.
Chuyện XXIX
HÒN VƯỢN (tiếp 7)
Đoạn đầu nguồn Thạch Hãn này thật là đẹp. Dòng nước trong xanh uốn lượn quanh các triền núi, lúc ẩn lúc hiện. Nhìn về xuôi, thấy bầu trời bàng bạc sáng, nơi ấy là Vùng đồng bằng, có Thành Cổ Quảng Trị sát ven sông, có làng Trà Liên cây cối tốt tươi mướt mát, một vùng đất chở nặng phù sa trong những ngày tháng tám. Nhìn về phía tây, là ngút ngàn rừng núi trùng điệp đang bắt nắng hung hung. Chỗ này hơi khuất, nên chúng tôi chưa nhìn thấy thung lũng Ba Lòng.

Chúng tôi tiếp tục hành quân. Chừng hơn cây số thì thung lũng Ba Lòng bỗng hiện ra trước mắt. Một cái thung lũng khá rộng và trù phú với nhiều sông suối đổ xuống từ các triền núi xung quanh. Tất cả các làng xóm, chủ yếu của người Vân Kiều, trên bản đồ lúc đó đều có ghi chú “Destroyed” hoặc “Abandoned” (đã bị phá hủy, đã bị hủy bỏ). Nhưng mới chỉ hai năm sau ngừng bắn, dân Vân Kiều đã trở về. Họ đã dựng lại những nếp nhà sàn đơn sơ quen thộc. Lác đác xen lẫn trong bản làng, đây đó cũng có nhà được làm sát đất như nhà của người Kinh để đỡ tốn công sức hơn và vì cũng lâu nay vùng này không còn thú dữ.

Đi thêm vài cây số nữa, chúng tôi gặp đường 15N, rồi theo đường vượt ngầm qua sông. Toán trinh sát tìm đến cái làng mà trên bản đồ ghi là Sa Vẻ và xin ở nhờ dân trong hai chiếc nhà sàn gần nhau. Chuyện bộ đội hành quân qua đây xin ở nhờ chắc đã quá quen thuộc nên dân nhanh chóng chỉ chỗ nghỉ cho lính với thái độ bình thản không ra nhiệt tình cũng chẳng phải thờ ơ. Những người dân, kể cả trẻ con đều nói được tiếng Kinh tuy có hơi lơ lớ một chút.
Căn nhà sàn thật là đơn sơ. Bếp lửa đặt ngay giữa nhà, hơi lùi về phía sau, trên một tấm tôn có lót đất. Mấy cây củi gộc vẫn đang cháy âm ỉ và ngún khói. Quần áo vắt túm tụm trên một cái dây thành một đống ở góc nhà. Sát sau nhà, phía gần bếp lửa, những túm ngô, những túm lúa và vài túm thuốc lá được vắt trên những cái sào. Góc nhà còn lại, người ta treo nhiều thứ dụng cụ gì đó trông rất đơn sơ, tôi không biết họ dùng để làm gì. Nhà của người Vân Kiều nhỏ hơn nhà sàn của các dân tộc ở phía bắc và cũng đơn sơ hơn. Nhà sàn cũng khá thấp, chỉ vài bậc thang từ mặt đất là đã lên đến mặt sàn. Xung quanh nhà tạm thời thưng bằng phên tre nứa gì đó. Nếu có điều kiện lâu dài, có thể người ta thưng bằng gỗ tấm. Tôi chưa thấy nhà sàn nào của người Vân Kiều làm kỹ, phần nhiều cột gỗ đẽo sơ sài, ván thưng để mộc và xong queo nên không thể thưng kín xung quanh. Điiều này chắc là do ở Quảng Trị không bị rét như ở phía bắc. Về sau này tôi mới biết thêm dân tộc Vân Kiều còn có tên gọi khác là người Bru, người Mang Coong, người Trì hay người Khùa. Người Vân Kiều, kể cả đàn ông, đàn bà và trẻ con đều ở trần, đàn ông thì đóng khố còn đàn bà thì mặc môt chiếc váy. Váy của người Vân Kiều cũng có hoa văn chạy thành các băng ngang nhưng tôi thường gặp họ mặc váy đen. Có thể do chiến tranh ác liệt, đời sống quá khó khăn nên dân không có điều kiện để làm đẹp.

Trẻ em Vân Kiều ngày nay đều mặc quần áo nhưng nhà sàn thì vẫn đơn sơ
. . . (còn nữa)