Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:20:47 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm  (Đọc 170195 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 239



« Trả lời #120 vào lúc: 27 Tháng Giêng, 2012, 08:17:31 pm »

Vận lương đường thủy sẽ giảm bớt một số lượng khổng lồ phu vận chuyển, kèm theo đó giảm bớt số tiền và lương thực nuôi phu.

  Dựa vào những ghi chép về khả năng vận lương của Tống – Nguyên qua biên giới nước ta, có thể ước tính: nếu vận lương đường bộ, nhà Nguyên phải huy động hơn 63 vạn phu, hoặc nếu có thể áp dụng sáng kiến như quân Tống (tức dùng lương chở lương, hoặc nói cách khác là dùng thực phẩm – thịt – chở lương thực – gạo, cỏ…) thì số phu cũng hơn 30 vạn mới đủ cung cấp cho quân chiến đấu Nguyên 17 vạn thạch lương. Số lương lo cho đoàn phu đó cũng tương đương như vậy. Tức là nhà Nguyên phải mất 34 vạn thạch lương với hơn 63 hoặc 30 vạn phu chuyên chở cho cuộc hành quân năm 1287.

  Mười bảy vạn thạch lương là lương thảo có thể dùng cho một đạo quân kỵ bộ (theo tỷ lệ 10% quân kỵ) đông tới gần 20 vạn trong khoảng thời gian từ 1 – 2 tháng. Số lương thảo này tính theo đơn vị đo lường thời Nguyên vào khoảng 16.150m3. Đơn vị đo lường dùng cho thuyền thời này đều dùng thạch để tính trọng tải, thường tính theo khối lương, không mấy khi tính theo trọng lượng (Một thạch thời Nguyên tính theo trọng lượng bằng 30 quân, tức là 120 cân. Đổi theo đơn vị đo lường hiện nay là 716,184kg. Tính theo dung lượng bằng 2 hộc, tức 10 đấu. Đổi theo đơn vị đo lường hiện nay là 94,88dm3, hoặc 94,88 lít). Theo Ngô Thừa Lạc: Trung Quốc đô lương hoành sử, Thương vụ ấn bản thư quán (Cần lưu ý là đơn vị thạch thời Tống chỉ bằng 2/3 thạch (dung lượng) thời Nguyên. Thạch đời Nguyên lại nhỏ hơn Minh, Thanh một chút. Nhưng thạch (trọng lượng) vẫn không thay đổi).

  Dựa vào một số số liệu ghi chép về thuyền bè thời này ở Trung Quốc, chúng ta có thể hình dung phần nào thuyền chiến và thuyền tải lương của quân Nguyên trong cuộc hành quân năm 1287: Phần lớn thuyền chiến giống thuyền chiến Tống, vẫn do các xưởng tàu lớn ở Phúc Kiến, Quảng Đông sản xuất. Có thể dùng tài liệu thuyền bè thời Tống, đặc biệt là Nam Tống để hình dung thuyền Nguyên năm 1287. Tài liệu thuyền bè Nam Tống khá phong phú, có thể tham khảo loạt bài trên Văn vật (Trung Quốc) số 10-1975, nhân khảo cổ học Trung Quốc đào được một chiếc đại hải vận thuyền ở cảng Hậu Chử thuộc thị trấn Tuyền Châu (Phúc Kiến) năm 1974.

  Ở đây, chúng tôi chỉ gắng hình dung một số kích thước cơ bản của thuyền chiến và thuyền tải lương được quân Nguyên sử dụng trong xâm lược Đại Việt năm 1288.

  Trước hết, về thuyền lương, Nguyên sử, An Nam chí lược, Toàn thư… đều thống nhất có 70 thuyền. Nhưng Nguyên sử ghi nhất quán là chở 17 vạn thạch lương, còn Toàn thư ghi thành 70 vạn thạch. Tính toán theo số lương bấy giờ, kết hợp với lương thảo các cuộc hành quân của Tống, Nguyên sang nước ta, có thể nghĩ rằng Toàn thư đã chép nhầm (thập thất thành thất thập). Các sách sử sau này của nước ta có tham khảo Nguyên sử như Cương mục, Lịch triều hiến chương loại chí… đều sửa theo Nguyên sử là 17 vạn thạch.

  Đem số 17 vạn thạch lương chia cho 70 thuyền, mỗi thuyền chở khoảng 2.400 thạch (Nguyên), tương ứng 230m3. Tạm dùng hệ số sử dụng trọng tải cho thuyền thời này khoảng 0,5 và hệ số phương hình δ bằng 0,45 (lấy theo hệ số của chiếc thuyền vận tải có niên đại Tống – Nguyên đào ở Hậu Chử, thuộc Tuyền Châu). Cũng có thể mượn các hệ số dài/rộng (L/B) và hệ số rộng/sâu (B/T) của chiếc thuyền tải ở Hậu Chử để áp dụng cho thuyền lương của Nguyên, trên cơ sở coi các thuyền đó cùng một truyền thống đóng thuyền biển ở Quảng Đông, Phúc Kiến thế kỷ XIII. Như vậy, áp dụng công thức:

 

  (với tỷ lệ L/B bằng 2,58 và B/T bằng 3,27), ta có thể có được kích thước thuyền lương trong cuộc xâm lược Đại Việt năm 1287 của nhà Nguyên như sau: dài khoảng 27 mét, rộng 11 mét, sâu 3 mét. Đó là loại thuyền vận tải cỡ trung bình của Quảng Đông – Phúc Kiến đương thời.

  Về thuyền chiến, tương đối sát thực nhất với các thuyền chiến đánh Đại Việt là các thuyền chiến vượt biển đánh Chiêm Thành năm 1283. Có hai số liệu trong Nguyên sử, quyển 11, tờ 9a và quyển 13, tờ 2a cho biết mỗi thuyền chiến Nguyên chở trung bình 75 lính chiến đấu hoặc khoảng 100 cả lính chiến đấu lẫn thủy thủ. Điều này phù hợp với ghi chép của Mác-cô Pô-lô khi ông đến Trung Quốc vào khoảng thời gian đó: mỗi thuyền 100 quân (O. Ylue: The Book oì Marco Polo, London, 1921). Vũ kinh tổng yếu của Tăng Công Lượng thời Tống (1044) có nói đến cách đánh giá tải trọng của thuyền chở người: “Phàm thủy chiến lấy tàu thuyền lớn nhỏ làm hạng. Chở được nhiều ít đều lấy gạo làm chuẩn, một người bất quá nặng như hai thạch gạo (!)” quyển 11, Tiền tập, mục Chiến thuyền). Thực tế trọng lượng một người không bằng hai thạch được. Trong sách đó, khi nói đến cách làm bè chum có câu: “Mỗi chum chưa được 2 thạch thì có thể đỡ được một người”. Như vậy đây là tính tương đương dùng cho việc đóng thuyền. Vì thế, có thể coi mỗi thuyền chiến chở lính của Nguyên tương đương thuyền tải trọng 200 thạch, tức chỉ bằng khoảng 1/10 thuyền chở lương.

  Theo cách tính của Vương Tăng Luân trong Văn vật, 10-1975 thì thuyền 200 thạch có thể tương đương 15 tonau, tức 43m3. Áp dụng công thức tải trọng, với hệ số tải trọng và hệ số δ vẫn là 0,5 và 0,45. Nhưng để phù hợp với tính chất thuyền chiến, chúng tôi dùng hệ số L/B và B/T theo loại thuyền quan hành đời Tống ghi trong Tuyên Hòa phụng sứ Cao ban đồ kinh là 4 và 1,6 (so với hệ số H/T – 2). Kết quả cho thấy thuyền chiến Nguyên loại 100 quân có chiều dài khoảng 17 mét, rộng 4,5 mét, sâu 2,5 mét.

  Dĩ nhiên, nhưng số liệu trên chỉ là tương đối.

Logged

Ùi, úi, ui....
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 239



« Trả lời #121 vào lúc: 27 Tháng Giêng, 2012, 08:20:51 pm »

Cuối năm 1287, trên cả ba hướng (Vân Nam, Cao Bằng, Lạng Sơn, Khâm – Liêm) quân Nguyên ồ ạt tiến vào nước ta. Nhìn chung, các hướng tiến quân lần này không khác trước là bao, trừ cánh quân thủy, từ Khâm – Liêm xuống. Đó cũng là hành trình quen thuộc của mọi cuộc hành quân đường thủy trong các triều đại phong kiến Trung Quốc trước.

Với thắng lợi năm 1286, quân Trần tỏ ra khá tự tin trong cuộc chiến đấu mới này. Thực tế diễn biến chiến trường sau đó đã chứng tỏ nhận định của Trần Quốc Tuấn không phải là những phỏng đoán vô căn cứ. Ngay từ năm 1286, khi biết tin đoàn quân Nguyên vừa thất trận lại được vua Nguyên củng cố để tiếp tục cuộc chiến tranh trả thù, vua Trần đã hỏi Trần Quốc Tuấn: “Năm nay thế giặc ra sao?”. Quốc Tuấn sau khi khi phân tích được thua, đã kết luận: “Cứ ý thần xem thì tất đánh tan được”133. Và khi quân Nguyên bộc lộ chiến lược, chiến thuật qua việc bố trí lực lượng hành quân, Trần Quốc Tuấn đã có thể khẳng định được kết cục của cuộc chiến: “Năm nay giặc đến dễ đánh”134. Rõ ràng những bài học còn nóng bỏng của cuộc kháng chiến lần trước đã soi sáng chiến lược chống Nguyên lần này.

Nhìn toàn cục, bố trí lực lượng của quân Trần ban đầu cũng không khác năm 1285 là bao, trừ trường hợp những lực lượng đảm nhiệm phòng thủ phía nam nay được bổ sung vào phía bắc. Vẫn Trần Nhân Duật chốt ở ngã ba Bạch Hạc đánh nhau với quân Vân Nam, Trần Hưng Đạo đích thân chỉ huy đại quân chặn đánh hai cánh quân của Thoát Hoan trên hướng Cao Bằng – Lạng Sơn, vua Trần cùng cấm quân trông nom kinh thành. Điểm mới trong bố trí binh lực lần này tương ứng với điểm mới trong cách hành quân của quân Nguyên. Đó là việc tăng cường chốt phòng thủ đường biển và chuẩn bị trên quy mô lớn cho mặt trận trên biển.

Thực ra, ngay từ năm 1282, sau Hội nghị quân sự Bình Than, nhà Trần đã tăng cường phòng thủ Vân Đồn và đề phòng khả năng chiến tranh trên biển với quân thủy Toa Đô. Nhưng sau đó cục diện chiến tranh có thay đổi. Ba năm sau, cuộc chiến mới bắt đầu và quân thủy Toa Đô lại từ phía nam lên, chứ không phải từ phía bắc xuống như phương án nhà Trần đã chuẩn bị. Vì vậy, biển đông – bắc trong suốt cuộc kháng chiến lần thứ hai khá im lặng, ngoài một lần quân Nguyên đuổi theo vua Trần có đi qua đây. Tuy nhiên, trong nguy cơ lâu dài của cuộc chiến tranh với nhà Nguyên, Trần Khánh Dư có ý thức xây dựng các chốt phòng thủ ở vùng biển này.
------------------------
133, 134 Toàn thư, t. II, tr. 64, 65.
Logged

Ùi, úi, ui....
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 239



« Trả lời #122 vào lúc: 27 Tháng Giêng, 2012, 08:29:01 pm »

Cuộc kháng chiến chống Nguyên lần này được chuẩn bị khá chu đáo, lực lượng chính dùng trong các trận cản giặc là quân thường trực của triều đình và quân đội vương hầu.

  Theo Toàn thư, Trần Hưng Đạo đã không tán thành chủ trương lấy thêm quân trong dân. Điều này phản ánh hai khía cạnh: thứ nhất là do “thế nhàn”; thứ hai là chủ trương “nới sức dân” sau những tàn phá, giết chóc của quân Nguyên năm trước.

Tuy thế trận ngăn giặc chung của quân Trần năm nay không khác năm 1285, nhưng rõ ràng các trận cản giặc lần này không trở thành đối sách chính của toàn cuộc chiến. Các cánh quân bộ của Nguyên tiến vào nước ta nhanh chóng, thuận lợi hơn năm 1285. Quân Trần không tổ chức những đối trận lớn như ở Bình Lệ Nguyên Vạn Kiếp nữa, mà kinh nghiệm cho thấy, với khối quân bộ đông và mạnh như quân Nguyên, thì bảo toàn lực lượng trong khi chặn đánh giặc là điều cốt yếu. Sau hơn một tháng chặn giặc, quân Trần chủ động rút “ra biển”. Tình hình diễn biến chiến tranh sau đó cho thấy quân Trần lần này chủ trương lấy địa bàn sông biển phía đông và đông-bắc đất nước làm chiến trường chính chống quân Nguyên.

Chủ trương trên chứng tỏ quân Trần quyết chọn quân thủy Nguyên làm đối tượng tác chiến chính. Vì đây là lá bài mới nhất, cố gắng lớn nhất của Hốt Tất Liệt. Đánh quỵ quân thủy Nguyên thì cơ bản quân Trần đã thắng về chiến thuật tác chiến, đội quân bộ của Thoát Hoan dù mạnh, sẽ không tránh khỏi kết cục năm 1258, 1286. Đặc biệt, sứ mạng quân thủy Nguyên lần này không phải chỉ là công cụ chiến thuật, mà với 70 thuyền chở toàn bộ lương thảo và khí giới, nó đã chứa trong lòng những yếu tố có quan hệ đến chiến lược của cuộc chiến. Cuối cùng, chọn đối tượng tác chiến như vậy, quân ta sẽ phát huy sở trường của mình để chống lại sở đoản của địch, buộc địch không thi thố được tài nghệ của chúng. Có thể nói trong cả ba cuộc kháng chiến, đây là lần quân Trần sớm có những chủ trương đúng đắn nhất, nhờ đó đánh giặc cũng ung dung, chủ động hơn và cuối cùng thắng lợi cũng vĩ đại hơn.

Thuyền quân Nguyên
Logged

Ùi, úi, ui....
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 239



« Trả lời #123 vào lúc: 27 Tháng Giêng, 2012, 08:33:59 pm »

Trận Mũi Ngọc

Ngày 17-12-1287, đoàn thuyền chiến của quân Nguyên bắt đầu khởi hành. Lúc này, một bộ phận quân thủy Trần đã đón sẵn ở Mũi Ngọc. đây là một hòn núi ở cực nam bán đảo Trà Cổ cách thị xã Móng Cái hiện nay khoảng hơn 10 ki-lô-mét về phía Nam. Thời Lý vùng này thuộc châu Vĩnh An, thời Trần thuộc lộ Hải Đông, cũng có tên là Vạn Ninh. Đường biển lâu dời từ Trung Quốc sang nước ta đều đi qua núi Ô Lôi ở cửa vịnh Khâm men theo bờ biển đến Mũi Ngọc. Từ đây bờ biển kết hợp với các lớp đảo chạy dài song song tạo thành một lạch nước tự nhiên rất kín gió, đi lại thuận tiện.

  Sử sách thời Hán, Đường, thậm chí tận thời Tống vẫn nhầm đây là một con sông. Sau khi quân Minh chiếm nước ta, chúng đã chính thức biến lạch nước thành trục giao thông đường thủy có những bến, trạm không khác gì đường sá trên bộ.

Mũi Ngọc đối diện với mỏm cực đông của đảo Vĩnh Thực, tức dãy đảo đầu tiên của lạch nước nói trên. Vì nhô hẳn ra ngoài biển nên đường nước qua chỗ đó trở nên hẹp hẳn lại, tạo thành một cửa ải tự nhiên ngăn giữ đường biển vào nước ta.

  Đó chính là cửa Ngọc, nay có tên là Cửa Tân. Trên hải đồ, do cấu tạo tự nhiên, đường nước qua cửa này đột nhiên sâu hẳn so với các nơi khác xung quanh. Mé sát đảo Vĩnh Thực, mực nước thông thường sâu từ 11 đến 13m. Có lẽ chính vậy An Nam chí lược còn gọi nơi này bằng cái tên là Lãng Sơn.

Đây là một điểm phòng thủ tốt của quân ta. Nhân Đức hầu Trần Toàn (An Nam chí lược chép là Trần Da) được giao trách nhiệm chốt ở đây. Tuy nhiên, với lực lượng nhỏ, quân thủy Trần ở đây không chủ trương quyết chiến với toàn bộ quân thủy Nguyên ngay khi chúng mới tiến vào, mà chủ trương phục kích tiêu hao sinh lực địch, đặc biệt nhắm vào đội thuyền lương vốn thường xuyên bị những đơn vị thuyền chiến cơ động hơn bỏ rơi. Kết hợp những tài liệu trong An Nam chí lược và Toàn thư, ta biết được Trần Toàn đã phục kích đội thuyền lương của Trương Văn Hổ và bước đầu thu được thắng lợi buộc quân thủy tiên phong của Ô Mã Nhi phải quay trở lại ứng cứu. An Nam chí lược chép: Ngày 17-12-1287, “chu sư (tức quân thủy Nguyên – T.G.) tiến trước, qua cửa Vạn Ninh (tức cửa Tán – T.G.), tướng giặc bên kia là Nhân Đức hầu Trần Da phục binh ở Lãng Sơn định cắt hậu quân ta…”. Chắc hẳn trận này quân ta phục kích thành công, nên ngày 2-1-1288, tức tròn nửa tháng sau, Toàn thư chép việc Nhân Đức hầu với tên là Toàn, đem 40 tên giặc, cùng thuyền, ngựa, khí giới bắt được dâng lên vua Trần ở Thăng Long135. Tuy nhiên, trận này chưa có ý nghĩa lớn lắm, thuyền lương của quân Nguyên vẫn còn khá nguyên vẹn cùng quân thủy tiến sâu vào vùng biển nước ta.
----------------------------
135 Toàn thư, t. II, tr. 65. Có thể ngờ rằng Đa Mỗ và Trà Cổ có liên quan về mặt ngữ âm. Trần Da hoặc Toàn là thượng vị Nhân Đức hầu, chức Phán thủ có liên quan họ hàng với thượng vị Nhân Huệ hầu (sau này Khánh Dư mới được phong vương) quyền chức phán thủ Trần Khánh Dư.
Logged

Ùi, úi, ui....
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 239



« Trả lời #124 vào lúc: 27 Tháng Giêng, 2012, 08:39:00 pm »

Trận An Bang

Có thể hình dung quân thủy Nguyên đi theo lạch nước sâu men sát các đảo Vĩnh Thực, Cái Chiên, qua cửa Tiểu, xuôi xuống men tiếp theo lạch nước do bờ phía đông đảo Cái Bầu mà vào biển Lục Thủy, hoặc vịnh Tùng Bách (tức vịnh Hạ Long ngày nay), khoảng gần Hòn Gai, sau đó đi đến vùng biển có địa danh là cửa An Bang, tức cửa sông Chanh.

  Nguyên sử cũng như Toàn thư có nói tới việc quân Nguyên đi qua hoặc phạm vào Vân Đồn, nhưng hẳn ám chỉ việc quân Nguyên đi qua vùng biển, lúc bấy giờ gọi chung là Vân Đồn hay Đồn Sơn, chứ không nhất thiết đi qua đường hẹp rất hiểm trở, nơi tụ họp buôn bán của thuyền bè hải ngoại.

Toàn thư nhắc đến trận đánh “bất lợi” của Trần Khánh Dư, có thể trùng hợp với trận thủy chiến lớn mà sử Nguyên chép là cửa An Bang. Như vậy thì Khánh Dư đã rút đại quân khỏi Vân Đồn, chỉ để lại một lực lượng nhỏ chốt ở đây, còn tất cả dàn trận đón đánh quân Nguyên ở các đảo chi chít trên đường từ biển Lục Thủy vào cửa An Bang (cửa sông Chanh). Sử ta cũng như sử Nguyên đều chép trận này quân thủy Trần Khánh Dư đánh bất lợi. Ta mất nhiều thuyền và quân. Nhưng rồi Khánh Dư tập hợp số thuyền chiến còn lại, quay về căn cứ Vân Đồn, tổ chức trận phục kích mới, quyết chặn đánh đoàn thuyền lương đi sau.

  Theo Lĩnh ngoại đại đáp, hành trình từ Khâm Châu vào đến Vạn Kiếp, nếu thuận buồm xuôi gió chỉ mất gần bốn ngày (thường ngày đi đêm nghỉ). Hành trình của thuyền buồm hiện nay cũng tương tự như vậy. Thuyền xuôi gió từ cửa vịnh Khâm (núi Ô Lôi) đến Mũi Ngọc, vượt chặng đường biển khoảng 100 ki-lô-mét, thường là sáng đi tối đến. đối diện với Mũi Ngọc, sát bờ đảo Vĩnh Thực có chỗ nước sâu rất tiện cho việc đỗ thuyền, nay vẫn là nơi bỏ neo nghỉ giữa đường của thuyền bè. Từ đó đến vùng biển An Bang mất hơn một ngày nữa (có thể đậu thuyền nghỉ ở biển cửa Lục, vịnh Hạ Long hoặc đi thêm một chút đậu thuyền ở các đảo phía bắc Cát Bà, nam Tuần Châu hiện nay). Từ đây có thể lợi dụng thủy triều lên mà vào cửa Chanh, ngược với Bạch Đằng, rồi ngược mũi vào đến Lục Đầu, cả thảy mất khoảng hai ngày nữa, tùy theo tình hình con nước.

Cuộc hành quân của quân thủy Nguyên trùng vào tháng có nhiều đợt gió mùa đông-bắc nhất. Vậy mà theo ghi chép của sử sách Nguyên, phải mất gần 20 ngày đoàn thuyền chiến mới vào tới Vạn Kiếp. Điều đó chứng tỏ chúng bị quân Trần chặn đánh rất quyết liệt, khác với chủ trương chặn giặc trên đường bộ. Dường như việc phải giành thắng lợi trên mặt trận đường thủy là quân lệnh của quân Trần. Chính vì vậy mà Trần Khánh Dư suýt mất đầu sau trận An Bang.

Việc sử sách không ghi chép gì về hoạt động của quân ta và quân Nguyên từ cửa Chanh đến Vạn Kiếp khi chúng tiến vào, cho phép dự đoán trận An Bang xảy ra vào khoảng cuối tháng 12 dương lịch, tức trước khi quân thủy Phàn Tiếp, Ô Mã Nhi vào hội quân với Thoát Hoan mấy ngày136.
-----------------------------
136 Theo Nguyên sử, q. 14, tờ 11b, Thoát Hoan hội với các quân vào ngày giáp dần tháng mười một âm lịch, tức ngày 2-1-1288.
Logged

Ùi, úi, ui....
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 239



« Trả lời #125 vào lúc: 29 Tháng Giêng, 2012, 02:35:49 pm »

Trận Vân Đồn – Cửa Lục

Ghi chép của An Nam chí lược và Nguyên sử cho thấy quân thủy Nguyên hành quân theo cách dùng đội thuyền chiến đi trước mở đường, bỏ xa thuyền lương theo sau.

  An Nam chí lược chép: Sau trận Lãng Sơn, “Ô Mã Nhi thừa thắng kéo quân đi trước, không nghĩ gì đến thuyền lương ở sau. Không được viện binh, lương bị hãm”

Cách hành quân như vậy phản ánh sự thiếu kinh nghiệm của quân thủy Nguyên, tạo sơ hở để quân thủy Trần Khánh Dư giáng một đòn quyết định.

Nhiều tài liệu đều cho thấy trận đánh thuyền lương Trương Văn Hổ xảy ra vào tháng 12 âm lịch137. Đối chiếu với cách hành quân và thời gian quân thủy Ô Mã Nhi, Phàn Thiếp vào hội ở Vạn Kiếp thì nhiều khả năng trận đánh đó diễn ra vào khoảng đầu tháng, khi quân thủy Ô Mã Nhi, sau trận An Bang, đã coi như “hoàn thành” nhiệm vụ mở đường, bỏ quân lương ở sau tiến sâu vào lãnh thổ nước ta. Như vậy, có thể đoán rằng, khi được tin Ô Mã Nhi đánh bại quân thủy ta ở cửa An Bang, thì từ một điểm trú quân nào đó, bộ phận thuyền lương của Trương Văn Hổ vội vã tiến theo. Thực ra, đây chỉ là một trong ba đoàn thuyền chở lương mà thôi, nhưng là bộ phận lớn nhất. Khi qua đường biển phía tây Vân Đồn, đoàn thuyền này lọt vào ổ phục kích của quân thủy Trần Khánh Dư.

Nguyên sử, quyền 209 chép: “Thuyền lương của Trương Văn Hổ tháng 12 năm ngoái đậu ở Đồn Sơn, gặp 30 chiếc thuyền của Giao Chỉ. Văn Hổ đánh, số giết được tương đương nhau. Đến biển Lục Thủy, thuyền giặc thêm nhiều, liệu không thể địch nổi mà thuyền lại nặng, không thể đi được, nên đổ thóc xuống biển rồi đi Quỳnh Châu (tức đảo Hải Nam – T.G.)”138.

Trong trận này, quân thủy Trần làm hai bộ phận, một nhóm khoảng 30 thuyền (tương ứng với số thuyền một quân), với khoảng 2.500 chiến binh, đón đánh bọn Trương Văn Hổ ngay khi chúng đến Đồn Sơn. Có thể đây là đơn vị quân thủy chốt giữ ở Vân Đồn. Một bộ phận khác, có thể là đơn vị quân thủy vừa thất trận ở An Bang, đón đánh ở biển Lục Thủy hay vịnh Tùng Bách (nay là vùng biển Hòn Gai). Từ vùng biển Đồn Sơn (tức Vân Đồn) đến biển Lục Thủy; thuyền đi mất khoảng nửa ngày đường và cũng khoảng chừng đó nữa thì đến khu vực trước cửa Chanh. Nếu quả như đường đã thông sau khi bọn Ô Mã Nhi thắng trận An Bang thì có thể nghĩ rằng bọn Trương Văn Hổ, bắt đầu một ngày hành trình đã xuất phát từ mé trên vùng biển Vân Đồn một chút và chúng đã bị đón đánh ngay khi mới xuất phát.

Lực lượng vũ trang hộ tống đi cùng thuyền lương có lẽ không đông lắm. Qua số liệu quân chết, thuyền chìm mà Nguyên sử chép về trận này thì số quân áp tải trên mỗi thuyền khoảng 20 tên (không kể số thủy thủ). Lực lượng đó, với những thuyền lương tuy lớn nhưng chậm chạp, không thể đương đầu với thuyền chiến của quân Trần. Quân Nguyên vừa đánh vừa tháo chạy theo hướng quân thủy Ô Mã Nhi. Để cơ động, chúng đã phải vứt dần số lương thảo chất trên thuyền xuống biển. Trận truy kích kéo dài suốt chặng đường khoảng 40 ki-lô-mét đường biển. Tới biển Lục Thủy, thuyền chiến của bọn Ô Mã Nhi không thấy đâu, trước mắt bọn Trương Văn Hổ xuất hiện những thuyền chiến Đại Việt đang chờ sẵn. Trận đánh quyết định đã diễn ra ở đây, kết thúc số phận đoàn thuyền mang bộ phận quan trọng của cái “dạ dày” 50 vạn quân viễn chinh Nguyên trong đất liền. Sử Nguyên thú nhận: 11 thuyền với 220 lính hộ tống chết chìm ngay tại trận. Số còn lại hoặc bị bắt, hoặc vứt toàn bộ lương thực bỏ chạy tan tác. Chủ tướng họ Trương trốn lên một chiếc thuyền lủi nhanh về hướng đông, nhằm đảo Quỳnh Châu – sào huyệt cũ của bọn cướp – mà chạy.

  An Nam chí lược: “Trương Văn Hổ trước gặp địch ở cửa An Bang, lương bị hãm, đi một chiếc thuyền to chạy về Khâm Châu”.
------------------------------
137, 138 Theo Hà Văn Tấn… Sách đã dẫn, tr. 270 Đào Duy Anh, chú giải Toàn thư, t. II, tr. 300.
Logged

Ùi, úi, ui....
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 239



« Trả lời #126 vào lúc: 29 Tháng Giêng, 2012, 02:43:07 pm »

Trận Vân Đồn – Lục Thủy tuy không lớn, nhưng rất hiểm. Như đã biết, quân thủy Nguyên lần hành quân này có nhiệm vụ chiến lược là hỗ trợ quân bộ và áp tải thuyền lương. Với tinh thần chiến đấu ngoan cường và đầy mưu trí, quân thủy Trần ở vùng biển đông-bắc, dưới sự chỉ huy của Trần Khánh Dư, đã làm thất bại một nhiệm vụ chiến lược của chúng. Cái “dạ dày” của cuộc viễn chinh đã bị quân thủy ta cắt đứt ngoài biển. Chẳng bao lâu nữa, nó sẽ tác động đến toàn bộ chiến lược của cuộc chiến.

Nhắc đến chiến thắng này, Toàn thư chép với lời lẽ đầy sảng khoái: “Khánh Dư đoán biết là quân giặc đi rồi, thuyền lương tất theo sau, bèn thu nhặt quân còn lại để đợi. Không lâu, thuyền chở lương của giặc quả nhiên đến. Khánh Dư đánh giặc bị thua, bắt được lương thực, khí giới của giặc nhiều không kể xiết, bắt sống quân giặc rất nhiều. Lập tức chạy thư về tâu. Thượng hoàng tha tội trước không hỏi đến và nói: “Quân Nguyên chỉ nhờ về lương cỏ, khí giới, nay ta đã bắt được, sợ nó chưa biết tin, hoặc giả còn hung hăng chăng?”, bèn tha cho quân bị bắt đến doanh quân Nguyên báo tin. Quả nhiên, giặc Nguyên rút lui. Cho nên năm nay nhân dân không bị thảm họa như năm trước là Khánh Dư cũng có dự công…”139.


Sử sách chép việc quân ta tiêu diệt thuyền lương của Nguyên có vẻ như một thắng lợi ngẫu nhiên. Thực ra đây là một chủ trương khá rõ ràng của quân Trần. Theo An Nam chí lược, thuyền lương của Nguyên hai lần trên đường vào nước ta đều bị hãm. Và đây chính là chủ trương “đánh giặc nhàn” của Trần Quốc Tuấn. Nếu như quân thủy Trần tạm thất bại trong nhiệm vụ cản đoàn thuyền chiến của Nguyên nhập với quân bộ, thì trái lại hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ cắt “dạ dày” của toàn bộ quân Nguyên. Không một thạch lương nào lọt đến tay quân Nguyên trong đất liền. Chẳng những toàn bộ lương thảo chở trên thuyền do Trương Văn Hổ chỉ huy bị mất, mà số còn lại trên những thuyền lương của bọn Phí Củng Thìn, Từ Khánh cũng vì phải đi đường vòng ngoài khơi nên bị sóng gió phiêu bạt, toán thì ra Quỳnh Châu, toán thì vào đến tận biển Chiêm Thành.
---------------------------
139 Toàn thư, t. II, tr. 65
Logged

Ùi, úi, ui....
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 239



« Trả lời #127 vào lúc: 29 Tháng Giêng, 2012, 02:48:13 pm »

Sau khi các đạo quân Nguyên đều đã tụ hội ở Vạn Kiếp, Thoát Hoan liền biến nơi đây thành một căn cứ thủy bộ khổng lồ, dự định làm cơ sở cho một cuộc chinh phạt đến “thắng lợi cuối cùng”. Từ đây, quân Nguyên tiến về Thăng Long. Theo kế hoạch đã chuẩn bị trước, quân Trần rút khỏi Thăng Long theo đường sông Hồng. Cũng như cuộc rút quân năm 1285, quân Trần tổ chức phòng ngự ở ải Thiên Mạc và ải Hải Thị, nhưng ở cả hai nơi đó quân Trần đã không tiến hành những trận quyết chiến cản giặc. Dường như đó chỉ là những trận cản đường để cho cuộc rút quân đã sắp sẵn thực hiện theo đúng kế hoạch mà thôi.

Theo sử Nguyên, toàn bộ quân Trần đã rút ra biển. Thực ra, quân Trần sử dụng quân thủy là chính trong cuộc chiến tranh lần này, đã nhanh chóng triển khai về vùng ven biển Hải Đông,với địa bàn trọng tâm là khu vực bắc Thái Bình, toàn bộ Hải Phòng, một phần Hải Dương cũ và phần nam Quảng Ninh hiện nay. Dựa theo dấu vết di tích Trần có liên quan đến cuộc kháng chiến này cũng như những ghi chép về các trận đụng độ lớn, có thể tạm hình dung ba căn cứ lớn trong khu vực nói trên.

Thứ nhất là khu vực bắc Thái Bình – nam Hải Phòng hiện nay, tức khu vực gồm cửa sông Thái Bình, Văn Úc lên tới Đồ Sơn. Đây là căn cứ hình thành ngay khi quân Trần rút khỏi Long Hưng, Thiên Trường và tồn tại cho đến khi quân Trần tổ chức chiến dịch Bạch Đằng.

  Nguyên sử, quyển 133, tờ 9b nhắc đến việc quân Nguyên, sau khi quân Trần rút khỏi Thiên Trường đã đụng độ với Trần Quốc Tuấn ở vùng Đồ Sơn. Cũng khoảng này, ngày 10-2-1288, quân thủy Ô Mã Nhi sau khi đánh phá Long Hưng đã đại chiến với quân thủy Trần ở vùng biển Đại Bàng (tức vùng biển phía nam Đồ Sơn hiện nay) (Toàn thư, t. II, tr. 67, An Nam chí lược, Nguyên sử đều chép trận này xảy ra ở Đa Ngư, Tháp Sơn). Và theo truyền thuyết, cũng từ căn cứ này, quân Trần do Hưng Đạo Vương chỉ huy đã vượt sông Hòa tiến lên chuẩn bị chiến dịch Bạch Đằng vào khoảng gần hai tháng sau đó.

Khu căn cứ lớn thứ hai là khu vực Yên Hưng – Trúc Động, bao gồm miền đất nằm quanh sông Giá, sông Đá Bạc và sông Chanh hiện nay. Trung tâm bộ chỉ huy thường đóng ở Trúc Động (thuộc huyện Thủy Nguyên Hải Phòng ngày nay).

  Nguyên sử, La A Bát Xích truyện chép: “Nhật Huyên không đầu hàng mà lại chạy ra giữ cửa biển Trúc Động, An Bang”. Toàn thư chép: “Tháng hai, ngày 19, Ô Mã Nhi đánh vào trại Yên Hưng”. Văn bia Lý Thiên Hựu cho biết Ô Mã Nhi đã từng đụng độ với quân Trần ở Trúc Động. Sau khi Thoát Hoan từ Thăng Long về đến Vạn Kiếp, y đã phái đại quân càn quét khu vực Trúc Động ra đến cửa An Bang (Nguyên sử, q. 129, tờ 2a).

Thực tế quá trình chiến dịch Bạch Đằng đã chứng tỏ đây là một khu căn cứ có ý nghĩa chiến lược trong toàn bộ cuộc kháng chiến này.

Khu căn cứ thứ ba xuất hiện muộn hơn, chủ yếu phục vụ trận Bạch Đằng. Đó là căn cứ Chí Linh, với núi Dương Nham, được coi như nơi vua Trần trú quân (Chúng ta sẽ trở lại tìm hiểu căn cứ này chi tiết hơn trong chiến dịch Bạch Đằng).

Như vậy quân Trần đã chọn vùng sông nước dày đặc, hiểm trở, và nhất là kết hợp được với vùng biển đông - bắc, làm thành địa bàn chiến lược chống lại quân Nguyên trong giai đoạn thứ hai của cuộc chiến tranh. Việc chọn địa bàn chiến lược có liên quan đến chiến lược đánh thủy được phát huy cao độ trong cuộc kháng chiến này. Đó cũng là chủ trương làm sao để khi tác chiến, chủ yếu ta chỉ phải đương đầu với một bộ phận quân Nguyên là quân thủy. Trong quá trình đó, ta có thể bảo toàn lực lượng, chờ thời cơ phản công chiến lược.
Logged

Ùi, úi, ui....
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 239



« Trả lời #128 vào lúc: 29 Tháng Giêng, 2012, 02:51:55 pm »

Trong khoảng tháng ba năm đó, quân Trần đã bày xong thế cờ chiến lược của mình mà không tốn nhiều xương máu. Lương thực, vũ khí của nhà nước cũng như của nhân dân được cất giấu cẩn thận. Thuyền lương của giặc thì đã bị ta phá hoặc chặn không cho vào. Quân ta rút ra vùng ven biển an toàn khiến quân Nguyên không thể dễ dàng ưu thế quân sự kết thúc chiến tranh, lại bị vua Trần dùng kế sách ngoại giao trá hàng kéo dài sự chờ đợi, hãm vào thế thiếu lương thực nghiêm trọng.

  Nguyên sử, q. 209, tờ 9b, nói rằng quân A Bát Xích cướp được 113.000 thạch, quân Ô Mã Nhi được hơn 4 vạn thạch. Nếu quả vậy, quân Nguyên đã không thiếu lương, bởi vì chuẩn bị lương thảo cho toàn bộ cuộc viễn chinh này, quân Nguyên chỉ cần 17 vạn thạch. Nhưng chính như lời bọn chúng thú nhận, vì thiếu lương nên phải bãi binh. Rõ ràng nhưng con số lương thực chúng ăn cướp được sử gia sau này khuếch trương lên.

Trong thế cờ đó, quân Nguyên ngày càng bất lợi. Những vùng chúng chiếm được thì không đủ sức giữ. Quân Mông Cổ thường phải dựa vào bộ máy cai trị của đối phương đã đầu hàng mới quản lý được vùng đất chúng chiếm. Ở đây, chúng đã thất bại trong mưu đồ bắt vua Trần đầu hàng. Bộ khung bù nhìn chuẩn bị sẵn do Trần Ích Tắc đứng đầu cũng đã bị quân Trần đánh cho tan tác, không thể vượt qua biên giới. Nguyên sử, (q1. 129) phải thừa nhận: “Những nơi xung yếu đã chiếm được nay đều thất thủ”. Đánh quân Trần thì không được, lương ngày càng khô cạn, lại luôn bị tập kích. Tình thế tất yếu với quân Nguyên là rút quân càng sớm càng tốt.

Khoảng cuối tháng 3-1288, tại Vạn Kiếp, nơi mà đúng bốn tháng trước, các cánh quân Nguyên hồ hởi họp mặt bàn kế sách chinh phục thì nay, cũng vẫn chúng, còn khá nguyên vẹn, trong nguy cơ của đói rét, bệnh tật và quân Trần tập kích, thầm thì bàn kế hoạch rút quân. Một giai đoạn mới, một tình thế mới bắt đầu. với quân Nguyên, cần tính toán làm sao để về nước an toàn nhất, để có thể thất bại trong sự toàn vẹn, với những lý do “bãi binh” của trời đất, hòng che kín cái thể diện của “thiên triều”. Trái lại, với quân Trần, đây là dịp tiêu diệt sinh lực địch càng nhiều càng tốt. Bởi lẽ trước một mưu đồ xâm lược ngoan cố, lâu dài, trực tiếp như của nhà Nguyên thì tiêu diệt sinh lực, phương tiện chiến tranh của địch càng nhiều có nghĩa là càng ngăn chặn có hiệu quả một cuộc xâm lược tiếp theo, cả về lực lượng vật chất cụ thể cũng như về tinh thần.

Cũng như các lần trước, trong chặn địch, trong rút lui, quân thủy Trần là phương tiện cơ động tuyệt vời, còn trong phản công chiến lược, quân thủy Trần là lực lượng tiến công sắc bén. Lần này, đặc biệt cần nhấn mạnh, với chiến lược đánh thủy được quán triệt từ sớm, với những thắng lợi được cổ vũ từ đầu như Ngọc Sơn (Đa Mỗ), Vân Đồn, Đại Bàng…, với một mục tiêu có ý nghĩa chiến lược là tiêu diệt bằng được quân thủy Nguyên – thủ đoạn mới nhất của nhà Nguyên đối với quân Trần – thì quân thủy càng được chú trọng một cách đặc biệt. Có thể nói, chiến lược đánh thủy, nghệ thuật đánh thủy của quân Trần trong kháng chiến lần này, tinh hoa của kỷ nguyên phục hưng Lý – Trần, đã biểu hiện tập trung nhất trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến thứ ba, mà mấu chốt của nó là chiến thắng Bạch Đằng.
Logged

Ùi, úi, ui....
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 239



« Trả lời #129 vào lúc: 29 Tháng Giêng, 2012, 02:56:33 pm »

Chiến thắng Bạch Đằng (1288)

Trong thế bao vây của quân Trần cuối tháng 3-1288, quân Nguyên rất lúng túng về kế hoạch rút quân. An Nam chí lược cho biết rõ sự lúng túng đó xoay quanh một vấn đề: bỏ thuyền hay giữ thuyền khi rút quân. Trong đám tướng Nguyên có hai ý kiến khác nhau. Những trận phục kích của quân Trần trên đường quân thủy Nguyên tiến vào nước ta cũng như thực tế thảm hại của quân thủy Toa Đô năm trước, nhất là quân Trần bấy giờ đã bộc lộ ý định tập trung quân ở khu vực Tân Hưng – Trúc Động, khiến một số tướng Nguyên, phần lớn là bọn tướng thủy, chủ trương “Thuyền lương hai lần vào đều bị hãm cả, chi bằng hủy thuyền đi đường bộ là thượng sách”140.

Quả là trong tình thế bấy giờ, việc quân Nguyên cụm thành một khối hành quân đường bộ sẽ khiến quân Trần khó bề tiêu diệt chúng hơn. Nhưng trong ý định xâm lược lâu dài, mà cuộc rút quân lần này chỉ là một bước “tạm bãi quân”, thì hủy thuyền cũng tức là quân Nguyên tự cắt bỏ một khối lượng lớn phương tiện cơ động lợi hại trong chiến lược tác chiến xâm lược Đại Việt. Như đã biết, tổ chức đội thuyền chiến lần này là một cố gắng rất lớn của nhà Nguyên. Không phải dễ dàng, ngay lập tức quân Nguyên có được một đội thuyền chiến đông và mạnh như vậy. Hơn nữa, hủy thuyền cũng tức là nghiễm nhiên công nhận sự thất bại của một thủ đoạn tác chiến mới, một lá bài mới trong hy vọng chinh phục nước ta. Khi nghe lời bàn hủy thuyền của bọn tướng thủy, “Trấn Nam Vương muốn nghe, tả hữu bèn can ngăn”141, chứng tỏ chính Thoát Hoan cũng cảm thấy số phận mỏng manh của việc rút quân đường thủy. Nhưng rất nhiều tướng lĩnh Nguyên khác, có lẽ chủ yếu là đám tướng hành quân đường bộ, vì không có thực tế sợ hãi như bọn tướng thủy, đã tỏ ra “tỉnh táo” hơn và thấy sự cần thiết của “toàn vẹn” thuyền chiến. Cuối cùng, Thoát Hoan (chính y rút theo đường bộ) đã tán thành lời can ngăn đó.

Bọn tướng bộ Nguyên cho rằng chia quân rút theo cả đường bộ lẫn đường thủy có mấy cái lợi sau: thứ nhất, chúng có thể chuyên chở về nước những của cải cướp được trong các cuộc hành quân vơ vét trên nước ta (Sau này, đoàn thuyền chiến của Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, còn phải kéo theo một đoàn thuyền “lương” nữa khi rút quân qua Bạch Đằng. Rõ ràng quân Nguyên không cần mang lương thực về nước như là khi chúng đánh sang nước ta. Chính đó là các loại của cải, được liệt là “chiến lợi phẩm” tất yếu sau mỗi cuộc viễn chinh của “thiên triều”). Thứ hai, rút quân cả đường thủy sẽ phân tán lực lượng tiến công của ta, nhờ đó cánh quân bộ sẽ đảm bảo an toàn hơn.

Tuy nhiên, để yên lòng cánh quân thủy, Thoát Hoan đã cho quân thủy rút trước. Số quân bộ ở lại chia làm hai bộ phận, một, do Thoát Hoan chỉ huy trụ lại ở Vạn Kiếp để hỗ trợ về mặt tinh thần cho quân thủy, một bộ phận khác toàn quân kỵ tinh nhuệ, do viên tướng lão luyện người Hán là Trình Bằng Phi và một viên tướng Mông Cổ là Đạt Truật chỉ huy, men theo phía tả ngạn, hộ tống quân thủy ra đến biển, sau đó quay trở về mới cùng Thoát Hoan rút quân.
-------------------------
140, 141 An Nam chí lược.
Logged

Ùi, úi, ui....
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM