Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 10:38:13 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm  (Đọc 170333 lần)
0 Thành viên và 4 Khách đang xem chủ đề.
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 239



« Trả lời #180 vào lúc: 01 Tháng Ba, 2012, 07:41:48 pm »

*

Trong tình hình chung của phương Đông dương thời, phải thừa nhận quân thủy Trịnh, Nguyễn ở thế kỷ XVII – XVIII là những lực lượng quân thủy mạnh, it ra cũng là về trang bị, tổ chức biên chế. Sức mạnh đó đôi lúc bộc lộ rõ nét trong những trận hải chiến với tàu thuyền nước ngoài, nhằm bảo vệ chủ quyền vùng biển, ví như những trận thắng tàu chiến Hà Lan của quân thủy Đàng Trong. Trong một tờ biểu gửi vua Minh năm 1596, chúa Trịnh Tùng đã từng mạnh dạn đề xuất việc đem quân thủy Đàng Ngoài giúp quân Minh đánh Nhật Bản, vua Minh đã không dám chấp nhận đề nghị đó221. Nhưng về cơ bản thì những cố gắng trong trang bị, tổ chức không bù lại được những hạn chế lớn xuất phát từ mục đích chính trị phản động của bộ máy nhà nước phong kiến đã tổ chức và sử dụng các lực lượng quân thủy đó, cũng như tầm nhìn thiển cận, cổ lỗ của các tướng lĩnh chỉ huy quân sự đương thời.

Người lính thủy trong quân đội Trịnh, Nguyễn bị cưỡng bức phải đi đánh nhau, thực sự là người lính đánh thuê, đổi sức lực, xương máu lấy bổng lộc và cả sự đối xử tàn tệ của bọn tướng chỉ huy. Tình cảnh của họ thật đúng với câu ca dao phổ biến đương thời:

Tùng tùng trống đánh ngũ liên
Bước chân xuống thuyền, nước mắt như mưa.

Chính vì vậy, có những trường hợp họ hoàn toàn không có ý chí chiến đấu, thậm chí mang tâm trạng phản kháng. Toàn thư (IV, tr. 166) có chép chi tiết khi quân thủy Lê do Hoành quận công chống nhau với quân Mạc “thấy quân lính nhiều kẻ trốn đi, bèn làm vòng sắt khóa chân quân lính vào thuyền”.

Hàng ngũ tướng lĩnh thì bị lôi cuốn bởi những phần thưởng vật chất hoặc danh vọng hão huyền, tranh giành, kèn cựa lẫn nhau. Tư tưởng chính trị thì cũng đồi bại như chính hệ tư tưởng của triều đình phong kiến mà họ đang phục vụ. Tư tưởng quân sự thì bảo thủ, rập theo các tổng kết cổ lỗ của binh thư Trung Quốc, lại tự ti trước những mới lạ của kỹ thuật quân sự phương Tây. Đây là thời kỳ chiến tranh nhiều nhất trong lịch sử nước ta. Nhưng công trình binh thư nổi tiếng nhất thời này là Hổ trướng khu cơ thì thực chất chỉ là “phát huy tinh túy của tướng môn, lập ra các phép hỏa cầu, yên cầu và phép thương lửa dưới đất, tên lửa chứa thuốc độc…” tức đơn thuần là sách về binh khí và trận đồ, chứ không hề có những tư tưởng quân sự tầm cỡ chiến lược như Trần Quốc Tuấn.

Quân thủy đó, ở cả Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài, cũng như toàn thể quân đội và bộ máy chính quyền Trịnh, Nguyễn, đều sẽ tan tác nhanh chóng trước “cơn lốc Tây Sơn”. Những thuyền chiến, những cỗ pháo và truyền thống đánh thủy của dân tộc ta tích lũy hàng ngàn năm nay vẫn còn đó, nhưng được trao vào tay những người chủ mới – những dân chài, nông dân thạo nghề sông nước, vùng lên giành quyền sống cho mình, được dẫn dắt, tổ chức của những tướng lĩnh nông dân có đầu óc táo bạo và tài năng quân sự như Nguyễn Huệ, đã biến thành một quân thủy hùng mạnh, thực sự tạo ra một chuyển biến nhảy vọt trong lịch sử quân thủy nước ta.
------------------------
221 Lam Giang, Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa giữa Đông Hải, trong Sử địa, số 29, năm 1975. tr. 48.
Logged

Ùi, úi, ui....
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 239



« Trả lời #181 vào lúc: 11 Tháng Ba, 2012, 01:10:29 pm »

Chương mười

QUÂN THỦY TÂY SƠN
VÀ BƯỚC CHUYỂN BIẾN NHẢY VỌT

Trong lịch sử Việt Nam, thế kỷ XVIII được đánh dấu bằng cơn bão táp liên tục của khởi nghĩa nông dân, mà đỉnh cao nhất là phong trào Tây Sơn. Bắt đầu từ một cuộc khởi nghĩa ở miền núi tỉnh Quy Nhơn, mùa xuân năm 1771, nghĩa quân đã nhanh chóng tràn xuống dải đồng bằng hẹp ven biển. Với khẩu hiệu “lấy của nhà giàu chia cho dân nghèo”, ngọn cờ đỏ của nghĩa quân đã nhanh chóng tập hợp được đông đảo nông dân và các tầng lớp dân nghèo, chĩa mũi dùi vào bọn quan lại mọt dân giàu có của chính quyền chúa Nguyễn Đàng Trong. Cuộc khởi nghĩa lan rộng cực kì nhanh, cả về phạm vi hoạt động cũng như số lượng người tham gia. Kể từ đó cho đến khi Nguyễn Huệ – linh hồn thực sự của toàn bộ xu hướng chính trị, quân sự, kinh tế và văn hóa của phong trào – từ trần, cuộc khởi nghĩa đã di động và phát triển như một cơn lốc. Trong một thời gian khoảng hai mươi năm, phong trào Tây Sơn đã làm nên hàng loạt kì tích: đánh đổ bộ máy thống trị của chúa Nguyễn ở Đàng Trong và của tập đoàn phong kiến Lê – Trịnh ở Đàng Ngoài, đánh tan năm vạn quân Xiêm và 30 vạn quân Thanh xâm lược, thống nhất toàn bộ đất nước, tạo ra những tiền đề đưa đất nước tiếp tục phát triển, chuẩn bị đối phó với những mưu đồ nhòm ngó xâm lược của tư bản phương Tây.

Nằm trong quy luật chung của nghệ thuật chiến tranh cổ trung đại nước ta, đồng thời xuất phát từ những nhu cầu phát triển tất yếu của phong trào, ngay từ đầu vấn đề quân thủy đã được đặt ra và ngày càng chiếm vị trí hết sức quan trọng trong các hoạt động quân sự của nghĩa quân. Bám sát nhu cầu phát triển của phong trào, biết kế thừa các thành tựu tổ chức trang bị thủy quân và nghệ thuật thủy chiến của cả quân thủy Trịnh, Nguyễn lẫn phương Tây, thậm chí của cả “cướp biển”, Nguyễn Huệ đã xây dựng cho phong trào một lực lượng quân thủy hùng hậu và mạnh chưa từng có trong lịch sử trước đó. Mang theo sức mạnh của đội quân vì nghĩa lớn, lại được tổ chức, chỉ huy bởi một tài năng quân sự kiệt xuất, quân thủy Tây Sơn lại viết tiếp trên sông biển nước ta những dòng oanh liệt nhất trong lịch sử thống nhất và giữ gìn độc lập dân tộc.
Logged

Ùi, úi, ui....
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 239



« Trả lời #182 vào lúc: 11 Tháng Ba, 2012, 01:13:38 pm »

*

Có một điểm khác với khởi nghĩa Lam Sơn trước đây, khởi nghĩa Tây Sơn nổ ra ở miền rừng núi, nhưng rất nhanh chóng tràn xuống đồng bằng, và do đặc điểm địa lý miền đất khởi đầu của phong trào, khi xuống đồng bằng là tiếp với biển. Vì vậy, nhu cầu ra đời một lực lượng quân thủy đã được đặt ra ngay từ thời kì đầu của cuộc khởi nghĩa. Nằm trong quy luật chung của nghệ thuật quân sự và điều kiện địa lý nước ta, sự ra đời của quân thủy Tây Sơn là một điều tất yếu. Trong suốt quá trình phát triển phong trào, nghĩa quân luôn luôn phải đương đầu với những kẻ thù có lực lượng quân thủy mạnh. Đồng thời, xu hướng chung của lực lượng vũ trang ở các nước phương Đông lúc này đều chú trọng phát triển quân thủy để bảo vệ biên giới bờ biển. Do đó, quân thủy Tây Sơn ra đời đã không ngừng vươn lên để đáp ứng những đòi hỏi mà sứ mạng lịch sử của phong trào đã đặt ra cho nó.

Trong những năm đầu khởi nghĩa (1771-1775), quân thủy Tây Sơn hình thành trên cơ sở những thuyền buôn của thương nhân Hoa kiều trong liên minh đánh Nguyễn, chủ yếu làm nhiệm vụ vận chuyển. Sau khi đã chiếm được Quy Nhơn, Phú Yên, Quảng Ngãi (1773) và Quảng Nam (1775), quân thủy Tây Sơn đã có một bước phát triển dài nhò những thuyền chiến và vũ khí mới thu được của quân thủy Nguyễn tại các vùng nầy. Tuy nhiên, theo lời kể chi tiết của một cha cố người Tây Ban Nha là Đ-ê-gô đơ Giu-mi-la (Diégo de Jumilla), lúc này đang có mặt tại đó, thì lực lượng nói trên chưa đủ sức đánh trả các cuộc hành quân của quân thủy Nguyễn, mà ngoài việc vận chuyển binh lương, chỉ mới thực hiện được những cuộc tuần tra trên biển. Có một khoảng thời gian từ 1773 – 1775, địa bàn hoạt động của nghĩa quân chia quân Nguyễn ra làm hai phần tách rời nhau. Vì vậy, việc kiểm soát mối liên lạc giữa hia vùng đó có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển của phong trào. Quân thủy Tây Sơn tuy mới hình thành đã đảm nhiệm rất tốt nhiệm vụ đó. Giu-min-la có kể việc quân thủy Tây Sơn kiểm soát một tàu buôn Bò Đào Nha. Trước đó, ông cũng từng nhận xét: “Bọn họ (Tây Sơn – T.G.) ngăn cản không để nhà vua (chúa Nguyễn – T.G.) liên lạc với các tỉnh khác ở giữa Phú Yên và Raygon (vùng đồng bằng sông Cửu Long hiện nay – T.G.). Từ các tỉnh ấy ra tới triều đình (Phú Xuân – T.G.), người ta không thể nào lưu thông đường bộ cũng như đường biển”322.

Thời kì tiếp theo, từ 1776 – 1785, khi quân Nguyễn phải co lại ở Gia Định, quân Tây Sơn đứng vững trên địa bàn của mình (khu vực từ Quảng Nam đến Phú Yên), tạm hòa hoãn với quân Trịnh ở Thuận Hóa, ra sức xây dựng một đội thuyền chiến mạnh làm lực lượng chủ yếu cho năm lần tiến công giải phóng Gia Định. Thời kỳ này, quân thủy Tây Sơn lại tiến một bước dài nữa so với thời kỳ trước. Giờ đây, nó không chỉ đảm nhiệm những cuộc tuần tra trên biển nữa, mà trở thành lực lượng tiến công, với đội thuyền chiến đủ sức đánh tan gần 500 thuyền chiến của Nguyễn Ánh (trong đó có cả chiến hạm châu Âu do sĩ quan và thủy thủ Pháp, Bồ Đào Nha điều khiển) năm 1782, và 300 thuyền chiến Xiêm xâm lược năm 1785. Đây là thời kỳ phát triển rất căn bản của quân thủy Tây Sơn. Lực lượng thuyền chiến của Tây Sơn một phần do nghĩa quân mới đóng thêm, một phần quan trọng vẫn tiếp tục được bổ sung bằng thuyền chiến Nguyễn sau mỗi lần thắng lớn ở Gia Định.
-----------------------------
322 Lorenzo Pérez, Sách đã dẫn. Tham khảo bản dịch của Trương Bá Phát trong Sử địa, số 21 Sài Gòn, 1971, tr. 44.
Logged

Ùi, úi, ui....
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 239



« Trả lời #183 vào lúc: 11 Tháng Ba, 2012, 01:17:29 pm »

Đây cũng là thời kỳ trực tiếp xuất hiện những yếu tố mới trên chiến trường sông nước. Đó là việc Nguyễn Ánh bán rẻ quyền lợi dân tộc để đổi lấy thuyền chiến, sĩ quan, thủy thủ phương Tây hoặc cả một binh đoàn quân thủy Xiêm đem về đối chọi với quân thủy Tây Sơn. Tình hình đó đòi hỏi quân thủy Tây Sơn phải có sự phát triển mới cả trong trang bị lẫn tổ chức. Bức thư của cha cố Gi-ne-xta (Ginestar) viết năm 1784, cung cấp một vài bằng chứng về việc nghĩa quân rất quan tâm đến việc tìm hiểu và liên hệ vua vũ khí, nguyên liệu quân dụng của phương Tây để trang bị cho quân đội323. Đây cũng là thời kỳ nghĩa quân mở những xưởng đúc, rèn vũ khí rất lớn mà dấu vết hiện nay còn có thể thấy ở khu vực thành Chà Bàn hoặc thành Hoàng Đế324. Hỏa hổ được sản xuất nhiều từ những xưởng đó và trang bị phổ biến cho cả quân thủy lẫn quân bộ. Thành tựu phát triển quân thủy thời này chẳng những đã đem lại thắng lợi cho các chiến dịch giải phóng Gia Định, mà còn là lực lượng vật chất chủ yếu để quét sạch băng quân Trịnh từ Phú Xuân cho đến Thăng Long. Trong trận đối thủy ở cửa Luộc, trước mắt quân Trịnh, quân thủy Tây Sơn xuất hiện với những chiến hải thuyền cực lớn, trên đó mang loại pháo mà dường như trong cả quá trình xung đột với Đàng Trong chúng chưa từng thấy.

Tuy nhiên, đến lúc này quân thủy Tây Sơn vẫn chưa có những thay đổi về chất. Về cơ bản, nó vẫn chỉ là một binh chủng – dù là binh chủng quan trọng bậc nhất, trong quân đội Tây Sơn.

Thời kỳ tiếp theo (1786 – 1789) là thời kỳ mở rộng phạm vi hoạt động của quân thủy Tây Sơn ra chiến trường sông biển phía bắc. Với việc làm sụp đổ tập đoàn Lê – Trịnh, quân thủy Tây Sơn dần dần tiếp thu toàn bộ cơ sở vật chất còn lại của quân thủy Trịnh, tiến một bước về số lượng thuyền chiến. Tiếp nhận quân thủy Trịnh cũng đồng thời tiếp nhận cả truyền thống hoạt động trong sông có kết hợp thủy bộ, nhập với truyền thống hoạt động chủ yếu ở ven biển của quân thủy Nguyễn trước đây, tạo thành quân thủy phát triển tương đối toàn diên, chuẩn bị cho bước nhảy vọt trong giai đoạn tiếp theo.

Sau năm 1789 là một thời phát triển mạnh mẽ của quân thủy Tây Sơn mà những tích lũy về lượng trong suốt gần hai mươi năm phát triển phong trào đã đến lúc có điều kiện vật chất để chín muồi, cho phép quân thủy Tây Sơn thực hiện những chuyển biến về chất, cả trong trang bị lẫn tổ chức. Đó là thời kỳ sau khi giành được thắng lợi oanh liệt nhất trong lịch sử phát triển của mình – đánh thắng 30 vạn quân Thanh xâm lược, nghĩa quân Tây Sơn xác lập quyền làm chủ thực sự trên toàn cõi nước ta, thời kỳ mà Nguyễn Huệ trở thành linh hồn có đầy đủ quyền lực của cả phong trào. Đó cũng là thời kỳ kẻ thù giai cấp, kẻ thù dân tộc, sau những thất bại nhục nhã nhất, đang ra sức câu kết với nhau, trong đó nguy hiểm nhất là sự câu kết của bè lũ Nguyễn Ánh với tư bản Pháp ở phía nam, đặt chính quyền Tây Sơn, quân đội Tây Sơn đứng trước những thử thách gay go nhất, chỉ có thể tồn tại được bằng những nỗ lực vượt bậc của mình. Chuyển biến nhảy vọt trong quân thủy Tây Sơn đã diễn ra trên những tiền đề vật chất thuận lợi đó và cũng trong những đòi hỏi bức thiết đó.
--------------------------
323 Lorenzo Pérez, Sách đã dẫn.

324 Phan Huy Lê, Thành Hoàng Đế, trong Khảo cổ học số 4, 1977.
Logged

Ùi, úi, ui....
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 239



« Trả lời #184 vào lúc: 11 Tháng Ba, 2012, 01:21:35 pm »

Yếu tố có vai trò quyết định trong sự phát triển quân thủy, trong tình hình tiền đề vật chất và điều kiện kích thích đã chín muồi lúc đó, là đầu óc tổ chức táo bạo, tài tình của người lãnh đạo.

Trong lịch sử Việt Nam nói chung và lịch sử quân thủy nói riêng, sự xuất hiện của thiên tài quân sự Nguyễn Huệ thật đúng lúc. Là người về căn bản sống ngoài những khuôn mẫu phong kiến cổ hủ, hẹp hòi đương thời, Nguyễn Huệ đã phát huy khả năng nhạy bén đặc biệt về mặt quân sự để tiếp thu rộng rãi tất cả những gì có lợi cho phong trào ở trong nước cũng như ngoài nước, ở cả phương Đông lẫn phương Tây, cả trong bộ máy nhà nước phong kiến chính thống lẫn trong dân gian, thậm chí cả những người dân ngoài vòng pháp luật lênh đênh trên biển, cả trong hiện tại cực kỳ sội động của phương Đông thế kỷ XVIII lẫn trong quá trình oanh liệt của lịch sử dân tộc, để sáng tạo và không ngừng sáng tạo.

Bản tính sáng tạo, không một chút tự ty của Nguyễn Huệ có tác động rất lớn đến khuynh hướng phát triển của quân thủy.

  Với quân Thanh, ngay cả khi chúng đang hùng hổ tiến vào nước ta, trước sự sợ hãi của nhiều người, Nguyễn Huệ cười mà nói: “Chó Ngô thì là cái thá gì, chúng đến đây chỉ để tự đi vào chỗ chết. Việc gì mà phải cuống quýt làm vậy?”325. Và, khi phải lo đến việc quân Thanh trả thù vì bại trận, ông nói: “Chỉ cần chờ mười năm nữa, cho ta được yên ổn mà nuôi dưỡng lực lượng bấy giờ nước giàu mạnh, thì ta sợ gì chúng?”326. Còn với quân đội phương Tây bấy giờ đang là con ngáo ộp trước tất cả các triều đình phong kiến ở phương Đông, Nguyễn Huệ cũng nhìn nhận chúng một cách hết sức bình tĩnh, tự tin: “Hạng người đó thì có tài cán gì? Bọn chúng tất cả đều mắt xanh như mắt rắn và các người chỉ được xem chúng như những xác chết bị sóng biển đánh dạt vào. Có gì đáng lạ để nói với ta về những chiếc tàu đồng và khinh khí cầu của bọn chúng!”327. Thái độ đó khiến Nguyễn Huệ khác căn bản với tất cả các nhà tổ chức quân sự dưới thời Trịnh, Nguyễn.

Với Nguyễn Huệ, thực tiễn của hai mươi năm hoạt động đã chỉ rõ quân thủy là một lực lượng có ý nghĩa chiến lược. Chính quân thủy đã mang lại cho ông những thắng lợi oanh liệt trong năm lần giải phóng Gia Định và chỉ có quân thủy mới có thể truy quét tận gốc mầm mống phản kháng của phong kiến Nguyễn trên các hòn đảo nhỏ ngoài khơi. Quân thủy cũng đã giúp ông đè bẹp sức phản kháng của quân Trịnh, lập nên kỳ công thống nhất đất nước mà qua hai trăm năm, không một nhà chỉ huy quân sự nào dám mơ ước tới. Và giờ đây, nhiệm vụ vô cùng lớn lao tiếp tục đặt ra cho quân thủy Tây Sơn là: quản lý cả một vùng biển dài, rộng, đồng thời tiêu diệt đội quân phản động của Nguyễn Ánh đang được bọn tư bản phương Tây xúm vào vực dậy – một đội quân chủ yếu dựa vào sức mạnh của quân thủy, với những tàu chiến kiểu Âu và cả đội ngũ lính đánh thuê người Âu.
-------------------------
325 Lê quý kỷ sự, tr. 120.

326 Hoàng Lê nhất thống chí, tr. 363.

327 Lịch sử Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nôi, 1971, tr. 367.
Logged

Ùi, úi, ui....
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 239



« Trả lời #185 vào lúc: 11 Tháng Ba, 2012, 01:27:16 pm »

Dường như lúc này đang diễn ra một cuộc “chạy đua vũ trang” ngấm ngầm nhưng rất gấp gáp giữa một bên là quân đội phản động của Nguyễn Ánh với sự giúp đỡ của tư bản Pháp, Bồ Đào Nha và phong kiến Xiêm, một bên là quân đội Tây Sơn với tất cả tiềm năng vốn có của dân tộc đang được tổ chức, tập hợp lại sự lãnh đạo thiên tài của Nguyễn Huệ. Trong cuộc chạy đua đó, cả hai bên đều gặp gỡ nhau ở một điểm, đó là tập trung tăng cường vượt bậc sức mạnh của quân thủy trong đó hình thành rất rõ nét khuynh hướng quân thủy biển: hải quân.

Nhờ sự giúp đỡ của tư bản Pháp và tầng lớp đại địa chủ Gia Định, Nguyễn Ánh đã tập hợp trong tay một đội ngũ tướng lĩnh mang ý chí phục thì giai cấp điên cuồng và nhanh chóng xây dựng được một lực lượng quân thủy có trang bị mạnh.

Ngay từ năm 1789, lợi dụng bất hòa của Nguyễn Nhạc và Nguyễn Lữ với việc Nguyễn Huệ đang bận tập trung chống Thanh ở miền Bắc, Nguyễn Ánh đã chiếm lại Gia Định. Lúc đó, trong hàng ngũ tướng lính của Nguyễn Ánh đã có sáu người Pháp chuyên huấn luyện binh lính. Sau đó chừng vài tháng, Pháp cung cấp thêm cho Nguyễn Ánh ba tàu kiểu châu Âu, 20 sĩ quan, 500 lính. Đến năm 1792, trong quân thủy Nguyễn Ánh đã có hàng trăm thuyền chiến, trong đó có hơn chục tàu vũ trang kiểu Âu328. Nhưng cho dù như vậy, lực lượng của Nguyễn Ánh cũng không thấm vào đâu so với sức mạnh quân sự mà Nguyễn Huệ đang từng bước tăng cường cho nghĩa quân Tây Sơn. Trong thư của một người châu Âu tên là Xê-ra (Sérard) đề ngày 2-5-1791, lúc đó đang sống trong miền đất do Nguyễn Huệ trực tiếp quản lý, có nhận xét: “Thật khó mà cựu hoàng Nam Hà (tức Nguyễn Ánh – T.G.) đánh bại nổi kẻ địch của ông”329.

Thật vậy, ngay sau khi quét sạch quân Thanh khỏi nước ta, Hoàng đế Quang Trung bắt tay ngay vào việc thực hiện ước mơ của mình: chỉ cần mười năm được yên ổn mà nuôi dưỡng lực lượng. Có rất nhiều sự kiện chứng tỏ tỏ Nguyễn Huệ dành ưu tiên đặc biệt cho sự phát triển quân thủy. Đó là một trong những hoạt động trọng tâm nhất của “mười năm nuôi dưỡng lực lượng” mà Nguyễn Huệ dự định, không phải chỉ để đối phó với quân Thanh mà trước hết để “đập tan bọn giặc cựu Nguyễn (chỉ Nguyễn Ánh – T.G.) dễ như đập một cành củi khô, một thanh gỗ mục”.

Để làm điều đó, trong điều kiện rất khó khăn của nước ta đương thời, Tây Sơn đã tập trung làm bốn việc chính:

1) Tăng cường hệ thống bố phòng các cửa biển và hải càng; 2) đóng thêm thuyền chiến lớn và các biện pháp nhằm tăng sức chiến đấu của thuyền chiến; 3) Sử dụng “cướp biển”; 4) khai thác kỹ thuật quân sự phương Tây.
----------------------
328 Lorenzo Pérez, Sách đã dẫn.

329 Arch, M.E. Tonkin 692, tr. 279. Bản dịch của Đặng Phương Nghi, trong Sử địa, số 13, tr. 150.
Logged

Ùi, úi, ui....
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 239



« Trả lời #186 vào lúc: 11 Tháng Ba, 2012, 01:33:48 pm »

Ngay từ khi mới xác lập quyền làm chủ ở vùng Quy Nhơn, Quảng Nam trong những năm 1773 – 1776, vấn đề bố phòng, tuần tra trên biển đã được nghĩa quân chú trọng đặc biệt. Cha cố Giu-min-la đã cho biết về khả năng kiểm soát trên biển của nghĩa quân, ông còn viết: “Những người nổi dậy làm chủ cả tỉnh Quy Nhơn. Say sưa bởi những chiến công ấy, họ bổ nhiệm quan lại cho hai tỉnh ấy (Quy Nhơn và Phú Yên – T.G) và đắp pháo lũy cho các hải cảng”330.

Việc tuần tra trên biển được giao cho những nhóm “cướp biển” tự nguyện tham gia phong trào. Đội Hoàng Sa lại được phục hồi để phục vụ chính quyền nông dân.

  Một tờ sai năm 1786 (dưới thời Tây Sơn) cho biết nhà Tây Sơn tiếp tục quản lý và sử dụng đội Hoàng Sa (Sách trắng của Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Quần đào Hoàng Sa, quần đào Trường Sa: lãnh thổ Việt Nam). Năm 1791, Ba-râu (J.Barrow) đến Đà Nẵng tận mắt gặp đội Hoàng Sa của Tây Sơn (xem J. Barrow: đã dẫn. Lam Giang, trong Sử địa, số 29, 1975, tr. 53).

Tây Sơn đã làm chủ toàn bộ đất nước, ý thức về chủ quyền vùng biển đặt ra bức thiết hơn. Đặc biệt, khi tàn quân Nguyễn Ánh được tập hợp lại và có xu hướng ngày càng bành trướng lên phía bắc, chính quyền Tây Sơn càng hết sức chú trọng phòng thủ bờ biển.

Sử dụng cả lực lượng “cướp biển”, Tây Sơn đã bổ sung thêm những đơn vị “du thuyền” có nhiệm vụ tuần tra, chặn đánh thuyền lương, thọc sâu vào vùng biển do Nguyễn Ánh quản lý, thậm chí khi có thời cơ, đột nhập lên hậu cứ của chúng, đánh phá các đồn binh, kho lương. Các cảng thương mại cũng như các cảng biển được bố phòng nghiêm ngặt. Tại đây, nhiều pháo đài được thiết lập bảo vệ cửa cảng. Thuyền chiến các loại dàn trong cảng làm thành những thủy trại nổi trên mặt nước. Khi chiến sự xảy ra, Tây Sơn còn dùng xích sắt, đóng cọc và thả “rồng cỏ” cản địch ở cửa cảng. Xung quanh còn chốt giữ nhiều đơn vị “lính thủy đánh bộ” sẵn sàng chiến đấu bảo vệ cảng. Có thể nói, dưới thời Tây Sơn, mỗi cảng biển là một căn cứ hải quân lớn. Đây là hiện tượng hiếm thấy trong quân thủy Trịnh, Nguyễn trước đây. Điều đó có ý nghĩa rất lớn trong việc hình thành một quân chủng hải quân độc lập.

  Mô tả của Giu-min-la (Jumilla) và Ba-ri-dy (Barizy) về hoạt động của quân Tây Sơn chống lại hành quân Nguyễn Ánh ở các cảng Thị Nại (1792 và 1801), Tư Dung (1081) cho thấy khá chi tiết bố phòng của quân Tây Sơn trên một cảng biển. Trong đó, pháo trên các đồn bảo cửa cảng, thuyền chiến bố trí trong cảng và hệ thống chướng ngại cản thuyền giặc là ba yếu tố liên kết chặt chẽ, tạo thành một hệ thống bố phòng hoàn chỉnh (Xem Lorenzo Pérez, đã dẫn, và Arch M.E. Coch, vol.801, tr. 868 – 870 và 952 – 954, trong Sử địa, số 21, tr. 98, 166, 177).

  Nói về bố phòng ở cảng Thị Nại năm 1801, Đại Nam thực lục, t. II (tr. 378) cho biết: “… Dùng hai chiếc thuyền đại hiệu Định Quốc và hơn trăm chiến thuyền chặn ngang cửa biển, lại dựng hai bảo ở bãi Nhạn Châu bên tả và ở núi Tam Tòa bên hữu cửa biển, đặt nhiều súng lớn, dựa thế cao, chẹn chỗ hiểm để chống lại quân ta (tức quân Nguyễn)”.

  Đại Nam nhất thống chí, t. 1, tr. 155 cho biết, ở Cửa Eo năm 1801, hải quân Tây Sơn đã sử dụng “rồng cỏ” chặn thuyền chiến Nguyễn ở cửa cảng. Ba-ri-dy trong tài liệu đã dẫn cho biết khi đánh vào Phú Xuân, nhiều thuyền chiến Nguyễn đã bị mắc cạn vì cọc gỗ đóng chặn ở cửa sông.

--------------------------
330 Lorenzo Pérez, Sách đã dẫn.
Logged

Ùi, úi, ui....
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 239



« Trả lời #187 vào lúc: 11 Tháng Ba, 2012, 01:38:21 pm »

Hoạt động có nhiều ý nghĩa nhất trong việc phát triển quân thủy của Tây Sơn là tổ chức các xưởng đóng thuyền chiến lớn và thực hiện các biện pháp rất tích cực trong trang bị, tổ chức quân thủy.

Những xưởng thuyền chiến đầu tiên của Tây Sơn đã ra đời từ những năm 1776 – 1785. Nhưng phải nói, chỉ từ năm 1789, Tây Sơn mới có những bước nhảy vọt trong lĩnh vực này. Ngay từ giữa năm 1789, tức là khi vừa thu xếp xong tình hình Bắc Hà sau cuộc xâm lược của nhà Thanh, Nguyễn Huệ đã bắt tay ngay vào việc đóng thuyền chiến đánh Nguyễn Ánh. Theo Đại Nam thực lục, t. II, tr. 97), lúc ấy, Nguyễn Ánh tưởng Nguyễn Huệ còn bận ở Bắc Hà, đang chuẩn bị lợi dụng gió mùa đánh ra Bắc, nhưng “nghe tin “giặc” Tây Sơn Nguyễn Văn Huệ ở Thuận Hóa đóng nhiều chiến hạm, mưu đánh phương nam, lại không cử binh nữa”. Năm 1791 và 1792, công việc này càng được xúc tiến mạnh mẽ hơn để chuẩn bị cho kế hoạch tiến công toàn diện, triệt để của Nguyễn Huệ vào Gia Định. Một đoạn trong thư của Xê-ra (Sérard) đề ngày 17-7-1791, tại Bố Chính (tức Quảng Bình hiện nay), cho ta biết một chi tiết nhỏ về sự chuẩn bị đó: “Ông (tức Nguyễn Huệ) ra lệnh đóng không biết mấy trăm ghe sai hoặc thuyền chiến. Riêng ở huyện Bố Chính, nơi tôi (tức Xê-ra) cư ngụy, thì từ 15 ngày nay đã phải đóng hơn một trăm ghe… Số ván gỗ cung cấp cho việc này là 2.500 tấm, mỗi tấm phải dài từ 30 đến 35 coudées và dày vài pouces331, nếu phải mua thì mỗi tấm giá 15 quan. Ngoài ván gỗ, còn phải cung cấp các thuyền cụ và tất cả phải hoàn tất trong ba tháng”332.

Theo lời đề nghị của Nguyễn Huệ năm 1792, Nguyễn Nhạc cũng cho đóng thêm nhiều chiến hạm lớn ở cảng Thị Nại, cửa An Dụ… Những xưởng này cũng khá lớn. Đại Nam thực lục, (t. II, tr. 158, 174) cho biết: Chỉ riêng một xưởng Lệ Dương, khi quân Nguyễn vào đến nơi còn thấy 30 chiếc thuyền biển mới đóng, ngoài ra còn nhiều thuyền chiến, thuyền sai khác nữa.
-------------------------
331 Coudés và pouce là đơn vị đo lường cổ của Pháp. Coudés tính bằng một đoạn từ khuỷu tay đến hết đầu ngón tay giữa xỏe thẳng ra, ước khoảng 50 cm. Pouce là một phần mười hai của pied, tức khoảng 2,7 cm.

332 Arch, M.E. Tonkin, Vol. 629, p. 1460, trong Sử địa, số 13, tr. 172.
Logged

Ùi, úi, ui....
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 239



« Trả lời #188 vào lúc: 11 Tháng Ba, 2012, 01:46:47 pm »

Những xưởng thuyền nói trên đảm bảo tăng nhanh số lượng thuyền chiến của quân thủy Tây Sơn, nhưng chắc chắn cũng từ lúc này, chúng bắt đầu nhận một nhiệm vụ mới rất quan trọng, đó là đóng những chiến hạm cực lớn.

Như đã nói, để giữ được thành quả phong trào, trong tình hình Nguyễn Ánh được tư bản phương Tây xúm vào vực dậy trang bị những tàu chiến hiện đại của châu Âu, với ưu thế cơ bản là có nhiều pháo, thì quân thủy Tây Sơn, với tư cách là một quân chủng độc lập trên biển, cũng phải tự trang bị cho mình những vũ khí có đủ hiệu quả đè bẹp đối phương. Lịch sử đã chứng minh thắng lợi hơn hai mươi năm đấu tranh trước đó của nghĩa quân không phải là kết quả của sự hơn hẳn quân thủ về vũ khí. Nhưng chính lịch sử cũng chứng minh rằng: được trang bị vũ khí càng nhiều, càng hiện đại bao nhiêu, thì với những sức mạnh tinh thần sẵn có, thắng lợi của nghĩa quân càng dễ dàng, nhanh chóng và to lớn hơn bấy nhiêu. Nguyễn Huệ, hơn ai hết, là người nhìn thấy đầy đủ giá trị của trang bị, vũ khí trong nghệ thuật quân sự của Nghĩa quân Tây Sơn. Sức mạnh của nghĩa quân Tây Sơn chính là sự phát huy đầy dủ sức mạnh con người kết hợp với sức mạnh vũ khí.

Nhờ những công trường thủ công và cuộc cách mạng công nghiệp cũng như nhu cầu bức thiết của chính sách thực dân, ở châu Âu, chiến hạm nhiều tầng pháo ra đời, trở thành vũ khí ghê gớm trên biển. Với kích thước lớn, khả năng hàng hải tốt, đặc biệt nhờ có nhiều pháo, tàu chiến châu Âu có thể hoạt động độc lập. Số lượng một hạm đội thường không nhiều.

  Ví dụ, hạm đội Anh, theo Ăng-ghen, từ năm 1677 đến 1744, không bao giờ vượt quá con số 200 chiếc tàu. Hạm đội Ban-tích của Nga vào khoảng cuối thế kỷ XVIII, lúc nhiều nhất cũng không quá 550 chiếc, trong đó chiến hạm nhiều tầng pháo thuộc loại tuần dương, khu trục chỉ có 94 chiếc.

Tuy nhiên, nếu tính theo số pháo thì chúng lại vượt xa ta. Ví dụ, một chiếc chiến hạm hạng nhất của Pháp có 120 khẩu pháo các loại, có thể bằng hỏa lực của 1/3 thuyền chiến Đàng Trong ở Phú Xuân. Lợi thế căn bản của loại tàu này so với tàu chiến phương Đông ở chỗ nó như một dàn pháo di động trên biển, đảm bảo hỏa lực liên tục không đứt đoạn bởi thời gian nạp đạn (tốc độ thao tác cho một phát đạn thời này nhanh nhất khoảng 10 phút). Chính vì vậy, đối với các triều đại phong kiến phương Đông, loại tàu này như một co ngáo ộp khủng khiếp. Đó cũng chính là cơ sở để tư bản phương Tây thực hiện chính sách pháo thuyền ở các nước phương Đông đương thời.

Một pháo thuyền của Pháp thế kỷ 19
Logged

Ùi, úi, ui....
ùi
Thành viên
*
Bài viết: 239



« Trả lời #189 vào lúc: 11 Tháng Ba, 2012, 01:50:15 pm »

Chúng ta đã từng thấy Nguyễn Huệ lớn tiếng công kích thái đội run sợ trước con ngáo ộp phương Tây đó, nhưng không phải nhằm bài trừ một cách cực đoan. Ông tin rằng nó “không có gì đáng lạ”, bởi lẽ ông cũng sẽ có. Hiện nay, chúng ta chưa có cơ sở để nói một cách chắc chắn rằng Tây Sơn có đóng những chiến hạm kiểu châu Âu ấy hay không. Thực ra, điều này cũng không quan trọng lắm, vì trình độ thợ của nước ta, trong các xưởng thuyền của Nguyễn Ánh, chỉ sau một lầu dỡ tàu Tây ra lắp lại, là đã có thể sản xuất ra hàng loạt chiến hạm tương tự, thậm chí còn đẹp hơn333. Những người thợ đó đều là người Đàng Trong mà những xưởng thuyền đào tạo ra họ đều nằm trong phần đất do Tây Sơn quản lý.

  Ba-râu (John Barrow) là một người Anh sang nước ta trong những ngày Tây Sơn đóng tàu sôi nổi nhất (1792-1793) đã nhận xét: “Có một nghề đặc biệt trong các nghề mà xứ Đàng Trong hiện có thể tự hào, đó là nghề đóng thuyền đi biển… Thuyền biển của họ đi không nhanh, nhưng rất an toàn, trong được chia thành nhiều khoang. Loại này rất chắc, có thể va vào đá ngầm mà không chìm, vì nước chỉ vào được một khoang mà thôi. Hiện ở Anh đã bắt chước cách đó để đóng tàu”.

Khả năng Tây Sơn đóng được những chiến hạm kiểu châu Âu là hoàn toàn có. Nhưng rất có thể Nguyễn Huệ đã không chủ trương rập lại y nguyên những tàu đó theo cách mà Nguyễn Ánh làm. Nghiên cứu về Nguyễn Huệ và Nguyễn Ánh, chúng ta sẽ thấy, đứng trước nhu cầu tạo ra những chiến hạm trang bị nhiều pháo, hai con người ấy – một con người sáng tạo và với một con người học mót, về xử lý theo hai con đường hết sức khác nhau.

Dầu sao thì việc quân thủy Tây Sơn có được những chiến hạm cực lớn là một điều hoàn toàn chắc chắn. Hoàng Lê nhất thống chí (tr. 385) có nói đến việc Quang Trung “đóng tàu biển” thật lớn, có thể chở nổi “voi” để dọa đánh nhà Thanh, Se-nhô (Chaigneau), Ba-ri-dy (Barizy) là những sĩ quan Pháp thường trực tiếp giáp mặt với quân thủy Tây Sơn đã phải thừa nhận sự tồn tại ngoài trí tưởng tượng của chúng những chiến hạm Tây Sơn trang bị tới 50 – 60 khẩu đại bác hạng nặng. Chính sử nhà Nguyễn gọi đó là loại thuyền “đại hiệu”.
------------------------------
333 Arch, M.E. Tonkin, Vol. 746, p. 870, trong Sử địa, số 21, tr. 159.
Logged

Ùi, úi, ui....
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM