Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 09:52:47 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2  (Đọc 206194 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #120 vào lúc: 19 Tháng Mười, 2012, 04:54:34 pm »

(tiếp)

Báo viết: "Tôn vinh chiến thắng mới của Hồng quân". Hưởng ứng chiến thắng mới của Hồng quân vinh quang vừa giải phóng thành phố Terijoki, nữ công nhân tiện xuất sắc nhất của nhà máy đồng chí Ferapontova đêm 12 tháng 6 đã có một ca thi đua Stakhanov. Khi lao động trong dây chuyền sản xuất chi tiết số 37, cô đã sử dụng một dao tiện thay vì hai dao và đã hoàn thành nhiệm vụ ở mức 500%. Ngày 12 tháng 6 các chiến sỹ thi đua Stakhanov giỏi nhất phân xưởng là Babaeva, Matyushina, Lobkova, các đội công nhân tiên phong của các đồng chí Ruzanova, Evstratova, Morskova để tôn vinh chiến thắng vinh quang đã giành về mình những nghĩa vụ cụ thể, những nhiệm vụ lao động bổ sung. Kết quả lao động quên mình, tăng thêm sản phẩm cho mặt trận để chào mừng chiến thắng mới của Hồng quân tại tập thể lao động Cờ Đỏ phân xưởng № 3. Z.Feofilova, quản đốc phân xưởng lao động tiên tiến số 3".

Toàn thể cán bộ nhân viên của nhà máy ăn tại bếp ăn nha máy của mình, nơi đôi khi tôi cũng đã tới. Mẹ cho tôi vé ăn của bà, để tôi phần nào phục hồi lại sau nhiều tháng đói khát ở làng quê. Mùa hè, tôi được gửi đi trại hè gần ba tháng. Về việc này báo "Patriot" cũng viết trong bài báo "Hãy giương cao lá cờ!"

- "Ngày 13 tháng 6 trại hè thiếu nhi đã khai mạc trọng thể. Đúng 5:00 giờ chiều, theo hiệu kèn, các đội viên thiếu niên xếp thành hàng thẳng tắp. Sau hiệu lệnh “Nghỉ!”, đội trưởng thiếu nhi trại hè Volodia Samsonov báo cáo Tổng phụ trách thiếu nhi Ana Bulavin. Anhia đến lượt mình, báo cáo với trại trưởng Antonina Mikhailovna Nemchinova, trại trưởng lại báo cáo kỹ sư trưởng của nhà máy đồng chí Shiryaev về công tác những việc đã thực hiện trong vòng 12 ngày chuẩn bị và đã sẵn sàng khai mạc trại. Theo lệnh của đồng chí Shiryaev, lá cờ đỏ đã được kéo lên tại cột cờ chính, thông báo việc mở trại. Trẻ em gắn huy hiệu thiếu niên tiền phong danh dự cho đồng chí Shiryaev và đồng chí bí thư đảng ủy nhà máy, đồng chí ấy nói lời chúc mừng nhân dịp khai mạc trại hè cho các em, chúc các em nghỉ ngơi vui chơi tốt, lấy thêm sức mạnh mới để đạt được thành tích học tập xuất sắc. Phát biểu chào mừng còn có cả đại diện Ủy ban Trung ương toàn Liên bang, nữ đồng chí Melnik. Sau lễ khai mạc trọng thể là một cuộc biểu diễn nghệ thuật tự biên tự diễn của trại hè. N.Lvova".


Khai mạc trại hè - Trại hè thiếu nhi tại Krasnoarmeisk.

Và tất cả những điều ấy diễn ra trong giai đoạn những trận đánh khốc liệt với nước Đức Quốc Xã. Vâng, khi đó người ta nghĩ về thế hệ trẻ như vậy. Họ đã nuôi nấng chúng tôi rất tốt. Gần trại người ta bố trí một tuyến phòng thủ, tại đó có các chiến hào đào sâu ở tầm cao người, các hầm trú ẩn, nơi mà quân Đức đã đến rất gần. Giáo viên quân sự trong trại là một sĩ quan tham gia bảo vệ Moskva năm 1941, tại đó ông đã mất một cánh tay và một con mắt. Ông hướng dẫn chúng tôi tập đội ngũ, chơi trận giả, trong trại không có thời gian để buồn chán. Các nhân viên phụ trách đội thiếu niên đã cạn kiệt, các chàng trai không còn ai, tất cả ra mặt trận và vào nhà máy.

Trong năm sau, tôi không được đi trại hè nữa, nhưng ở trường học người ta "huy động" đi lấy trên than bùn. Họ phát xẻng, giao chỉ tiêu, chúng tôi đào các bánh than bùn và xếp chồng lên nhau theo một cách nhất định để người ta sấy khô.


Khai thác than bùn tại làng Tesovo huyện Novgorod. F.8025. Sách niên giám thống kê. D.2412. - "Ngày Chiến thắng, còn cách xa chúng ta ..." (kỷ niệm 65 năm Ngày Chiến thắng trong Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại 1941 - 1945.) - Chương 3 - (1941-1944) Chiến công Lao động ở vùng hậu phương Novgorod.

Khi kết thúc công việc người ta cho chúng tôi một miếng bánh nhỏ (bánh rán), thế là chúng tôi đã vô cùng hài lòng. Khi đi hái các cây thuốc, thu thập phế liệu kim loại cho nhu cầu của ngành công nghiệp chúng tôi cũng được đối xử như vậy.

Nếu tôi nhớ còn chính xác, thì trong năm 1943, Hồng quân đã áp dụng hệ thống quân hàm quân hiệu mới, việc này đã làm thất vọng mọi người khá nhiều. Đối với họ đó là các biểu tượng của quân Bạch Vệ. Bạn tôi Yura Likhachev cho biết: "Bây giờ đó sẽ là thứ để giành cho giới quý tộc, và các linh mục sẽ bắt họ hôn thập giá!"

Chúng tôi tổ chức một "đội du kích" chơi các trò chơi chiến tranh khác nhau trong một ngôi nhà chưa hoàn thành. Vì đã bám một sợi dây lớn đu từ tầng ba xuống được tầng hầm, tôi được "trao tặng" Huân chương Lenin, tấm huân chương được cắt từ sách ảnh đem dán lên một tấm bìa các tông. Một lần khác, khi đáp lời thách thức, tôi đã tụt từ tầng hai xuống bằng một đoạn dây thừng bện bằng vải, nhưng tốc độ tụt xuống quá nhanh và tôi đã bị tuột da lòng bàn tay. Bà ngoại, thay vì trừng phạt tôi, đã tức giận bôi rất nhiều iốt, khiến tôi xót đến mức tối tăm mặt mũi. Tính cách của tôi được tôi luyện như vậy đấy.



Cùng với mẹ, chúng tôi được xem bộ phim "Lúc 6 giờ buổi tối sau chiến tranh". Tôi còn mơ thấy bộ phim này suốt vài tháng sau khi xem. Chiến tranh vẫn đang diễn ra và bộ phim như vậy thật tuyệt! Đó là một sự hỗ trợ lớn lao về tinh thần cho nhân dân.

Mùa hè trẻ em đi chân trần để tiết kiệm giày, điều đó đã thành nề nếp. Lũ trẻ đánh nhau chảy máu đầu lần đầu tiên, một đấu một, đó là mật mã ngầm thể hiện danh dự. Một lần trên báo chí có viết về "Đội cận vệ Thanh niên", chiến đấu với quân Đức ở Krasnodon. Tôi cùng lũ trẻ bàn tán rất nhiều về chuyện này, chúng tôi đặt mình vào vị trí của họ, thành thật ngưỡng mộ chủ nghĩa anh hùng của những người Thanh niên Cận vệ.

Năm 1944, Mẹ được cử đến Latvia, Daugavpils (Dvinsk), nơi Mẹ bắt đầu làm việc trên cương vị biên tập viên tờ báo của quận. Bà ngoại, em gái và tôi ở lại thị trấn Krasnogorsk.

Việc cấp hơi ấm sưởi trong nhà suốt chiến tranh không làm được, do đó chúng tôi phải sưởi bằng lò nướng. Mẹ được chia hai súc gỗ dài khoảng sáu mét, chất thành đống cạnh nhà. Bà cùng tôi dùng rìu xẻ chúng ra. Tôi đã 10 tuổi, sức mạnh còn chưa đủ, nhưng vẫn tham gia cưa xẻ, Bà cũng không còn là Ilya Muromets, tay bà nhanh chóng bị tưa và rất đau. Bạn không còn sức nhưng biết làm sao, vẫn phải cố gắng thôi... Bổ củi cũng không phải là dễ ăn.



Mùa đông lạnh giá, và củi hết rất nhanh. Bà đưa cho tôi chiếc giỏ và bảo tôi vào khu rừng gần đó, để tôi nhặt quả thông, cành cây khô và vỏ những cây thông già. Một nhân viên hậu cần nào đó đi qua khu rừng đã hét lớn rằng tôi là kẻ tội phạm, ăn trộm của nhân dân, và ông ta đuổi theo tôi. Tôi chạy thoát được ông ấy, nhưng trở về nhà mà không mang được củi về để sưởi. Lần đi mót củi tiếp theo, tôi thận trọng hơn, ngụy trang rất cẩn thận.

Số tiền mà mẹ để lại, rồi cũng hết, Bà xoay xở chạy vạy hết mức để nấu được súp, gom từng hạt mạch. Mà tôi cũng chẳng có gì để mặc. Bà lấy một cái vỏ chăn cũ khâu cho tôi một cái quần ống rộng, rất giống quần của những người Cossacks Zaporogie. Cặp sách không có, tôi tự làm một chiếc túi xách từ những mặt nạ phòng độc vương vãi trong khu rừng xung quanh. Trong chiếc quần dài ống rộng, khoác chiếc túi, tôi đến trường học, tại trường tôi gây nên sự thán phục của các bạn cùng lớp với mình.

Cuối cùng, thư của Mẹ cũng đến với anh em tôi, trong đó Mẹ viết:
"Chủ Nhật 24 Tháng Chín năm 1944. Chào Mẹ và các con yêu quý! Con sẽ kể mẹ nghe bắt đầu từ chuyến đi và chuyện sắp xếp công việc thế nào. Con đến nơi sáng hôm qua, trên đường đi có 3 lần nghỉ tạm, chỉ có đoạn từ Moskva đến Velikie Luki là đi tàu khách, còn từ Velikie Luki đến Nevel đi bằng xe tải, từ Nevel đến Polotsk đi toa tàu không mui, từ Polotsk đến Dvinsk lại đi xe tải. Buổi sáng ở Dvinsk con chia tay với các bạn đi đường, con thuê một cậu bé mang đồ đạc đi thẳng từ nhà ga theo đường phố Riga về thẳng khu trung tâm.



Con đã nhanh chóng tìm được chỗ làm việc của mình, nhưng còn phải chờ đợi vì trời còn sớm và các nhân viên hầu như chưa đến. Trình xong mọi giấy tờ, con đề nghị cho nghỉ một vài ngày tại Dvinsk. Con được bố trí ở ký túc xá, tắm rửa xong, con thay quần áo, đi ăn tối, và mặc dù còn mệt mỏi, con vẫn đi tham quan thành phố.

Thành phố bị phá hủy rất nhiều, có những đường phố hầu như không còn nổi một ngôi nhà nguyên vẹn. Đây là kết quả các vụ nổ mìn phá hoại mà quân Đức quốc xã đã gài lại trước khi rút chạy. Trên các tòa nhà, hàng rào vẫn còn những dòng chữ mới viết của công binh quân ta "nhà đã gỡ xong mìn", có nghĩa là ngôi nhà đó đã an toàn, và nói chung toàn thành phố đã quét sạch những thứ rác rưởi đó. Không gian đã yên tĩnh lại từ lâu. Thành phố, mặc dù bị thiệt hại nghiêm trọng, vẫn cho con ấn tượng tuyệt vời.

Tất cả là những ngôi nhà xây bằng đá, kiến trúc đẹp, các đường phố thẳng tắp, bó vỉa lát đá ngay ngắn, vỉa hè rộng, mặt đường trải nhựa, mọi thứ đều rất sạch sẽ. Daugava đẹp lắm, nhưng cây cầu qua sộng đã bị phá sập, và người ta dùng cầu phao tổ chức qua sông, như ở Irkutsk. Có lẽ con sẽ phải sống ở đây đến mùa xuân.


Cầu Thống Nhất năm 1944

Người dân ở đây trước chiến tranh sống rất sung túc, đó vẫn là điều hiển nhiên ngay cả bây giờ, sau ba năm người Đức chiếm đóng, những kẻ đã cố gắng cướp tất thảy đưa về nước mình, nhưng mọi thứ vẫn khác hẳn chỗ chúng ta. Vật dụng dù là thứ đơn giản nhất, cũng mang dấu ấn của những sản phẩm đẹp có chất lượng tốt và trang nhã. Chợ vẫn còn hoạt động kém.

Người phụ nữ cùng làm chỉ cho con một căn hộ. Đây là một nửa ngôi nhà của cùng một người chủ, nhà có ba phòng và một nhà bếp. Cô ấy chiếm cho mình một phòng, cô ấy còn chưa lập gia đình, con ở một phòng, còn phòng kia để dự trữ. Bếp ăn thì như Mẹ nói với con: bếp nấu, cạnh bếp nấu có bình đun nước nóng, lò nướng bánh, tất cả đều được lát gạch. Đồ nội thất bây giờ chưa có, nhưng sẽ có chỉ bằng nửa giá thành thông qua Ban Tài chính-Quản trị, cơ quan chịu trách nhiệm các vấn đề này. Dân địa phương, những người đã bỏ đi cùng người Đức, đã chở hết các (đồ gỗ) đi cùng đến nơi mà nó được trưng dụng.

Con nghĩ rằng một thời gian nữa sẽ thu xếp xong mọi việc. Không có gì xảy ra mà không có khó khăn. Điều chính yếu bây giờ là làm việc, tổ chức lại từ đầu và chiếm được sự tín nhiệm ở nơi công tác mới. Con quên chưa viết cho mẹ biết về thực phẩm, nhưng việc đó mẹ đừng lo. Ở đây có một nhà ăn, tại đó người ta cho ăn ba lần một ngày bằng bánh mì. Về tiền lương và các chuyện khác thì con chưa biết, nhưng chắc không có thay đổi gì đặc biệt. Con sẽ nhanh chóng về đón mọi người. Con gửi những cái hôn thắm thiết cho mẹ và các cháu".

Vậy là chúng tôi chuyển đến Iluksta, chúng tôi được bố trí một căn hộ hai phòng. Nhà trường nằm ở nơi cao nhất thành phố, đó là một tòa nhà năm tầng, tại đó người ta giảng dạy bằng cả tiếng Nga và tiếng Latvia.



Trước cổng trường là một công viên, ở phần cuối công viên có một bức tượng Chúa Giê-su cao 3 mét đóng đinh trên Thập Giá. Mỗi khi lũ trẻ đi học về, chúng đều đi ngang qua bức tượng này.

Các giáo viên của chúng tôi là người địa phương, họ giảng dạy như thời còn là một nước cộng hòa tư sản, và như trong thời gian quân Đức còn chiếm đóng. Nữ giáo viên tiếng Nga là vợ của một linh mục Chính thống giáo, và con gái của họ cùng học với tôi một lớp. Thành phố có ba nhà thờ: Chính Thống Giáo, Công Giáo và Tin Lành. Ngôn ngữ Latvia là ngôn ngữ phải học ngay từ đầu, nghĩa là từ lớp 1 đến lớp 5. Khi chúng tôi sống ở Krasnogorsk, Bà và Mẹ đã dạy tôi tiếng Latvia, dù tất nhiên còn nhiều thiếu sót.

Mùa đông năm 1944, tôi gặp một đứa trẻ cùng độ tuổi tôi, đến Ilukste bằng con ngựa của mình kéo theo một chiếc xe trượt tuyết, cậu ta chở ai đó đến từ trang trại. Cậu trai tự hào về các ông anh của mình, họ đã phục vụ trong quân đội Đức, một trong số đó là hạ sĩ quan. Tất cả bọn họ khi đó còn bị vây trong dải đất Kurliandsk, sau này bị quân đội của chúng ta tiêu diệt năm 1945.

Trong hạt có các nhóm vũ trang còn sót lại hoạt động trong rừng sau khi người Đức rút lui. Chúng bao gồm chủ yếu là các toán Aizsarg (tiếng Latvia Aizsarg là «cảnh bị"). Họ là lực lượng dân quân bán quân sự tại Latvia giai đoạn 1919-1940. Họ được thành lập ngày 20 tháng 3 năm 1919 bởi nghị định của Chính phủ Lâm thời Latvia và Bộ trưởng Bộ nội vụ M.Walters như là một tổ chức tự vệ bán vũ trang ở khu vực nông thôn - làm nhiệm vụ trợ giúp lực lượng cảnh sát (thể hiện trong việc hỗ trợ cảnh sát tiến hành tìm kiếm và bắt giữ tội phạm, tuần tra đường giao thông, chống-cướp ở nơi có chiến sự sau Nội Chiến) và hỗ trợ quân đội (trong thời chiến) - nghĩa là làm nhiệm vụ Cảnh vệ Quốc gia.


Ảnh chụp cùng các sỹ quan Ba Lan. Phía sau, đứng giữa tướng Каrlis Prauls và đại tá Vladislav Rusin là lãnh đạo cơ quan thông tin Bộ Tổng tham mưu LL Cảnh Bị - Alfred Berzinyts [Alfrēds Bērziņš] - nhà tư tưởng chính của chế độ tự trị quốc gia Ulmanis và LL Cảnh Bị. - Аisarg, ảnh chọn lọc.

Quân Cảnh Bị sống ở khu vực biên giới, thực hiện phụ trợ tuần tra biên giới. Về tổ chức họ có thể tiếp nhận các nam công dân từ 20 tuổi trở lên (sau khi hết hạn phục vụ trong quân đội) cho đến 60 thuộc bất cứ quốc tịch nào. Chúng tôi gọi họ là phỉ, và cậu trai này gọi họ là các Anh Em Rừng Xanh. Quân phỉ thường xuyên chiến đấu chống lại chính quyền xô viết. Bộ Nội vụ (NKVD), đã tổ chức các đội "chim ưng" từ các phần tử nông dân nghèo nàn nhất, cấp cho họ súng trường và đạn dược. Về mùa đông quân phỉ ẩn náu tại các nơi trú ẩn, khi vào xuân lại tích cực hoạt động.
........
« Sửa lần cuối: 20 Tháng Mười, 2012, 10:47:29 am gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #121 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2012, 10:48:03 am »

(tiếp)



Mẹ được bổ nhiệm làm trưởng ban biên tập tờ báo của hạt. Từ Moskva, có lệnh tiến hành tập thể hóa. Latvia, không có làng, chỉ có điền trang của các hộ gia đình nông dân, tại đó các thành viên gia đình tự mình làm công việc đồng áng, trước khi có chính quyền xô viết họ có thể thuê mướn lao động. Sau cuộc họp thường xuyên của cơ quan Đảng bộ hạt thuộc Đảng Cộng sản Liên Xô (b), đã  có quyết định cử các thành viên Đảng bộ xuống địa phương giải thích-vận động thực hiện chủ trương của Đảng.

Người lái xe chở Mẹ đi, Mẹ ăn mặc rất giản dị cùng một chiếc khăn choàng đầu. Bọn phỉ phục kích sẵn, chúng không chặn Mẹ và người lái xe lại mà để cho họ đi, sau này mới biết chúng đang chờ đón bí thư thứ nhất đảng ủy hạt Matuz. Ông ấy đi một chiếc xe chiến lợi phẩm của Đức (loại BMP), đi kèm hộ tống ông là một nhóm quân của Bộ Nội vụ và nhóm “Chim Ưng”. Bọn phỉ bắn họ, trận chiến đấu bắt đầu, quân ta hy sinh bốn người, họ được chôn cất trong nghĩa trang, đó là những nạn nhân đầu tiên, tới tháng 5 năm 1945 tại nghĩa trang đã có trên 150 ngôi mộ. Mẹ đã được Đức Chúa Trời cứu thoát, Mẹ trở về không hề hấn gì, không kể gì cho chúng tôi, vẻ ngoài hoàn toàn bình tĩnh.

Về mùa hè, tôi cùng hai người bạn đi chơi hồ, cách thành phố khoảng hai cây số. Khi chúng tôi đến nơi và đang định nhảy xuống bơi thì từ trong những bụi rậm những viên đá to bay thẳng về phía chúng tôi. Chúng tôi sợ hãi chạy về nhà, lúc lúc lại ngoái đầu nhìn lại. Khi chúng tôi đã chạy khá xa, từ trong những bụi cây đó có một nhóm năm người đi ra, họ mặc quân phục Đức, và mang theo vũ khí.

Về tới nhà, tôi kể cho Mẹ nghe chuyện xảy ra với chúng tôi và những gì mà chúng tôi đã thấy. Một nhóm binh sĩ và đội Chim Ưng được phái đến hồ. Tất cả năm tên cướp đã bị giết trong cuộc giao tranh, xác chúng được chở về quảng trường trước tu viện cũ, vốn đã bị đốt cháy trong cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất vì bị pháo kích. Xác chết được đặt trên quảng trường, có người canh gác. Chúng được để đó ba ngày, để thân nhân đến nhận.


Không ai muốn chết (Vytautas Zhalakyavichyus). 1965

Tôi cùng bọn trẻ em thường đi chơi trong các khu rừng bao quanh Ilukste. Một lần, chúng tôi đi vào rừng dọc theo đường ô tô dẫn về thành phố Daugavpils. Ở đó có rất nhiều chiến hào, trong đó chúng tôi tìm thấy một quả lựu đạn Đức có tay cầm dài, rất thuận tiện cho việc thực hiện động tác ném. Đây là loại lựu đạn cầm tay tấn công chống bộ binh của Đức với cán gỗ kiểu Stielhandgranate. Chúng tôi quyết định sử dụng nó đúng mục đích, tôi tháo nắp chụp ở đầu mút cán, giật nụ xòe và ném quả lựu đạn qua chiến hào, tất cả thụp người xuống đáy công sự, lựu đạn phát nổ khoảng 8 giây sau. Ngoài ra có rất nhiều viên đạn và mẩu TNT. Mỗi người mang chiến lợi phẩm của mình trở về nhà. Trong số chúng tôi có một cậu trai lớn hơn chúng tôi ba tuổi. Cậu mang theo một chai samargon và một miếng thịt xông khói. Tại chỗ nghỉ chân, cậu uống hết chai rượu và chẳng mấy say khướt. Khi chúng tôi đi tiếp, tôi nhìn thấy một trái mìn Đức, nhô ba chiếc râu mìn lên khỏi mặt đất.

Đó là một loại mìn được sử dụng rộng rãi trong Chiến tranh thế giới thứ Hai. Nó được thiết kế để chống lại bộ binh tấn công. Người ta phát triển hai phiên bản SMI-35 và SMI-44. Chỉ có một sự khác biệt rất nhỏ giữa hai phiên bản. Trong thời gian quân Đồng minh chuyển sang phản công ở châu Âu, mìn S được gọi bằng một biệt hiệu trứ danh do lục quân Hoa Kỳ đặt cho "Betty nhảy nhót» («Bouncing Betty»). Mìn S có tác động tâm lý lớn đến lực lượng Đồng Minh. Trên mặt trận phía đông nó thường được gọi là "mìn nhái", hoặc theo kiểu Đức "shpringmina".


Mìn nhái

Tôi hét lên để lũ trẻ phải cẩn thận. Cậu trai say rượu, nhấc cao chân mình qua các râu mìn và bắt đầu dọa chúng tôi chuyện gì sẽ xảy ra, chúng tôi chạy hộc tốc ra đường ô tô vừa chạy vừa la, sau đó cậu ta cũng đến tập hợp cùng chúng tôi.

Tôi nhớ lớp học của chúng tôi được người ta phái đi lấy củi trong rừng như thế nào, tại đó chúng tôi xẻ những cây gỗ vừa sức với chúng tôi.

Vào mùa thu năm 1945, tôi đọc được trên báo rằng Trường thiếu sinh quân hải quân Nakhimov Riga bắt đầu nhận quân, tôi đã 12 tuổi. Chúng tôi được mượn chiếc xe chiến lợi phẩm của bí thư thứ nhất, Mẹ chở tôi đến Riga, ba đội viên Chim Ưng cùng vũ khí đi hộ tống chúng tôi, bởi vì trên các tuyến đường bộ bọn phỉ vẫn đang hoạt động. Trên đường cao tốc mà chúng tôi đang đi, mới đây thôi đã có ba phi công bị giết chết, họ đi đến Willis. Bọn phỉ lấy dây cáp chăng ngang đường xe chạy. Đến nửa đường thì hỏng  thanh kéo lái bánh xe trước bên trái. Chúng tôi dừng lại trên đoạn đường cao tốc mà chúng tôi đang đi, xung quanh hai bên là những cây vân sam khổng lồ, việc xảy ra khi trời đã chuyển về chiều, xung quanh không gian đang tối dần và ảm đạm. Đội viên Chim Ưng lập hàng rào bảo vệ, người lái xe tập trung sửa chữa bằng cách sử dụng "dây thừng và cây gậy". Trên đường cao tốc một người đàn ông đang đến gần chúng tôi, đội viên Chim Ưng chặn anh ta lại kiểm tra giấy tờ, sau đó cho anh ta đi. Vấn đề cuối cùng cũng được giải quyết, và chúng tôi lái xe đi tiếp đến thị trấn gần nhất, ngủ đêm lại đó và chiếc xe đã được sửa chữa. Tiếp theo, chúng tôi lái xe đi đến Riga một cách an toàn, tại đó Mẹ giao tôi và các giấy tờ cho nhà trường. Chiến tranh và thời thơ ấu đã kết thúc, phía trước là sự nghiệp học tập ở trường dự bị hải quân.


Cửa chính vào Nhà Học tập trường dự bị hải quân Nakhimov Riga (trích album của F.G.Kuzovkov).

Kopiev Aleksandr Fedorovitch ("Một chút về hạm đội tàu ngầm và những con người của nó"): "Trong Lực lượng Hải quân Xô viết có các đô đốc và sỹ quan như: Golosov Rudolph Aleksandrovitch, Berzin Alfred Semenovitch, Styrov Anatoly Tikhonovitch, Gromov Boris Ivanovitch, Davydovitch Boris Glebovitch, các đại tá hải quân Khraptovitch Albert Ivanovitch, Semenov Arkady Ivanovitch, Vdovin Victor Vladimirovitch, Gontarev Valery Pavlovitch, Lyudmirsky Isaac Iosìovitch, Gnatusin Fedor Ivanovitch - họ bây giờ sống ở Moskva và St Petersburg, Obninsk, Vladivostok Họ không trở thành các tư lệnh hạm đội và tư lệnh các đơn vị chỉ vì một lý do duy nhất: họ gọi sự vật bằng đúng tên gọi của nó, gây khó chịu cho các thủ trưởng cấp trên, họ là các chuyên gia viết bằng chữ hoa, họ tôn trọng mọi người và luôn lo lắng cháy bỏng cho hạm đội ".



Alfred Semenovitch Berzin sinh ngày 19 tháng 6 năm 1933 tại thị trấn Krasnogorsk, tỉnh Moskva.

Đào tạo: Tốt nghiệp năm 1955 Trường cao đẳng tàu ngầm hải quân VVMUPP tại Leningrad (ВВМУПП - Высшее военно-морское училище подводного плавания) -  (khoa hoa tiêu, chuyên ngành "sĩ quan-hoa tiêu tàu ngầm"); năm 1963 - khóa 6 Lớp Bổ túc Cao cấp Chuyên ngành cho Sỹ quan Hải quân VSOK 6 (khoa chỉ huy, chuyên ngành "thuyền trưởng tàu ngầm"); năm 1974 - AKOS (Академические курсы офицерского состава - bổ túc chương trình học viện cho thành phần sỹ quan) VMA (chuyên ngành "tham mưu-chỉ huy, tác chiến-chiến thuật Hải quân").

Quá trình phục vụ: học viên khóa 1 Cao đẳng tàu ngầm hải quân VVMUPP (08.1951); trưởng  nhóm bánh lái ngành hoa tiêu tác chiến  (ngành 1) tàu ngầm "S-264" đề án 613 hạm đội Baltic (10.1955); trưởng ngành 1-4 tàu ngầm "S-264" đề án 613 hạm đội Baltic (06.1957); thuộc quyền trực tiếp của tư lệnh lực lượng tàu ngầm hạm đội Baltic (11.1958); trợ lý thuyền trưởng "S-163" đề án 613 hạm đội Baltic (07.1960); trợ lý chính của thuyền trưởng "S-279" đề án 613 hạm đội Baltic (09.1961); học viên VSOK Hải quân (12.1962), trợ lý thuyền trưởng "K-56" hạm đội Thái Bình Dương  đề án 675 (07.1963); trợ lý chính thuyền trưởng "K-31" đề án 675 hạm đội Thái Bình Dương ( 10.1965), thuyền trưởng "K-184" đề án 675 hạm đội Thái Bình Dương (02.1969); học viên AKOS VMA (10.1973); thuộc quyền Tổng tư lệnh Hải quân, Leningrad (07.1974); Tham mưu trưởng-Phó tư lệnh sư đoàn tàu ngầm số 26 hạm đội Thái Bình Dương (08.1974); Phó tư lệnh sư đoàn tàu ngầm số 10 hạm đội Thái Bình Dương (09.1976); Tư lệnh sư đoàn tàu ngầm số 10 hạm đội Thái Bình Dương (08.1977); Chủ nhiệm khoa Hệ Bổ túc Cao cấp Chuyên ngành cho Sỹ quan Hải quân VSOK (08.1982).

Khen thưởng: Huân chương Sao Đỏ (1972), "Phục vụ Tổ quốc trong lực lượng vũ trang Liên Xô" bậc 3 (1988) và các huy chương "40 năm lực lượng vũ trang Liên Xô" (1957), "Phục vụ gương mẫu" bậc 3 (1962), "20 năm ngày Chiến thắng Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại 1941-1945" (1965), "Phục vụ gương mẫu" bậc 2 (1967), "50 năm lực lượng vũ trang Liên Xô" (1967), "Vì lòng dũng cảm của quân nhân nhân dịp kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh của Lenin" (1970), "Phục vụ gương mẫu" bậc 1 (1971), "60 năm lực lượng vũ trang Liên Xô" (1978), "Cựu chiến binh lực lượng vũ trang Liên Xô" (1984), "70 năm lực lượng vũ trang của Liên Xô" (1988).
Tham gia các chiến dịch phục vụ chiến đấu tại: Bắc Đại Tây Dương, Biển Philippine, "Biển Nam Trung Hoa", Bắc Băng Dương, Bắc Thái Bình Dương, Biển Baltic. Có giấy phép điều khiển tàu ngầm các đề án 613, 675, 675MK, 670.



Những tặng vật gần gũi và vô cùng thân thiết với trái tim người chiến sỹ tàu ngầm và luôn được gìn giữ cẩn thận.

« Sửa lần cuối: 21 Tháng Mười, 2012, 11:45:57 am gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #122 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2012, 06:54:30 pm »

(tiếp theo post #120)

Cuộc đời trong ống kính tiềm vọng. Ảo ảnh của một thủy thủ tàu ngầm còn sót lại.
Chuẩn đô đốc A.T.Shtyrov.

SỰ KHUYẾN KHÍCH ĐỐI VỚI CÔNG VIỆC PHỤC VỤ TRÊN TÀU NGẦM

"Các công nhân lái máy kéo ngầm dưới nước" không được người ta nuông chiều bằng huân chương. Nếu huân chương được trao, thì người ta rất keo kiệt và hầu hết là được phân phối trong các dịp lễ kỷ niệm: "tặng tất cả các chị em bông đeo tai". Được quan tâm nhất trong thời làm Tổng tư lệnh Hải quân của của Đô đốc hạm đội S.Gorshkov là hạm đội hạt nhân. Những con người của hạm đội hạt nhân thường xuyên được trao tặng huân chương, dù rằng các thủy binh hạm đội tàu ngầm diesel đôi khi hoạt động trong các điều kiện khó khăn hơn nhiều, mà họ phải thực hiện những nhiệm vụ không kém phức tạp hơn. Danh hiệu Anh hùng thì các thủy thủ tàu ngầm diesel "các chàng lái máy kéo" rõ ràng không với tới.

Nhưng Tổng tư lệnh nhìn xa trông rộng và khôn ngoan đã khéo léo dập tắt những bất mãn nội bộ. Ông lập ra một huy hiệu-huy chương cài ngực áo "Vì chuyến hành quân xa" («За дальний поход») với hình ảnh biểu tượng một chiếc tàu ngầm (sau này đối với các thủy binh tàu mặt nước - đó là biểu tượng miêu tả một chiếc tàu tuần dương). Những phù hiệu này được Tổng tư lệnh Hải quân trao tặng đích danh theo sắc lệnh và nhiều khi còn có giá trị cao hơn cả huân chương.

Cũng đáng để xem các thủy thủ và hạ sỹ quan tự hào thế nào khi gắn phù hiệu đó lên đồng phục của mình, và các trung úy gắn lên áo khoác, khi đi nghỉ phép tại Sosnovka và Berezovka thân yêu. Tuy nhiên, giống như tất cả mọi thứ trong Cường Quốc của chúng ta, chiếc phù hiệu-biểu tượng này nhanh bị mất giá: các thủy thủ tàu ngầm hạt nhân bắt đầu đẽo gọt phù hiệu riêng của họ, luôn luôn là một chú "cá heo"; các nỗ lực của cơ quan chính trị làm cho việc tặng thưởng huy hiệu "Vì chuyến hành quân xa" trở nên dễ dàng với tất cả những người được rời bờ ra biển ít nhất là nửa ngày: các thanh tra viên, nhà báo, nghệ sĩ, "các sếp" nông trang tập thể. Sau này người ta bắt đầu phát hành huy hiệu cho một nhóm người, cho bất kỳ ai muốn có. Niềm tự hào của thủy thủ tàu ngầm chuyên nghiệp đã mất giá như vậy đấy.



Cũng có những khuyến khích vật chất, chẳng hạn: nếu bạn đi biển xuyên đại dương, tàu của ban vượt qua các kinh tuyến và vĩ tuyến cụ thể (mỗi hạm đội - có quy định của nó) thủy thủ được thanh toán thêm các món "bonus" (thay thế cho đồng rúp chuyển đổi được), mà các thủy thủ thực sự không nghĩ được phải làm gì với nó.

Đã có phát sinh việc đầu cơ từ một số nhà chỉ huy hải quân, đánh tráo món bonus trả cho thủy thủ gấp đôi lên bằng đồng rúp. Nhưng đây là những trường hợp riêng lẻ. Trong tài liệu này tôi không đề cập đến tên của những người (họ có chức vụ cao), đã phá vỡ sự nghiệp của mình với những vụ áp phe xấu xa như vậy.

Thủy thủ tàu ngầm được hưởng quyền ưu tiên nhận vé đi an dưỡng, được tạo việc làm cho các bà vợ trong các doanh trại đồn trú hỗn hợp, họ được nhận quân hàm sỹ quan sơ cấp sớm hơn một chút và có thể về hưu cũng sớm hơn một chút.

KỶ LUẬT

Vấn đề kỷ luật trên tàu ngầm luôn luôn khác hẳn vấn đề kỷ luật trên tàu mặt nước. Các tập thể trên tàu ngầm gắn bó với nhau nhiều hơn hoặc kém hơn sẽ là nhân tố quan trọng trong việc đảm bảo bảo vệ con tàu chống lại những tiêu cực phổ biến trên các tàu mặt nước lớn. Thứ nhất, thủy thủ đoàn tàu ngầm quân số ít hơn và "ai cũng biết rõ nhau"; thứ hai, việc tuyển chọn của cấp chỉ huy quân sự nghiêm ngặt hơn - không phải ai người ta cũng chọn xuống tàu. Và thứ ba, ở một mức độ nào đó, đối với thủy thủ tàu ngầm câu châm ngôn cũ này vẫn luôn chiếm ưu thế: "trên tàu ngầm nếu chết thì tất cả cùng chết".



Hadjiev Magomed Imadutinovitch: "Không ở đâu có thể có được sự bình đẳng trước cái chết như với thủy thủ đoàn tàu ngầm, tại đó hoặc mọi người đều chết hoặc mọi người đều chiến thắng".

Án mạng thì không bao giờ. Các cuộc ẩu đả không được khuyến khích. Việc khua khoắng đồ trên hầu hết các tàu ngầm là không có. Việc ma cũ ma mới bắt nạt nhau cũng không. Không chỉ với các tàu "xuất sắc", mà các tàu bình thường, tầm thường đi nữa thì niềm tự hào về con tàu, về kíp thuyền viên, về nghề nghiệp lao động cực nhọc của mình luôn luôn tồn tại.

Có những khoảnh khắc khi một bộ phận các thủy thủ bị giải nhiệm lên bờ (do bệnh tật, hoặc vì các lý do khác) họ sẽ phẫn nộ phản đối: "Anh không có quyền! Tôi sẽ phục vụ đến cùng trên con tàu của tôi! Tôi sẽ phản đối lên tận Tổng tư lệnh!". Và điện tín của thủy thủ chuyển tải một cách chính xác thông tin về những con tàu, ở đó: người quân hàm cao hơn - gọi là "anh" và họ không xúc phạm người chỉ huy trẻ tuổi - còn những con tàu khác - tất cả đều như nhau.

Nhưng tất cả những điều này, tất nhiên chỉ là phần "hoa thơm". Còn có cả những món "độc dược". Về cơ bản, chúng được diễn đạt tùy ý và theo "thói quen" của tập thể. Gián tiếp góp phần tạo ra điều đó là "phương pháp giáo dục-thuyết phục" và kỷ luật kế toán thống kê kép. Tại các đơn vị áp dụng phổ biến một hệ thống hồ sơ kỷ luật ranh mãnh và phức tạp: nếu một thủy thủ say rượu bị bắt trong lãnh địa của đơn vị, mà không phải thuộc quyền chỉ huy của đơn vị đồn trú - số liệu thống kê không tính; một "tập thể" sẽ chịu trận do một hành vi vi phạm kỷ luất thô bạo, thêm một lần nữa, nếu nó qua tay ban quân quản. Có những trường hợp được ghi nhớ khi tại căn cứ hải quân, nơi có hàng ngàn thủy thủ quân sự, trong những ngày lễ XHCN lớn, người ta không ghi nhận được bất kỳ vụ say rượu nào, trừ khi một trong các thủy thủ tàu ngầm tỉnh dậy trên chiếc giường kỷ luật của ban quân quản. Đó sẽ là một bản ghi của anh, văn phòng ban quân quản sẽ chế ra miếng bánh của mình.



Trên các tàu mặt nước cỡ lớn họ có những hình phạt riêng (mặc dù trái phép); các đơn vị tàu ngầm không bố trí nhà giam. Người ta cho rằng đối với đời phục vụ của họ - đó là các doanh trại đơn vị đồn trú. Doanh trại thì luôn đông đúc như kiểu Trung Quốc. Có một vấn đề tồn tại đã lâu: làm thế nào để tống giam một thủy thủ đã bị tuyên bố bắt giữ? Vì vậy, trước khi tuyên bố bắt giữ cậu thủy thủ nghịch ngợm, người chỉ huy suy nghĩ rất lung cách làm sao thực hiện quyền lực của mình mà không phải thấy những nụ cười ranh mãnh trong hàng quân?

Ở đây có một phương pháp đã được chứng minh sẽ trợ giúp ta rất tốt: biên bản bắt giữ được ghi thêm hiện vật đi kèm (chai rượu "sil" và hộp cá taranka). Hiện vật tác động rất tốt - "anh hãy kê biên thêm cho chính mình - cả một đường phố màu xanh lá cây". Để lấy chỗ giam những tên cướp biển gan dạ dưới lòng biển, chất "bộ binh" được giũ sạch khỏi phòng, các thủ trưởng "lục quân", theo lệ thường, không nâng chiến lược kỷ luật lên một tầm cao như thế.

Tôi có một câu chuyện đáng nhớ.
Năm 1955. Bộ trưởng Quốc phòng Zhukov đến thăm vùng Viễn Đông. Người ta sợ Zhukov đến mức mắc chứng nói lắp và hội chứng gấu đông.

Tại lữ đoàn tàu ngầm Ensk, nơi đang gấp rút chuẩn bị chúc mừng cuộc viếng thăm của Nguyên soái, tất cả doanh trại nhà cửa được lau sạch sẽ, người ta cạo sạch hà cầu tàu, giẫy cỏ dọn sạch ổ mối kiến. Có người sực nhớ ra: còn đường ray nữa (để vận chuyển ngư lôi từ kho vũ khí ra cầu cảng) - nó đang bị gỉ! Người ta bỏ ra một số lượng lớn công sức, đánh gỉ, lấy vải chà kỹ, bôi trơn bằng dầu mỡ. Bóng nhoáng!

Tất cả tập hợp thành đội ngũ. Mọi người mặc quân phục mới tinh. Bộ trưởng - được trông chờ từng phút. Ban chỉ huy lữ đoàn chạy lên chạy xuống dọc hàng quân, gặm ngón tay, cọ ngón chân mà lo lắng. Người ta bố trí qua cánh cổng mở sẵn - để nhìn thấy từ xa - các thông tín viên đánh tín hiệu tay trá hình. Cuối cùng họ cũng đánh về tín hiệu "Sếp đang đến! Xe đang đến! "

Tất cả cứng đờ người. Đúng lúc đó, các thủy thủ phòng nồi hơi chụp cho chú dê Vaska của doanh trại một chiếc áo sọc xanh thủy thủ rách nát, họ xoắn đuôi của nó và thả nó chạy rông.

Tức giận bởi thái độ này, cậu dê cưng Vaska hí lên một tiếng "be!" rất to và vội vã lao ra với cộng đồng hải quân, đang đứng nghiêm chết cứng trong hàng lối ngay ngắn.

Đúng là một vụ bạo động. Thủ trưởng Lữ đoàn vò đầu bứt tai: "Đuổi đi ngay! Giết ngay tên vô lại!" Nhưng con dê khéo léo lách vào giữa các hàng quân, nó vừa rung rung râu vừa cố gắng dùng sừng húc những người muốn bắt nó.

May thật là may, các cậu đánh tín hiệu đã lầm: thay vì Bộ trưởng đi trên xe jeep thì lại là một quan chức quân sự nào đó. Còn Bộ trưởng đã đột ngột thay đổi lộ trình của ông.
May thay ...


Bộ trưởng Quốc phòng Nguyên soái Liên bang Xô viết G.К. Zhukov với các nhà chỉ huy quân sự Liên Xô. Năm 1955. Từ trái sang phải: Chủ tịch Ủy ban An ninh Quốc gia trung tướng I.А.Serov, Phó Tổng tư lệnh Không quân Nguyên soái Không quân А.А.Novikov, G.К.Zhukov, Thứ trưởng thứ nhất Bộ Quốc phòng Liên Xô, Tổng tư lệnh Hải quân N.G.Kuznetsov, Phó Tổng tư lệnh thứ nhất Hải quân phó đô đốc S.G.Gorshkov.

NHỮNG "CHA ĐẺ" NỔI TIẾNG CỦA HẠM ĐỘI TÀU NGẦM DIESEL

Trong khi giành sự kính trọng sâu sắc cho những người sáng lập và các "cha đẻ" của hạm đội tàu ngầm diesel, tác giả nói chung không định "đưa" họ ra dưới dạng một sự phản ảnh kiểu lý lịch hóa. Và tôi cố gắng xác định họ trong câu chuyện lịch sử như cách mà họ được nhìn nhận và nhớ đến trong những năm khó quên của đời phục vụ tàu ngầm bởi các học trò và cấp dưới của mình.

Tất cả chúng ta - không phải là thiên thần với đôi cánh bằng sáp. Tuy nhiên, "không được lãng quên ai, không có gì bị quên lãng". Và những con người ấy, các bậc thầy chân chính trong ngành nghề của mình, đôi khi vẫn bị lãng quên một cách không xứng đáng.



Savitch-Demyanyuk Vasily Ivanovitch (đầu những năm 195x là tư lệnh sư đoàn tàu ngầm của Hạm đội 7, sau đó - chỉ huy lực lượng tàu ngầm Hạm đội Biển Đen, chuẩn đô đốc).
Ông là mối đe dọa với các chỉ huy đơn vị tàu ngàm và các căn cứ bờ. Sự đòi hỏi của ông cao đến khắc nghiệt. Một con người tự hào và tàn nhẫn. Một nhà giáo dục thông minh cho các thủy thủ tàu ngầm trẻ tuổi thế hệ đầu tiên sau chiến tranh.

Chính là ông trong thời đại Beria (1952, Kamchatka), bất chấp các hướng dẫn nghiêm ngặt từ Moskva đã ngay lập tức thu hồi và trả về bản sao duy nhất (để tiêu hủy) công trình của Giáo sư-Đô đốc A.Tomashevich "Hoạt động của các lực lượng hải quân đồng minh trong các chiến dịch vận chuyển đường biển trên không gian chiến trường Biển Bắc", giữ lại và buộc viết lại bằng tay "cho hậu thế".

Bề ngoài trông ông giống như N.Lunin nổi tiếng, theo tính cách và ý chí không gì lay chuyển - ông là nguyên mẫu của "Đức Cha Doenitz" (đối với các thủy thủ tàu ngầm trẻ). Do kết quả các âm mưu của Mát-xcơ-va, ông đã chết sớm vì một cơn đau tim.



Khiainen Lev Petrovitch (giữa những năm 195x - chỉ huy lực lượng tàu ngầm Hạm đội Thái Bình Dương, chuẩn đô đốc, và sau đó - Trưởng khoa tại Học viện Hải quân).

Trong môi trường các thủy thủ tàu ngầm ông có biệt danh Đức Cha Khi.
Ông rất nghiêm khắc. Thủy thủ tàu ngầm rất sợ ông, đặc biệt cảm thấy những yếu điểm bí mật của bạn. Không bao giờ ông tha thứ cho thái độ bất cẩn với những chiếc tàu ngầm và công việc phục vụ. Một cuộc kiểm tra có thể sẽ bắt đầu từ một cuộc "bò sấp" của cá nhân trong hầm tàu với một cái gì đó trong tay hoặc từ lan can tháp chỉ huy tàu ngầm; khi có dù chỉ một thiếu sót nhỏ ông cũng không bao giờ tiếp nhận bất kỳ bản báo cáo hoặc lời phân trần nào.

Nhà tư tưởng chính và nhà thực hành áp dụng vào hạm đội các phương pháp sử dụng các tàu ngầm diesel chiến đấu theo nhóm trong đội hình thê đội và nhóm chiến thuật. Những ý tưởng này đã không được phát triển và thực hiện bởi vì thời gian của nó chưa tới.
.........
« Sửa lần cuối: 21 Tháng Mười, 2012, 08:24:10 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #123 vào lúc: 17 Tháng Mười Một, 2012, 05:13:51 pm »

Sách Lịch sử Công binh Mỹ ở Việt Nam 1965-1970 có một số tư liệu về quá trình xây dựng căn cứ Cam Ranh:
http://www.history.army.mil/books/Vietnam/Engineers/
Chương 3 :
http://www.history.army.mil/books/Vietnam/Engineers/ch3.htm#p42

Cam Ranh, tháng 8 năm 1965.
và chương 4:
http://www.history.army.mil/books/Vietnam/Engineers/ch4.htm#p52

Cầu tàu tại Cam Ranh trong quá trình xây dựng.
Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #124 vào lúc: 17 Tháng Mười Một, 2012, 05:47:23 pm »

Video về lịch sử xây dựng căn cứ Cam Ranh:
<a href="http://www.youtube.com/watch?v=LswzKY5BMOw" target="_blank">http://www.youtube.com/watch?v=LswzKY5BMOw</a>

<a href="http://www.youtube.com/watch?v=qW70-3gGo_s" target="_blank">http://www.youtube.com/watch?v=qW70-3gGo_s</a>

<a href="http://www.youtube.com/watch?v=xhkZWJKIsvk" target="_blank">http://www.youtube.com/watch?v=xhkZWJKIsvk</a>

TT Mỹ Johnson và tướng Oét tại Cam Ranh:
<a href="http://www.youtube.com/watch?v=mw2ELwrqOPs" target="_blank">http://www.youtube.com/watch?v=mw2ELwrqOPs</a>
Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #125 vào lúc: 17 Tháng Mười Một, 2012, 06:02:53 pm »

16 video về Cam Ranh giai đoạn là căn cứ Mỹ:
http://www.youtube.com/playlist?list=PLD38AA0F71230D7BA

Căn cứ bị pháo binh và đặc công Việt Nam tấn công:
<a href="http://www.youtube.com/watch?v=WDHTFo82BQo" target="_blank">http://www.youtube.com/watch?v=WDHTFo82BQo</a>

<a href="http://www.youtube.com/watch?v=Ubl2-OsMgcw" target="_blank">http://www.youtube.com/watch?v=Ubl2-OsMgcw</a>

Mỹ rút:
<a href="http://www.youtube.com/watch?v=LSdOOqOYokY" target="_blank">http://www.youtube.com/watch?v=LSdOOqOYokY</a>
Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #126 vào lúc: 17 Tháng Mười Một, 2012, 06:46:31 pm »

Phi đội trinh sát đặc nhiệm P2E (chặn bắt thông tin vô tuyến, giải mã) đóng tại Cam Ranh 1965-1972:
<a href="http://www.youtube.com/watch?v=M3l6s47Ym6U" target="_blank">http://www.youtube.com/watch?v=M3l6s47Ym6U</a>

<a href="http://www.youtube.com/watch?v=2uP0Fd1SN5I" target="_blank">http://www.youtube.com/watch?v=2uP0Fd1SN5I</a>

<a href="http://www.youtube.com/watch?v=YVFAycE3XlQ" target="_blank">http://www.youtube.com/watch?v=YVFAycE3XlQ</a>
« Sửa lần cuối: 17 Tháng Mười Một, 2012, 07:54:20 pm gửi bởi qtdc » Logged
Trần Anh
Thành viên
*
Bài viết: 318



« Trả lời #127 vào lúc: 18 Tháng Mười Một, 2012, 05:36:58 pm »

Xin phép bác qtdc cho em dán bàn này vào đây Grin:

Người Trung Quốc nói về yếu tố Mỹ, Nga ở vịnh Cam Ranh

Vịnh Cam Ranh hết sức quan trọng đối với Việt Nam, nó có khả năng khống chế đối với bất cứ đảo nào tại Biển Đông, cao hơn bất cứ căn cứ hải quân nào của Trung Quốc hiện nay.



Trang “Quan điểm Trung Quốc” mới đây đăng bài viết “Nhân tố Mỹ, Nga trong vấn đề vịnh Cam Ranh” của chuyên gia bình luận quốc tế Cao Vinh Vĩ, có nội dung như sau:

Trên toàn cầu, rất hiếm có một cảng biển như vịnh Cam Ranh của Việt Nam. Trong chưa đến 100 năm, vịnh Cam Ranh lần lượt trở thành căn cứ quân sự của các nước lớn như Mỹ, Nga – nó từng tập trung hàng trăm tàu chiến của thời Nga Hoàng; từng được Mỹ xây dựng thành “cứ điểm hải quân trọng yếu và xa hoa nhất châu Á”; đồng thời nó cũng từng là căn cứ quân sự lớn nhất bên ngoài lãnh thổ của Liên Xô trước đây.

1. Vịnh Cam Ranh có giá trị chiến lược đặc biệt quan trọng

Vịnh Cam Ranh rốt cuộc là một cảng biển như thế nào, vì sao vai trò của nó lại quan trọng đến mức khiến các cường quốc trên thế giới đua nhau tranh giành, đằng sau các động thái này là gì?

Cảng Cam Ranh nằm ở phía Đông Nam tỉnh Khánh Hoà của Việt Nam, cách quần đảo Nam Sa (quần đảo Trường Sa của Việt Nam) khoảng 600 km, cửa vịnh hẹp, địa thế hiểm yếu, dễ phòng ngự, là một trong những cảng nước sâu tự nhiên tốt nhất trên thế giới.

Vịnh Cam Ranh nắm giữ yết hầu của Nam Hải (Biển Đông), là con đường chiến lược thông sang Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, chỉ cách tuyến đường biển quốc tế nối liền Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương khoảng 1 giờ hành trình, có thể khống chế eo biển Malắcca và eo biển Singapo, ngoài ra còn có thể tiến hành theo dõi, giám sát điện tử đối với khu vực Đông Bắc Ấn Độ Dương, vịnh Pécxích. Đông Hải (Biển Hoa Đông) và Nam Hải. Tại đây tàu sân bay và hàng trăm tàu chiến có thể cập bến, và được coi là quân cảng số một châu Á. Toàn bộ vịnh Cam Ranh được các ngọn núi có độ cao trung bình khoảng 400m bao bọc xung quanh, địa thế hiểm yếu, kiểm soát cao điểm nên rất dễ bố trí canh phòng, thuận tiện cho việc phòng thủ, có thể triển khai tên lửa phòng không và các loại pháo cao xạ. Tại đây, các tàu hàng chục triệu tấn có thể tự do ra vào, đồng thời có thể làm điểm đỗ cho khoảng 40 tàu chiến cỡ lớn, bao gồm cả tàu sân bay hoặc hơn 100 tàu chiến có trọng tải dưới 40.000 tấn, hơn nữa do cửa vịnh hẹp, cảng vịnh nằm sâu trong lục địa khoảng 17km, nên có giá trị hết sức to lớn về mặt quân sự.

Hơn một thế kỷ qua, nhiều siêu cường quân sự thay phiên nhau coi vịnh Cam Ranh là báu vật. Là một cảng biển tự nhiên quan trọng của Việt Nam, vịnh Cam Ranh từ xưa đến nay là vùng đất tranh giành của các nước lớn. Năm 1905, trong cuộc hải chiến Nhật-Nga, hàng trăm tàu chiến của Nga Hoàng đã tập trung tại đây. Năm 1935, Pháp bắt đầu thi công xây dựng căn cứ hải quân tại đây. Năm 1940, vịnh Cam Ranh rơi vào tay Nhật Bản, trở thành căn cứ để xâm lược Đông Nam Á. Từ năm 1945 đến 1954, Pháp đóng quân tại đây. Trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam từ năm 1965 đến năm 1967, Mỹ đã đầu tư rất lớn, mở rộng cảng Cam Ranh thành căn cứ quân sự liên hợp hải-lục-không quân và căn cứ tiếp tế hậu cần khổng lồ của Mỹ tại Đông Nam Á. Chiến tranh Việt Nam kết thúc, người Mỹ buộc phải rút chạy. Trước khi Việt Nam thực hiện thống nhất đất nước năm 1975, lần lượt Nga, Pháp, Nhật Bản, Mỹ đã từng sử dụng căn cứ vịnh Cam Ranh.

Năm 1979, sau khi ký hiệp định thuê miễn phí 25 năm với Việt Nam, Liên Xô trở thành chủ nhân mới của vịnh Cam Ranh. Sau đó, quân đội Liên Xô đã xây dựng vịnh này thành căn cứ quân sự lớn nhất của mình ở nước ngoài. Sau khi Liên Xô tan rã, Nga tiếp tục kế thừa căn cứ này. Tháng 9/2000, mặc dù Nga đã xoá 85% trong tổng số nợ 11 tỷ USD của Việt Nam, nhưng Việt Nam vẫn tiếp tục yêu cầu Nga mỗi năm phải trả 400 triệu USD tiền thuê vịnh Cam Ranh. Căn cứ tình hình kinh tế khó khăn của đất nước, căn bản không đủ sức gánh vác nên năm 2002, Nga rút khỏi vịnh Cam Ranh trước thời hạn, và quân đội Việt Nam tiếp quản từ đó cho đến nay.

Trên thực tế, các tập đoàn quân sự quan trọng trên thế giới, nhất là Mỹ, Nga đã có thời gian dài sử dụng vịnh Cam Ranh, vì vậy luôn có ý muốn quay trở lại vịnh này. Do vị trí chiến lược quan trọng của vịnh Cam Ranh, mấy năm gần đây nó một lần nữa trở thành cứ điểm chiến lược quan trọng tranh giành giữa Mỹ và Nga.
....

2. Mỹ luôn mong muốn kiểm soát vịnh Cam Ranh

Sau khi Nga rút quân vào năm 2002, vịnh Cam Ranh đã ít được quan tâm trong cục diện quốc tế nhiều biến động gần 10 năm qua, song cách đây không lâu, một lần nữa nó trở thành tiêu điểm chú ý của dư luận quốc tế. Thứ nhất, Mỹ từ lâu đã muốn tái sử dụng vịnh Cam Ranh nên sớm quan tâm đến vịnh này. Những năm gần đây, sở dĩ Mỹ “từ bỏ hiềm nghi trước đây” đối với Việt Nam, ra sức lôi kéo Việt Nam chính là do muốn quay trở lại vịnh Cam Ranh.

Sau Chiến tranh Lạnh, Mỹ luôn chú ý đến vịnh Cam Ranh. Trong thời gian này, Mỹ không ngừng đề xuất mức tiền thuê vịnh Cam Ranh đối với Việt Nam, đặc biệt là năm 1992, sau khi quân đội Mỹ rút khỏi thành trì cuối cùng tại khu vực Đông Nam Á – căn cứ hải quân Subic và căn cứ không quân Clark (Philíppin) nên rất muốn quay trở lại vịnh Cam Ranh, nhưng không thể thực hiện trong bối cảnh các nước xung quanh phản đối.

Vịnh Cam Ranh nằm gần Biển Đông hơn so với một số cảng vịnh của Mỹ như tại Yokosuka, thậm chí gần hơn so với căn cứ Changi của Singapo và Busan của Hàn Quốc, có thể nói là nắm chặt yết hầu của Biển Đông, hơn thế nữa là trấn giữ con đường trọng yếu chiến lược quan trọng nhất nối Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương. Vì thế, nhân quay trở lại châu Á, Mỹ tỏ ra tích cực hơn so với các nước khác đối với vịnh Cam Ranh.

Lâu nay liên tục có nhũng tin đồn về quân đội Mỹ muốn đóng quân tại vịnh Cam Ranh. Năm 1994, Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ Richard từng đề xuất tái trở lại căn cứ quân sự vịnh Cam Ranh với phía Việt Nam; năm 2002, Tư lệnh Thái Bình Dương của Mỹ Blair chính thức đề nghị sử dụng căn cứ hải quân tại vịnh Cam Ranh với Việt Nam, với tiền thuê mỗi năm lên đến 1 tỉ USD; sau khi Obama lên cầm quyền, đồng thời với việc tuyên bố “quay trở lại châu Á”, Mỹ đã nhiều lần lên tiếng nhấn mạnh “quay trở lại Đông Nam Á”, đồng thời tích cực can dự vào các công việc của Biển Đông.

Tháng 6/2012, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Panetta thăm chính thức Việt Nam hai ngày. Ngày 3/6, Panetta đã tham quan căn cứ quân sự trước đây của Mỹ tại vịnh Cam Ranh, trở thành quan chức cấp cao nhất của Mỹ thăm vịnh Cam Ranh kể từ khi kết thúc Chiến tranh Việt Nam năm 1975 đến nay. Trong cuộc họp báo chung cùng Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh, Panetta nêu rõ vịnh Cam Ranh là một cảng biển quan trọng, nếu Việt Nam có ý muốn cải tạo khu vực vịnh Cam Ranh và có nhu cầu giúp đỡ, Mỹ sẵn sàng ủng hộ. Hải quân Mỹ sau này có ý muốn thăm định kỳ vịnh Cam Ranh. Panetta nhấn mạnh mục đích chuyến thăm Việt Nam của ông chính là muốn xây dựng lòng tin giữa chính phủ và quân đội hai nước. Mỹ và Việt Nam cần tiếp tục phát triển quan hệ song phương trên các lĩnh vực, đặc biệt là về mặt hợp tác quốc phòng và an ninh.

Có tin Việt Nam đã đồng ý cung cấp dịch vụ cho tàu chiến phi chiến đấu Mỹ tại vịnh Cam Ranh.

Chuyến thăm của Panetta đồng nghĩa với việc thu hút sự quan tâm đặc biệt của dư luận. Một bài viết có tựa đề “đế quốc quay trở lại” đăng trên tờ báo mạng nổi tiếng của Mỹ “Huffington Post” đánh giá: năm 2003 tàu chiến của hải quân Mỹ đã tới thăm Việt Nam; tháng 11/2011, Mỹ-Việt tổ chức diễn tập quân sự chung. Chuyến thăm lần này của Panetta được coi là cao trào, cho thấy quan hệ quân sự Mỹ-Việt được tăng cường hơn. Việt Nam thậm chí yêu cầu Mỹ xoá bỏ lệnh cấm xuất khẩu vũ khí sang Việt Nam.

Các dấu hiệu trên cho thấy rõ quyết tâm hợp tác giữa Việt Nam và Mỹ. Từ góc độ của Mỹ; quay trở lại vịnh Cam Ranh, quay trở lại Việt Nam không chỉ có thể tăng cường sự tồn tại quân sự của Mỹ tại Đông Nam Á, mà còn có thể đạt được mục đích kiềm chế Trung Quốc về mặt quân sự. Có chuyên gia quân sự nói thẳng rằng Mỹ bày binh bố trận tại Việt Nam, mũi nhọn trực tiếp là nhằm vào Biển Đông và eo biển Đài Loan.

« Sửa lần cuối: 18 Tháng Mười Một, 2012, 09:52:41 pm gửi bởi Trần Anh » Logged

As long as you love me. We could be starving, we could be homeless, we could be broke.
As long as you love me. I'll be your platinum, I'll be your silver, I'll be your gold...
 
Trần Anh
Thành viên
*
Bài viết: 318



« Trả lời #128 vào lúc: 18 Tháng Mười Một, 2012, 05:38:34 pm »

3. Nga có khát vọng quay trở lại vịnh Cam Ranh nhàm chấn hưng vị thế cường quốc biển.

Nga cũng đang có những bước chuẩn bị nhằm quay trở lại vịnh Cam Ranh. Sau khi Putin lên cầm quyền, bên cạnh việc tăng cường thực lực tổng hợp quốc gia, Nga bắt đầu vươn dài chiếc vòi chiến lược của hải quân, không quân của mình ra bên ngoài. Putin từng nói thẳng nếu từ bỏ chiến lược xây dựng hải quân, Nga sẽ đánh mất quyền phát ngôn trên vũ đài quốc tế. Trong khi đó, quay trở lại vịnh Cam Ranh không chỉ tạo thuận lợi cho quyết tâm chấn hưng cường quốc biển, mà còn là một trong những bước then chốt nhằm khôi phục sức mạnh uy hiếp chiến lược trước đây của hải quân viễn dương Nga.

Ngày 6/10/2010, Bộ Tham mưu Hải quân Nga “đột nhiên” cho biết hải quân Nga đã hoàn thành luận chứng tư liệu liên quan đến việc khôi phục căn cứ hải quân ở Vịnh Cam Ranh. Nếu có thể, trong vòng 3 năm tới họ có thể quay trở lại sử dụng căn cứ hải quân tại vịnh Cam Ranh của Việt Nam. Tờ “Độc lập” của Nga dẫn nguồn tin từ hải quân Nga cho biết lần này Nga sẽ quay trở lại vịnh Cam Ranh theo hình thức cho thuê. Thời gian thuê ít nhất là 25 năm, sau khi kết thúc hợp đồng có thể thương lượng kéo dài.

Từ ngày 26/7/2012, Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang thực hiện chuyến thăm chính thức Nga kéo dài 5 ngày. Chuyến thăm Nga của Chủ tịch Trương Tấn Sang không thực sự thu hút sự chú ý của dư luận, nhưng có một điểm được ông đề cập đến đã thu hút mọi con mắt của dư luận quốc tế – đó là vịnh Cam Ranh. Khi trả lời phỏng vấn báo chí Nga, ông Trương Tấn Sang nêu rõ trong thời gian tới, Việt Nam sẽ tăng cường hợp tác quân sự với Nga. Mặc dù ông Trương Tấn Sang nhấn mạnh Việt Nam không có ý hợp tác với bất kỳ quốc gia nào về việc sử dụng vịnh Cam Ranh vào mục đích quân sự, nhưng việc một vị nguyên thủ của Việt Nam đưa ra tuyên bố trên đúng vào dịp 10 năm Nga rút quân khỏi vịnh Cam Ranh, lập tức tạo ra nhiều phán đoán khác nhau.

Có lẽ một việc không hoàn toàn ngẫu nhiên là ngày 26/7, Tư lệnh Hải quân Nga Viktor Chirkov cho biết Nga đang bắt tay vào việc triển khai các căn cứ quân sự bên ngoài lãnh thổ Nga. Đồng thời, ông cũng nói: “Chúng tôi đang thương thảo để xây dựng trung tâm sửa chữa trên biển tại Cuba, Xâysen và Việt Nam”.

Ngày 27/7, Tổng thống Putin tuyên bố Nga sẽ cung cấp khoản vay khoảng 10 tỷ USD cho Việt Nam. trong đó khoảng 8 tỷ USD dùng vào việc xây dựng nhà máv điện hạt nhân tại Việt Nam. Đáp lại, Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang lập tức bày tỏ phía Việt Nam sẽ cho phép Nga thiết lập một cơ sở sửa chữa tàu thuyềntại cảng Cam Ranh.

Vịnh Cam Ranh nhanh chóng thu hút sự chú ý của mọi người, trở thành tiêu điểm quan tâm của thế giới. Putin hào hiệp giúp đỡ, dùng khoản tiền lớn để đổi lấy việc Việt Nam cho phép Nga tiến vào cảng Cam Ranh, mục đích rất rõ ràng đó chính là muốn ngăn cản Mỹ kiểm soát vịnh Cam Ranh, từ đó tìm cách khôi phục sức mạnh răn đe chiến lược của hải quân viễn dương thời Liên Xô trước đây.

Hợp tác Nga-Việt trong vấn đề vịnh Cam Ranh đã mở ra cục diện tranh giành Mỹ-Nga xung quanh vịnh Cam Ranh. Ban đầu dường như Nga chiếm thế thượng phong, nhưng không có nghĩa đã đẩy MỸ ra khỏi cuộc chơi.

Có một luồng quan điểm cho rằng đối với Việt Nam, ý nghĩa của chính vịnh Cam Ranh không lớn như vậy mà nó nằm ở chỗ các chiến hạm cỡ lớn có thế đồn trú tại đây. Cho nên, Việt Nam một mặt hướng về phía Mỹ, còn mặt khác lại hướng về Nga, lợi dụng giá trị chiến lược của vịnh Cam Ranh để chờ giá cao, hai bên đều không bị mắc tội, coi vịnh Cam Ranh là quân bài trong cuộc chơi giữa Mỹ và Nga.

4.Nhân tố quốc tế đối kháng với Trung Quốc

Nhưng nhìn từ phương diện khác, vịnh Cam Ranh hết sức quan trọng đối với Việt Nam, nó có khả năng khống chế đối với bất cứ đảo nào tại Biển Đông, cao hơn bất cứ căn cứ hải quân nào của Trung Quốc hiện nay. Vì thế, Việt Nam chắc chắn sẽ biến nó thành căn cứ quân sự quan trọng nhằm tranh giành Biển Đông với Trung Quốc, từ đó kiểm soát vùng biển này.
....
 Bộ Ngoại giao Việt Nam nhiều lần cho biết không cho thuê vịnh Cam Ranh sử dụng vào mục đích quân cảng, cho rằng “Việt Nam nhiều lần nhấn mạnh không hợp tác với nước ngoài trong việc sử dụng vịnh Cam Ranh vào mục đích quân sự, nhưng sẽ khai thác tiềm năng của khu vực vịnh Cam Ranh phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc”.
....
Ý đồ của Việt Nam phù hợp với lợi ích chiến lược của Mỹ và Nga. Tạp chí “Lợi ích quốc gia” của Mỹ bình luận rằng hợp tác an ninh với Việt Nam là một bộ phận cấu thành quan trọng trong chiến lược quay trở lại châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ, là một trong những sách lược “kiềm chế” Trung Quốc của Chính quyền Obama.
....
Đối với Nga, có nhà quan sát chỉ rõ cùng với tình hình Xyri ngày càng căng thẳng, Nga có thể đánh mất căn cứ quân sự duy nhất ở bên ngoài khu vực Liên Xô trước đây. Tại khu vực Đông Nam Á, Nga cũng mong muốn mở rộng sức ảnh hưởng chứ không phải là đối tác và trợ thủ của Trung Quốc.
....
Hiện nay, Mỹ và Nga đang tranh giành vịnh Cam Ranh của Việt Nam, chưa biết ai thắng ai thua, nhưng chắc chắn sẽ có một cuộc cạnh tranh thú vị. Căn cứ vào quan hệ hợp tác truyền thống Nga-Việt và những vướng mắc lịch sử Mỹ-Việt, trong cuộc đua giành quyền kiểm soát vịnh Cam Ranh giữa Mỹ và Nga, có lẽ phần thắng nghiêng về phía Nga nhiều hơn. Tuy nhiên, cho dù Mỹ hay Nga có thể giành thắng lợi đều hết sức bất lợi cho Trung Quốc, nhất là nếu Mỹ có thể kiểm soát vịnh Cam Ranh, như vậy đồng nghĩa với việc bóp chặt yết hầu của Biển Đông, tạo thành mối nguy hiểm đặc biệt nghiêm trọng đối với Trung Quốc.
....
Nguồn:http://reds.vn/
« Sửa lần cuối: 18 Tháng Mười Một, 2012, 06:26:52 pm gửi bởi Trần Anh » Logged

As long as you love me. We could be starving, we could be homeless, we could be broke.
As long as you love me. I'll be your platinum, I'll be your silver, I'll be your gold...
 
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #129 vào lúc: 13 Tháng Ba, 2013, 02:06:57 am »

(tiếp theo post #426 phần 1) http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php/topic,19157.420.html)

Các cán bộ chủ chốt



Chuẩn đô đốc Anokhin Ronald Аleksandrovitch, tư lệnh đầu tiên của binh đoàn 17 (1982–1984).

Sinh ngày 27.10.1932 tại thành phố Gitomiг CHXHCNXV Ucraina, ngày nay là CH Ucraina, trong một gia đình quân nhân, dân tộc Nga.
1950–1954 — học viên trường Hải quân mang tên М.V.Frunze.
1954–1959 — thuyền trưởng tàu phóng lôi cao tốc, biên đội trưởng tàu phóng lôi Hạm đội Biển Bắc, cảng Liinakhamari.
1959–1960 — học viên khóa sỹ quan cao cấp chuyên ngành Hải quân Liên Xô (VSOK VMF), khoa cán bộ chính trị. Tốt nghiệp VSOK VMF vói điểm xuất sắc.
1960–1966 — thuyền phó chính trị tàu ngầm diesel, trợ lý chính thuyền trưởng tàu ngầm Hạm đội Biển Bắc.
1966–1969 — học viên Học viện Hải quân. Tốt nghiệp Học viện với điểm xuất sắc.
1969–1971 — thuyền trưởng tàu ngầm diesel, trợ lý chính thuyền trưởng tàu ngầm nguyên tử Hạm đội Biển Bắc.
1971–1973 — thuyền trưởng tàu ngầm nguyên tử К-444 đề án 667А phân hạm đội tàu ngầm nguyên tử số 3-Hạm đội Biển Bắc.
1973–1975 — tham mưu trưởng sư đoàn tàu ngầm nguyên tử số 31-Hạm đội Biển Bắc.
1975–1979 — tư lệnh sư đoàn tàu ngầm số 16-Hạm đội Biển Bắc, từ năm 1976 — Hạm đội Baltic.
Từ 30.10.1978 chuẩn đô đốc.
1979–1982 — tham mưu trưởng — phó tư lệnh thứ nhất phân hạm đội tàu ngầm nguyên tử số 4-Hạm đội Thái Bình Dương.
1982–1984 — tư lệnh binh đoàn 17-Hạm đội Thái Bình Dương đóng căn cứ trong vịnh và trên bán đảo Cam Ranh; CHXHCN Việt Nam.
1984–1988 — đại diện toàn quyền cao cấp ủy ban quốc gia nghiệm thu tàu Hải quân Liên Xô.
Từ 8.07.1988 chuyển ngạch dự bị.
Tặng thưởng huân chương «Phục vụ Tổ quốc trong LLVT Liên Xô» hạng III, nhiều huy chương.
Từ tháng 8 năm 1988 — biên tập viên khoa học lý thuyết Hải quân tạp chí «Tập san Hàng hải».
Từ trần ngày 20.10.1991 tại Моskva; chôn cất tại nghĩa trang Vostriakov.



Phó đô đốc Kuzmin Anatoly Аlekseevitch, tư lệnh thứ 2 binh đoàn 17 (1984–1987).

Sinh ngày 12.03.1933 tại thành phố Leningrad.
1951–1955 — học viên trường Hải quân М.V.Frunze.
1955–1960 — trưởng ngành hoa tiêu quân sự tàu quét mìn căn cứ, tàu cứu hộ tàu ngầm; Hạm đội Baltic.
1960–1961 — trưởng nhóm bánh lái tàu ngầm B-57 đề án 641; Hạm đội Biển Bắc.
1961–1963 — trưởng ngành hoa tiêu quân sự, trợ lý thuyền trưởng tàu ngầm B-116 đề án 641; Hạm đội Biển Bắc.
1963–1965 — trợ lý chính thuyền trưởng tàu ngầm B-95 đề án 641 binh đoàn tàu ngầm số 4; Hạm đội Biển Bắc.
1965–1966 — học viên VSOK VMF.
1966–1969 — thuyền trưởng tàu ngầm B-95. Từ tháng 10 năm 1968 đến tháng 5 năm 1969 B-95 tham gia cuộc thám hiểm dưới tên gọi «Triều cường-2» tại Ấn Độ Dương để khảo sát khả năng trú đóng cơ động của các tàu ngầm và tàu mặt nước; đã vượt qua gần 35 ngàn dặm biển.
1969–1971 — học viên khoa chỉ huy Học viện Hải quân.
1971–1974 — tham mưu trưởng lữ đoàn tàu ngầm 161-Hạm đội Biển Bắc.
1974–1978 — tư lệnh lữ đoàn 69-binh đoàn tàu ngầm số 4. Trong những năm 1977–1978 lữ đoàn 69 dưới sự chỉ huy của ông đã thực hiện các nhiệm vụ quân sự tại Địa Trung Hải với thời gian 14 tháng.
Từ 22.02.1978 chuẩn đô đốc.
1978–1981 — tham mưu trưởng — phó tư lệnh binh đoàn tàu ngầm số 4-Hạm đội Biển Bắc.
1981–1984 — tư lệnh binh đoàn tàu ngầm số 6-Hạm đội TBD. Hoàn thiện các phương pháp sử dụng ngư lôi, chỉ huy các cuộc tập huấn về huấn luyện ngư lôi cho các thuyền trưởng tàu ngầm.
Từ 28.04.1984 phó đô đốc.
1984–1987 — tư lệnh binh đoàn 17-Hạm đội TBD đóng căn cứ trong vịnh và trên bán đảo Cam Ranh; СHXHCN Việt Nam.
1987–1988 — phó tư lệnh thứ nhất Hạm đội Biển Đen.
Năm 1988 tốt nghiệp khóa cao cấp học viện tại Học viện BTTM các LLVT Liên Xô.
1988–1992 — phó Tổng tư lệnh Hải quân Liên Xô về huấn luyện chiến đấu — chủ nhiệm Tổng cục HLCĐ Hải quân Liên Xô.
Nắm vững và đưa vào hoạt động 2 đề án tàu ngầm mới. Tiến hành thử nghiệm ngư lôi điều khiển từ xa và các thiết bị của hệ thống phát hiện tàu ngầm, soạn thảo tập bảng bắn ngư lôi, liên tục hoàn thiện phương pháp sử dụng vũ khí ngư lôi. Tham gia biên soạn và hoàn thiện quy phạm và điều lệnh điều khiển tàu ngầm có tính đến sự thay đổi tình hình chính trị-quân sự trong khu vực.
Tham gia 6 hoạt động quân sự tại các vùng khác nhau trên các Đại dương Thế giới.
Tặng thưởng các huân chương Sao Đỏ, «Phục vụ Tổ quốc trong LLVT Liên Xô» hạng II và III, «Hữu Nghị» của CHXHCN Việt Nam, nhiều huy chương.
Từ 1.04.1993 chuyển ngạch dự bị.




Phó đô đốc Beregovoy Nikolai Nikitovitch, tư lệnh thứ 3 binh đoàn 17 (1987–1991).

Sinh ngày 2.10.1939 tại thành phố Kharkov CHXHCNXV Ucraina. Dân tộc Ucraina.
1957–1962 — học viên trường tàu ngầm Hải quân số 2, từ tháng 8 năm 1959 — trường tàu ngầm Hải quân Baltic, từ tháng 8 năm 1960 — khoa hoa tiêu trường Hải quân Hạm đội TBD mang tên S.О.Маkarov.
Sau khi tốt nghiệp trường Hải quân phục vụ tại Hạm đội TBD.
1962–1965 — trưởng nhóm bánh lái tàu ngầm B-62 đề án АV611 sư đoàn tàu ngầm 29 binh đoàn tàu ngầm số 15 phân hạm đội quân sự Kamchatka, từ tháng 5 năm 1963 — binh đoàn tàu ngầm số 6-Hạm đội TBD.
Tháng 2 — tháng 10 năm 1965 — trưởng ngành hoa tiêu quân sự tàu tuần tra SКR-54 lữ đoàn tàu chống ngầm 202-sư đoàn tàu chống ngầm số 9.
1965–1967 — trưởng ngành hoa tiêu quân sự tàu ngầm S-88 lữ đoàn số 90-binh đoàn tàu ngầm số 6, từ tháng 7 năm 1966 — lữ đoàn tàu ngầm độc lập 90.
1967–1968 — trợ lý chính thuyền trưởng tàu ngầm hạng trung S-88 lữ đoàn tàu ngầm độc lập 90.
1968–1969 — học viên VSOK VMF.
1969–1970 — trợ lý kíp trưởng kíp thuyền viên số 1 tàu ngầm tuần dương К-116 đề án 675 sư đoàn tàu ngầm số 10 binh đoàn tàu ngầm số 15.
1970–1971 — trợ lý chính kíp trưởng kíp thuyền viên số 1 tàu ngầm tuần dương cận vệ К-116 lữ đoàn xây dựng và sửa chữa tàu ngầm độc lập số 72.
1970–1971 — chỉ huy trưởng kíp thuyền viên số 2 tàu ngầm tuần dương К-94 đề án 675 sư đoàn tàu ngầm số 10 binh đoàn tàu ngầm số 15.
1971–1973 — thuyền trưởng tàu ngầm tuần dương К-94 với kíp thủy thủ số 2.
1973–1978 — thuyền trưởng tàu ngầm tuần dương К-366 đề án 667B, từ tháng 8 năm  1973 — kíp thuyền viên số 1 của К-366, từ tháng 5 năm 1974 — kíp thuyền viên số 2 tàu ngầm К-366.
1978–1983 — sư đoàn phó sư đoàn tàu ngầm số 21.
1983–1987 — phó tư lệnh binh đoàn cơ động chiến dịch chiến thuật số 8 Hải quân Liên Xô.
Năm 1984 tốt nghiệp Học viện Hải quân (hàm thụ từ xa).
Từ 5.11.1985 chuẩn đô đốc.
1987–1991 — tư lệnh binh đoàn 17-Hạm đội Thái Bình Dương.
Từ 1.11.1989 phó đô đốc.
1991–1992 — tư lệnh binh đoàn cơ động số 8-Hải quân Liên Xô.
1992–1994 — phó tham mưu trưởng thứ nhất Hạm đội Thái Bình Dương.
Trong thời gian phục vụ tại binh đoàn 8-Hải quân Liên Xô và binh đoàn 17 Hạm đội Thái Bình Dương đã thực hiện các chuyến ghé thăm chính thức và làm việc tại các nước khu vực Ấn Độ Dương và "Biển Nam Trung Hoa".
Từ 17.11.1994 chuyển ngạch dự bị.
Tặng thưởng các huân chương Sao Đỏ (2), «Phục vụ Tổ quốc trong LLVT Liên Xô» hạng III và II, nhiều huy chương.




Đại tá hải quân Prisiazhnyuk Anatoly Romanovitch, chủ nhiệm chính trị đầu tiên của binh đoàn 17 (1982–1984).

Sinh ngày 21.01.1936 tại làng Pasetchnoie huyện Ostropolsky tỉnh Khmelnitsky (nay là CH Ucraina).
Trước khi vào phục vụ các LLVT — hướng dẫn viên huyện đoàn Đoàn TNCS Ucraina tại khu vực trạm máy kéo Ostropolsky, bí thư thứ 2 huyện đoàn Đoàn TNCS Ucraina Ostropolsky.
1956–1959 — học viên trường chính trị hải quân mang tên Zhdanov; thành phố Leningrad.
1959–1963 — bí thư tổ chức Đoàn, thư ký văn phòng Đoàn TNCS, thư ký văn phòng Đảng căn cứ kỹ thuật-hàng không; Hạm đội Biển Đen.
1963–1965 — hướng dẫn viên chính công tác Đoàn thuộc ban chính trị không quân; Hạm đội Biển Đen.
1965–1968 — hướng dẫn viên chính công tác Đoàn thuộc phòng chính trị; Hạm đội Biển Đen.
Năm 1967 tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Quốc gia Rostov (hàm thụ từ xa).
1968–1974 — chủ nhiệm chính trị lữ đoàn tàu tên lửa cao tốc — lữ đoàn phó chính trị; Hạm đội TBD.
Năm 1972 tốt nghiệp Học viện Chính trị-Quân sự mang tên V.I.Lenin (hàm thụ từ xa).
1974–1978 — chủ nhiệm chính trị lữ doàn tàu tên lửa cao tốc — lữ đoàn phó chính trị; Hạm đội TBD.
1978–1983 — phó chủ nhiệm chính trị căn cứ, phó chủ nhiệm chính trị thứ nhất phân hạm đội hỗn hợp Sakhalin; Hạm đội TBD.
1983–1984 — chủ nhiệm chính trị — phó tư lệnh chính trị binh đoàn 17 Hạm đội TBD; căn cứ Cam Ranh, СHXHCN Việt Nam.
1984–1989 — chủ nhiệm chính trị — phó chủ nhiệm hậu cần; Hạm đội Biển Bắc.
1989–1992 — bí thư đảng bộ ngành hậu cần Hải quân Liên Xô.
Tặng thưởng các huân chương: «Phục vụ Tổ quốc trong LLVT Liên Xô» hạng III, Danh dự, Sao Đỏ, nhiều huy chương của LBCHXHCN Xô Viết, huy hiệu của TU Đoàn TNCS Liên Xô «Lòng dũng cảm của quân nhân», 2 huy chương của CHXHCN Việt Nam.
Từ 5.04.1992 chuyển ngạch dự bị.
Từ tháng 12 năm 2003 đến tháng 10 năm 2007 — một trong các sáng lập viên và chủ tịch CLB «Tình anh em Komsomol hạm đội» — tổ chức xã hội của các cựu cán bộ Đoàn TNCS trong Hải quân, những người mà thời trẻ chuyên trách lãnh đạo trên những cương vị khác nhau tổ chức Đoàn trong Hải quân, sau đó còn tiếp tục phục vụ Tổ quốc lâu dài trên các cương vị quân sự khác nhau tại các vùng khác nhau của đất nước.
Từ trần ngày 2.10.2007 tại thành phố Moskva; an táng tại nghĩa trang Preobrazhensk.




Chuẩn đô đốc Alekseev Oleg Viktorovitch, chủ nhiệm chính trị thứ 2 binh đoàn 17 (1984–1987).

Sinh ngày 27.12.1940 tại stanitsa Krym (nay là thành phố Krymsk) huyện Krym, khu Krasnodar trong gia đình quân nhân — phi công máy bay rải mìn-phóng lôi Hải quân Liên Xô. Dân tộc Nga.
1958–1960 — học viên trường kỹ sư vũ khí Hải quân (thành phố Leningrad), sau khi giải thể trường, các năm từ 1960–1963 — học viên trường Hải quân mang tên M.V.Frunze.
1963–1966 — trưởng ngành thủy lôi-ngư lôi, từ tháng 4 năm 1965 — trợ lý thuyền trưởng tàu thử nghiệm «Karp» lữ đoàn tàu thử nghiệm 177-căn cứ Hải quân Leningrad.
1966–1970 — trợ lý công tác Đoàn TNCS cho chủ nhiệm chính trị trường Hải quân mang tên M.V.Frunze, từ tháng 12 năm 1968 hướng dẫn viên chính ban công tác Đoàn TNCS phòng chính trị căn cứ Hải quân và cơ sở đào tạo hải quân tại thành phố Leningrad.
1970–1972 — thuyền phó chính trị tàu ngầm nguyên tử tuần dương mang tên lửa hành trình К-1 đề án 675 sư đoàn 7-phân hạm đội tàu ngầm nguyên tử số 1-Hạm đội Biển Bắc.
1972–1975 — hướng dẫn viên chính ban công tác thanh niên Cục Chính trị Hải quân Liên Xô.
1975–1977 — phó chủ nhiệm chính trị sư đoàn 11-phân hạm đội tàu ngầm nguyên tử số 1-Hạm đội Biển Bắc.
1977–1980 — chủ nhiệm chính trị — phó sư đoàn trưởng về chính trị sư đoàn 33-phân hạm đội tàu ngầm số 1.
Năm 1978 tốt nghiệp xuất sắc với huy chương vàng Học viện Chính trị-Quân sự mang tên V.I.Lenin (hàm thụ từ xa).
1980–1984 — trưởng ban cán bộ Cục Chính trị Hạm đội Biển Bắc.
1984–1987 — chủ nhiệm chính trị — phó tư lệnh chính trị binh đoàn 17-Hạm đội TBD (quân cảng Cam Ranh, СHXHCN Việt Nam).
1987–1991 — phó chủ nhiệm chính trị, từ 14 tháng 3 năm 1991 — phòng chính trị -quân sự Hạm đội Вiển Đen.
Từ 16 tháng 8 năm 1989 chuẩn đô đốc.
Trên các tàu ngầm của phân hạm đội số 1 và trong các cương vị khác nhau đã hoàn thành một số chuyến đi biển xa phục vụ nhiệm vụ chiến đấu, trong đó tháng 8 — tháng 9 năm 1979 trên tàu ngầm К-513 đề án 671RТ với cương vị chủ nhiệm chính trị sư đoàn — hành quân ngầm dưới lớp băng Bắc Băng Dương và nổi lên tại Bắc Cực.
Trên các con tàu mặt nước đã thực hiện hơn 10 chuyến đi biển phục vụ chiến đấu. Đã ghé thăm các cảng của Nauy, Rumani, Bulgari, Мalta.
В 1989–1991 được bầu làm thành viên Đảng bộ thành phố Sevastopol Đảng CS Ucraina.
Được tặng thưởng huân chương «Phục vụ Tổ quốc trong LLVT Liên Xô» hạng III và nhiều huy chương (10) của LBCHXHCN Xô Viết, huy hiệu của TU Đoàn TNCS Liên Xô «Lòng dũng cảm của quân nhân».
Ngày 3 tháng 7 năm 1992 chuyển ngạch dự bị vì lý do bệnh tật.




Chuẩn đô đốc Маtiushin Nikolai Faefanovitch, chủ nhiệm chính trị-quân sự binh đoàn 17 (1987–1991).

Sinh ngày 13.11.1943. Dân tộc Nga.
1961–1962 — học viên dự bị trường Hải quân Hạm đội Biển Đen mang tên P.S.Nakhimov, thủy thủ tuần dương hạm hạng nhẹ «Мikhail Кutuzov» Hạm đội Biển Đen.
1962–1967— học viên chính thức trường Hải quân Hạm đội Biển Đen mang tên P.S.Nakhimov.
1967 — tháng 12 năm 1969 — kỹ sư phòng thí nghiệm, kỹ sư chính phòng thí nghiệm căn cứ kỹ thuật-tên lửa phân hạm đội tàu ngầm số 1-Hạm đội Biển Bắc.
1970–1972 — nhóm trưởng thuộc ngành tên lửa kíp thủy thủ thứ nhất tàu ngầm tuần dương К-131 đề án 675 sư đoàn 11-phân hạm đội tàu ngầm số 1, từ tháng 12 năm 1970 — sư đoàn 7-phân hạm đội tàu ngầm số 1.
1972–1973 — học viên VSOK VMF.
1973–1975 — thuyền phó chính trị tàu ngầm B-73 đề án АV611 lữ đoàn 161-binh đoàn tàu ngầm số 4-Hạm đội Biển Bắc.
Tháng 9 năm 1974 — tháng 4 năm 1975 — trong biên chế kíp thủy thủ dự bị tại binh đoàn cơ động số 5-Hải quân Liên Xô để thay phiên cho các kíp thủy thủ tàu ngầm diesel binh đoàn 4, rời cảng Аleksandria (CH Ả rập Thống nhất) về nghỉ ngơi tại nhà an dưỡng quân đội Hạm đội Biển Đen.
Tháng 5 — tháng 8 năm 1975 — thuyền phó chính trị tàu ngầm cỡ lớn đề án 641 B-440 lữ đoàn 211-binh đoàn tàu ngầm số 4.
1975–1978 — học viên khoa Hải quân Học viện Quân chính Lenin. Tốt nghiệp Học viện xuất sắc với huy chương vàng.
1978–1980 — phó chủ nhiệm chính trị sư đoàn 10-phân hạm đội tàu ngầm nguyên tử số 2-Hạm đội Thái Bình Dương.
1980–1983 — chủ nhiệm chính trị — phó sư đoàn trưởng về chính trị sư đoàn 29-phân hạm đội tàu ngầm nguyên tử số 4. Được bầu thành viên đảng bộ huyện ĐCSLX huyện Olghinsk khu Primorie.
1983–1987 — phó chủ nhiệm chính trị thứ nhất phân hạm đội tàu ngầm nguyên tử số  4.
Tháng 8 — 9 năm 1985 tham gia trực tiếp khử xạ tai họa thảm khốc xảy ra trên tàu ngầm nguyên tử K-431 đề án 675 của sư đoàn 29 trong vịnh Chazma. CCB các phân đội nguy hiểm đặc biệt CHLB Nga.
1987–1991 — chủ nhiệm chính trị — phó tư lệnh về chính trị, từ tháng 3 năm 1991 — trưởng ban chính trị-quân sự — phó tư lệnh binh đoàn 17-Hạm đội Thái Bình Dương.
Từ 1.11.1989 chuẩn đô đốc.
Tháng 10 năm 1991 — tháng 4 năm 1992 — thuộc quyền điều động của Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương.
Từ 22.04.1992 chuyển ngạch dự bị.
Được tặng thưởng huân chương «Phục vụ Tổ quốc trong LLVT Liên Xô» hạng III, các huy chương của LBXHXHCN Xô Viết, huy chương của nước CHXHCN Việt Nam.
1993–1997 — trưởng ban thanh tra và kiểm định vận tải đường thủy tỉnh Moskva Thanh tra giao thông Nga thuộc Bộ GTVT CHLB Nga.
1997–2008 — phó tổng giám đốc công ty trách nhiệm hữu hạn, từ tháng 2 năm 2009 — trưởng ban, phó chủ tịch thứ nhất ban chấp hành tổ chức xã hội khu vực các đô đốc và tướng lĩnh Hải quân "CLB các đô đốc" («Клуб адмиралов»).
.........
« Sửa lần cuối: 14 Tháng Ba, 2013, 09:33:20 am gửi bởi qtdc » Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM