Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:10:23 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Thăm dò
Câu hỏi: Khi topic có bài mới, bạn bấm vào và:
Đọc kĩ từ đầu tới cuối - 22 (62.9%)
Đọc sơ sơ - 9 (25.7%)
Chỉ coi hình - 2 (5.7%)
Chỉ coi tên, sau này khi cần có thể quay lại - 2 (5.7%)
Tổng số phiếu: 35

Trang: « 1 2 3 4   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Vài nét về Quân đội Cộng hòa Singapore  (Đọc 50821 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
BOM BI
Thành viên
*
Bài viết: 134


Aya Kito (1962 - 1988)


« Trả lời #30 vào lúc: 10 Tháng Mười Hai, 2011, 09:14:10 pm »

Cách hoạt động của FCS

FCS cung cấp đường truyền giữa tổ lái, các nguồn thông điệp điện tử từ bên ngoài và các thành phần cơ cấu phóng. Nó thực hiện những hoạt động chính sau đây :

- Giám sát và tích hợp các các dữ liệu từ các cảm biến trên xe
- Liên kết với hệ thống liên lạc, cung cấp giao diện điện tử giữa tổ lái và các phần tử chỉ huy và kiểm soát
- Giám sát tình trạng các kiểm tra do các cảm biến trên xe tự kiểm tra tự động(built-in)
- Cho phép tổ lái kiểm soát các thành phần cơ cấu phóng
- Tính các dữ liệu bắn cho mọi nhiệm vụ khai hoả
- Đưa LLM vào vị trí và lên ngòi nổ cho đầu đạn.
- Kiểm soát các hoạt động của LLM.

FCS nhận các thông tin đưa vào theo các cách:

- Các dữ liệu về nhiệm vụ hiện tại được đưa vào tự động từ các thông điệp âm thanh mã hoá hay nhờ tổ lái nhập vào bàn phím FCP.
- Chương trình đạn hiện tại được đưa từ cassette qua PLU.

Liện lạc dữ liệu là cách thường xuyên được dùng để đưa thông tin đầu vào vào FCS. Thông qua radio, FCS có thể liên lạc điện tử với FDS của trung đội hay khẩu đội/tiểu đoàn FDS/FDDM. FCS có thể nhận các thông điệp có định dạng HIMARS và MET cũng như SYS, PTM. Liên lạc điện tử bảo mật giữ TACFIRE, hệ thống tự động hoá hổ trợ hoả lực ban đầu (Intial Fire Support Automation System - IFAS), TACFIRE nhẹ (LTACFIRE) hay hệ thống hổ trợ hoả lực thuỷ quân lục chiến (Marine Corps Fire Support System - MCFSS) và FCS của dàn phóng phải được đưa qua FDS/FDDM bởi vì định dạng của các thông điệp không tương thích với nhau. FCS cho phép tổ lái gửi và nhận các thông điệp có định dạng hoặc chỉ nhận các thông điệp free-text.

Cách thức liên lạc chính là truyền dữ liệu qua radio FM bảo mật. Tuy nhiên, cũng có cách khác là liên lạc bằng giọng nói bảo mật FM như là một biện pháp dự phòng trường hợp việc truyền dữ liệu gặp sự cố. Tổ lái trong trường hợp này phải tự nhập các thông số qua bàn phím của FCS.

EU tự động giám sát, tích hợp và tính toán các dữ liệu từ các bộ phận khác của FCS. Nó liên tục giám sát các dữ liệu SRP/PDS và tính toán hường di chuyển của dàn phóng, vị trí và độ cao. FCS sẽ xác định các dữ liệu khai hoả khi thông tin về mục tiêu đã được nhận. Khi tổ lái nhập vào dòng lệnh nhiệm vụ thích hợp, FCS sẽ chỉ huy LLM điều chình góc phương vị và góc nâng, đặt thời gian cho ngòi hay lập chương trình cho đầu đạn. FCS sau đó bắn rocket hoặc tên lửa khi được lệnh của xạ thủ thông qua FCP.

FCS liên tục kiểm tra các bộ phận bên trong của nó và của LLM. Những kiểm tra này được thực hiện xuyên suốt quá trình bắn. Nếu có sự cố được phát hiện, tổ lái sẽ được thông báo bằng thông điệp báo lỗi hoặc qua LRU/BIT ở FCP.

FCS hiện nay hoạt động trong năm định dạng ngôn ngữ: Anh-Anh, Anh-Mĩ, Đức, Pháp và Ý.
Logged

BOM BI
Thành viên
*
Bài viết: 134


Aya Kito (1962 - 1988)


« Trả lời #31 vào lúc: 10 Tháng Mười Hai, 2011, 09:25:52 pm »

CÁC LOẠI ĐẠN

Rocket

Rocket của HIMARS là loại phóng bằng ống, ổn định xoay, bay tự do. Rocket được lắp ráp, kiểm tra, đóng gói trong các ống hai công dụng (chứa & phóng) ở nhà máy. Thiết kế này giúp cho việc nạp và bắn không cần đến nhiều thao tác của bộ binh. Các phần chính của rocket bao gồm : các cánh ổn định, phần phóng và phần đầu đạn.

Rocket được phóng bằng một motor nhiên liệu rắn. Một sợi cáp xuyên qua phần đuôi của ống phóng, nối FCS với bộ phận đánh lửa. Motor được đánh lửa bằng một tín hiệu chỉ huy điện từ FCS.

Mỗi rocket được đóng gói với 4 cánh gập vào và được giữ bằng một đai bằng dây. Khi mà rocket bắn ra trong quá trình khai hoả, thiết bị giật dây sẽ kích hoạt một lượng nổ nhằm cắt đứt đai bảo vệ. Sau khi rocket rời khỏi ống phóng, lượng nổ kích hoạt và cắt đứt đai. Điều này giúp cho các cánh bật ra và khoá cứng lại. Các hộp chứa rocket M28 và M28A1 còn có một thiết bị phụ trợ giúp thả các cánh ồn định để đảm bảo cho rocket được hoạt động đúng.

Rocket sẽ bay theo một đường đạn đạo, tự do (không dẫn đường) để đến mục tiêu. Lực đẩy của mỗi rocket là như nhau nên tầm bắn của rocket tuỳ theo độ nâng của LLM. Bốn cánh ổn định ở duôi rocket giúp đảm bảo độ ổn định trong khi bay bằng cách xoay ngược chiều kim đồng hồ liên tục. Lực xoáy lúc rocket ra khỏi ống phóng được tạo thành nhờ các rãnh ở mặt trong ống phóng.

- M26 : Là loại rocket cơ bản của M142. Đầu đạn của rocket M26 hoạt động nhở một ngòi hẹn giờ M445 được lên ngòi bởi FCS trước khi đánh lửa motor. Khi đến vị trí đã định, ngòi nổ kích nổ một lượng nổ trung tâm khiến cho các vỏ rocket bằng nhựa tổng hợp bên ngoài phần đầu đạn tách ra khỏi thân rocket, các đạn con rơi ra ngoài và rải xuống vị trí mục tiêu. Một rocket M26 chứa 644 đạn con M77 có thể bao phủ 0,23 km2. Diện tích bao phủ trung bình của một loạt 12 rocket, với một số diện tích chồng lên nhau có thể từ 120.000 mét vuông đến 200.000 mét vuông tuỳ theo khoảng cách. Rocket M26 được chứa trong pod chứa/phóng có tuổi thọ khoảng 15 năm.


- M26A1/A2 : Còn có tên là ER (extended range - kéo dài tầm). M26A1/A2 cũng tương tự như M26 cơ bản, chỉ khác ở chỗ kéo dài chiều dài khoang motor và rút ngắn chiều dài khoang đầu đạn. Vì thế M26A1/A2 có tầm bắn xa hơn nhưng mang ít đạn con hơn M26 đời đầu. M26A1 mang đạn con M85 còn M26A2 mang đạn con M77. Điểm đặt biệt đó là tuy rocket M26A1 được thiết kế trước, nhưng M26A2 lại là phiên bản kéo dài tầm ra đời đầu tiên. Nguyên nhân là vì rocket M26A1 được thiết kế để mang đạn con M85, nhưng do thiết kế chậm nên phải đến tận 1999 thì đạn con M85 mới sẳn sàng cho sản xuất. Để giảm sự chậm trễ, Mĩ quyết định đặt ra phiên bản M26A2 mang đạn con M77 có sẳn của rocket M26 cơ bản. Rocket M26A2 được trang bị đầu tiên cho các đơn vị Mĩ ở Hàn Quốc vào quí 4 năm 1999. Số lượng rocket ước đạt khoảng 4300 quả. Cùng năm 1999, một số lượng rocket M26A2 được giao cho quân đội Hàn Quốc(quí 2) và Bahrain(quí 3). Trong số 4300 rocket kéo dài tầm được sản xuất cho quân đội Mĩ thì có khoảng 1200 rocket là loại M26A1.

- M27 : Là phiên bản huấn luyện. M27 hoàn toàn chỉ là một thiết bị điện tử dùng để mô phỏng quá trình nạp và khai hoả.

- M28 : Là phiên bản huấn luyện của rocket M26. M28 thay thế khoang đầu đạn của M26 với đồ dằn bằng thép và ba đạn khói.

- M28A1 : Là phiên bản huấn luyện RRPR (Reduced Range Pratice Rocket - Rocket huấn luyện giảm tầm). M28A1 có tầm bắn 8-15km. Loại rocket này có đầu phẳng, sức cản cao và thuốc tạo khói khi chạm đất. Motor của M28A1 tương tự với M28 và M26.

- M29 : Là loại rocket được trang bị đạn con SADARM (Sense and Destroy Armor - Tìm và diệt thiết giáp).

- XM315 : Là loại đạn hoá học hai thành phần dùng cho chiến tranh hoá học. XM135 chứa hai loại hoá chất không độc hại, nhưng được trộn với nhau sau khi phóng để tạo thành chất độc thần kinh chết người VX. Cả hai loại rocket XM29 và XM135 được phát triển trong những năm cuối thập kĩ 80, đầu 90 tuy nhiên không được sản xuất để sử dụng rộng rãi.

- AT2 : Là loại rocket chứa 28 mìn chống tăng. Phiên bản này do Đức sản xuất.
« Sửa lần cuối: 11 Tháng Mười Hai, 2011, 12:05:31 am gửi bởi BOM BI » Logged

BOM BI
Thành viên
*
Bài viết: 134


Aya Kito (1962 - 1988)


« Trả lời #32 vào lúc: 10 Tháng Mười Hai, 2011, 09:33:57 pm »

Tên lửa

Tên chính thức : ATACMS (Army Tactical Missile System - Hệ thống tên lửa chiến thuật quân đội). ATACMS là loại tên lửa chiến thuật (tầm ngắn) và có dẫn đường. ATACMS được thiết kế để mang các loại đầu đạn khác nhau, kể cả đạn thông minh cho các khả năng tương lai.

- M39/ MGM-140A/ ATACMS Block I : M39 gồm có phần dẫn đường và điều khiển (Guidance and Control Section - GCS), phần phóng, phần điều khiển và phần đầu đạn.

  + Phần dẫn đường và điều khiển (GCS) : GCS thực hiện mọi việc như định hướng, dẫn đường, lái tự động và liên lạc liên lạc nội bộ khi đang bay hoặc ở trên mặt đất. Việc liên tục xác định độ cao và chuyển động được thực hiện bởi các cảm biến bên trong tên lửa phối hợp với các thiết bị điện tử và thiết bị xử lí phần mềm. Dẫn đường và lái tự động được thiết bị xử lí phần mềm trong máy tính của GSC thực hiện. Trong khi đó, các thiết bị điện tử và phần mềm giúp thực hiện việc liên lạc trong và ngoài (giữa tên lửa với dàn phóng và/hoặc các thiết bị hổ trợ từ mặt đất). Bao gồm cả việc liên lạc với FCS của M142 để điều khiển khi phóng, các thiết bị hổ trợ mặt đất để bảo trì và CSEU (Control System Electronics Unit) để mở cánh ổn định.
 
  + Phần phóng : Bao gồm motor nhiên liệu rắn cung cấp năng lượng cần thiết cho quá trình phóng và giữ quá trình bay đủ lâu để đạt được yêu cầu của ATACMS. Motor bao gồm vỏ motor, nhiên liệu phóng, lớp cách li, phần miệng và thiết bị đánh lửa.

  + Phần điều khiển : Nhiệm vụ chính của phần này là mở và cố định các cánh ổn định, cung cấp điện năng cho tên lửa khi đang bay, và hổ trợ các hoạt động khí động học.
 
  + Phần đầu đạn : Nhiệm vụ chính là chứa, bảo vệ và phân phối các loại vũ khí trong tên lửa. Các thành phần của phần đầu đạn bao gồm phần vỏ bằng nhôm cán với các cấu trúc hổ trợ bằng nhôm và lớp phân cách ở đầu và cuối phần đầu đạn. Một ống ở trung tâm bối giữa hai lớp phân cách và cũng là đường dẫn day điện. Cùng với khối lượng đạn, còn có một hệ thống cắt vỏ kiểm soát việc thả khối lượng đạn ở thời điểm yêu cầu. Đầu đạn của M39 được dùng để chống lại bộ binh và thiết giáp hạng nhẹ với sai số 150m hoặc thấp hơn. Mỗi tên lửa M39 chứa khoảng 950 lựu đạn M74 APAM. M39 có tầm bắn 25-165km. Đầu đạn đầu tiên được lên ngòi thời gian M219A2 theo cách tương tự như rocket. Khi tới vị trí đã định, ngòi nổ kích hoạt các lượng nổ đặt ở phần vỏ và lớp phân cách. Điều này khiến lớp vỏ bị cắt rời. Nhờ vào lực ly tâm và gió, lựu đạn M74 được rãi ra trên đầu khu vực mục tiêu. Lựu đạn M74 được kích hoạt nhờ vào tác động xoay ảnh hưởng tới từng quả một. Toàn bộ số lượng lựu đạn M74 sau đó được phân bố xuống một diện tích khoảng 33.000 m2.

- MGM-140B/ ATACMS Block IA : MGM-140B bao gồm thêm GPS trong hệ thống dẫn đường giúp tăng đáng kể độ chính xác ở khoảng cách xa. Để tăng áp dụng tối đa tính năng mới này, phần đầu đạn được giàm lại còn 275 lựu đạn M74 nhưng tăng tầm bắn lên 300km. MGM-140 được thử lần đầu vào tháng 10 năm 1994 và đua vào trang bị năm 1998.

- MGM-140C/ ATACMS Block II : Là phiên bản mang theo đạn con dẫn đường BAT(Brilliant Anti-tank) của hãng Northop Grumman. Chương trính này bị huỷ vào cuối năm 2003.

- MGM-140D : Được mô tả là “nâng cấp tên lửa với số lượng lớn cải tiến cấu trúc”. Có lẽ đây là một nâng cấp của MGM-140B.

- MGM-140E/ MGM-168/ ATACMS Block IVA : Đầu tiên được biết đến như là tên lửa Block IA nhưng mang đầu đạn liền khối chứa 227kg chất nổ mạnh WAU-23/B.
 
- MGM-140F : Được công bố vào tháng 1 năm 2003 như là một phiên bản nâng cấp của ATCMS. Tuy nhiên hiện nay chưa có thông số về loại tên lửa này.

- ATACMS Block III/ TACMS-P : Là một dự án tên lửa với khả năng xuyên phá các mục tiêu cứng và tầm bắn 220km. Dự án này được cung cấp vốn từ năm 2001 và làn bay đầu tiên là vào tháng 3 năm 2004. Tuy nhiên sau đó, dự án này đã bị hủy.
 
Đến tháng 3 năm 2002, hơn 1600 tên lửa MGM-140A và 500 tên lửa MGM-140B đã được chế tạo.

Một chiếc M142 của Mĩ đang nạp lại rocket.
« Sửa lần cuối: 11 Tháng Mười Hai, 2011, 12:18:12 am gửi bởi BOM BI » Logged

BOM BI
Thành viên
*
Bài viết: 134


Aya Kito (1962 - 1988)


« Trả lời #33 vào lúc: 10 Tháng Mười Hai, 2011, 09:40:42 pm »

Đạn con

- M77 : Là loại đạn hoạt động theo nguyên lý chạm nổ, được ổn định bằng một dải băng giúp cho phần đầu nổ hướng xuống dưới trong khi đang rơi. Lớp vỏ thép của đạn có tầm sát thương 4m đối với bộ binh. Ngoài ra, M77 còn có một đầu nổ lỏm có thể xuyên hơn 10cm thép. Đạn con M77 có tỉ lệ lép khá cao. Theo báo cáo của Lầu Năm Góc vào năm 2005 thì tỉ lệ lép vào khoảng 5%, Quốc hội Mĩ bảo rằng tỉ lệ này là 16%, Văn phòng kiểm toán GAO thì nói rằng một số rocket có tỉ lệ lép lên đến 23%, Quân đội Anh thử nghiệm và báo cáo tỉ lệ 5-10% và phụ thuộc rất lớn vào điều kiện mặt đất và tầm bắn. Đạn con M77 chỉ kích nổ khi chạm đất ở góc từ 65 đến 90 độ.


- M74 : Là loại đạn dùng để chống lại bộ binh và các loại xe có giáp mỏng. M74 có cấu tạo gồm vỏ thép-tungsten hình tròn bên ngoài, bên trong chứa chất nổ Hợp chất B. Đạn hoạt động theo nguyên tắc chạm nổ, khi nổ tạo ra một số lượng lớn miểng tốc độ cao có bán kính chống bộ binh 15m.


- M85 : là phiên bản nâng cấp của M77, trang bị với ngòi nổ tự huỷ để có tỉ lệ lép thấp(<1%).

- BAT (Brilliant Anti-Tank - Đạn chống tăng thông minh) : Là loại đạn được dẫn đường bằng âm thanh vào hồng ngoại, BAT là loại đạn có khả năng tự động tìm kiếm và tiêu diệt mục tiêu. Các cảm biến âm thanh ở đầu các cánh giúp tìm kiếm mục tiêu ban đầu, khi đã phát hiện mục tiêu, BAT chuyển sang cảm biến hồng ngoại để tấn công mục tiêu. Ngoài ra, BAT còn có đầu đạn hai tầng để xuyên giáp ERA. Hoạt động : trước khi được thả ra, pin hồng ngoại của BAT được kích hoạt, phần mềm bay và điều kiện nhiệm vụ được download vào. Sau khi được thả ra ở tốc dộ dưới âm hoặc siêu âm, BAT sẽ tự ổn định, giảm xuống tốc độ kiếm mục tiêu và bố trí bể mặt khí động học của nó. BAT sau đó sẽ nhận định mục tiêu hoặc nhóm mục tiêu, bay tới khu vực đó và lựa chọn từng mục tiêu cho riêng mình để đảm bảo nhiều BAT tấn công một mục tiêu. BAT sau đó sẽ dựa theo một profile trúng-để-diệt để chọn ra khu vực dễ bị thương của chiếc xe mục tiêu. Và khi đã chạm địch, đầu nổ hai tầng của BAT sẽ kích nổ. Theo thử nghiệm của nhà thầu thì trong 14 làn thử, BAT bắn trúng mục tiêu 6 lần, thất bại 3 lần , 1 lần không thửa nghiệm và 1 vẫn chưa qua được hội thảo đánh giá. Trong thử nghiệm bắn đạn thật, theo FAS, thì có một thời gian 18 tháng(không rõ năm nào) thử nghiệm nào đó bắn 3 BAT thì chỉ có 1 BAT trúng mục tiêu. Mặc dù chương trình trang bị BAT cho tên lửa ATAMCS của M142 đã bị huỷ, hiện nay BAT vẫn được dùng trên các máy bay không người lái MQ-5 Hunter.

« Sửa lần cuối: 11 Tháng Mười Hai, 2011, 12:17:32 am gửi bởi BOM BI » Logged

BOM BI
Thành viên
*
Bài viết: 134


Aya Kito (1962 - 1988)


« Trả lời #34 vào lúc: 11 Tháng Mười Hai, 2011, 12:27:39 am »

NÂNG CẤP

Hiện nay, Tập đoàn Lockheed Martin đã giới thiệu ra thị trường gói nâng cấp toàn diện cho M142. M142 sẻ được trang bị IFCS (Improved FCS - Hệ thống điều khiển hoả lực nâng cấp) và ILMS (Improved Launcher Mechanical System - Hệ thống cơ khí nâng cấp cho dàn phóng).

Các tính năng của gói nâng cấp mới :

- Sử dụng hệ điều hành Window của Microsoft.
- Tăng cường đáng kể khả năng phản ứng.
- Đạt được những yêu cầu cho quân đoàn điện tử hoá.
- Giảm 83% thời gian nhắm bắn(giảm xuống còn 16s so với 93s).
- Giảm 38% thời gian nạp đạn(giảm tới 50% cho nhiều lần nạp theo một số nguồn).
- Giảm 38% chi phí hoạt động và bảo dưỡng.
- Các thiết bị điện tử tối tân.
- Trang bị GPS.
- Khả năng phân tích sai sót tiên tiến.
- Tổng cộng, các nâng cấp trên giảm 60% thời gian hệ thống phải ở vị trí phóng và tăng 45% mức độ tin cậy.


« Sửa lần cuối: 11 Tháng Mười Hai, 2011, 12:49:50 am gửi bởi BOM BI » Logged

BOM BI
Thành viên
*
Bài viết: 134


Aya Kito (1962 - 1988)


« Trả lời #35 vào lúc: 24 Tháng Hai, 2012, 12:57:33 am »

2. Trực thăng

CH-47 Chinook


Xem bài viết về trực thăng vận tải CH-47 Chinook của bác su22m4 tại http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php/topic,20073.80.html

« Sửa lần cuối: 24 Tháng Hai, 2012, 11:02:12 am gửi bởi BOM BI » Logged

BOM BI
Thành viên
*
Bài viết: 134


Aya Kito (1962 - 1988)


« Trả lời #36 vào lúc: 24 Tháng Hai, 2012, 10:04:36 am »

AH-64 Apache

(Tham khảo từ sách Vì sao ? Vũ khí xưa và nay cùng một số trang web khác)


Trực thăng vũ trang Apache mang số hiệu AH-64 là máy bay trực thăng hạng nặng, tổng trọng lượng đến 60 tấn, là vũ khí tấn công dẫn đầu trong hỏa lực của Quân đội Mỹ. Thế hệ Apache đầu tiên được thiết kế bởi Hughes Helicopters vào thập niên 70 và bắt đầu đi vào hoạt động vào năm 1985. Sau này, Quân đội Mỹ đã thay đổi bản gốc AH-64A thành AH-64D Longbow tiên tiến hơn. Hughes Helicopters sát nhập vào McDonnell Douglass vào năm 1984 và sau đó bị Boeing mua lại vào 1997. Ngày nay, Apache được Boeing sản xuất.

Loại trực thăng này xuất hiện lần đầu trong trong Chiến tranh Panama năm 1989 với quy mô tham chiến lớn, chủ yếu dùng chống tăng và tiến công các mục tiêu dưới đất khác, đồng thới nó còn được sử dụng tác chiến trên không với những máy bay trực thăng và những máy bay chiến đầu tầm thấp. Với sức mạnh và tốc độ vượt trội, Apache nhanh chóng chứng tỏ được vai trò của mình và góp mặt vào rất nhiều cuộc chiến: chiến dịch bão táp Sa mạc, cuộc xung đột giữa Bosnia và Kosovo vào những năm 1990, cuộc chiến tại Afghanistan năm 2001, cuộc chiến tranh Iraq năm 2003 ... và gần đây nhất là cuộc chiến tranh tại Lybia.

Trận chiến nổi tiếng nhất mà lực lượng trực thăng Apache của không lực Hoa Kỳ tham gia được ghi nhận trong cuộc chiến tranh Vùng vịnh năm 1991, nơi mà Apache đã thực sự tỏa sáng. Mở màn bằng việc phá hủy các trạm radar bên phía Iraq, những chiếc Apache đã dọn đường để không quân Hoa Kỳ tiến vào không phận Iraq mà không lo ngại bị phát hiện. Trong suốt 100 giờ đồng hồ oanh tạc, gần 3000 tên lửa Hellfire được bắn ra, đổi lại là thiệt hại gần 1000 xe tăng thiết giáp, 500 xe tải quân sự, cùng với số lượng không đếm xuể binh lính Iraq. Trận địa phòng không bên phía Iraq đã hoàn toàn nát vụn trước sức ép từ đến từ những chiếc siêu trực thăng này.

Giá của một chiếc Apache vào khoảng 12 - 15 triệu đô la Mỹ. Chỉ những quốc gia đồng minh thân cận nhất của Mỹ như Anh (do cồng ty GKN Westland Helicopters chế tạo với tên hiệu WAH-64), Israel, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan hay Ả Rập Saudi... mới có cơ hội sở hữu loại trực thăng hiện đại này.

Tính cơ động cao

Hệ thống bay của Apache gồm có hệ thống cánh quạt chính và hệ thống cánh quạt đuôi. Hệ thống cánh quạt chính được đặt trên nóc chiếc trực thăng, gồm 4 cánh quạt, mỗi cánh dài khoảng 6 mét. Người phi công sẽ điều khiển trực thăng thông qua một cơ chế gọi là "swash plate mechanism" - tạm dịch: cơ chế tấm chắn. Tấm chắn này được lắp vào các cánh quạt, khi cả bốn tấm chắn cùng hoạt động, nó sẽ giúp chiếc trực thăng cất cánh và hạ cánh. Điều chỉnh một trong số những tấm chắn này, chiếc trực thăng sẽ nghiêng và bay đi theo những hướng khác nhau.


Mép sau của mỗi cánh quạt được phủ bởi một lớp hợp kim chì vững chắc, trong khi đó mép trước được làm từ titanium. Titanium sẽ đủ mạnh để giúp cánh quạt trụ vững trước sức cản của những vật thể gần mặt đất như cây, bụi rậm, đất đá... Apache sẽ rất cần đến đặc tính này của cánh quạt, do nó thường xuyên phải bay sát mặt đất để lẩn tránh và săn tìm mục tiêu. Hệ thống cánh quạt gắn ở đuôi máy bay sẽ giúp Apache ổn định đường bay khi đang bay cao cũng như khi đang ở sát đất. Hệ thống bay không tạo nên sự khác biệt giữa Apache và những chiếc trực thăng khác.

Apache được trang bị hai động cơ trục tua-bin T700-GE-701C của General Electric, một loại động cơ cực mạnh có khả năng sản sinh ra 1700 mã lực, nhờ đó Apache có thể bay với tốc độ tuần tra 293 km/h, tốc độ bay lớn nhất lên đến 365 km/h, mỗi phút nâng độ cao được 762m so với mực nước biển, độ cao thực dụng 6400m, có thể làm động tác nhào lộn 360 độ trên không, đồng thời có khả năng bay là là sát mặt đất. Trong thời gian thực hiện nhiệm vụ bay 114 phút, nó có thể bay sát mặt đất liền 80 phút. Vì thế máy bay có khả năng tiến công trên không và tác chiến tập kích khá mạnh.

Hệ thống cảm biến

Một trong những thứ tạo nên tên tuổi của Apache chính là hệ thống cảm biến cực kỳ tinh vi. Bằng cách sử dụng hệ thống radar cực nhạy, Apache có thể làm hiện hình bất kỳ vật gì nằm trong tầm hoạt động. Những tín hiệu truyền về sẽ được xử lý, sau đó, những hình ảnh vừa tạo ra sẽ được so sánh với dữ liệu nguồn của hàng loạt những chiếc xe tăng, xe tải, hay các khí tài quân sự khác để "định giá" mục tiêu.
 
Apache sử dụng hệ thống cảm ứng Night Vision cho những nhiệm vụ trong bóng đêm. Hệ thống này làm việc dựa trên bộ phận tìm kiếm tia hồng ngoại, giúp xác định các tia hồng ngoại phát ra từ các vật tỏa nhiệt. Sau đó, những tia hồng ngoại này sẽ được gửi về bộ phận xử lý, tạo thành những hình ảnh hiển thị ở mắt kính được gắn trên mắt phải của người phi công.

« Sửa lần cuối: 24 Tháng Hai, 2012, 10:45:36 am gửi bởi BOM BI » Logged

Trang: « 1 2 3 4   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM