Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #60 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2013, 04:50:14 pm » |
|
Cuối đời, Arthur MacArthur từ một người Mỹ yêu nước vĩ đại, theo một cách lắt léo kỳ lạ, đã trở thành một người chống Mỹ. Như thể có những khoảng đen trong tâm hồn ông, những điều gì đó quá xa xăm để tụ hội lại trong chức nghiệp vốn cần có sự hi sinh và những rủi ro quá lớn song hành cùng lý tưởng. Dù gặt hái được rất nhiều thành công và vinh dự, nhưng không bao giờ đủ; và ông chỉ nhớ tới những gì mình không giành được. Với người con, cũng vậy, nhiều thứ tương tự để có thể nói rằng: nếu có điều gì mà ông không điều khiển được, không dành được trên đường đời, thì lúc kết thúc giấc mơ, ông sẽ hủy hoại nó. Nhiều sỹ quan quân sự cao cấp làm việc trong các điều kiện khó khăn với nhà cầm quyền dân sự cũng trở nên căm ghét hoặc ít nhất là mất lòng tin vào giới chính trị gia – hai giai tầng văn hóa có quá nhiều điều khác biệt, và thường thì những sỹ quan tốt nhất luôn không như các chính trị gia, bẻ cong các sự việc.Tuy vậy, trong trường hợp Arthur MacArthur thì vượt xa kiểu thận trọng hay mất lòng tin bình thường – mà đến mức bệnh hoạn. Bất kể cánh dân sự muốn gì hay họ là ai, thì Arthur MacArthur dường như đều kháng cự. Vào những năm cuối đời, ông nói liên tục về những chính trị gia ác quỷ, và quan điểm đó truyền lại sang người con. Với Douglas MacArthur, ngay khi bắt đầu sự nghiệp đã phải đứng trước thử thách gấp đôi: không chỉ phải bắt kịp thành tích đáng nể của người cha mà còn phải cố báo thù cho những bất mãn trong cuộc đời ông ấy, hay ít ra cũng phải ngang bằng với những ai đã làm tổn thương hoặc coi thường ông cụ. Và như vậy đúng là có quá nhiều yêu cầu với bất kỳ một ai. Cuộc đời và sự nghiệp của hai cha con nhà MacArthur trải dài qua hơn một thế kỷ lịch sử nước Mỹ, mà đó là một giai đoạn then chốt khi đất nước này tăng trưởng về kích thước cũng như quân sự, kinh tế và cả sức mạnh chính trị theo cấp số nhân. Arthur MacArthur sinh năm 1845 và thành danh anh hùng ở tuổi 18 trong cuộc nội chiến Hoa Kỳ; Douglas thì sinh năm 1880 và là một tư lịnh tại ngũ trong cả ba cuộc chiến tranh lớn ở thế kỷ kế tiếp: Thế chiến lần thứ nhất, Thế chiến lần hai và Chiến tranh Triều Tiên, ông ta chết năm 1964, đúng một thế kỷ sau của thời điểm người cha làm nên hành động anh hùng đầu tiên. Cả hai đều có cách kết thúc sự nghiệp một cách kịch tính như nhau: Arthur MacArthur, khi đó là tướng hai sao, bị triệu về từ Phillipin dù ông đã chỉ huy quân đội khá thành công nhưng lại có rắc rối không cần thiết với giới cầm quyền dân sự; nửa thế kỷ sau, và chừng 105 năm kể từ ngày sinh của ông, Douglas MacArthur cũng bị bãi nhiệm khỏi vị trí chỉ huy trong chiến tranh Triều Tiên bởi Tổng Thống Mỹ, vì đã thường xuyên vượt quá giới hạn quân sự và can dự quá nhiều vào chính trị. Arthur MacArthur là con trai của một vị thẩm phán đầy tham vọng và lỗi lạc ở Milwaukee. Khi nội chiến nổ ra, viên thẩm phán đã cố đưa con mình vào viện West Point. Thậm chí ông còn nhờ cả một thượng nghị sỹ bang Wisconsin đưa cậu con đến gặp Abraham Lincoln. Nhưng không còn chỗ trong trường, và vì vậy, viên thẩm phán, bằng các quan hệ riêng trong chính giới, đã đưa cậu con vào vị trí sỹ quan quản trị trung đoàn Wisconsin thứ 24. Ở tuổi 18, Arthur MacArthur đã là một sỹ quan, dù rằng lúc đầu chẳng ai trong trung đoàn đó lấy làm xúc động trước việc có một sỹ quan quản trị nhóc con. Lần nổi danh đầu tiên của ông trước công chúng là vào tháng 11 năm 1863 ở trận Missionary Ridge, gần Chattanooga. Lúc ấy quân Liên minh chiếm được cao điểm ở đó và bắt đầu nghiền nát một lực lượng cánh Liên bang đang tập hợp gần cạnh. Theo lịnh của các sỹ quan Liên bang, một mũi tấn công vu hồi được tổ chức, nhưng thương vong còn nặng nề hơn, cho đến khi như thể phản ứng giận dữ trước những thiệt hại không thể nói nổi của họ, quân Liên bang táo bạo ào lên đỉnh đồi, ngay trước công sự được chuẩn bị kỹ của quân miền Nam và đánh đuổi được chúng. 
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #61 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2013, 04:54:18 pm » |
|
Chính trung đoàn Wisconsin 24 đã dẫn đầu và một người lính – hoặc đúng hơn là một cậu trai – đã mang lá cờ trung đoàn cắm lên đỉnh đồi, có lẽ đã có đến ba hoặc bốn chiến sỹ thay phiên nhau mang cờ sau khi người trước bị hạ cho đến lượt Arthur MacArthur. Tướng Phil Sheridan, tư lệnh phía Liên bang, xúc động trước chiến thắng bất ngờ, đã nói rằng mọi người nên coi trọng cái gã cầm cờ bởi gã ấy đã được tặng Huân chương Vinh dự – dù, trên thực tế, Arthur không có Huân chương ấy cho đến tận 27 năm sau. Ông đã trải qua mười ba trận đánh khác nhau trong cuộc hành binh Sherman xuyên qua bang Georgia và bị thương bốn lần. Ông chiến đấu xuất sắc, và được phong cấp đại tá năm mười chín tuổi, một chiến binh trẻ nhất quân đội Liên bang đạt cấp hàm ấy và trở nên nổi tiếng dưới cái tên “đại tá thanh niên” trong cuộc Nội chiến. Ông dũng cảm, thông minh và có bản năng chiến binh trong người. Sau chiến cuộc, ông rời quân ngũ, nhưng cuộc sống dân sự làm ông phát ngán nên đã quay lại quân đội, dù ông phải rời bỏ cấp hàm có trong thời chiến. Ông nhanh chóng được phong đại úy, và rồi đứng yên không tiến triển trong hai mươi ba năm tiếp theo. Những năm đó thật khó khăn với chút ít khen thưởng ngoại lệ có lẽ chỉ đủ để cứu vãn. Khi ấy đất nước trong quá trình tây tiến, và ông thường xuyên nằm ở tuyến đầu. Tình thế lúc đó rất nguyên thủy, ông hành động ở những vùng đất hầu như chưa có luật pháp, hoặc có lẽ nói chính xác hơn thì luật chính là ông ấy. Những chính trị gia dân sự hiện diện ở đó thường đứng ngoài lề, và chẳng mấy chút gây trở ngại cho các vị tư lệnh. Sự cản trở, nếu có, lên cánh quân nhân chỉ đến từ trên cao, từ những chính trị gia ở Washington, mà những người đó thì không chỉ xa cách về không gian địa lý mà còn được xem là vô tội trong thế giới thực mà ở đó, quân đội phải thực thi những nhiệm vụ bẩn thỉu của mình. Với quân nhân, cánh chính trị gia làm việc với kiểu thỏa hiệp hoặc bị thỏa hiệp. Arthur MacArthur đặc biệt thành công ở tiền tuyến và được tin cậy trong việc chỉ huy quân ở chiến trường. Dù ông không được học chính quy nhiều về mặt quân sự, nhưng ông có kỹ năng và trí tuệ thật đáng kinh ngạc. Tài năng đó lại được vận hành trong điều kiện không bị cánh dân sự cản trở trong những năm ấy nên chỉ càng tăng thêm tính ngạo mạn của ông, làm cho ông, như nhà viết tiểu sử của con ông William Manchester ghi nhận, cực kỳ kinh miệt nhà cầm quyền dân sự – thái độ đó làm ông gặp rắc rối ở Philippine và thừa kế từ cha sang con, làm cả gia đình MacArthur từ cha mẹ đến con càng thêm phần thù địch với hầu hết các chính trị gia và còn, theo một cách kỳ dị cay đắng gần như theo cách vô thức, với cả chính quyền. Năm 1889, rốt cuộc Arthur cũng nhận hàm thiếu tá và về Washington với vị trí trợ lý quản trị cao cấp. Năm 1897, ngay đêm trước của cuộc chiến Mỹ – Tây Ban Nha, ông lên trung tá. Khi cuộc chiến nổ ra vào năm 1898, ông hi vọng sẽ được thăng đại tá, và sẽ được chỉ huy quân đánh nhau với Tây Ban Nha ở Cuba, nơi được xem là trọng điểm của cuộc đối đầu giữa Hoa Kỳ – nước bắt đầu nhận thấy mình tràn đầy sức lực kinh tế, dẫn đầu sức mạnh công nghệ trên thế giới – và Tây Ban Nha một đế quốc đang suy tàn hơn cả thế kỷ. Thay vì được thăng đại tá, Arthur lại được thăng vượt hai cấp lên thẳng thiếu tướng; nhưng thay vì lãnh quân ở Cuba thì ông lại bị gửi đến Philippine. William McKinley, một đảng viên Cộng hòa ở Ohio với những cảm nhận xung đột phức tạp về vai trò mới đang lên của Mỹ là một đế chế trên Thái Bình Dương, được bầu làm tổng thống. Cũng ngạc nhiên như mọi người, ông nhận ra không chỉ thành công dễ dàng trong việc xử lý đàn áp người Cuba khởi nghĩa mà còn đưa Hoa Kỳ đến một bước tiến lớn hơn ở Thái Bình Dương và cũng phức tạp hơn nhiều. Ông nhận ra mình đối diện với một nhiệm vụ khó khăn hơn rất nhiều: đưa hình ảnh hùng mạnh của Mỹ vươn lên ở Á châu. Nơi đó các nhà lãnh đạo bản địa muốn một thứ – đế chế Tây Ban Nha hãy biến đi. Đầu tiên họ chào mừng sự giúp đỡ của Mỹ, và rồi họ nhận thấy – như là một phần của thời đại – rằng Hoa Kỳ định làm những gì tốt cho Mỹ và chỉ Mỹ, với họ thì cũng ổn, đó là tạo một lối chính trị mới cho họ, dù dưới luật lệ của Hoa Kỳ nhưng vẫn có chủ quyền (Damn, cả đoạn này mình dịch lủng củng và không rõ nghĩa lắm, sẽ cố hiệu chỉnh lại sau  )
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #62 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2013, 04:57:57 pm » |
|
Đây là kinh nghiệm thực dân thực thụ đầu tiên của Hoa Kỳ, và điều này không hẳn là hạnh phúc. Phát súng đầu tiên giữa quân Mỹ và quân nổi dậy Philippin nổ ra vào tháng Hai năm 1899, mười một tháng trước thềm thế kỷ mới, nhưng về mặt sức mạnh và tham vọng, chiến dịch tàn bạo chống nổi dậy của Hoa Kỳ ở Philippin đã báo trước những gì còn hơn thế sẽ diễn ra ở thế kỷ sau. Người Mỹ tiến vào quần đảo này gần như tình cờ, như là một sản phẩm phái sinh của sự kiện Cuba. Khi chiến cuộc ở Cuba diễn ra, đô đốc George Dewey, tư lệnh hạm đội Thái Bình Dương đưa hạm đội đến vịnh Manila để tiêu diệt hạm đội Tây Ban Nha cũ kỹ. Và ông nhận ra, đó chỉ còn là một bóng mờ yếu ớt của đế quốc Tây Ban Nha khi trước. Thuộc địa Tây Ban Nha ở Philippin rõ là chẳng khó để lấy và Hoa Kỳ đã chiếm được.
Thật ra tổng thống McKinley không thật muốn có quần đảo này. Ông không muốn, ông nói với một người bạn “chẳng biết cái quần đảo chết dẫm đó ở đâu đó trong phạm vi hai ngàn dặm”. Nhưng dưới áp lực ở Hoa Kỳ cần phải mở rộng ra theo cách nào đó, do sự kéo dài của chiều hướng trong thế kỷ mười chín về Thuyết Bành trướng do định mệnh của Hoa Kỳ (American Manifest Destiny), và nhu cầu cần biểu hiện ra cho phần còn lại của thế giới biết đến sức mạnh kinh tế Mỹ, nên động lực cho việc này đã có đủ. Nếu Hoa Kỳ cần có vài chứng cớ để chứng minh cho sức mạnh trong những năm ấy, thì đó phải là từ hành vi thực dân. Hai động cơ chính ở Mỹ – một từ sự tự chủ chính trị và quân sự, và một tàn bạo và hám lợi hơn, không phải ngay từ đầu, mà xung đột, và động cơ diều hâu hơn dường như đã thắng. Như tờ Washington Post ghi nhận: “Một ý thức mới dường như đang đến với chúng ta – ý thức về sức mạnh – và với điều ấy một khát khao mới tràn lên … tham vọng, thích thú, giá trị, niềm vui chiến đấu, và gì gì đi nữa, thì chúng ta cũng bừng bừng sinh khí vì cảm xúc mới…Cảm giác của một đế quốc tràn lên trên môi mỗi người như thể mùi máu trong rừng sâu. Điều này có nghĩa là chính sách đế quốc.”
Mỹ bắt đầu cuộc phiêu lưu ở Philippine với tư cách đồng minh – quả thực là gần như là một đối tác – của những người nổi dậy, họ chống lại chế độ thực dân Tây Ban Nha và chiến đấu vì nền độc lập của mình. Hoa Kỳ đảm bảo với họ ngay từ đầu rằng Mỹ không là thực dân. Rốt cuộc rồi họ cũng phải đánh nhau trong cuộc chiến đàn áp tàn bạo. Một lần nữa hai bản năng mạnh mẽ của người Mỹ lộ rõ – cánh truyền giáo, với tư cách là trách nhiệm của người Công giáo da trắng, thì đòi hỏi Hoa Kỳ nắm quyền thực dân trên toàn quần đảo để khai hóa dân bản địa, trong khi những kẻ theo chủ nghĩa phân biệt chủng tộc hạng nặng thì gọi quân du kích là “mọi nâu” hay “gugus” (hoặc goo-goos). Cái tên thứ hai có nguồn gốc từ vỏ một loại cây bản địa mà phụ nữ thường dùng để gội đầu. Rốt cuộc từ này được biến thể thành một từ chỉ nhiều thứ thuộc về người châu Á, gooks, trong Thế Chiến II, lính Mỹ dùng từ này để gọi người Châu Á, điều này kéo dài đến tận chiến tranh Triều Tiên và chiến tranh Việt Nam.
McKinley phải vật lộn với vấn đề có đưa quân vào đóng hay không, quanh ông là các nhóm quyền lực mạnh, mạnh hơn ông tưởng. Ông tự thấy mình không được thuyết phục mạnh mẽ trong vấn đề này. Rốt cuộc, ông nói với nhóm truyền giáo rằng với sự cộng hưởng lớn của xung đột tương lai, ông phải đưa quân đến bởi ông không có lựa chọn hợp lý nào khác. Đó là một quyết định cực kỳ khó khăn, ông nói, còn thêm rằng ông đã quỳ trong Nhà Trắng để cầu xin “Chúa toàn năng soi sáng và dẫn dắt”. Và sau cùng, ông bảo ông không thể để quần đảo rơi trở lại tay người Tây Ban Nha. Trông có vẻ hèn hạ, đê tiện. Ông cũng không để mở cho hai tay thực dân hạng nặng khác là Pháp và Đức vào. Và ông đã thực sự không để người Philippin ngây thơ được tự cai trị mình. Vậy là sự lựa chọn duy nhất của ông đã đem họ đến với người Mỹ để người Mỹ có thể: “dạy dỗ người Philippin, khai sáng, Gia tô hóa họ, và theo ý Chúa, làm những gì tốt nhất cho họ để xứng danh cho nhân loại mà Chúa đã hiến mình”.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #63 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2013, 05:05:04 pm » |
|
Cuộc chiến rất gay go ngay từ những từ ngữ vị tha ấy. Người Philippin dường như không có ý thức mấy trước những ân huệ mà Hoa Kỳ định áp lên. Quân Mỹ lúc đầu đánh giá không đúng công cuộc khởi nghĩa của người Philippin, họ biết đất nước này rõ hơn người Mỹ nhiều và còn được đông đảo nhân dân ủng hộ, họ đã cầm vũ khí chiến đấu chống quân ngoại bang theo cách du kích – và đã chiến đấu tốt một cách đáng ngạc nhiên. Quân Mỹ thì có ưu thế hơn một chút về vũ khí, công thuộc về loại súng trường mới của Na uy có tên là Krag-Jorgensen với các tiến bộ về băng đạn 5 viên và dùng thuốc súng không khói. Nghĩa là khi bắn sẽ không phun ra một cụm khói nhỏ và vì vậy địch sẽ khó hơn trong việc xác định vị trí bắn. “ Dưới lá cờ sao/Krag giáo hóa chúng” là một trong những bài hát được quân Mỹ thường hát. Những gì đang diễn ra báo trước cho vô vàn các trận chiến ở châu Á sau này: lúc đầu người Mỹ hay coi khinh đối phương bởi họ không phải là da trắng, nhưng rồi sẽ rất ngạc nhiên và đau đớn trước mức độ chống cự của họ. Ngay sau lượt nổ súng đầu tiên, một thiếu ta Mỹ đã gọi cho thượng cấp, đại tá Frederick Funston: “ Đến đây, ngài đại tá. Cuộc khiêu vũ bắt đầu rồi”. Những cuộc khiêu vũ!!! Cuộc chiến trở nên khốc liệt hơn mọi người mong đợi. Cũng như Arthur MacArthur, quân Mỹ đi ra từ tuyến đầu của cuộc chiến chống dân da đỏ: cũng như ở đó lòng căm ghét quân địch là sự pha trộn giữa nỗi sợ mang tính chủng tộc và lòng căm thù. “ Quốc gia này sẽ không thanh bình cho đến khi bọn mọi nâu bị tận diệt như bọn da đỏ vậy” một tên lính nói với phóng viên. “ Một thằng Philippin tốt là một thằng đã chết” một tên lính khác nói. Nhiều sỹ quan Mỹ rất cáu bởi kẻ địch hiếm khi chịu chiến đấu trong không gian mở hoặc ban ngày để quân Mỹ có thể thấy, và con cháu họ sáu mươi năm sau cũng như thế, ở Việt Nam. Quân địch ranh mãnh. Họ chiến đấu ban đêm và hay tiến hành phục kích. Bởi quân nổi dậy ẩn náu trong các cộng đồng dân cư bản địa nên quân Mỹ trở nên bạo lực hơn với dân cư ở đó, không có dân trung lập trong cuộc chiến. Điều này nhanh chóng lan tràn. Trước lúc kết thúc, có tới 112,000 quân Mỹ, trong đó gồm 62,000 lính chính quy và 50,000 lính tình nguyện được đưa tới Philippine. khẩu KragBạo lực không những leo thang mà ngày càng trở nên đầy tội ác. Một thiếu tướng Mỹ, Jacob Smith đã bảo thuộc cấp: “ Tôi không muốn có tù binh. Tôi mong các anh giết và đốt, giết càng nhiều, đốt càng nhiều tôi càng hài lòng. Tôi muốn tất cả tù binh phải chết, những ai có thể cầm vũ khí thi hành các hành động thù địch chống lại Hoa Kỳ”. Một trong các thuộc cấp hỏi lại Smith về độ tuổi giới hạn. Smith bảo: “ Mười tuổi”. Người ấy lặp lại: “ Mười tuổi? Con nít lên mười có thể cầm vũ khí đánh Mỹ hả?”. “ Đúng” Smith nói. Cuộc chiến kéo dài ba năm rưỡi và không mấy được biết đến ở Mỹ, kết thúc bằng trận càn táo bạo và bắt sống Aguinaldo, lãnh đạo quân nổi dậy, do tướng Funston tổ chức vào năm 1901. Sau cùng, 4200 lính Mỹ chết và 2800 bị thương ở Philippin. Có lẽ có chừng 20,000 quân Philippin chết trong rừng và hơn, rất nhiều, 250,000 dân thường chung số phận. “Giá mà đô đốc Dewey rời đi sau khi đánh bại hạm đội Tây Ban Nha thì ông đã giúp chúng ta tránh được bao nhiêu là rắc rối” McKinley nói với một người bạn như thế. Tướng Arthur MacArthur làm tư lệnh quân Mỹ ở Philippin vào tháng 5 năm 1900, thay cho tướng Elwell Otis, một người ông hoàn toàn xem thường. “ Một chiếc đầu máy lật ngửa trên ray với các bánh xe quay tít” ông mô tả Otis như vậy. Ông năng động hơn Otis và ông cũng ráng tổ chức lại chính quyền [Philippin], ông cũng sẽ sử dụng lực lượng quân sự vượt trội để tiêu diệt quân du kích. Có những ràng buộc căn thẳng giữa ông và chính quyền Washington, làm ông biết chính xác trong đầu những gì cần phải thực hiện, cùng với đó là sự yêu ghét lẫn lộn của Washington. Tổng thống McKinley không muốn bị làm nhục bởi một cuộc chiến không có điểm kết thúc, kiệt quệ. Nhưng ông cũng không muốn đặt mọi thứ ở đó vào tay cánh quân nhân. Thay vì vậy ông tìm kiếm một giải pháp chính trị. Năm 1901, rốt cuộc tổng thống cũng đưa một phái đoàn năm người đến quần đảo để dàn xếp một phương án chính trị, và ông chọn người bạn, William Howard Taft, một luật sư, một thẩm phán ngoại hạng người Ohio, làm lãnh đạo nhóm. Ông Taft không muốn Philippin chút nào. Cái ghế mà ông thèm là ở tòa Thượng thẩm. Tuy nhiên, nếu ông gạt bỏ không chấp nhận vị trí thứ nhất thì có vẻ như cái thứ hai sẽ không bao giờ đến với ông. Là người to bự, hơn 150 cân trọng lượng, Taft không thể nào say mê Manila được. “ Nhưng thưa ngài Tổng thống” ông nói lúc họ gặp nhau “ tôi xin lỗi, chúng ta có được Philippin. Nhưng tôi không muốn chúng tí nào, và tôi nghĩ ngài nên tìm những ai có sự đồng cảm với tình hình này” “Tôi cũng chẳng ưa hơn anh tí nào” McKinley đáp, đồng tình với Taft, nhưng vị tổng thống cố nài, rằng cái ông cần là một người mà ông có thể tin cậy để đại diện ông ở đó.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #64 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2013, 05:13:37 pm » |
|
MacArthur, khi đó đứng đầu chính quyền quân quản ở quần đảo, ông giận dữ trước khả năng có thể thách thức quyền lực tuyệt đối của mình, nên ông không để Taft có một cơ hội nào. Thay vì gặp Taft và đoàn công tác khi họ mới đến Manila như theo nghi thức lễ tân, thì ông chỉ gửi một người phó đến đón; và, để làm mọi thứ tồi tệ thêm, như nhà ngoại giao sử gia Warren Zimmermann viết: “ông cố làm nhục phái đoàn bằng cách để họ đợi cả ngày trong cái nóng gay gắt, và rồi đón nhận họ theo kiểu một hoàng đế phương Đông”. Ngay cả lúc gặp thì cũng là một sự bẽ mặt. Cả Taft lẫn MacArthur đều chẳng có một công việc dễ dàng – và sự phân chia cầm quyền giữa cánh dân sự và quân sự cũng không bao giờ rõ ràng – nhưng MacArthur còn làm điều này thêm tệ bởi ông không tôn trọng Taft, ông này rõ ràng là người công bằng. Dường như MacArthur không mấy lo lắng khi đối xử một cách khinh rẻ Taft cũng như với Tổng thống. Cuộc chiến của MacArthur là thắng lợi của bản ngã, của cái tôi trước ý thức thông thường: chính ông ta sẽ tự đưa mình, chứ không Taft, vào thế ngã thật đau. Nhiệm vụ của Taft mang tính chính trị – tất cả mọi thứ nhằm bảo vệ cho quyền lợi tương lai của người Mỹ và là bà đỡ cho một thể thức độc lập chưa mấy rõ ràng cho người Philippin. Thỉnh thoảng ông dùng những cụm từ kiểu: “Philippin của người Philippin” hoặc có lúc, như theo cách thức của thời kỳ đó, gọi những người Philippin là “những người anh em da màu bé nhỏ”. Nhưng lính chiến dưới quyền MacArthur thì không nghĩ rằng đối phương có thể là anh em trong nhà. Họ đặt ra bài hát rằng: ”Nó có thể là anh em của William Howard Taft/nhưng nó chẳng là anh em của ta”. Chẳng mấy khi có tiếp xúc thân mật giữa vị tướng và trưởng phái đoàn; để giao tiếp với MacArthur, Taft phải viết thư. Giao du với nhiều nhân vật trong chính trường Mỹ lâu năm, Taft vẫn không gây được ấn tượng với Arthur MacArthur bởi cái tôi cao ngạo của ông này; Taft đã viết thư về nước cho những người thực tế như Bộ trưởng Bộ Chiến tranh Elihu Root trong số hàng ngũ tướng lĩnh rằng ông không phục; điều này đã lặp lại một cách kỳ lạ vào nửa thế kỷ sau. Arthur MacArthur không biết hài hước “nhìn chung là khá sâu sắc với tâm lý người dân; nhưng thiếu lịch thiệp, thiếu để ý đến quan điểm bất kỳ ai với điều kiện thực tế dù đó là thường dân và chỉ ở đó trong một thời gian ngắn”. Ông ta là một người, như Taft nghĩ, nhanh chóng đưa ra một bài thuyết nhưng ít chịu lắng nghe. Bởi Taft không chỉ là người được Tổng thống Hoa Kỳ bổ nhiệm mà còn là bạn bè thân cận của ngài, nên thái độ quá nóng nảy của MacArthur thật quả là có tầm nhìn ngắn và tự hủy hoại mình. Trong quá trình cự nhau với Taft – người thực sự quan trọng trong cuộc chiến dành quyền lực giữa hai nhân vật quân sự, dân sự, MacArthur đã khá vô cớ đụng chạm với bốn tên tuổi lừng lẫy của đảng Cộng hòa trong thời kỳ ấy: McKinley, Root, Teddy Roosevelt – ông này liên doanh tranh cử với McKinley trong năm 1900 (và sau này kế vị khi McKinley bị ám sát), và chính Taft – toàn quyền Philippin năm 1902, sau này là bộ trưởng Bộ chiến tranh trước khi thành tổng thống vào năm 1908. MacArthur dai dẳng chống đối Taft trong 13 tháng trước khi ông này được gọi về nước. Công việc ở Manila chính là phép thử cho vị trí cao nhất trong sự nghiệp của ông. Tám năm sau ngày được gọi về, ông thắng cử tổng thống, và khi ấy, MacArthur nhanh chóng mất vị trí. Nhưng vẫn chưa hết. Dù được phong trung tướng, hàm cao nhất trong lục quân thời bấy giờ, nhưng MacArthur không bao giờ được giữ chức tham mưu trưởng Lục quân, vị trí mà ông muốn hơn tất cả mọi thứ. Dù có thành tích cực kỳ ấn tượng, Arthur MacArthur phải kết thúc sự nghiệp và sống trong niềm chua xót, sự giận dữ dai dẳng đã thành một thứ vi trùng hủy hoại ông. Trong những năm ấy, như William Manchester viết, ông đã gieo một hạt giống kinh khủng về xung đột giữa nhà cầm quyền dân sự và cánh quân nhân vào trong đầu chính con ông: “hạt giống ấy cần thời gian rất dài để nở hoa – nửa thế kỷ – nhưng rốt cuộc quả của nó thật là khác thường”. Những ai sau này có biết về câu chuyện của Arthur MacArthur và cách đối xử tệ của ông với Taft (sau này là Tổng thống) thì sẽ biết được hiểu nhiều về cuộc xung đột giữa Douglas MacArthur với tổng thống của ông, Harry Truman, một thứ chú thích lạ kỳ cho sự kiện trong tương lại – lịch sử không mấy khi lặp lại những gì đã qua. Arthur MacArthur chỉ sống thêm ba năm sau khi ông bị truất quyền vào năm 1909. Người thực sự giữ lửa, giữ cho huyền thoại về ông sống mãi, chính là bà góa phụ Pinky MacArthur. Ngọn lửa trong bà phải được truyền cho người con, cậu trai Douglas, để rửa thù cho danh dự gia đình. “Con phải lớn lên thành một người vĩ đại” bà thường bảo con “như cha con” hoặc nói thêm “như Robert E.Lee”. Điều này khiến cho sự nghiệp của Douglas không chỉ phải ngang bằng với người cha còn phải có thành tích vượt bậc, làm cho bà trở thành một người mẹ thành công. Rốt cuộc khi ông ta được làm tham mưu trưởng lục quân, vị trí mà cha ông đã không đạt được, bà nói: “ Giá mà cha con còn sống để thấy con như bây giờ! Douglas, con là tất cả những gì ông ấy muốn”.
Hết chương 7
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #65 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2013, 05:19:31 pm » |
|
Chương 8Thật lạ kỳ khi một phụ nữ sinh ra ở thế kỷ trước, 98 năm trước khi cuộc chiến Triều Tiên bắt đầu, và đã chết cách một thập kỷ rưỡi trước năm 1950 lại có ảnh hưởng sâu sắc đến một cuộc chiến diễn ra vào giữa thế kỷ hai mươi. Không thể hiểu được Douglas MacArthur nếu không hiểu không chỉ cha ông mà còn cả mẹ ông nữa. Hơn bất kỳ nhân vật nào cùng thời, kể cả Franklin Roosevelt, ông này cũng có một bà mẹ độc đoán, Douglas MacArthur thật sự là một đứa con ngoan của mẹ. Dù có vinh danh với Huân chương Danh dự vì đã dũng cảm đối mặt với lửa đạn quân thù, hay dù cận kề với thất bại, thì rốt cuộc Douglas MacArthur vẫn là một cậu con ngoan. Không có mấy anh hùng trong quân đội Hoa Kỳ khi rời nhà đến học West Point thì mẹ họ phải cùng ly hương để đến sống trong thị trấn nhỏ Hudson. Bà Pinky MacArthur thuê một phòng ở khách sạn địa phương tốt nhất, khách sạn Craney, để trông chừng Douglas trong suốt bốn năm ở học viện quân sự, vì sợ ông quên mất kỳ vọng của bà và rơi xuống cấp người thường. West Point là học viện nghiêm khắc bậc nhất Mỹ, nhưng bà Pinky MacArthur vẫn ở đó phòng khi nhỡ những giáo viên đương thời ở học viện bỏ qua chút tý hoặc không nhận định đúng về cậu thanh niên tuyệt vời mà bà đã mang đến cho họ. Bà Pinky MacArthur và con: Douglas MacArthur Pinky MacArthur không chỉ là kiến trúc sư chính cho sự nghiệp của Douglas MacArthur mà còn quan trọng hơn, tác động lên tinh thần ông, tạo dựng nên một con người vị kỷ vô song mà điều này đã làm lu mờ và có khi hạ thấp mất phẩm chất thông minh tột đỉnh của ông. Những gì bà đã làm tạo ra một con người tài năng, tận tụy để chiến đấu, để chống đối trong suốt bốn thập kỷ. Theo ngôn ngữ đương thời thì bà là một stage-mother (* mẹ của diễn viên), một phụ nữ đầy nghị lực và tham vọng, vì thiếu chỗ bộc phát nên đã truyền nó cho người con và tham vọng ấy sống bằng những thành công của cậu con. Sự nghiệp của bà, một người thích địa vị đẳng cấp thế giới, chính là cậu con. MacArthur thăng tiến là bà thăng tiến, ông chinh phục những thử thách khó khăn, chính là bà chinh phục, ông được vinh danh cũng chính bà được vinh dự. Ông ta phải vươn đến không chỉ thành công mà còn phải là thành công vượt hơn mọi người khác. Để thành công đơn giản là bạn không thể theo suy nghĩ của ai khác, nếu bạn thế, bạn có thể bị họ kéo xuống. Bằng cách đó, mẹ ông ta đã làm ông trở thành một người vị kỷ nhất và như vậy, tự cách ly mọi người. Ngay từ đầu Douglas là một thanh niên xa cách với các mối quan hệ đồng tuế. Với học viên West Point, cưới hỏi là dịp để gần gũi nhau nhất, để thể hiện mối quan hệ bền chắc giữa chú rể và bạn học – nhưng đám cưới của Douglas với vợ đầu thì lại nổi tiếng ở điểm thiếu bạn bè và đồng nghiệp. Chỉ duy nhất một người bạn đúng nghĩa có mặt. Nhiều năm sau, khi kết thúc sự nghiệp, ông cũng rất xa cách với các sỹ quan khác, trừ ban tham mưu của ông – mà ai cũng biết là nịnh hót. Ông là người không thể có tình bạn đồng tuế chân thật, bởi một phần không nhỏ là do ngay trong suy nghĩ, ông không có ai ngang hàng mình. Pinky MacArthur khá thận trọng khi đưa Douglas đi báo thù không chỉ cho những điều sai trái cha mình phải gánh mà còn với những ai đã cạnh tranh với ông ta. Bà đã dựng lên một con người thông minh, một tài năng vượt trội mọi người khác – một loại thiên tài quân sự hoặc là quái vật dưới lốt người, một người không bao giờ sai lầm. Không bao giờ. Ông không bao giờ được sai lầm, được thất bại. Ông là một tài năng siêu phàm, nhưng, theo một cách kinh khủng, không hoàn chỉnh. Có lẽ trận chiến lớn nhất, lúc chiến tranh Triều Tiên nổ ra, không phải là MacArthur chống Truman hay MacArthur đánh Trung quốc mà chính là MacArthur chống MacArthur – phần nào bên trong ông mạnh hơn, phần thông thái, năng động và táo bạo hay phần tự phụ, ích kỷ và kiêu căng. Cây bút Cole Kingseed, giáo sư lịch sử quân sự West Point, trong một bài viết về Oliver Cromwell – vị tướng Thanh giáo thế kỷ 17, đã cho rằng MacArthur ngang bằng với Cromwell, không rõ đó là một người tốt hay một quái vật lốt người: là một “ kẻ xấu vĩ đại”.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #66 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2013, 05:32:04 pm » |
|
Còn nhiều thứ khác do bà Pinky mang lại. Từ bà, Douglas đã học được sự cần thiết phải hoàn hảo hoặc dường như hoàn hảo, để che đậy bất kỳ dấu hiệu nào của sự nhu nhược, yếu đuối. Có lẽ hơn hết thảy, bà không cho ông ấy chấp nhận sai sót. Từ sự cần thiết phải hoàn hảo chắc chắn sẽ đi đến hoang tưởng, đa nghi. Nhân dân, theo như ông nghĩ, luôn muốn có ông. Họ có thể làm điều này với ông bằng cách nào – luôn là từ “họ”, kể từ thời trai trẻ ở sở chỉ huy tại Pháp đến khi là nhân vật cao cấp tại Washington. Ông sống trong một thế giới chỉ có một ký ức, thế giới của riêng ông và các cận thần, thế giới của thành công cá nhân, của những việc làm hoàn hảo. Nếu có gì sai thì là do ai đó, chắc là kẻ thù, chứ không phải từ thiếu sót của ông. Về việc thiếu chuẩn bị của những đơn vị Mỹ đầu tiên tham chiến ở Triều Tiên, sau này ông viết rằng: “Tôi đã tự hỏi mình sao Hoa Kỳ lại có thể để cho tình trạng đáng trách đó xảy ra? Tôi nhớ lại lúc ấy, chỉ trước một thời gian ngắn thôi, quốc gia của chúng ta đã có năng lực quân sự mạnh mẽ hơn bất kỳ nước nào trên thế giới. Nhưng chỉ ngắn ngủi sau năm năm, năng lực đó lại bị mất đi sự lãnh đạo dũng cảm, vững vàng với các vấn đề ở phương xa”. Dĩ nhiên, ông không hề nhắc gì tới việc chính ông là người giúp đẩy nhanh công tác giải ngũ quân nhân bằng thông báo của riêng mình rằng ông cần không tới một nửa số quân dưới quyền tại Nhật; ông cũng không đá động tới việc những người lính đầu tiên đưa đến Triều Tiên trong nhiệm vụ đồn trú đã được chuẩn bị rất tệ và trực tiếp dưới quyền ông; rằng ông chẳng mấy khi quan tâm đến họ ngoại trừ trong các trận đấu bóng quân đội; rằng; cũng như đất nước, ông về bản chất đang sống trong thời bình.
Trở lại quá khứ, Marry Pinckney Hardy là một người đẹp phương Nam. Con gái của một nhà buôn vải bông ở Norfolk, Vigirnia, bà gặp Arthur MacArthur ở New Orleans trong lễ Mardi Gras (*) và họ cưới nhau vào năm 1873, chỉ tám năm sau ngày kết thúc cuộc nội chiến Mỹ đẫm máu, khi cảm xúc và thiên kiến về nó vẫn còn rất cao. Hai người anh của bà vốn chiến đấu cho phe miền Nam đã từ chối dự lễ cưới. Cuộc sống hôn nhân của bà thật không dễ dàng. Bà sinh ra trong nhung lụa, nhưng rồi cô gái vừa bước vào đời ấy, không biết là tốt hay xấu, phải sống một cuộc sống khắc nghiệt, luôn phải di chuyển từ căn cứ này sang căn cứ khác, trở thành một nữ công binh một cách vô thức, thường ở những vùng hoang vu thuộc miền Tây và Tây Nam với những tiện nghi tối thiểu. Với gia cảnh giàu có thì những gì bà đang trải qua thật khó tưởng tượng. William Manchester gọi đó là “một cống phẩm cho sự dũng cảm của bà và có lẽ cho sức mạnh của kỷ luật xã hội”
(*) Lễ Mardi Gras tạm dịch là lễ thứ ba béo theo lịch phụng vụ của Giáo Hội Công Giáo, Mùa Chay Thánh bắt đầu bằng THỨ TƯ LỄ TRO, ngày khởi đầu cho Mùa Chay kéo dài 40 ngày tính đến ngày Thứ Tư Tuần Thánh. Ngày “Mardi gras” tuyệt nhiên không phải là một ngày lễ của Giáo Hội Công Giáo, mà chỉ do truyền thống lâu đời xuất phát từ các nước phương Tây theo đạo Thiên Chúa Giáo. Đa số người Âu Mỹ thường có lệ tích trữ lương thực thực phẩm trong gia đình để dùng nhiều ngày, nên thường mang tất cả các loại thực phẩm này ra dùng trong ngày Thứ Ba, ngay trước ngày Thứ Tư Lễ Tro, nên thường được gọi là “MARDI GRAS hay THỨ BA BÉO”. Dần dần sau này, “MARDI GRAS” biến thái theo thời gian tùy theo phong tục địa phương để trở thành Lễ hội với những cuộc diễu hành rầm rộ linh đình, tiệc tùng vui chơi. Riêng Tiểu bang New Orleans của Mỹ, Lễ hội MARDI GRAS được tiếp tục tổ chức hằng năm rất lớn với nhiều hoạt động như âm nhạc, diễu hành v.v…. và được xếp là một lễ lớn ở New Orleans
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #67 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2013, 05:36:09 pm » |
|
Người con trai cả của bà, Arthur MacArthur III, vào lính Hải quân và chết trẻ vào năm 1923; người kế tiếp Malcolm chết vì bệnh sởi lúc lên năm. Douglas sinh vào năm 1880 ở Fort Dodge, Arkansas sau này là Little Rock. Không rõ là cái chết của người con thứ hai đã ảnh hưởng mạnh mẽ lên tình cảm của Pinky MacArthur dành cho người con thứ ba, cũng là con út đến mức nào, không ai biết được; nhưng chắc chắn là không nhỏ; và bà đã dành nghị lực phi thường cho cậu út, ông là niềm hi vọng cuối cùng. Nếu người cha, vị anh hùng quốc gia mười bảy năm trước khi Douglas ra đời, là một thần tượng lý tưởng để ông noi theo, một huyền thoại sống, thì mẹ ông chính là một huấn luyện viên nghiêm khắc, luôn nhắc ông về những thành tích của cha để ông hướng đến. Vào cái ngày Quốc Hội Nhật thông qua đạo luật cải cách trong thời kỳ ông là nhà-cai-trị-không-chính-thống ở đó, ông ngồi chìm sâu vào trong ghế như thể hướng về thiên cung, nhưng thực chất là nhìn lên bức ảnh cha mình, và nói : “Con sẽ phải làm gì đây, hả Bố?”, cha ông, đã không thành công trong việc cải cách đất nước Philippin.
Pinky MacArthur muốn ông vào trường West Point, rất đáng ngạc nhiên rằng dù gia đình có những mối quan hệ chính trị nhưng ông rất khó khăn để được vào. Rốt cuộc, bà phải đưa cả nhà đến một Hạt mà nghị viên ở đó là bạn của ông nội Douglas. Nhưng các khó khăn vẫn tiếp diễn: ông không qua được kỳ kiểm tra thể chất bởi bệnh vẹo cột sống; mẹ ông phải tìm một bác sỹ để chữa. Rồi ngài nghị viên cũng bị áp đảo bởi những người nộp đơn với các mối quan hệ lớn, ông tổ chức một kỳ thi đặc biệt, ngay lập tức bà Arthur thuê một thầy hiệu trưởng trường cấp ba dạy kèm cho cậu trai Douglas. Đêm trước ngày thi, Douglas bồn chồn lo lắng, hầu như không ngủ được. Lựa lúc, người mẹ đã động viên con: “Doug à, con sẽ thắng nếu con đừng có lo lắng quá. Con phải tự tin, con trai của mẹ, nếu không thì chẳng còn ai tin con nữa. Hãy tự tin, vững vàng và dù có không như vậy con cũng sẽ làm tốt nhất những gì con có thể. Làm đi con”. Có mười ba cậu trai dự thi. MacArthur đạt điểm 99,3; người hạng nhì chỉ có 77,9 điểm.
Ông học xuất sắc ở West Point. Đứng đầu lớp, dĩ nhiên, đúng như mong đợi. Trong lịch sử trường, kết quả học tập của ông nằm trong top ba người cao nhất được ghi nhận, và hai người đứng trên có một người là người hùng của Pinky, tướng Robert E. Lee (*). Douglas đã hoàn thành tốt nhiệm vụ trong thế chiến I, được cấp trên ghi nhận (bảy huy chương Sao bạc, và chắc sẽ được Huân chương Vinh dự), và được thừa nhận khả năng chỉ huy xuất sắc ở sư đoàn 42 hay còn gọi là sư đoàn Cầu vồng, nơi ông sau rốt cũng nắm quyền chỉ huy, sư đoàn trưởng trẻ nhất trong thế chiến I, một sự nghiệp thành công mau lẹ, nhưng không bao giờ là đủ. Bà Pinky MacArthur luôn nhắc ông rằng còn nhiều điều để chinh phục, và nhỡ có ai khác không nhận thức được về khả năng siêu hạng của ông thì vẫn còn bà sẽ quảng bá ra. Thư bà viết cho các thượng cấp của Douglas đầy bẽn lẽn nhưng lôi cuốn, cũng đầy tâng bốc người nhận, nhắc với họ không chỉ những thành tích của con mình ở Pháp mà còn, dĩ nhiên, kết quả học tập lúc ở West Point, vết tích làm việc của người đẹp phương Nam. Trong suốt thế chiến I, bà cho là Douglas ở quân hàm đại tá quá lâu, nên bà đã viết thư cho Bộ trưởng bộ Chiến Tranh Newton Baker để đề xuất thăng tướng cho con: “Sỹ quan này sẽ là một công cụ trong tay ngài để làm những việc lớn nếu ngài dùng …. Cháu là một sỹ quan tận tụy và trung thành và tôi giới thiệu cháu với sự cân nhắc kỹ lưỡng, tôi tin cháu sẽ còn tiến bộ trong công tác – không chỉ vì lợi ích cá nhân cháu – mà còn trong một khung cảnh rộng hơn, vì quyền lợi của tổ quốc của chúng ta trong những thời điểm thử thách”. Baker không trả lời thư, nhưng bà Pinky không thoái chí. Tám tháng sau, bà lại viết thư cho ông nữa: “Tôi mạn phép tiếp tục gửi thêm ngài vài dòng, xin gửi đến ngài vài tâm tình nhỏ từ California và có liên quan đến con tôi, Douglas, ước ao lớn nhất trong tôi là mong ngài có thể tặng cho cháu một ngôi sao cấp tướng…. Xét đến thực tế công việc mà cháu đã hoàn tất với nhiệt tình, phẩm giá, và sự nổi bật trong hoạt động chiến đấu của mình, tôi tin rằng trong quân đội hiện nay, với chút ít biệt lệ, sẽ ủng hộ ngài chọn cháu làm một trong các tướng quân của ngài”
(*)Robert E. Lee là một vị tướng tài, tổng tư lệnh quân đội miền Nam thời nội chiến
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #68 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2013, 05:41:04 pm » |
|
Baker nhanh chóng chuyền bóng sang tướng John J. (Black Jack) Pershing. Giờ bà ta có Pershing trong tầm ngắm – vị này trước là một đại úy trẻ ở Philippin lúc Arthur MacArthur – một thiếu tướng – làm bạn với ông. Ngay lập tức Pershing nhận được ngay thứ bà ta gọi là “một bức tâm thư nhỏ, bạo gan gửi đến ngài bởi nhớ đến tình bạn cũ với ngài và người chồng quá cố rất ngưỡng mộ ngài… Tôi và ngài Bộ trưởng Bộ Chiến tranh cùng gia đình ngài khá thân thiết, ngài bộ trưởng cũng rất gắn bó và hiểu đại tá Douglas khá rõ”. Dĩ nhiên là thư từ không kết thúc khi MacArthur rốt cuộc cũng được thăng tướng vào năm 1917. Người mẹ lại tăng áp lực làm việc trong tiến trình đó, bởi ông dừng ở vị trí thiếu tướng năm năm – theo góc nhìn của bà mẹ thì quá lâu – bà bắt đầu một chiến dịch mới để ông con có ngôi sao cấp tướng thứ hai, lần chiến dịch này có thêm Loius – vợ đầu của ông ta – cùng tham gia. Louis MacArthur thuê một cựu sỹ quan của sư đoàn Cầu vồng, lúc này ông ta là một luật sư có nhiều mối quan hệ ở Washington, để vận động. (“Tôi không quan tâm tới chi phí. Hãy làm đi và gửi hóa đơn cho riêng tôi. Đừng nói với Douglas”). Cánh vận động đã sắp xếp cho một nhóm các đại tá thuộc sư đoàn của MacArthur đến gặp bộ trưởng bộ Chiến tranh, John Weeks, ông này bảo họ là MacArthur còn quá trẻ. Lúc nghe lại những gì Weeks nói, MacArthur càu nhàu rằng quá trẻ ư, vậy sao Thành Cát Tư Hãn lại lãnh đạo bộ tộc lúc mười ba tuổi, còn Napoleon nắm quân đội năm hai mươi sáu tuổi.
Khi ông về quản lý học viện West Point, thì mẹ ông làm gia chủ của ông. Với lần cưới vợ đầu – một phụ nữ li dị chồng hấp dẫn – mẹ ông không chấp nhận, một tín hiệu cảnh báo rằng ông nên chú ý đến mẹ trước rồi mới đến vợ. Đó là một động thái bà sẽ làm và làm lại mỗi khi thấy con mình có dấu hiệu tuột khỏi tầm kiểm soát. Lẽ dĩ nhiên là bà không tham dự lễ cưới. Và cũng không ai ngạc nhiên khi cuộc hôn nhân đầu không dài lâu, khi ông lên làm Tham mưu trưởng lục quân, mẹ ông, một lần nữa, trở lại vị trí nữ chủ nhân gia đình, và ông, mỗi ngày đều về nhà ăn tối. Cuộc hôn nhân thứ hai, ổn thỏa, bởi chính Pinky MacArthur đã tự tay chọn Jean Faircloth cho con, và cũng bởi bà MacArthur đệ nhị này là một người đẹp miền Nam, sùng kính, thần tượng ông, chịu đóng vai trò của một tướng quân phu nhân, lúc ở ngoài thì gọi ông là “tướng quân” còn chốn riêng tư thì là “Ông chủ”.
Bà Pinky MacArthur dạy rằng tầm quan trọng của thành công vượt trên tất cả mọi thứ khác, là thừa nhận tất cả những hi sinh khác, đặc biệt nhất là của bà, và rằng thành công ở mức độ cá nhân luôn có thể được xem là tốt cho tổ quốc – đó là một phần trong câu thần chú của bà, trong tất cả những lá thư xu nịnh gửi cho thượng cấp: điều tốt đẹp cho Douglas macArthur và cho đất nước là một là đồng nhất. Vì vậy tạo vật của bà, Douglas, ông khác với những vị tướng cùng thời, kể cả những người vị kỷ nhất như George Patton. Ngoài ra, quân đội, dù có khó khăn trong thời bình hay thời chiến, cũng là nơi tạo ra những mối quan hệ chiến hữu bền chắc khác thường giữa những con người bên nhau từ lúc trẻ và cùng nhau vượt qua những quảng đường sự nghiệp khó khăn, lâu dài, đôi khi vô vị. Nhưng MacArthur không có những mối quan hệ đó, không có tình bạn cả đời. Ông trải qua một sự nghiệp sáng chói, nhưng không có ai là bạn thực thụ. Trong quân đội luôn cần phải có sự cân bằng giữa nghĩa vụ, lòng trung thành, tôn trọng tổ chức với sự cần thiết tuân thủ mệnh lệnh. Lòng trung thành có hai nghĩa; nó không chỉ nằm ở dưới sự tuân phục mệnh lệnh mà còn là việc nhớ ơn thượng cấp. Nhưng ở đây Douglas MacArthur, cũng như cha ông trước kia, không qua được bài thử quan trọng này.
(hết chương 8 )
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #69 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2013, 05:47:50 pm » |
|
Chương 9
Lúc bắt đầu cuộc chiến Triều Tiên, MacArthur vẫn là một tượng đài cao ngất trong nước cả về mặt quân sự lẫn chính trị, ông cũng là một biểu tượng của quốc gia, dù Washington có thích hay không, là mối liên kết cuối cùng còn sót của hai cuộc thế chiến. Biểu hiện cầm quân của ông ở Thái Bình Dương trong thế chiến II cũng được đánh giá là rất tài giỏi. Dù giai đoạn đầu của cuộc chiến, ông có vẻ như ở khúc quanh của sự nghiệp, điều này liên quan tới việc đánh giá thấp những khả năng của hàng không mẫu hạm và sức chiến đấu của lính Nhật (cũng như phi công Nhật). Khi máy bay Nhật đánh rất thành công vào không quân của ông trong những ngày đầu chiến cuộc, ông được thuyết phục – và điều ngày phản ánh cho chủ nghĩa phân biệt chủng tộc của cả cá nhân ông lẫn quốc gia – rằng những phi công địch hẳn phải là người da trắng !!! Ở giai đoạn trước ngày 7 tháng Mười hai đó, ông còn tuyên bố một cách tự tin rằng quân Nhật chẳng làm nên cơm cháo gì. Ví dụ, ông nói với John Hersey, khi đó là một phóng viên trẻ thông minh của tạp chí Time, rằng giả như Nhật tham chiến, thì quân Anh, Hà Lan, và Mỹ sẽ chặn đứng họ chỉ bằng một nửa số lực lượng hiện có ở Thái Bình Dương, và hạm đội Nhật sẽ bị kiềm chế một cách dễ dàng.
Nhưng rồi ông hiểu ra, tương đối sớm, một trong những sự thật chính về người Nhật kể cả về văn hóa lẫn quân lực – rằng một khi họ đã lên lịch, đã ra lệnh thì mọi thứ sẽ răm rắp theo kế hoạch, họ rất kinh khủng và cấu trúc chỉ huy của họ rất kín kẽ, gần như không thể đánh bại. Mọi thứ dường như làm y theo kế hoạch, mọi người tuân thủ mệnh lệnh một cách chính xác tuyệt đối; không cho phép sai sót. Nhưng nếu ngọn triều chiến cuộc đổi hướng; nếu người Nhật không còn sáng kiến, thì chính những sức mạnh đó sẽ chống lại họ. Họ trở nên cứng nhắc một cách đáng ngạc nhiên, họ tác chiến với quân thù theo cách như thể quân thù đó có cách hành động như quân Nhật. Bởi người Nhật quá tuân thủ tôn ti thứ bậc và xã hội quá độc đoán, nên có rất ít không gian cho phát kiến cá nhân, quân đội gần như hùng mạnh, nhưng lại thiếu một yếu tố quan trọng cần thiết cho cuộc chiến, đó là khả năng phản ứng lại những gì chưa được biết trước đó. Và như thế, họ nhanh chóng trở thành một thứ quân đội vai u thịt bắp “Đừng bao giờ để bọn Nhật tấn công ta. Khi quân Nhật có kế hoạch hợp kích, chúng sẽ làm rất tốt” MacArthur bảo sỹ quan của mình. Nhưng ông nói thêm: “khi chúng bị tấn công – thì chúng không biết điều gì đang xảy ra – không giống nhau”.
Ông khá nhanh chóng tương thích với hình thái chiến tranh mới. Nếu ông đã không hiểu được khả năng của không quân trong chiến tranh hiện đại, đã để máy bay của mình bị diệt ngay trên mặt đất ở Clark Field trong ngày 8 tháng Mười hai, thì ông cũng đã nhanh chóng học được và uốn nắn vấn đề. Một sỹ quan không quân trẻ trực tính, giỏi, tên George Kenney đã đứng cạnh ông cùng viên tham mưu trưởng hống hách Richard Sutherland, họ đã giúp ông nhận ra không quân có thể làm gì trên cái khu chiến rộng lớn này – đó là một vùng đại dương rộng lớn có dân cư ở những đảo rời rạc, và trong đó có một số cứ điểm mạnh của quân Nhật. Cùng kiến thức thực tế khá tốt của George Kenney về không quân là những ý tưởng sáng tạo độc đáo của Douglas, họ cùng nhau tạo ra một kế hoạch chiến tranh vắt cạn dần sức mạnh của quân Nhật. Lúc đầu tình thế tiến thoái lưỡng nan của MacArthur rất rõ ràng: lực lượng bộ chiến trong tay ông khá hạn chế, trong khi quân Nhật có khả năng chiến đấu tốt trong việc phòng thủ các đảo san hô; những nơi mà thế mạnh kỹ thuật của người Mỹ khó có thể áp dụng. Đáp án khôn ngoan cho tình thế lưỡng nan này là tránh đối đầu ở những nơi quân Nhật mạnh, tập trung đánh những điểm đảo yếu nhất của họ ngay sau đó thiết lập các phi trường trên các đảo san hô để từ đó cho phép tấn công sâu vào vùng đất Nhật khống chế, chậm nhưng chắc chắn từng bước cắt đứt tuyến liên lạc và tiếp vận của quân địch. Họ không mấy khi tấn công các cứ điểm mạnh của quân địch mà chỉ bỏ qua hoặc cô lập chúng. Khi Nhật có hơn một trăm nghìn quân ở Rabaul thuộc quần đảo Solomon, MacArthur đơn giản là tránh xa ra. “Bỏ đói Rabaul! Rừng hoang và đói khát! Chúng là bạn ta”. Đó là một cuộc chạy đua của các bên. John Gunther, một trong các nhà báo nổi tiếng nhất thời đó, người có vấn đề với mặt đen tối của MacArthur, cũng phải viết về ông trong chiến dịch đó rằng ”MacArthur chiếm được nhiều đất mà chỉ trả giá bằng rất ít sinh mạng hơn bất kỳ một vị tướng nào kể từ thời Darius Đại đế”
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|