Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 12:50:30 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm  (Đọc 170359 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 239



« Trả lời #50 vào lúc: 21 Tháng Mười Hai, 2011, 07:10:10 pm »

Từ thời Tần Hán ở Trung Quốc đã thấy sử sách nhắc đến tên một loại thuyền chiến là thuyền lầu. Năm 219 trước Công nguyên, quân Tần do Đồ Thư chỉ huy đánh các nước phương nam có thuyền lầu trong đội quân thủy. Năm 43, Mã Viện nhà Hán mang theo một cánh quân thủy do Đoàn Chí chỉ huy, trong đó cũng gồm những thuyền lầu. Có thể nói đây là một loại thuyền chiến xuất hiện từ khá sớm. Cái tên gọi cũng phản ánh đặc điểm của thuyền: gồm những tầng lầu cao, chưa được nhiều lính và ưu thế về vũ khí tầm xa như cung, nỏ. Theo Sử Đức Bân, thuyền lầu thời Hán có chiếc cao tới 10 trượng, tức vào khoảng 27 mét (?)29. Trong các binh thư của Việt Nam cũng như Trung Quốc, khi chép về những thuyền đặc chủng đều có nhắc đến thuyền lầu. Thậm chí đến tận thế kỷ XIX, theo ý nghĩa hình khắc trên chín đỉnh linh thiêng của triều Nguyễn, thì thuyền lầu được chọn như một loại thuyền chiến tiêu biểu cho vũ khí mặt nước, bên cạnh những đại bác, xa luân pháo, súng điểu thương, đạn hồ điệp tử… là những vũ khí hiện đại, tiêu biểu nhất đương thời. Sự xuất hiện của thuyền lầu phản ánh một nhu cầu chiến thuật giành tầm cao có lợi cho quan sát và phát huy hiệu quả các vũ khí tầm xa, tức là mở rộng được diện bố trí lực lượng trên thuyền. Nước ta cũng là một trong những nước xuất hiện thuyền lầu sớm trong quân thủy, đó là những thuyền lầu đơn giản khắc trên trống đồng. Chức năng của những lầu cao trên các thuyền đó được xác định rất rõ ràng và ổn định với hình ảnh người lính luôn luôn sẵn sàng cung nỏ trong tay.


Lâu thuyền (thuyền lầu)

Trong thời Lý, thuyền lầu được nhắc đến năm 1205: “Trước đây (chắc là khoảng tháng 11 năm 1204, khi Đàm Dĩ Mông được lệnh đem quân các đạo đắp lũy từ kênh Bà Câu đến trại Văn Lôi để chống người Đại Hoàng – T.G.), Dĩ Mông đắp lũy xong, làm vài chục chiếc thuyền lầu, sai những tay bắn cung giỏi ở Phú Lương nấp trên thuyền ấy, lấy dây dài buộc ở đằng sau thuyền rồi hạ lệnh: “Giặc tới thì chèo thuyền qua sông mà bắn, nếu bất lợi thì kéo thuyền về”. Rồi Dĩ Mông bị triệu về kinh…”30. Ở đây, thuyền lầu gắn chặt với chiến thuật dùng cung nỏ trong đánh thủy. Phú Lương là một phủ thuộc miền đất Thái Nguyên hiện nay, đương thời được coi như một miền rừng núi có gắn bó mật thiết nhất với đồng bằng trung tâm đất nước, được nhà Lý, nhà Trần rất chú trọng khai thác. Chính các dân tộc thiểu số sống trong vùng này đã đạo tạo và cung cấp cho quân đội nhà Lý những tay cung nỏ tài ba.
------------------------------
29 Một trượng thời Hán tương đương 276,5cm. Các don vị đo lường Trung Quốc trong sách này được đổi ra đơn vị đo lường quốc tế, dựa theo Ngô Thừa Lạc: Trung Quốc đo lường hoành sử, Bắc Kinh, 1957.
 
30 Việt Sử lược, tr. 170.



Logged

Ùi, úi, ui....
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 239



« Trả lời #51 vào lúc: 21 Tháng Mười Hai, 2011, 07:24:14 pm »

Một loại thuyền đặc chủng khác được nhắc đến là thuyền chiến hai lòng. Việt Sử lược chép đến hiện tượng này vào năm 1106: “Tháng 11, vua sắp có việc lôi thôi với nhà Tống, sai đóng thuyền Vĩnh Long hai đáy và đóng chiến hạm”31. Toàn thư, nhắc đến một hiện tượng khác vào năm 1124: “Tháng giêng nhuận, đóng thuyền Tường Quang, kiểu hai lòng”32. Chưa rõ cấu tạo loại thuyền này như thế nào. Trong Võ bị chế thắng chí có nói đến loại thuyền Mẫu tử mà có lẽ Binh thư yếu lược vào đời Nguyễn đã chép lại. Đây là loại thuyền chuyên dùng để đánh hỏa công, gồm một khung thuyền giả to (thuyền mẹ) bọc ngoài, ở phía trước một chiếc thuyền thật nhỏ hơn (thuyền con). Trên khung thuyền to, người ta chất củi lửa và thuốc cháy, mũi thuyền có những đinh nhọn. Khi đánh địch, người ngồi núp trong thuyền nhỏ chèo thật nhanh, lao mạnh vào thuyền đối phương, khiến cho những đinh sắt nhọn ở mũi khung thuyền giả cắm vào mạn thuyền đối phương. Sau đó người ta đốt chất cháy trên thuyền giả đó rồi rút thuyền con khỏi khung thuyền to chạy về. Thuyền giả cháy sẽ đốt luôn thuyền đối phương. Một loại thuyền khác vào thời nhà Hồ, cũng có thể hiểu là thuyền hai lòng hay hai đáy, đó là thuyền đinh sắt có hiệu là Trung tàu tải lương. Theo mô tả, nếu thuyền bình thường có một đáy, thì thuyền loại này làm thêm một “đáy” nữa; tức một tầng sàn ở trên, chia bụng thuyền làm hai phần: phần dưới để lính chèo thuyền, phần trên giấu lính chiến đấu. Loại thuyền này khá lớn, phải hai người đầy một mái chèo. Chưa rõ thuyền chiến hai lòng của nhà Lý có điểm gì giống hai loại thuyền trên hay không?


Hỏa thuyền

Thuyền chiến thời Lý có khả năng trọng tải và hành trình rất tốt. Những cuộc hành quân đánh Chiêm Thành, vượt biển đánh Khâm, Liêm… đã chứng tỏ điều đó. Thuyền chiến còn có khả năng chở voi vượt biển làm quà trong những lễ nghi ngoại giao hoặc tăng sức đánh bộ trong những trận tập kích vượt biển. Năm 1155-1156, nhà Lý cử sứ giả mang 5 con voi, theo đường biển vào cảng Khâm Châu làm quà cho vua Tống33. Trong trận tập kích vào cảng Khâm năm 1075, từ Vĩnh An (khu vực Trà Cổ hiện nay) thuyền chiến của quân Lý đã đảm bảo chuyển hàng vạn quân bí mật vượt biển, tập kích rất bất ngờ vào cảng, khiến cho quan quân Tống chưa kịp đề phòng đã bị quân ta tiêu diệt, bắt sống gần như toàn bộ. Điều cần lưu ý ở đây là quân Lý có thể đã vượt biển trong đêm, qua một đoạn đường hàng trăm cây số trong mùa gió ngược. Lúc này, vào khoảng cuối năm, theo thống kê của các nhà khí tượng học, thì vào tháng 12, khi cuộc tập kích đó diễn ra (29-12-1075), các đợt gió mùa đông-bắc tập trung dày nhất. Lặc dầu có những trở ngại về thời tiết và những đòi hỏi khắt khe về thời gian, về yếu tố bất ngờ, nhưng thắng lợi rất giòn giã của quân Lý ở cảng Khâm đã chứng tỏ khả năng phục vụ chiến dịch rất cao của quân thủy Lý. Hơn thế nữa, vào năm 1228, khi nhà Trần lên thay nhà Lý, một tướng thủy cấp cao trong triều đình cũ của nhà Lý là Lý Long Tường đã dùng thuyền chiến đem gia đình và quân bản bộ vượt biển lên phía bắc. Cuộc hành trình đã kết thúc tại một bến cảng thuộc vùng đất thời đó còn vô cùng xa xăm với đất nước ta, đó là bờ biển Triều Tiên34.

Không những có khả năng trong hành trình, chuyên chở, quân thủy thời Lý còn lập được nhiều thành tích trong các trận đối hải. Đó là trận thắng quân thủy Chiêm Thành ở cửa Nhật Lệ năm 1069 và hàng chục trận thắng quân thủy Tống ở vùng biển Quảng Ninh.

----------------------------
31 Việt Sử lược, tr. 122.

32 Toàn thư, t. 1, tr. 253. Trong bản chữ hán, nguyên văn là Lưỡng phúc thuyền, tức thuyền hai bụng, cũng có thể hiểu tương tự như hai đáy.

33 Tống sử, Lĩnh ngoại đại đáp, Việt Sử lược.

34 Nguyễn Lương Bích, Nghiên cứu lịch sử, số 7 – 8 năm 1970, tr. 34.
« Sửa lần cuối: 21 Tháng Mười Hai, 2011, 07:30:04 pm gửi bởi ùi » Logged

Ùi, úi, ui....
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 239



« Trả lời #52 vào lúc: 21 Tháng Mười Hai, 2011, 07:42:00 pm »

Về trang bị vũ khí, lúc này vẫn chưa có chuyển biến gì lớn trong quân đội nói chung và quân thủy nói riêng. Vũ khí chủ yếu vẫn là các loại bạch khí, tức gươm, giáo, lao, cung tên, mộc. Trận công thành Ung Châu năm 1075 đã đặt ra cho quân Lý nhiều vấn đề lý luận cũng như về trang bị bộ chiến. Đáng nói là việc quân Lý dùng máy ném công thành. Máy ném đã xuất hiện đầu tiên trong quân đội Tống với tên gọi phổ biến là pháo thạch cơ, và sau đó chính thức được dùng chữ pháo để chỉ (chữ pháo một bên có bộ thạch). Loại pháo này “bắn” theo nguyên lý đòn bẩy, gồm một giá đỡ và một cần bật. Ở một đầu cần bật, người ta buộc buộc những cái quang đựng đạn. Theo Phùng Gia Thăng đầu cần buộc quang gọi là sảo, theo số quang đạn buộc ở đầu, người ta định ra các cỡ pháo, như tam sảo pháo, ngũ sảo pháo… tức là loại máy ném mà ở đầu có ba hay năm quang đựng “đạn”. Ở đầu kia, thời Tống người ta buộc nhiều sợi dây dài để khi “bắn” dùng sức người bám vào dây đó mà giật, tạo lực bật ném các viên đạn ở đầu cần bên kia đi. Đối với những dàn pháo lớn, có khi phải dùng tới hàng trăm người giật. Muốn bắn một hòn đạn nặng 2 cân (một cân thời Tống tương đương 596,82g) phải dùng sức lực 40 người giật (?)35.Tùy theo đạn đá hay đạn chất cháy mà người ta gọi là hỏa pháo hay thạch pháo.

Trong chiến tranh Lý – Tống năm 1075 – 1077, đã hai lần thấy xuất hiện loại máy ném này. Lần thứ nhất, quân Lý vây Ung châu (1075) đã dùng máy đó để bắn những giỏ đựng chất cháy vào thành. Lần thứ hai, quân Tống dùng bắn đá xuống sông Như Nguyệt năm 1077 để chống lại cuộc tập kích đổ bộ của quân thủy ta. Đây là một loại vũ khí rất lợi hại trên thế giới đương thời, đặc biệt trong nghệ thuật công thành.

Vì vậy, từ Trung Quốc máy ném truyền sang các nước Hồi giáo ở Trung và Tây-Á. Tại đây, máy ném được người Hồi Hồi thực hiện một cải cách rất căn bản, đó là việc dùng một vật nặng treo cố định ở đầu cần, nơi mà trước đó người Tống buộc dây để giật, gọi là hậu tọa hay đối trọng. Nhờ vật nặng này, người ta giảm bớt được rất nhiều sức người tạo lực bật. Hơn nữa, nếu trước đây dùng sức người, lực bật không tuyệt đối nhất loạt nên việc đảm bảo chính xác tầm bắn đến mục tiêu gặp rất nhiều khó khăn. Với khối lượng năng treo sẵn, khó khăn này có thể khắc phục được. Cuối cùng, do có thể dễ dàng tăng trọng lượng của khối nặng, người ta chế ra được những máy ném cực lớn đủ sức bắn đi những “viên đạn” nặng tới 150 cân (ước khoảng 90 ki-lô-gam), nên còn gọi loại pháo đó là cự thạch pháo. Từ Trung Á, máy ném cải tiến của người Hồi Hồi truyền vào châu Âu (trebuchet), và theo cuộc viễn chinh của quân Mông Cổ thế kỷ XIII, nó lại được truyền vào Trung Quốc, xuất hiện trong trận quân Mông Cổ đánh Tống ở Tương Dương và Phàn Thành. Từ đó, ngoài tên cự thạch pháo, nó còn có tên là Tương Dương pháo hay Hồi Hồi pháo.


Sảo pháo thời Tống


Như vậy, quân Lý cũng đã nắm được loại vũ khí đó từ khá sớm và sử dụng rất hữu hiệu trong trận công thành Ung. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển rất hạn chế của nghệ thuật thành lũy ở nước ta, loại vũ khí này cũng không phát triển lắm. Sau này, chúng ta còn thấy chúng dưới dạng đã được người Hồi Hồi cải tiến ở Chiêm Thành và có thể cả trong quân đôi nhà Trần nữa. Trong quân thủy, chưa từng thấy ở đâu loại vũ khí này được sử dụng. Có lẽ vì quy mô của nó quá lớn và luôn đòi hỏi một mặt bằng ổn định tuyệt đối.
------------------------
35 Vũ Kinh tổng yếu.

VMH sửa bài (thay tranh minh họa) theo đề nghị của bạn ùi.
« Sửa lần cuối: 26 Tháng Mười Hai, 2011, 08:08:57 pm gửi bởi VMH » Logged

Ùi, úi, ui....
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 239



« Trả lời #53 vào lúc: 24 Tháng Mười Hai, 2011, 06:47:21 pm »

Về mặt biên chế, quân thủy thời Lý cũng chưa có thay đổi đáng kể. Trong những thuyền chuyên làm nhiệm vụ đối thủy, như thuyền mông đồng, lâu thuyền… vẫn có sự phân biệt tương đối giữa lính chèo thuyền và lính chiến đấu. Trong những thuyền chuyên làm nhiệm vụ vận chuyển quân đổ bộ hoặc tải lương thì chỉ ổn định số lính chèo thuyền (gồm cả thủy thủ mặt boong, tức điều khiển buồm lẫn đà công – người lái thuyền).

Nghệ thuật “đặc công nước” chắc chắn đã tồn tại, dưới dạng những người lính thủy giỏi nghề bơi lặn, dùng dùi sắt nhọn đục thuyền đối phương, hoặc dùng thuyền đặc chủng bí mật bất ngờ đánh hỏa công. Trong một tờ khải tâu lên vua Tống góp bàn về việc tiến binh đánh nước ta, Triệu Bổ Chi đã viết: “Vả lại người Giao giỏi thủy chiến. Từ xưa truyền lại rằng người Việt lội xuống nước đội thuyền địch để lật úp. Đỗ Mục nói chúng có kẻ đi chìm dưới đáy bể 50 dặm mà không thở. Vả nay, thuyền buôn thường gặp giặc bể, bị chúng lặn dưới nước đục thuyền”36.

Trong đối thủy thời Lý, có thể đã phổ biến nghệ thuật kết thuyền (liên hạm). Về mặt kỹ thuật, kết thuyền giải quyết được vấn đề chống sóng, đặc biệt cho thuyền sông khi hoạt động ở vùng nước có sóng lớn hoặc khi gió bão. Về mặt chiến thuật, kết thuyền cho phép tạo ra mặt phẳng tương đối rộng và ổn định trên mặt nước, nhờ đó dễ phát huy khả năng đánh bộ trên thuyền, dễ bố trí và triển khai lực lượng, chống kẻ địch giáp lá cà cướp thuyền. Tuy vậy, kết thuyền lại có nhược điểm rất lớn trong cơ động và dễ bị đối phương dùng hỏa công chống lại. Trong lịch sử, trận Xích Bích giữa Ngô – Ngụy đời Tam Quốc với phản kế liên hoàn hạm của Bàng Sĩ Nguyên có thể coi là tiêu biểu cho tính chất của hai mặt đó của nghệ thuật kế thuyền. Ở nước ta sau này, khi thuyền được trang bị pháo, thì kết thuyền thường được dùng trong những trận đấu pháo.

Văn bia Sùng thiên diên linh có đoạn: “Hiền thánh mưu chi thần diệu, chế ngự bách chi tinh kỳ. Trước trạng, thiết liên hạm tráng hùng, lập cách tạo thiêu sưu tú lệ”. Tạm dịch: “Làm sáng tỏ sự kỳ diệu của mưu thần, làm ra sự tinh vi kỳ lạ của thuyền vua. Theo hình mà đặt liên hạm tráng hùng, tìm cách mà dựng nghìn thuyền tú lệ”37. Có thể hiểu chữ liên hạm ở đây là sự phản ánh nghệ thuật kết thuyền của quân thủy Lý vào nghi lễ triều đình.

Trong thời Lý, hoạt động của quân thủy chủ yếu là chuyển quân, vì vậy rất phổ biến trong những trận đổ bộ, trong đó lớn nhất phải kể đến trận Tu Mao (1069), những trận đổ bộ chiếm cảng Khâm, cảng Liêm (1075), trận đổ bộ ở chân núi Nham Biền ở bờ bắc sông Cầu (1077)… Theo những ghi chép ở thời Trần thì thông thường trong các trận đổ bộ như vậy, quân chèo thuyền trở thành quân giữ thuyền, là chỗ dựa rất quan trọng cả về tinh thần lẫn vật chất cho trận chiến đấu trên bờ.
------------------------
36 Hoàng Xuân Hãn, Sách đã dẫn, tr. 257.

37 Thơ văn Lý – Trần, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1977, tập I, tr. 390.
Logged

Ùi, úi, ui....
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 239



« Trả lời #54 vào lúc: 24 Tháng Mười Hai, 2011, 06:52:22 pm »

Cuối cùng, cần điểm qua vài nét về các căn cứ quân thủy hoặc các chốt quan trọng đường thủy. Cũng như Cổ Loa thời Âu Lạc và thời Ngô, Hoa Lư thời Đinh – Lê, Thăng Long ngay từ ngày mới dời đô từ Hoa Lư đã nhanh chóng trở thành một căn cứ quân thủy quan trọng nhất với hệ thống sông bao quanh chằng chịt, trong đó quan trọng nhất là sông Hồng. Hồ Tây (lúc đó có tên là hồ Dâm Đàm) trở thành hồ của thủy quân với núi Nùng nơi vua thường lên điều khiển và xem tập thủy trận. Từ Hồ Tây, có đường nước thông với sông Nhuệ, đó là nửa phía tây của sông Tô Lịch làm thành hào nước thiên nhiên cho vòng thành ngoài – La Thành. Nửa phía đông của Tô Lịch nối Hồ Tây với sông Hồng, che nốt vòng thành phía Bắc của Thăng Long. Cùng với Hồ Tây, Tô Lịch, trên đoạn sông Hồng từ Thăng Long về phía nam hình thành một loạt bến sông mới rất can hệ đến các mặt hoạt động của quân thủy. Đông Bộ Đầu, hoặc còn gọi là bến Triều Đông, bắt đầu được nhắc đến như một bến cảng lợi hại của Thăng Long. Bến này ở khoảng dốc Hàng Than phía trên cầu Long Biên hiện nay38. Vị trí chiến lược của Đông Bộ Đầu được nhắc đến nhiều nhất từ khoảng giữa thời Lý cho đến suốt thời Trần sau đó. Ngoài ra, về phía dưới còn phải nhắc đến bến Đại Thông, Tây Kết, Bãi phù sa Đà Mạc và cửa sông Thiên Mạc.

Cuối thời Lý, các tập đoàn phong kiến cát cứ có thế lực đều nổi lên dọc theo hai bờ sông Hồng từ Thăng Long ra biển, vì vậy trục sông Hồng đó thường xuyên xảy ra thủy chiến. Điều đó làm mọc thêm một loạt bến sông quan trọng, trở thành những chốt quân thủy luôn luôn có tranh chấp mà sau này trong thời Trần, chúng trở thành những điểm đụng độ giữa quân Trần và quân Nguyên. Cửa biển cực nam của nhà Lý đương thời là cửa Nam Giới (cửa Sót), được coi như tiền đồn chống các loại giặc biển từ phương nam lên, được nhà Lý quan tâm phong thủ.

Về phía Bắc, đối phó với các cuộc xâm lược của Tống, nhà Lý đã chủ động xây dựng một số chốt quân thủy khá lớn. Ngoài Bạch Đằng, nhà Lý bắt đầu chú trọng đến Vân Đồn, mặc dầu ban đầu mới chỉ nhằm thu món lợi buôn bán. Có lẽ sau thắng lợi của quân thủy Lý Kế Nguyên với quân thủy Tống, Vân Đồn mới ngày càng được chú trọng hơn về mặt quân sự. Cùng với Vân Đồn phải kể đến tiền đồn Vĩnh An, nơi xuất phát của mọi cuộc hành trình ngoại giao hoặc tiến công quân sự vượt biển vào cảng Khâm, nơi xuất phát của 5 vạn quân thủy Lý ngược gió đông – bắc xuyên đêm đổ bộ thắng lợi vào cảng Khâm năm 1075, nơi quân Tống chọn làm trận mở màn cho cuộc xâm lược năm 1077. Sâu trong đất liền một chút, chốt Vạn Xuân (Lục Đầu) bắt đầu được chú ý như chốt quân thủy quan trọng nhất án ngữ quân giặc từ phía bắc xuống, cả đường thủy lẫn đường bộ. Chính quân thủy của Hoằng Chân, Chiêu Văn ở chốt này trong chiến tranh chống Tống năm 1077 đã đóng vai trò rất quan trọng vào mọi thắng lợi của quân Lý trên chiến tuyến sông Cầu.

Trong quan hệ của nhà Lý với các dân tộc thiểu số ở miền núi phía bắc, thì bến Lãnh Kinh, cửa quan Bình Lỗ là những điểm có ý nghĩa quan trọng với quân thủy.

Ngoài ra, về phía bắc phải kể đến sông Thiên Đức (sông Đuống), sông Cà Lồ thông đến sông Như Nguyệt (sông Cầu), tụ ở Vạn Xuân, rồi sau đó hoặc ra biển theo cửa Bạch Đằng, hoặc lên phía bắc tới Lạng Giang theo dòng sông Thương (sông Đào Hoa). Về phía nam, từ sông Hồng qua một số dòng sông nhỏ phía hữu ngạn vùng Hà Nam Ninh hiện nay sang sông Đáy, ra cửa Đại An, là mạch máu nối đồng bằng sông Hồng với vùng Thanh Hóa, từ đây theo đường biển hoặc theo hệ thống kênh nhà Lê đi tiếp vào Hoan Châu (Nghệ Tĩnh), thông xuống Chiêm thành. Hành trình của quân thủy Lý vào Chiêm năm 1044 và 1068 – 1069 có thể cho phép hình dung khá cụ thể đường giao thông xuống phía nam thời này.
-----------------------
38 Trần Quốc Vượng và Vũ Tuấn Sán, Xác định địa điểm Đông Bộ Đầu, trong Nghiên cứu lịch sử, số 77.
Logged

Ùi, úi, ui....
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 239



« Trả lời #55 vào lúc: 24 Tháng Mười Hai, 2011, 07:02:14 pm »

CÁC TRẬN ĐỔ BỘ CHIẾM CẢNG KHÂM
VÀ CẢNG LIÊM NĂM 1075

Khâm và Liêm là hai cảng biển lớn của nhà Tống nằm kề biên giới phía đông – bắc nước ta. Do vị trí chiến lược quan trọng, nơi đây từ lâu được xây dựng thành một pháo đài ven biển nhằm khống chế, kiểm soát sự đi lại buôn bán của nước ta và các nước phương nam khác với Trung Quốc. Trong mưu đồ uy hiếp, xâm lược nước ta, nhà Tống biến hai cảng này cùng với thành Ung (nay là Nam Ninh) nằm sâu hơn trong lục địa, thành một cụm cứ điểm liên hoàn làm bàn đạp cho mọi cuộc hành quân xuống phía nam. Trong đó, chốt quan trọng nhất là thành Ung.

Khi biết được âm mưu của Tống thì trước mắt nhà Lý, thành Ung là một cái nhọt mà quân Tống càng tích trữ lương thảo, ngày càng tăng cường số quân bao nhiêu, càng làm cho nhà Lý ngứa ngáy lo âu bấy nhiêu. Chủ trương “Tiên phát chế nhân” của Lý Thường Kiệt đã ra đời trong hoàn cảnh đó. Ông nói: “Ngồi yên đợi giặc không bằng ra trước để chặn thế mạnh của giặc”39. Nhà Lý đã bí mật chuẩn bị một chiến dịch đánh hẳn sang đất Tống, triệt phá sự chuẩn bị của Tống về mọi mặt trên toàn vùng Lưỡng Quảng, trong đó trọng điểm là thành Ung, cảng Khâm và cảng Liêm. Chiến dịch được chia làm hai bước và thực hiện bằng hai mũi tiến công thủy bộ. Bước một, cánh quân bộ, chủ yếu gồm lực lượng quân miền núi do các thủ lĩnh dân tộc thiểu số chỉ huy, từ châu Quảng Nguyên và Tô Mậu (vùng biên giới Cao Bằng, Lạng Sơn hiện nay) tiến công, bóc các đồn trại vòng ngoài của Ung Châu. Trong khi đó cánh quân thủy, gồm chủ yếu quân đồng bằng tuyển theo chế độ binh dịch và một bộ phận quân thường trực sẽ vượt biển đổ bộ và chiếm hai cảng Khâm, Liêm và tiêu diệt các đồn trại ven biển khác về phía đông – bắc nhằm cô lập hoàn toàn thành Ung. Bước hai, cả hai cánh quân thủy bộ họp lực vây đánh Ung Châu.

Như vậy, tuy mục tiêu cuối cùng của chiến dịch nhằm vào thành Ung, nhưng rõ ràng việc chiếm hai cảng Khâm, Liêm có vị trí cực kỳ quan trọng. Thứ nhất, để cô lập hoàn toàn thành Ung, đảm bảo an toàn cho mặt lưng khi quân ta vây đánh thành; thứ hai, để biến hai cảng này, đặc biệt là cảng Khâm, thành cầu chuyển quân của ta, bời vì hành quân đường biển, đại quân ta đỡ được rất nhiều thời gian và sức lực. So với đường bộ, chỉ cần đến cảng Khâm, ta đã đỡ được hơn nửa đường. Hơn nữa, đường từ Khâm đến Ung khá thuận tiện, không phải qua nhiều núi như con đường bộ phía tây. Chính vì vậy, đại quân, lực lượng chủ yếu của chiến dịch do đích thân Lý Thường Kiệt chỉ huy đã đảm đương nhiệm vụ này.
---------------------------
39 Lý Tế Xuyên, Việt điện u linh.
Logged

Ùi, úi, ui....
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 239



« Trả lời #56 vào lúc: 24 Tháng Mười Hai, 2011, 07:09:59 pm »

Thành Khâm nằm ngay ở cửa sông Khâm đổ ra biển qua một cửa vịnh rất sâu và kín cũng có tên gọi là cảng Khâm (từ thời Minh, Thanh đổi thành cảng Long Môn). Vì đây là một vịnh ăn sâu vào trong đất liền nên có nhiều lạch nước nhỏ đổ vào khiến dòng chảy ở đây rất phức tạp. Chu Khứ Phi cho biết có tới 72 chỗ nước ngoặt trên đường từ trong vịnh ra và chỗ phân thủy lớn nhất ở ngay cửa vịnh (thiên phân dao)40. Nước trong vịnh đổ ra đến thiên phân dao thì chia làm hai dòng. Một dòng chảy sang phía tây vào vùng biển nước ta, dòng kia chảy sang phía đông vào vùng biển Quỳnh Liêm. Như vậy, khi nước triều lên, từ vùng biển nước ta, vào cảng Khâm khá thuận tiện, trái lại rất khó khăn khi nước triều rút.

Trong quan hệ buôn bán, ngoại giao giữa nước ta với Tống, thành Khâm được coi như một trung tâm lớn nhất. Quan hệ đi sứ cũng như lái buôn nước ta thường qua cảng này, “thuyền bè đi lại không ngớt”41. Trước năm 1075, đã mấy lần quân thủy Tiền Lê và Lý tiến công cảnh cáo cảng Khâm vì những xích mích biên giới (995, 1022, 1058…). Vì vậy đối với quân ta, cảng Khâm không có gì xa lạ. Tuy nhiên, để đảm bảo chắc thắng, Lý Thường Kiệt vẫn cho người giả làm lái buôn, đánh cá sang dò la kỹ càng phòng thủ của cảng này42.


Vị trí Khâm Châu tại Quảng Tây

Lực lượng quân Tống ở cảng Khâm không đông lắm. Cậy vào thành lũy kiên cố, nhà Tống chỉ bố trí ở đây 500 quân thường trực, chia làm ba bộ phận: quân Trừng Hải, đông nhất, chốt giữ trong thành, còn lại quân tuần kiểm Quân Giới và quân Duyên Hải chia nhau đóng ở ngoài cảng, kiểm soát thuyền bè và phòng bị từ xa. Để bảo vệ thành Khâm từ vòng ngoài, quân Tống lập thêm hai trại lớn Để Trạo, Như Tích do lính thú đồn trú, mỗi trại khoảng hơn một trăm lính. Ngoài ra, dọc về phía tây, châu Khâm còn có bảy động nữa, với hàng vạn động đinh tự vũ trang, mà khi cần nhà Tống có thể huy động. Ngoài ra, còn phải kể tới hàng ngàn thổ đinh, bảo đinh, với tư cách là những dân binh được luyện tập theo mùa. Vì vậy, tuy số quân thường trực trong thành Khâm không đông, nhưng khả năng huy động của Tống lại khá lớn, nên muốn thắng dễ dàng, quân Lý phải đánh rất bất ngờ, khiến quân Tống không kịp tổ chức động đinh và dân binh chống lại.
--------------------------
40 41 Lĩnh ngoại đại đáp.

42 Hoàng Xuân Hãn, trong Lý Thường Kiệt, đã đưa ra những tờ dụ của vua Tống nhắc nhở bọn quan lại địa phương về việc này. Một trí thức thời Tống, vì bất mãn cũng nhận cung cấp tin tức cho ta.
Logged

Ùi, úi, ui....
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 239



« Trả lời #57 vào lúc: 24 Tháng Mười Hai, 2011, 07:26:13 pm »

Thành Liêm nằm trên cửa sông Nam Lưu, đoạn chảy qua thành cũng gọi là sông Liêm. Sông này đổ ra một vịnh kín làm thành một cửa cảng khá đẹp. Đây chính là thủ phủ quận Hợp Phố thời Hán. Cho đến tận thế kỷ X, Liêm Châu vẫn còn là một trường buôn bán lớn và trung tâm đối ngoại của Trung Quốc với các nước phương nam hải ngoại. Nhưng sang thế kỷ XI, Khâm Châu đã lấn át dần vị trí của Liêm Châu, đặc biệt trong quan hệ với nước ta. Tuy nhiên, với thành lũy kiên cố, bố trí lực lượng lực lượng còn mạnh, lại quan hệ chặt chẽ với Khâm, nên mặc dầu trong chiến dịch đổ bộ lần này, cảng Khâm là mục tiêu quan trọng hơn, nhưng việc quân Lý đổ bộ vào cảng Liêm là một thủ đoạn chiến thuật tất yếu.

Tình hình chung của hai cảng này có thể tóm lại trong mấy dòng ghi chép của Chu Khứ Phi: “Khâm, Liêm đều gọi là nơi cực biên, cách cõi nước An Nam không xa. Ngày trước thuyền bè của An Nam đến nhiều ở Liêm, sau vì thuyền đắm mới lại đi đến Khâm. Nay Liêm Châu không cai quản các khê động, mà còn kiêm chức sự khê động là vì phòng bị An Nam mà thôi. Phía tây Liêm là Khâm phía tây Khâm là An Nam. Người Giao mà đến, đại để thường dùng thuyền nhỏ. Đã vào cảng thì theo dọc bờ mà đi không đầy nửa dặm thì đến ngay cảng của Khâm. Nếu đến Liêm tất phải qua cảng Khâm, trong lúc sang ngang dòng nước, sóng gió nhiều khi dữ. Người Giao từ châu Vĩnh An ở cõi nước ấy đi đến Khâm, sáng đi thì tối đến. Ở cửa cảng có đặt trại Đề Trạo để những cõi gần nào có thuyền biển sang thì tiết chế. Một ti tuần kiểm ở Duyên Hải đón và đưa thuyền ấy. Đó là cách phòng bị ở đường biển ấy. Còn trong đất liền có bảy động, ở động Như Tích có đặt đồn trú để giữ vững bờ cõi của ta”43.

Như vậy, khả năng phòng thủ của quân Tống không phải là vấn đề gay cấn lắm cho quân độ bộ Lý. Vấn đề quan trọng hơn là phải chiếm cảng một cách hết sức bất ngờ, nhanh gọn để từ đó phát triển lên Ung Châu mà quân Tống không kịp đối phó.
----------------------
43 Lĩnh ngoại đại đáp.
Logged

Ùi, úi, ui....
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 239



« Trả lời #58 vào lúc: 24 Tháng Mười Hai, 2011, 07:35:55 pm »

Khoảng tháng 11 năm 1075, đại quân ta tập kết ở Vĩnh An. Quân Tống có biết việc này và cấp báo về Quế Châu: “Người Giao Chỉ họp quân thủy ở Triều Dương (tức Vĩnh An – T.G.), sắp sửa đi lại hai đường vào cướp”44. Chu Khứ Phi còn cho biết, trước khi đánh Khâm, dường như ta có tung tin khiến cho địch hoang mang không hiểu thực hư thế nào: “Trước đó có người Giao Chỉ bảo người Khâm rằng: “nước ta sẽ đánh úp lấy châu của nhà ngươi đấy”45. Nhưng rõ ràng là quân Tống vẫn hết sức bất ngờ. Bất ngờ ở chỗ quân ta đã đánh nhanh hơn chúng dự đoán và có lẽ chúng cũng không ngờ quân thủy Lý dám thực hiện cuộc chuyển quân rất lớn (với khoảng năm vạn quân) vượt biển trong mùa gió ngược, lại là tháng gió rất nhiều và mạnh nhất. Ngày 30 tháng 12, cảng Khâm bị chiếm, vậy mà tờ cấp báo nói trên đúng nửa tháng sau mới tới Quế Châu! (Từ Ung đến Quế không quá 300 ki-lô-mét đường chim bay).

Tài liệu mô tả chi tiết trận này rất thiếu, nhưng qua lời kể lại của dân gian mà Chu Khứ Phi ghi lại sau đó đúng một thế kỷ, thì quân thủy Lý đã đổ bộ rất thành công mà nguyên nhân chính là đạt được yếu tố bất ngờ: “Thuyền của người Giao vào cõi rất nhanh, Vĩnh Thái (tức Trần Vĩnh Thái, quan coi Khâm Châu lúc bấy giờ - T.G) đang yến ẩm trong màn. Có người nói họ (tức quân Lý – T.G) đã đến thành. Vĩnh Thái không tin. Quân Giao Chỉ vào thành, bèn tóm được ngay thừa chế (tức Vĩnh Thái – T.G.) cùng các quan thuộc hạ ở dinh”46.


Lý Thường Kiệt đổ bộ Khâm, Liêm

Ba ngày sau (2-1-1076), quân ta đổ bộ chiếm nốt cảng Liêm. Ở Liêm, quân Lý bắt 8.000 thổ đinh chuyển lương thực, của cải thu được trong thành xuống thuyền chở đi rồi từ đó mở rộng về phía đông-bắc, phá thành Bạch, thành Dung và nhiều thành khác nữa, làm tê liệt hoàn toàn mọi phản ứng của quân Tống ở khu vực này, tạo điều kiện cho đại quân từ Khâm tiến lên bao vây thành Ung đã bị cô lập. Nhắc đến hai trận này, Trương Phương Bình đã phải thú nhận: “Khi chiến hạm chúng tới bờ bến ta, đại quân chúng tới sát thành ta, không khác gì vào chỗ không ngưòi”47.
-----------------------------
44 Trường Biên, quyển 270, tờ 5a. Theo Hoàng Xuân Hãn, Sách đã dẫn, tr. 187.

45, 46 Lĩnh ngoại đại đáp.

47 Trường biên, theo Hoàng Xuân Hãn, sách đã dẫn, tr. 259.

Logged

Ùi, úi, ui....
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 239



« Trả lời #59 vào lúc: 24 Tháng Mười Hai, 2011, 07:42:23 pm »

Như vậy, quân thủy Lý đã chia làm hai bộ phận: một bộ phận đổ bộ chiếm cảng Khâm, sau đó tiến lên phía bắc hợp với quân bộ của các thủ lĩnh miền núi từ biên giới phía tây tiến vào, bao vây hạ thành Ung, giải quyết mục tiêu chiến dịch. Bộ phận quân thủy này do Lý Thường Kiệt trực tiếp chỉ huy, là nòng cốt của chiến dịch. Bộ phận quân thủy thứ hai, có lẽ do tướng Lý Kế Nguyên chỉ huy, có nhiệm vụ đánh chiếm cảng Liêm và phá hủy toàn bộ hệ thống phòng thủ của quân Tống ở vùng ven biển phía đông Quảng Đông, không cho quân Tống ở vùng này chi viện cho thành Ung. Nhờ đổ bộ bất ngờ, quân ta đã giành thắng lợi rất nhanh. Chỉ trong khoảng gần 20 ngày, quân ta đã tiến đến vây chặt thành Ung và sau hơn 40 ngày công phá, quân ta đã triệt hạ thành này, tiêu diệt toàn bộ đạo quân tiếp viện của Trương Thủ Tiết từ Quế Châu kéo xuống, giải quyết triệt để các mục tiêu mà chiến dịch đề ra. Tháng 3 năm đó, có lẽ cũng xuất phát từ cảng Khâm, Liêm, những thuyền chiến căng buồm no gió lại đưa đội quân chiến thắng trở về.


Phá Ung châu

Thắng lợi của toàn bộ cuộc chiến, có thể nói, được mở ra từ những trận đổ bộ bất ngờ ở hai cảng Khâm, Liêm. Đầu cầu và bàn đạp của Tống ngay lập tức trở thành căn cứ bàn đạp và cầu chuyển quân của ta tỏa đi chiếm cả vùng duyên hải phía đông-nam Lưỡng Quảng và tiến lên phía bắc vây Ung Châu. Toàn bộ hậu cần cho đạo quân hàng chục vạn người vây Ung Châu trong vòng hơn 40 ngày tất phải lấy từ các kho lương của những thành vừa chiếm được, chủ yếu do thắng lợi của hai cánh quân thủy đổ bộ vào cảng Khâm, Liêm mang lại. Quân ta ở thành Ung cũng chỉ giành được thắng lợi trong tình huống quân Tống ở các mặt đông và nam thành này đã bị quân đổ bộ tiêu diệt. Những thành lũy đó, lẽ ra phải chi viện cho Ung Châu, thì chính quân đổ bộ đã biến chúng thành nơi chi viện cho quân Lý vây đánh Ung Châu. Chỉ có thể bằng đổ bộ đường thủy, quân ta mới nhanh chóng tập trung quân, tạo thế bất ngờ đối với quân Tống, nhờ vậy luôn áp đảo tiêu diệt chúng. Những trận đổ bộ vào hai cảng Khâm, Liêm, chứng tỏ khả năng rất lớn của quân thủy Lý trong vận chuyển đổ bộ. Thắng lợi giòn giã của những trận đó là một kiểu mẫu trong nghệ thuật đổ bộ đường biển của lịch sử quân thủy nước ta.
Logged

Ùi, úi, ui....
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM