng nên một tiểu thế giới tự cách biệt một cách đáng nguy hiểm, một thế giới tổng hợp cả xã hội, chính trị và quân sự từ mọi người, mọi vật – ở đó không ai dám đối lập. Mọi người quanh ông đều kính sợ ông; ai không thế đều không ở được lâu trong sở chỉ huy của ông. Khách đến sở chỉ huy của ông trong tòa nhà Dai Ichi, và được cho là xứng đáng gặp ông thì luôn sẽ được thấy một Sô Diễn. Trong sô diễn – mà ông thường thực hành mỗi sáng trước gương trong bộ áo choàng tắm – ông nói với vẻ đầy tin tưởng, dứt khoát về những sự việc tương lai mà hầu hết mọi người, bất kể có am tường không, tiếp cận ở mức độ thận trọng, hiểu biết  những chiêu trò của lịch sử (câu này không rõ nghĩa, xin lỗi bạn đọc – TNL ). Những khán giả thường khá hoa mắt và được nghe đi nghe lại nhiều lần nhưng lại tin rằng đó là một bài nói ứng khẩu. Ông ta là một người cực kỳ có năng khiếu trong kịch độc thoại. Nhưng trên tất cả là thiếu thứ không khí có chất. Mọi thứ được điều khiển quá tốt, tính toán quá cẩn thận và phối âm tuyệt hảo trong một thế giới mà mọi thứ không bao giờ được điều khiển hay dàn xếp, một nơi mà nhiều lực lượng mới, thù ghét nhau rất khác với cái cách đã diễn ra ở thế kỷ trước.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #59 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2013, 04:48:19 pm »

Harry Truman làm tổng thống một cách bất ngờ (*), nhưng Douglas MacArthur làm tướng thì không. Khác xa với hầu hết mọi người, Douglas MacArthur là kết quả những gì ông nỗ lực vươn tới. Bắt từ đầu người cha, Arthur MacArthur, một con người kinh khủng, một sỹ quan anh hùng của quân đội phe Liên bang trong nội chiến và sau này là một nhân vật chính trong cuộc khởi nghĩa Philippin. Quan trọng hơn, cụ MacArthur còn là một hình ảnh thần thoại trên cao trong mắt cậu con trai – huyền thoại ấy được tạo ra và phối khí một cách khôn ngoan, liên tục bởi Pinky MacArthur; vợ của Arthur và là mẹ của Douglas. Sau cái chết của chồng bà cùng sự đắng cay cái cách kết thúc sự nghiệp ông ấy, bà là kiến trúc sư chính cho con đường sự nghiệp của người con, của sự lập dị cùng tham vọng kiên định cũng như việc tính vị kỷ của Douglas.

(*) Ông này lên kế nhiệm tổng thống khi tổng thống đương nhiệm, Roosevelt đột tử

Dù đa phần những biểu hiện của Douglas MacArthur rõ ràng là ảnh hưởng từ bà mẹ, nhưng chính bản thân Arthur MacArthur, cha ông, cũng không phải là một con người khiêm tốn, rụt rè. Theo góc nhìn của mình, ông cho rằng mình hầu như đã không được dùng đúng chỗ không chỉ với khả năng quân sự mà còn cả những ý kiến chính trị. Như đại tá Enoch Crowder, trợ tá của Arthur MacArthur nói: “ổng là một tay khoa trương, tự cao tự đại nhất mà tui từng gặp, cho tới khi tui thấy thằng con”. Sự nghiệp của ông có cả những lúc chói sáng cũng như những thời điểm cực kỳ khó khăn; có cả những khi thành công nhanh chóng và cũng có lúc lụi tàn. Lúc ông hồi hưu, gần như chưa có vị trí quan trọng nào trong quân đội mà ông chưa từng kinh qua, chưa có cấp bậc nào chưa đạt, không có huân chương nào của quốc gia chưa từng được nhận. Ông kết thúc binh nghiệp với hàm tướng ba sao – cấp hàm cao nhất có thể khi đó – được tưởng thưởng Huân chương Vinh dự (Congressional Medal of Honor); nhưng ông cực kỳ thất vọng với sự nghiệp của mình, với quân đội và với cấu trúc chính trị mà ông đã đấu tranh chống lại trong nhiều năm. Đúng lý ra ông được tiêu chuẩn chôn trong nghĩa trang quốc gia Arlington, nhưng ông cay đắng và xa lánh những người cầm quyền đất nước vào lúc cuối đời, nên ông từ chối được chôn ở đó.


tướng MacArthur cha
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM