Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:16:10 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những chuyện không thể quên - Cười ra nước mắt (Phần 4)  (Đọc 461313 lần)
0 Thành viên và 5 Khách đang xem chủ đề.
sauchinbaymot
Thành viên
*
Bài viết: 628


Nhớ Rừng!


« Trả lời #500 vào lúc: 12 Tháng Sáu, 2013, 08:24:03 am »


... Thằng Đăng phụ trách chiếu phim, quê Bắc Thái, da trắng, môi đỏ, tóc vàng như dâu ngô.
.... Vào những ngày nghỉ, nó hay cùng anh Hiệu, thằng Đăng và vài người nữa sang sân bay Cù Hanh, nhảy vào phòng điều hành bay, phá các máy thông tin, máy tải ba, gỡ lấy các biến thế nguồn, các cuộn cảm, đèn LED, bộ chuyển mạch, đề-can, dây cáp thông tin với rất nhiều sợi, mỗi sợi một màu, v.v . . . . làm vật liệu để quấn survolteur.


"Dọn vườn" TTNL một tý để được chấm công chăm chỉ làm vườn:

- Cây dâu khác với cây ngô, không biết tóc vàng như dâu ngô là như lá dâu rụng hay vàng như hạt ngô phơi. Chắc là "vàng như râu ngô".
- Trước năm 80 sợ chưa có mặt LED (Diod phát quang) ở VN. Mãi cuối những năm 80, SCBM mới lần đầu tiên nhìn thấy LED cơ.  
Logged

Nhật ký Viết lại
Trongc6
Thành viên
*
Bài viết: 495


« Trả lời #501 vào lúc: 12 Tháng Sáu, 2013, 10:36:40 am »

Bác 6971 dọn vườn cực hay và cực chính xác, đầy tính xây dựng. Tôi xin giơ cả hai tay tán đồng.

Thời gian trước 1980, các thiết bị cần có đèn báo hiệu (nguồn chẳng hạn) như ở sup-von-tơ người ta phải lấy thêm đầu dây ra mấy vôn và dùng một cái bóng đèn pin tròn.
Logged

tuanb5
Thành viên
*
Bài viết: 610


« Trả lời #502 vào lúc: 12 Tháng Sáu, 2013, 02:09:36 pm »


Chào bác SCBM, bác Trongc6!

Bác Trongc6 nhớ chính xác đấy ạ khi nói về đèn báo hiệu (tôi thời kỳ ấy cũng là thợ nghiệp dư quấn sup-von-tơ Grin) Đèn LED giữa những năm 8x đã khá phổ biến ở Chợ Giời, nhưng lắp vào sup thì không hợp lý lắm, bởi độ phát quang của LED thời kỳ ấy yếu hơn đèn tóc 6v3. (Nay thì chói mắt luôn)

Tôi cho là bác Thập không nhầm khi nói đã dùng đèn LED từ trước 8x, bởi bác ấy tháo đồ quân sự của Mỹ- Mà lại của sân bay. Thông thường, tiến bộ khoa học bao giờ cũng được các nhà kỹ thuật quân sự đem ra áp dụng đầu tiên. Tôi nhớ khi bom từ trường xuất hiện ở Miền Bắc VN, bóng bán dẫn (Tranzitor) của Mỹ rất sẵn và rẻ. Trên thị trường lắp máy thu thanh, có sự thay đổi như 1 giấc mơ vậy. Grin
Logged

Ngàn năm hồ dễ mấy ai quên.
tranphu341
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2432


« Trả lời #503 vào lúc: 12 Tháng Sáu, 2013, 07:38:20 pm »

         Chào các bac! Tranphu341 đọc chuyện của các bác rất hay. Vui và nhiều truyền cảm. Có điều Tranphu nghĩ người Dân tộc Vân Kiều không phải là người Dân tộc Thượng. Tranphu đọc thấy bác Thập nói như là 2 Dan tộc này là một.

            Chúc các bác vui với nhiều chuyện rất hay! Kính.
Logged
TichTuongNhuLe
Thành viên
*
Bài viết: 1310



« Trả lời #504 vào lúc: 13 Tháng Sáu, 2013, 08:18:09 pm »


- Trước năm 80 sợ chưa có mặt LED (Diod phát quang) ở VN. Mãi cuối những năm 80, SCBM mới lần đầu tiên nhìn thấy LED cơ.  


     Cảm ơn 6971 đã sửa "râu" !

     Còn cái LED bác Thập kể tôi cũng hơi băn khoăn. Nhưng nghĩ lại thấy bác Thập không thể nhầm LED với "ong bun" sợi đốt hay nhầm với cái bóng đèn báo neon được. Tôi cũng định hỏi lại bác ấy nhưng tự kiểm tra trước thì thấy, LED được phát minh đầu tiên vào năm 1962 bởi giáo sư Nick Holonyak nhưng ông chỉ mới phát minh được duy nhất bóng màu đỏ. LED thương mại đầu tiên đã có từ 1968 do Công ty Monsanto sản suất. Lúc đầu, chúng được thay thế cho các đèn báo neon hay đèn sợi đốt. Sau đó LED được dùng cho bộ chỉ thị số 7 đoạn (7-Segment LED Display) một cách rộng rãi trong những năm 1970.

     Cũng chỉ là đoán, chắc lúc đó người Mỹ có thể dùng LED làm đèn báo trên bảng điều khiển của đài không lưu. Dù sao LED bền hơn, quán tính nhỏ hơn đèn sợi đốt hay đèn neon.


        Có điều Tranphu nghĩ người Dân tộc Vân Kiều không phải là người Dân tộc Thượng. Tranphu đọc thấy bác Thập nói như là 2 Dan tộc này là một.


     Bác tranphu341 ! Trước ngày 30/4/1975. VNCH đều gọi các dân tộc ở vùng núi Trường Sơn là đồng bào Thượng, không phân biệt là dân tộc gì, Ba Na, Gia Rai, Ê đê, Cơ Ho, Vân Kiều, Pa kô, Mạ, Xơ Đăng, Mơ Nông, . . . . và hoàn toàn không có ý miệt thị. Sau này, ta không gọi là "người Thượng" nữa để tránh hiểu nhầm "kỳ thị dân tộc". Lúc đầu tôi thấy bác Thập dùng chữ đồng bào Thượng, đã phải tra cứu lại cẩn thận mới dám dùng.

     Xem thêm bài viết của Nguyễn Văn Huy :
http://lmvn.com/truyen/?func=viewpost&id=lBVSqP6EQm0O1nE15i62x23CKJY9217d

-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
.
CHUYỆN THẬT CHƯA ĐẶT TÊN
Nguyễn Trọng Thập - Tự truyện

CHƯƠNG IV      BƯỚC NGOẶT  (tiếp 50)

Nghiện thuốc  

     Ngoài món cháy ngon thằng Tỵ cho nó thêm vào khẩu phần thiếu đói, nó còn có một ngón khác để chống đói. Ấy là nó xin các loại bột để quấy hồ. Nó phải dùng rất nhiều hồ để dán pano, rồi lại còn bồi nhiều giấy để pano có độ dày và phẳng. Biết bao nhiêu hồ cho nó vừa. Nó báo cáo lên các thủ trưởng xin tiền mua bột. Mèng thì cũng là bột sắn, khá hơn thì bột gạo mà hơn nữa thì bột nếp. Thực ra thì hồ nấu rất loãng, có tốn bột là mấy. Chủ yếu làm lương thực dự trứ cho nó, khi nào đói, nó múc hai thìa bột cho vào xoong, thêm thìa đường rồi quấy đều với nước thành thứ bột sền sệt như bột cho trẻ em, gọi là món chè đường, ăn mãn luôn.

     Các cụ bảo "thợ may ăn giẻ, thợ vẽ ăn hồ, thợ bồ ăn than, thợ hàn ăn thiếc", trong đó cũng có ý nói "làm nghề nào ăn nghề ấy". Chẳng ngờ nó "ăn hồ" thật, theo nghĩa đen. Vụ "ăn hồ" này cũng phải ăn vụng, nếu không cũng phiền với các thủ trưởng.

     Nó nghiện thuốc lá nặng mà tiêu chuẩn căng tin mỗi tháng được 5 gói Bastos (loại thuốc rất nặng) đối với nó hoàn toàn không đủ. "Túng thì phải tính", nó để ý thấy hầu như ngày nào cũng có họp hành, giao ban, . . . . của các thủ trưởng ở hội trường, mà các thủ trưởng lại rất nhiều thuốc lá. Quản lý hội trường là thằng Ân công vụ. Tốt ! Nó liền kết thân với thằng Ân. Thỉnh thoảng, sau buổi họp của các "cốp", nó lên hội trường giúp thằng Ân thu dọn và tranh thủ nhặt đầu mẩu thuốc lá mà các "cốp" vứt bỏ, thôi thì đủ loại, Đ'rao, Tam Đảo, Điện Biên, Tam Thanh, . . . .  Mỗi lần như vậy, nó thu được một vốc to. Đem về phòng, nó gỡ ra lấy thuốc rồi dùng giấy lịch mỏng để quấn sâu kèn lại mà hút. Thằng Ân hiểu nó, những lúc nó không lên được hắn lại nhặt hộ đầu mẩu. Nhiều lúc Ân còn lấy trộm thuốc của thủ trưởng để dành cho nó.

     Đầu kỳ căng tin phát thuốc lá, những đứa nghiện, thằng nào cũng hút "thả phanh". Vài ngày sau, hễ đứa nào có mẩu thuốc hút thì bị vài đứa khác xúm lại "xin một hơi". Chúng xin, không cho không được mà cho thì tiếc đứt ruột vì thằng nào cũng rít tóp cả má, một hơi dài căng hết hai buồng phổi, cụt đến phần ba điếu là cái chắc.

     Lắm lúc có thuốc, nó phải len lén giả vờ đi vệ sinh, chui vào đó mà hút. Thế mà cũng chẳng yên. Nhà vệ sinh tập thể một dãy dài quây bằng cót ép, vách ngăn các gian chỉ ngang tầm mắt. Mùi thuốc bốc ra, thằng bên cạnh ngửi thấy, kéo quần đứng dạy, thò tay sang bảo : "Đứa nào đang hút, cho tao một hơi". Thế là đành phải đưa sang. Mà đã đưa sang là mất, mấy khi thằng kia nhổm lên để trả lại.

     Có lần không kiếm đâu ra được đầu mẩu thuốc, nó phải lật hết cả dát gường lên, bới hết các ngóc ngách trong đám pano, trong buồng rửa ảnh, tìm mãi cũng được vài cái "đít sâu kèn" bé tí. Dù sao cũng vấn được một điếu thuốc "sái của sái".

Nguyễn Trọng Thập
« Sửa lần cuối: 13 Tháng Sáu, 2013, 09:47:00 pm gửi bởi TichTuongNhuLe » Logged

TichTuongNhuLe
Thành viên
*
Bài viết: 1310



« Trả lời #505 vào lúc: 14 Tháng Sáu, 2013, 08:15:10 pm »

.
CHUYỆN THẬT CHƯA ĐẶT TÊN
Nguyễn Trọng Thập - Tự truyện

CHƯƠNG IV      BƯỚC NGOẶT  (tiếp 51)

Suýt nữa thì nó thành diễn viên ?!

     Trung đoàn tổ chức cho những anh em ở trung đoàn bộ chưa tốt nghiệp phổ thông được đi học bổ túc ban đêm tại thị xã Pleiku. Tối tối, nó cùng một số anh em vào thị xã để học. Nó có dịp giao lưu và làm quen với các bạn mới, rồi nó chơi thân với cái Mận và thằng Tình.

     Một tối đang đi học như thường lệ, khi đi qua rạp Thanh Bình (bây giờ là nhà hát Đam San của thành phố Pleiku) thì thấy nhiều tấm pano và rồi tiếng loa phóng thanh quảng cáo biểu diễn ca múa nhạc của "Đoàn Ca Múa Nhạc Hải Hưng" tại thị xã Pleiku. Trời ạ ! Ở đoàn ca múa này thì nó có rất nhiều bạn. Nó liền "tút" buổi học và chui vào rạp tìm bạn. Nó gặp lại thằng Tám, cái Thơm, cái Hoa, thằng Hợp. Gặp nhau "tay bắt, mặt mừng" lắm lắm, vì chúng nó đều đã chơi với nhau từ ngày ở Sặt, toàn những đứa đồng hương thân thiết.

     Trong đợt biểu diễn hàng tháng trời của đoàn tại PleiKu, bọn chúng thường đi chơi với nhau, cả ban ngày và buổi tối. Ngày mà đoàn chuyển đi biểu diễn ở nơi khác, chúng chia tay nhau rất cảm động. Thằng Tám nói:

     -     Giá ngày ấy mày tham gia cùng chúng tao thì hay quá ! Vừa không phải đi lính, mà
           bây giờ đi biểu diễn khắp nơi có phải sướng không !

     "Đoàn Văn Công Hải Hưng" (lính thường gọi như vậy) chuyển đi thì cũng từ đấy, chúng bặt tin nhau, không có dịp gặp lại nữa.

     Nhớ lại, ngày ở Sặt, nó chơi với thằng Khóa. Thằng Khóa có cậu ruột là Tám, diễn viên của Đoàn Ca Múa Nhạc Hải Hưng. Tám cũng đồng trang lứa với thằng Khóa và nó, rồi dần dà nó thân với Tám.

     Lần ấy, Đoàn Ca Múa Nhạc về quê nó biểu diễn và tổ chức tuyển diễn viên. Tám, Hợp, Thơm và Hoa ở nhờ nhà nó. Đoàn tổ chức biểu diễn hàng đêm ở các sân kho, bãi bóng các xã. Những lúc rảnh rỗi, Tám và các bạn hướng dẫn nó dựng tiểu phẩm để tham gia thi tuyển vào Đoàn. Buổi thi tổ chức ở sân kho thôn Long Đằng. Ban giám khảo gồm 7 người ngồi ở dãy bàn kê chéo ở một bên, sát với sân khấu. Thí sinh cả huyện nô nức tham gia dự thi.

     Hôm đó, nó phải thi ba tiết mục (hay là ba vòng). Một là, "đọc diễn cảm một bài thơ mà em thuộc". Đề thi này đối với nó là quá đơn giản vì trước đó nó đã đọc nhiều trong các hoạt động của đoàn thanh niên và có khả năng diễn cảm tốt.

     Hai là, trình bày một tiểu phẩm với đề ra : "Em đang ở nhà học bài, có bạn của bố dắt theo một đứa trẻ đến chơi mà bố em đang đi vắng. Em hãy tiếp người bạn của bố và em bé". Đạo cụ là một bàn và một ghế ở giữa sân khấu. Nó ngồi ở bàn, làm động tác đang chăm chú học bài. Rồi nó làm động tác như có khách đến, sau khi chào hỏi khách, nó pha trà và nói chuyện qua lại với người khách lớn tuổi và em bé, y như thật. Tất cả chỉ diễn ra dưới dạng kịch câm, biểu diễn bằng động tác và biểu cảm trên nét mặt.

     Ba là, trình bày tiểu phẩm với đề ra : "Có một vườn cau sai quả nằm sau một mương nước rộng 1,5 mét, vườn có hàng rào cây thưa, bên trong có một con chó dữ. Em hãy vào hái cau". Tiểu phẩm này khó hơn vì không có đạo cụ mà tình huống cũng phức tạp. Trên sân khấu trống trơn, nó phải tưởng tượng ra cảnh huống và làm động tác để thể hiện từ lúc thăm dò chó, lúc vượt mương nước, vượt hàng rào, trèo cau hái quả và luôn luôn trong tình trạng phải đối phó với chó, . . . .

     Cuộc thi ba vòng thật sự là rất khó, vả lại cũng có nhiều thí sinh rất giỏi. Thế mà cuối cùng nó được chấm điểm khá cao và trúng tuyển làm diễn viên của Đoàn.

     Nó đã thắng ở cuộc thi năng khiếu do Đoàn tổ chức vậy mà nó không thể vượt qua được cuộc thi của thày nó. Cụ bảo :

     -     Hát hỏng, ưỡn ẹo chỉ là "đồ sướng ca vô loài". Đó không phải là một nghề. Mà nếu
           coi như một nghề, thì cái nghề này "bạc như vôi". Cuối cùng, đời cũng chả ra gì đâu !

     Thày nó cương quyết không cho nó đi. Nó tiếc lắm nhưng không dám cãi và làm trái lời thày. Rồi nó trở thành người lính và gặp lại bạn bè trong Đoàn ở mãi chốn rừng núi xa xôi, tận Pleiku.

     Đoàn Văn Công Hải Hưng đi rồi thì có đoàn các họa sỹ từ Hà Nội vào đi thực tế, lấy tư liệu sáng tác về Tây Nguyên. Trong đoàn này nó được làm quen với cô Thanh Ngọc và chị Sơn Trúc đều là giảng viên Trường Mỹ Thuật Hà Nội. Thấy nó ham vẽ và gặp hoàn cảnh trớ trêu, cô Ngọc động viên nó rất nhiều. Trước khi về Hà Nội cô Ngọc cho nó 2 cây bút lông và khá nhiều tuýp thuốc nước cô đang dùng dở. Nó cứ nhớ ơn cô mãi không chỉ vì ít họa phẩm quý mà còn vì cô đã động viên khuyến khích nó vẽ và học hội họa.

Nguyễn Trọng Thập
« Sửa lần cuối: 14 Tháng Sáu, 2013, 08:22:47 pm gửi bởi TichTuongNhuLe » Logged

TichTuongNhuLe
Thành viên
*
Bài viết: 1310



« Trả lời #506 vào lúc: 16 Tháng Sáu, 2013, 09:21:31 pm »

.
CHUYỆN THẬT CHƯA ĐẶT TÊN
Nguyễn Trọng Thập - Tự truyện

CHƯƠNG IV      BƯỚC NGOẶT  (tiếp 52)

Khóc cha

     Sau một lần gửi tranh dự thi. Tranh của nó được chọn một bức đăng trên báo binh chủng và một bức đăng ở báo quân đội. Nó mừng vì tranh của nó được đăng và nó khấp khởi hy vọng khi Bộ Tư Lệnh thông tin tổ chức trại sáng tác mỹ thuật, hẳn là nó sẽ được chọn. Nhưng chờ mãi nó vẫn không được gọi. Trung đoàn nó chỉ gọi một đứa duy nhất là thằng Phạm Bình Đính. Nó không tị với thằng Đính, nhưng rõ ràng là không công bằng. Thằng Đính đã được đi học vẽ ở Sài Gòn trong khi nó phải đi miền Tây A Lưới. Bây giờ thằng Đính lại được học ở trại sáng tác. Nó buồn,  rất thất vọng và không hiểu vì sao ?!

     Những ngày cuối năm 1977, gần đến Tết Mậu Ngọ (1978) là những ngày bận rộn. Nhưng không hiểu sao trong lòng nó cảm thấy có gì cồn cào, bứt rứt. Mắt nó cứ "máy" liên tục, rồi nó vật vã không ăn, không ngủ được. Chưa bao giờ nó ở cái tâm trạng như vậy và nó không biết nguyên nhân vì sao.

     Một hôm, nó đang ngồi vẽ, bỗng thằng Ân công vụ vào phòng nó chơi và bảo :

     -     Thập à ! Mày có rất nhiều thư và điện ở quê gửi đến đây, mà tham mưu trưởng đang giữ,
           không đưa. Tao dọn phòng vô tình nhìn thấy mấy bức thư và mấy bức điện để trên bàn.
           Tao đọc trộm bức điện thấy ghi "Thập về ngay, thày ốm nặng". Bức điện gần đây nhất còn
           đề "Thày sắp chết, về ngay". Ông Đặng không đưa cho mày, chắc ông ấy sợ gia đình nói dối
           gọi mày về ăn tết. Mày thử hỏi xem sao, nhưng đừng nói là tao bảo nhé, không có tao bị kỷ
           luật đấy.

     Nó rụng rời chân tay, thất thần, . . . . 10 ngày qua nó máy mắt và sốt ruột hẳn là thày nó nhắc. Không còn biết gì nữa, nó khóc hu hu và lập tức chạy lên phòng tham mưu trưởng Đặng. Chẳng còn nhớ nó đã nói gì. Sau đấy, ông Đặng bảo nó :

     -     Thôi được rồi! Đồng chí cứ về. Sáng mai họp giao ban, tôi bàn với bên quân lực sẽ trả lời sau.

     Nó thẫn thờ quay ra, tâm trạng bồn chồn, ruột gan như có lửa đốt, . . . . Cứ thế, nó không ăn không ngủ, hết đi ra lại đi vào, nhấp nha nhấp nhổm chờ đợi cuộc họp giao ban.

     Chín giờ sáng, sau cuộc ban họp, anh Chính trưởng ban quân lực, gọi nó lên phòng :

     -     Trung đoàn đồng ý cho cậu nghỉ phép 20 ngày, cộng với 10 ngày kết hợp công tác, tổng cộng
           cả đi cả về là 30 ngày. Nhiệm vụ của cậu là ra Bộ Tư Lệnh, vào Phòng Quân Lực nhận phim,
           giấy ảnh, thuốc ảnh, phôi chứng minh thư quân nhân. Là đồng hương, tớ nói cho cậu biết thế
           này, thực ra, cậu có quyết định điều động về dự trại sáng tác mỹ thuật từ lâu nhưng trung
           đoàn chưa cho đi. Trung đoàn khoán cho cậu làm xong chứng minh thư cho trung đoàn thì mới
           được đi. Cậu làm xong sớm ngày nào thì cậu được ra trại ở Hà Nội sớm ngày ấy. Thế nhé !

     Chẳng biết trong lòng nó lúc ấy là buồn, là lo hay là mừng. Nó cuống quýt cảm ơn anh Chính, rồi chạy vội sang phòng trợ lý ban quân lực lấy giấy công tác (còn gọi là công lệnh hay giấy đi đường) và giấy giới thiệu với phòng quân lực. Có hai cái giấy ấy, nó lại vội chạy sang ban hậu cần tạm ứng tiền công tác phí, lĩnh tem lương thực, một ít lương thực và thực phẩm.

     Xong việc nó chạy vội về phòng chuẩn bị ba lô, quân tư trang, . . . . Biết nó được về thăm nhà, chiều đó, nhiều anh em đến phòng nó chúc mừng, chia sẻ, động viên. Một số đứa gần nhà còn gửi thư, gửi quà nhờ nó mang về hộ. Chờ mọi người đi vãn, anh Chính gọi nó sang phòng anh, đưa nó một gói quà cùng một lá thư nhờ nó chuyển về quê cho vợ con anh. Nó vui vẻ nhận và hứa sẽ đưa đến tận nơi.

     Cơm chiều xong, nó chào mọi người rồi trèo lên ngồi sau xe máy anh Cường kỹ sư. Anh Cường đèo nó ra tỉnh đoàn Gia Lai ở Pleeiku. Nó chơi với nhiều bạn ở tỉnh đoàn và thân nhất với thằng Tình và cái Thắm, người Quảng Đà, trợ lý đoàn tỉnh. Nó ngủ nhờ ở tỉnh đoàn để 3 giờ sáng mấy đứa đèo nó ra bến xe. Từ bến xe Pleiku nó đi xe đò về Đà Nẵng.

     Cảm giác sốt ruột và máy mắt của nó đã bớt đi nhiều, nó không hiểu tình hình thày nó ở quê ra sao. Hy vọng mấy bức điện mà nó nhận được là điện giả. Cái mũ lông cho thày cùng với cái khăn vuông len cho bu nó mua từ lâu đang để trong ba lô, hy vọng thày bu nó có cái diện tết. Nó còn mua cho các chị gái mỗi người một khăn bông bay, anh trai thì mỗi người một mảnh tuýt-xi len, các cháu thì vài túi bóng bay đủ các màu sắc. Nó mang về một cái quạt Hitachi cho thày bu dùng cho mát. Sợ điện ở quê nó cũng yếu, nó còn tha theo cả một cái survolteur nặng trịch mà nó tự tay quấn.

Khóc cha (còn tiếp)

Nguyễn Trọng Thập

Bộ đội từ miền Nam về phép miền Bắc những năm 7X
« Sửa lần cuối: 16 Tháng Sáu, 2013, 10:59:33 pm gửi bởi TichTuongNhuLe » Logged

TichTuongNhuLe
Thành viên
*
Bài viết: 1310



« Trả lời #507 vào lúc: 17 Tháng Sáu, 2013, 09:01:32 pm »

.
CHUYỆN THẬT CHƯA ĐẶT TÊN
Nguyễn Trọng Thập - Tự truyện

CHƯƠNG IV      BƯỚC NGOẶT  (tiếp 53)

Khóc cha (tiếp)

     Về tới Đà Nẵng, nó xuống chợ Hàn, bấy giờ đã cuối năm, đang giữa mùa đông, Trời đang mưa và lạnh. Nó ngơ ngác với thành phố xa lạ. Nó không biết đường đi trạm khách của trung đoàn ở phường Hòa Cường, huyện Núi Thành. Đã khuya rồi, đường phố vắng ngắt. Nhìn qua cửa các ngôi nhà ven đường, cảnh quây quần  vui vẻ của các gia đình làm nó càng thấy nhớ nhà da diết. Đi trong mưa, dưới ánh đèn le lói hắt ra từ trong các căn nhà làm nó nhớ tới hình ảnh người lữ khách không nhà, lang thang trong đêm mưa trong bài hát "Giọt Mưa Thu" (Đặng Thế Phong).

     Chợt nó thấy một chiếc xích lô tiến về phía nó. Bác xích lô đang trùm hụp áo mưa hối hả đạp xe về nhà sau một ngày vất vả. Nó hỏi thăm đường thì ông ái ngại nhìn nó với ba lô ngất ngưởng, trĩu nặng. Đường quá xa, trời thì khuya, ông không thể chở nó đi. Bác xích lô chỉ đường cho nó tự đi. Một mình nó, lủng củng đồ đạc lầm lũi bước trong đêm mưa, trên con đường ngoại ô, tối tăm, hàng chục cây số về để về trạm khách.

     Hôm sau nó ra ga Đà nẵng để lấy vé tàu. May mà nó có mấy bức điện và giấy công lệnh, nên sau một hồi nằn nì, khẩn khoản, nhà ga bán cho nó cái vé dự trữ (dành cho những trường hợp đặc biệt, đột xuất).

     Ba ngày sau nó tới ga Hàng Cỏ sau mấy ngày mệt mỏi lên xe xuống tàu. Nó gọi một chiếc xích lô đưa nó về phố Bùi Thị Xuân, nhà chị gái nó. Đến nơi, nó vừa xuống xe, đang trả tiền thì có một xích lô khác cũng vừa tới. Bước xuống xe là chị gái nó cùng mấy đứa cháu ở quê mới ra, trên đầu người nào cũng đội khăn tang. Nó giật mình khuỵu xuống. Thôi thế là hết ! Muộn quá mất rồi ! Chị nó ôm nó khóc hu hu :

     -     Thập ơi ! Em về muộn quá rồi. Thày chết đã bốn hôm rồi. Hôm qua cúng ba 3 ngày xong,
           hôm nay anh chị và các cháu mới ra.

     Nó khóc nấc lên. Thế là nó mất bố rồi !

     Nó không vào nhà chị nữa mà lập tức ngồi lên xích lô, nó đi ngay ra bến Nứa để mua vé ô tô về quê. Vừa đi nó vừa ôm mặt khóc "như mưa như gió".

     Xe ô tô Sặt có bến đỗ ngay cửa nhà nó. Nó vác ba lô xuống, bước vào nhà. Cả nhà đang để tang, thấy nó mọi người òa lên khóc nức nở. Nó lại òa lên khóc theo. Trên ban thờ khói hương nghi ngút nhưng tuyệt nhiên không thấy có ảnh thày. Nó trách mọi người, khi cụ còn sống sao không chụp cho cụ bức ảnh làm ảnh thờ. Anh chị em nó cũng ân hận. Vì cuống quá nên quên mất cả việc chụp ảnh.

     Nó lấy cái mũ lông ra, đặt lên ban thờ. Sụt sùi nó khấn :

     -     Thày ơi ! Con mua cho thày cái mũ như ngày xưa thày vẫn ao ước. Giờ con về,
           mũ ở đây thì thày đã đi rồi ! Sao thày không chịu chờ đội mũ của con ? Thày ơi !

     Nó khóc rất nhiều, nhất là lúc ở một mình. Nhìn lại những kỷ vật mà hồi còn sống thày nó hay sử dụng, nó càng thương nhớ và xót thày. Mọi người kể lại, thày chờ nó lâu quá, thất vọng lắm, trong người đau đớn, ông mím miệng lại không chịu nuốt sâm. Mọi người đành nói dối :

     -     Thày uống đi, thằng Thập nó về đến phố Nối rồi !

     Thày nó lại mở mắt hỏi, lưỡi thày đã rụt lại, chỉ phát ra mấy tiếng "Âu ? âu . . .". Sau vài lần như thế, biết là bị lừa, Người ứa nước mắt, rồi ngẹo đầu gục xuống. Thày đã ra đi trong day dứt và hối tiếc không được gặp thằng con út, thằng bé gày còm mà phải bị đày ải mãi ở nơi "rừng xanh núi đỏ".

     Càng nghĩ nó càng thấy hận lão Nguyễn Đăng Đặng, tham mưu trưởng trung đoàn. Hắn đã làm bố con nó không được gặp nhau lần cuối. Thằng cha đó đúng là ích kỷ, độc ác, tàn nhẫn và gian hùng "Thà ta phụ người trước chứ không để người lừa ta", chẳng khác gì Tào Tháo.

Nguyễn Trọng Thập
Logged

TichTuongNhuLe
Thành viên
*
Bài viết: 1310



« Trả lời #508 vào lúc: 18 Tháng Sáu, 2013, 08:57:01 pm »

.
CHUYỆN THẬT CHƯA ĐẶT TÊN
Nguyễn Trọng Thập - Tự truyện

CHƯƠNG IV      BƯỚC NGOẶT  (tiếp 54)

"Thế Là Mợ Nó Đi Tây"
(Nguyễn Công Hoan, An Nam tạp chí số 43; 1932)

     Ở nhà với bu, các anh các chị và các cháu được khoảng chục ngày thì nó lên Hà Nội chơi cho khuây khỏa. Hơn nữa, nó rất mong được gặp Hợi sau bao tháng ngày xa cách. Nó đã chuẩn bị một món quà cho Hợi khi nó phải đợi tàu ở Đà Nẵng 4 tiếng. Nó lang thang trong thành phố, chọn cho Hợi một hộp trang điểm khảm trai nhỏ nhắn xinh xinh, có núm lên dây cót ở phía dưới. Mỗi lần mở hộp ra, trên mặt gương ở giữa có một cô vũ nữ rất đẹp nhảy múa xoay tròn rất sinh động trong tiếng nhạc thánh thót tinh tinh tang tang . . . . Nó cũng chọn mua cho nàng một đôi guốc gỗ có trang trí hoa văn màu nâu bằng bút điện, trông rất đẹp.

     Trên đường đến nhà Hợi nó cứ tưởng tượng cảnh hai đứa gặp nhau. Chắc hẳn, sự xuất hiện bất ngờ của nó sẽ làm cho Hợi ngỡ ngàng, bàng hoàng và rất có thể em sẽ ôm chầm lấy nó. Hoặc, có thể trước đông người em còn ngượng ngập nhưng không cầm được nước mắt vì xúc động. Chỉ cần nghĩ thế thôi, nó đã cảm thấy sung sướng lắm, "hạnh phúc đang trong tầm tay".  

     Khi nó bước vào nhà, cả nhà Hợi vui vẻ đón mừng nó. Hợi chỉ gật đầu chào nó, có vẻ gì đó lạnh nhạt và lúng túng. Đang hí hửng, nó chợt sụp buồn. Nó linh cảm thấy có chuyện gì đó, không biết phải xử trí thế nào, bất giác nó muốn lặn luôn đi đâu đó mất tăm. Tặng quà cho em xong, lấy lý do phải vào Bộ Tư Lệnh nộp báo cáo, nó vội vã rút lui và hẹn tối sẽ đến đón Hợi.

     Ra đến ngoài đường, nó cảm thấy rối bời và hoang mang cực độ. Bao nhiêu tình cảm cháy bỏng, khát khao của nó dành cho em, cơ hồ tan như mây khói. Nó không biết suy nghĩ như thế nào cho phải. Có lẽ chăng em không còn yêu nó. Hay là, em đã có ai khác ?!

     Tối hôm đó nó đến đầu đường nơi hẹn em hơi sớm một chút. Nó chờ mãi, trong lòng rất bồn chồn và lo sợ. Chẳng có nhẽ em chia tay nó bằng cách như thế này sao, tàn nhẫ quá ! Gần một tiếng đồng hồ đã trôi qua, mấy lần nó "dỗi" định bỏ về nhưng lại tự động viên mình phải kiên trì.

     Lâu lắm, không biết bao lâu sau Hợi mới xuất hiện. Nàng nói xin lỗi với lý do đang dở làm bài tập, mai phải nộp sớm. Em nói như thế thì nó cũng chỉ biết cười mà đáp lại. Nó đèo em đi lòng vòng một lúc rồi nó tạt vào bờ hồ Ha-le (hồ Thiền Quang). Hợi chỉ cho nó một cái ghế giáp mặt hồ, gần đường, nơi ánh đèn sáng nhất. Hai đứa ngồi xuống, mãi cũng không ai mở được lời.

     Rồi câu chuyện cũng chỉ toàn là những câu hỏi đáp, gióng một, không có một chút gì đằm thắm như ngày nào. Em có vẻ gượng gạo và lúng túng. Nó dang tay, chực ôm hôn thì em né tránh. Sau này nó càng hiểu hơn, khi tình yêu chỉ là một chiều thì người kia "tránh né" giỏi vô cùng. Nó hỏi Hợi sao không viết thư cho nó, giọng đầy trách móc. Tất cả những dấm dẳn tránh né của Hợi làm cho nó bực và hỏi thẳng :

     -     Em còn yêu anh nữa không ?

     Hợi không nói gì, em mở ví lấy ra một lá thư của cô bạn thân đang học trên Vĩnh Phúc, đưa cho nó. Nội dung bức thư có đoạn nói về Hợi và nó :"Hợi ơi ! Tớ biết cậu với Thập yêu nhau. Nhưng đó chỉ là tình cảm bột phát đầu đời. Không thể dẫn đến hôn nhân được đâu. Hợi cứ nghĩ mà xem, một đằng Tuấn vừa đẹp trai, trắng trẻo, người Hà Nội gốc. Nhà Tuấn lại làm nhựa, rất giàu có. Tuấn cũng theo đuổi Hợi mấy năm nay rất nhiệt tình. Một đằng, Thập là người nhà quê, không có hộ khẩu Hà Nội, người lại gày còm nhỏ bé. Thập đi bộ đội, lính 5 đồng, nay đây, mai đó, tương lai vô định. Mà phụ nữ chúng mình cũng chỉ có thì thôi, đợi chờ mãi sao được. Tớ nói thế vì những gì tốt nhất cho Hợi. Hợi hãy suy nghĩ cẩn thận. Tùy Hợi quyết định thôi !"

     Nó chết lặng như bị sét đánh. Nó cảm thấy tự ái vì bị xúc phạm, nhưng nó vẫn cố kiềm chế, vớt vát, hỏi Hợi thêm một câu :

     -     Thế em quyết định thế nào ?

     Nó đã chờ đợi một câu trả lời phũ phàng, nhưng nó không thể ngờ nó được nghe một câu trả lời thật đơn giản, gọn ghẽ và hiển nhiên :

     -     Ngày xưa trắng trẻo thư sinh còn yêu. Bây giờ vừa gày vừa đen, em hết yêu rồi !

     Nó đứng phắt dạy, lạnh lùng nói :

     -     Cám ơn em !

     Nó dắt xe đạp xuống lòng đường, Hợi đứng dạy ngồi lên sau xe. Cứ thế nó hùng hục đạp, không ai nói một câu. Đến cửa nhà Hợi, nó bóp phanh khựng lại, Hợi nhảy xuống. Nó quay xe đi và nói :

     -     Vĩnh biệt !

     Hợi đứng nhìn theo, còn nó cắm đầu đạp xe đi . . . . Thế là hết !

     Ôi ! Đàn bà. Bao giờ họ cũng đúng, gọn ghẽ, vừa đủ, chẳng thừa đến một sợi tơ . . . .

Nguyễn Trọng Thập
« Sửa lần cuối: 19 Tháng Sáu, 2013, 07:03:29 pm gửi bởi TichTuongNhuLe » Logged

TichTuongNhuLe
Thành viên
*
Bài viết: 1310



« Trả lời #509 vào lúc: 19 Tháng Sáu, 2013, 09:02:21 pm »

.
CHUYỆN THẬT CHƯA ĐẶT TÊN
Nguyễn Trọng Thập - Tự truyện

CHƯƠNG IV      BƯỚC NGOẶT  (tiếp 55)

Vợ cả, vợ hai đều là vợ cả !

     Cuộc đời thật trớ trêu, trong khi người con gái nó yêu đã "đi Tây" thì người nó không yêu lại rất nhiệt tình. Đó là Cần. Được tin nó ra, Cần vô cùng mừng rỡ. Cần chăm sóc nó từng ly, từng tí. Chẳng những Cần để dành cho nó nhiều bánh kẹo ngon và thuốc lá mà em còn mời nó đi ăn rất nhiều của ngon, món lạ ở Hà Nội. Cần bán căng tin trong cơ quan bộ nên có nhiều điều kiện thuận lợi để vun vén, chăm bẵm cho nó. Nhưng em càng chăm nó bao nhiêu, nó lại càng dửng dưng bấy nhiêu. Nó càng dửng dưng thì em càng yêu nó, càng quan tâm bao bọc nó hơn. Thậm chí em còn nhờ bạn bè tác động, nhất quyết phải chiếm được tình yêu của nó. Nó bắt đầu thấy sợ và tìm cách tránh né.

     Còn ít ngày nữa là Tết, nó hỏi thăm đường đến nhà anh Chính để đưa thư và quà. Nhà anh Chính là một nếp nhà tranh nằm giữa một cái xóm nhỏ thanh bình, ẩn sau những bụi tre, cây ăn quả xanh um tùm. Vợ anh Chính là một phụ nữ bé nhỏ, dịu dàng,  "mỏng mày hay hạt". Hai đứa con gái của anh Chính, đứa lớn mới 10 tuổi, đứa bé 6 tuổi. Nó đưa thư và quà của anh Chính cho chị.

     Chị đọc xong thư, trông chị rất buồn. Rồi như không thể dằn lòng, hai mắt chị đỏ hoe và những giọt nước mắt lặng lẽ lăn trên má. Giờ lâu, chị cất tiếng nói với nó :   

     -     Anh Chính yêu cầu chị ký đơn ly dị cho anh đi lấy vợ. Chị không đồng ý đâu.
           Hôm nào em vào, cho chị và 2 cháu vào cùng với nhé !

     Nó đã biết anh Chính có quan hệ với chị Mạo và chị Mạo đã có bầu. Nhưng nó cũng không ngờ chuyện vợ chồng anh chị lại đến nước này. Nó cảm thấy thương cho người vợ hiền của anh và hai đứa con còn nhỏ. Nó không thể không nhận lời đưa chị và các cháu đi cùng vào đơn vị. Cuộc đời thật là éo le lắm thay !

     Thày nó mất ngày mồng sáu thàng Chạp, đến ngày Tết thì mới có hơn hai mươi ngày. Công việc của nó ở Bộ Tư Lệnh đã xong. Nó đã nhận đủ phôi chứng minh thư quân nhân, phim, giấy ảnh, mực và lô lăn tay. Nó trở về quê ăn Tết trong một nỗi buồn vô hạn, bố thì mất, tình yêu cũng mất. Nó chỉ muốn hết phép cho nhanh để trở về đơn vị vì không chịu nổi cảnh ảm đạm u ám đè nặng trong tâm hồn.

     Đúng mồng 4 Tết nó chào bu và gia đình rồi ra đi. Nó lên ga Hàng Cỏ đón vợ con anh Chính, bốn người mua vé tàu đi Đà Nẵng. Tới Đà Nẵng nó cùng vợ con anh Chính lên xe đò đi Pleiku.

     Tối mùng 8 Tết nó và vợ con anh Chính đã có mặt ở trung đoàn bộ. Nó vào báo cáo với anh Chính là nó đã trả phép trước thời hạn và cũng báo với anh chính vợ con anh vào thăm. Anh Chính ra đón vợ nhưng nghe chừng không hài lòng. Chị và hai cháu được trung đoàn bố trí ở nhà khách của đơn vị, gần cổng vệ binh.

     Nó được phép nghỉ một ngày trước khi lên đường đi công tác. Nó chia quà Tết miền Bắc cho anh em rồi nhanh chóng chuẩn bị đồ đoàn cho chuyến đi công tác lẻ dài ngày.

Nguyễn Trọng Thập
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM