(tiếp theo post #426 phần 1)
http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php/topic,19157.420.html)
Các cán bộ chủ chốt
Chuẩn đô đốc Anokhin Ronald Аleksandrovitch, tư lệnh đầu tiên của binh đoàn 17 (1982–1984).
Sinh ngày 27.10.1932 tại thành phố Gitomiг CHXHCNXV Ucraina, ngày nay là CH Ucraina, trong một gia đình quân nhân, dân tộc Nga.
1950–1954 — học viên trường Hải quân mang tên М.V.Frunze.
1954–1959 — thuyền trưởng tàu phóng lôi cao tốc, biên đội trưởng tàu phóng lôi Hạm đội Biển Bắc, cảng Liinakhamari.
1959–1960 — học viên khóa sỹ quan cao cấp chuyên ngành Hải quân Liên Xô (VSOK VMF), khoa cán bộ chính trị. Tốt nghiệp VSOK VMF vói điểm xuất sắc.
1960–1966 — thuyền phó chính trị tàu ngầm diesel, trợ lý chính thuyền trưởng tàu ngầm Hạm đội Biển Bắc.
1966–1969 — học viên Học viện Hải quân. Tốt nghiệp Học viện với điểm xuất sắc.
1969–1971 — thuyền trưởng tàu ngầm diesel, trợ lý chính thuyền trưởng tàu ngầm nguyên tử Hạm đội Biển Bắc.
1971–1973 — thuyền trưởng tàu ngầm nguyên tử К-444 đề án 667А phân hạm đội tàu ngầm nguyên tử số 3-Hạm đội Biển Bắc.
1973–1975 — tham mưu trưởng sư đoàn tàu ngầm nguyên tử số 31-Hạm đội Biển Bắc.
1975–1979 — tư lệnh sư đoàn tàu ngầm số 16-Hạm đội Biển Bắc, từ năm 1976 — Hạm đội Baltic.
Từ 30.10.1978 chuẩn đô đốc.
1979–1982 — tham mưu trưởng — phó tư lệnh thứ nhất phân hạm đội tàu ngầm nguyên tử số 4-Hạm đội Thái Bình Dương.
1982–1984 — tư lệnh binh đoàn 17-Hạm đội Thái Bình Dương đóng căn cứ trong vịnh và trên bán đảo Cam Ranh; CHXHCN Việt Nam.
1984–1988 — đại diện toàn quyền cao cấp ủy ban quốc gia nghiệm thu tàu Hải quân Liên Xô.
Từ 8.07.1988 chuyển ngạch dự bị.
Tặng thưởng huân chương «Phục vụ Tổ quốc trong LLVT Liên Xô» hạng III, nhiều huy chương.
Từ tháng 8 năm 1988 — biên tập viên khoa học lý thuyết Hải quân tạp chí «Tập san Hàng hải».
Từ trần ngày 20.10.1991 tại Моskva; chôn cất tại nghĩa trang Vostriakov.
Phó đô đốc Kuzmin Anatoly Аlekseevitch, tư lệnh thứ 2 binh đoàn 17 (1984–1987).
Sinh ngày 12.03.1933 tại thành phố Leningrad.
1951–1955 — học viên trường Hải quân М.V.Frunze.
1955–1960 — trưởng ngành hoa tiêu quân sự tàu quét mìn căn cứ, tàu cứu hộ tàu ngầm; Hạm đội Baltic.
1960–1961 — trưởng nhóm bánh lái tàu ngầm B-57 đề án 641; Hạm đội Biển Bắc.
1961–1963 — trưởng ngành hoa tiêu quân sự, trợ lý thuyền trưởng tàu ngầm B-116 đề án 641; Hạm đội Biển Bắc.
1963–1965 — trợ lý chính thuyền trưởng tàu ngầm B-95 đề án 641 binh đoàn tàu ngầm số 4; Hạm đội Biển Bắc.
1965–1966 — học viên VSOK VMF.
1966–1969 — thuyền trưởng tàu ngầm B-95. Từ tháng 10 năm 1968 đến tháng 5 năm 1969 B-95 tham gia cuộc thám hiểm dưới tên gọi «Triều cường-2» tại Ấn Độ Dương để khảo sát khả năng trú đóng cơ động của các tàu ngầm và tàu mặt nước; đã vượt qua gần 35 ngàn dặm biển.
1969–1971 — học viên khoa chỉ huy Học viện Hải quân.
1971–1974 — tham mưu trưởng lữ đoàn tàu ngầm 161-Hạm đội Biển Bắc.
1974–1978 — tư lệnh lữ đoàn 69-binh đoàn tàu ngầm số 4. Trong những năm 1977–1978 lữ đoàn 69 dưới sự chỉ huy của ông đã thực hiện các nhiệm vụ quân sự tại Địa Trung Hải với thời gian 14 tháng.
Từ 22.02.1978 chuẩn đô đốc.
1978–1981 — tham mưu trưởng — phó tư lệnh binh đoàn tàu ngầm số 4-Hạm đội Biển Bắc.
1981–1984 — tư lệnh binh đoàn tàu ngầm số 6-Hạm đội TBD. Hoàn thiện các phương pháp sử dụng ngư lôi, chỉ huy các cuộc tập huấn về huấn luyện ngư lôi cho các thuyền trưởng tàu ngầm.
Từ 28.04.1984 phó đô đốc.
1984–1987 — tư lệnh binh đoàn 17-Hạm đội TBD đóng căn cứ trong vịnh và trên bán đảo Cam Ranh; СHXHCN Việt Nam.
1987–1988 — phó tư lệnh thứ nhất Hạm đội Biển Đen.
Năm 1988 tốt nghiệp khóa cao cấp học viện tại Học viện BTTM các LLVT Liên Xô.
1988–1992 — phó Tổng tư lệnh Hải quân Liên Xô về huấn luyện chiến đấu — chủ nhiệm Tổng cục HLCĐ Hải quân Liên Xô.
Nắm vững và đưa vào hoạt động 2 đề án tàu ngầm mới. Tiến hành thử nghiệm ngư lôi điều khiển từ xa và các thiết bị của hệ thống phát hiện tàu ngầm, soạn thảo tập bảng bắn ngư lôi, liên tục hoàn thiện phương pháp sử dụng vũ khí ngư lôi. Tham gia biên soạn và hoàn thiện quy phạm và điều lệnh điều khiển tàu ngầm có tính đến sự thay đổi tình hình chính trị-quân sự trong khu vực.
Tham gia 6 hoạt động quân sự tại các vùng khác nhau trên các Đại dương Thế giới.
Tặng thưởng các huân chương Sao Đỏ, «Phục vụ Tổ quốc trong LLVT Liên Xô» hạng II và III, «Hữu Nghị» của CHXHCN Việt Nam, nhiều huy chương.
Từ 1.04.1993 chuyển ngạch dự bị.
Phó đô đốc Beregovoy Nikolai Nikitovitch, tư lệnh thứ 3 binh đoàn 17 (1987–1991).
Sinh ngày 2.10.1939 tại thành phố Kharkov CHXHCNXV Ucraina. Dân tộc Ucraina.
1957–1962 — học viên trường tàu ngầm Hải quân số 2, từ tháng 8 năm 1959 — trường tàu ngầm Hải quân Baltic, từ tháng 8 năm 1960 — khoa hoa tiêu trường Hải quân Hạm đội TBD mang tên S.О.Маkarov.
Sau khi tốt nghiệp trường Hải quân phục vụ tại Hạm đội TBD.
1962–1965 — trưởng nhóm bánh lái tàu ngầm B-62 đề án АV611 sư đoàn tàu ngầm 29 binh đoàn tàu ngầm số 15 phân hạm đội quân sự Kamchatka, từ tháng 5 năm 1963 — binh đoàn tàu ngầm số 6-Hạm đội TBD.
Tháng 2 — tháng 10 năm 1965 — trưởng ngành hoa tiêu quân sự tàu tuần tra SКR-54 lữ đoàn tàu chống ngầm 202-sư đoàn tàu chống ngầm số 9.
1965–1967 — trưởng ngành hoa tiêu quân sự tàu ngầm S-88 lữ đoàn số 90-binh đoàn tàu ngầm số 6, từ tháng 7 năm 1966 — lữ đoàn tàu ngầm độc lập 90.
1967–1968 — trợ lý chính thuyền trưởng tàu ngầm hạng trung S-88 lữ đoàn tàu ngầm độc lập 90.
1968–1969 — học viên VSOK VMF.
1969–1970 — trợ lý kíp trưởng kíp thuyền viên số 1 tàu ngầm tuần dương К-116 đề án 675 sư đoàn tàu ngầm số 10 binh đoàn tàu ngầm số 15.
1970–1971 — trợ lý chính kíp trưởng kíp thuyền viên số 1 tàu ngầm tuần dương cận vệ К-116 lữ đoàn xây dựng và sửa chữa tàu ngầm độc lập số 72.
1970–1971 — chỉ huy trưởng kíp thuyền viên số 2 tàu ngầm tuần dương К-94 đề án 675 sư đoàn tàu ngầm số 10 binh đoàn tàu ngầm số 15.
1971–1973 — thuyền trưởng tàu ngầm tuần dương К-94 với kíp thủy thủ số 2.
1973–1978 — thuyền trưởng tàu ngầm tuần dương К-366 đề án 667B, từ tháng 8 năm 1973 — kíp thuyền viên số 1 của К-366, từ tháng 5 năm 1974 — kíp thuyền viên số 2 tàu ngầm К-366.
1978–1983 — sư đoàn phó sư đoàn tàu ngầm số 21.
1983–1987 — phó tư lệnh binh đoàn cơ động chiến dịch chiến thuật số 8 Hải quân Liên Xô.
Năm 1984 tốt nghiệp Học viện Hải quân (hàm thụ từ xa).
Từ 5.11.1985 chuẩn đô đốc.
1987–1991 — tư lệnh binh đoàn 17-Hạm đội Thái Bình Dương.
Từ 1.11.1989 phó đô đốc.
1991–1992 — tư lệnh binh đoàn cơ động số 8-Hải quân Liên Xô.
1992–1994 — phó tham mưu trưởng thứ nhất Hạm đội Thái Bình Dương.
Trong thời gian phục vụ tại binh đoàn 8-Hải quân Liên Xô và binh đoàn 17 Hạm đội Thái Bình Dương đã thực hiện các chuyến ghé thăm chính thức và làm việc tại các nước khu vực Ấn Độ Dương và "Biển Nam Trung Hoa".
Từ 17.11.1994 chuyển ngạch dự bị.
Tặng thưởng các huân chương Sao Đỏ (2), «Phục vụ Tổ quốc trong LLVT Liên Xô» hạng III và II, nhiều huy chương.
Đại tá hải quân Prisiazhnyuk Anatoly Romanovitch, chủ nhiệm chính trị đầu tiên của binh đoàn 17 (1982–1984).
Sinh ngày 21.01.1936 tại làng Pasetchnoie huyện Ostropolsky tỉnh Khmelnitsky (nay là CH Ucraina).
Trước khi vào phục vụ các LLVT — hướng dẫn viên huyện đoàn Đoàn TNCS Ucraina tại khu vực trạm máy kéo Ostropolsky, bí thư thứ 2 huyện đoàn Đoàn TNCS Ucraina Ostropolsky.
1956–1959 — học viên trường chính trị hải quân mang tên Zhdanov; thành phố Leningrad.
1959–1963 — bí thư tổ chức Đoàn, thư ký văn phòng Đoàn TNCS, thư ký văn phòng Đảng căn cứ kỹ thuật-hàng không; Hạm đội Biển Đen.
1963–1965 — hướng dẫn viên chính công tác Đoàn thuộc ban chính trị không quân; Hạm đội Biển Đen.
1965–1968 — hướng dẫn viên chính công tác Đoàn thuộc phòng chính trị; Hạm đội Biển Đen.
Năm 1967 tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Quốc gia Rostov (hàm thụ từ xa).
1968–1974 — chủ nhiệm chính trị lữ đoàn tàu tên lửa cao tốc — lữ đoàn phó chính trị; Hạm đội TBD.
Năm 1972 tốt nghiệp Học viện Chính trị-Quân sự mang tên V.I.Lenin (hàm thụ từ xa).
1974–1978 — chủ nhiệm chính trị lữ doàn tàu tên lửa cao tốc — lữ đoàn phó chính trị; Hạm đội TBD.
1978–1983 — phó chủ nhiệm chính trị căn cứ, phó chủ nhiệm chính trị thứ nhất phân hạm đội hỗn hợp Sakhalin; Hạm đội TBD.
1983–1984 — chủ nhiệm chính trị — phó tư lệnh chính trị binh đoàn 17 Hạm đội TBD; căn cứ Cam Ranh, СHXHCN Việt Nam.
1984–1989 — chủ nhiệm chính trị — phó chủ nhiệm hậu cần; Hạm đội Biển Bắc.
1989–1992 — bí thư đảng bộ ngành hậu cần Hải quân Liên Xô.
Tặng thưởng các huân chương: «Phục vụ Tổ quốc trong LLVT Liên Xô» hạng III, Danh dự, Sao Đỏ, nhiều huy chương của LBCHXHCN Xô Viết, huy hiệu của TU Đoàn TNCS Liên Xô «Lòng dũng cảm của quân nhân», 2 huy chương của CHXHCN Việt Nam.
Từ 5.04.1992 chuyển ngạch dự bị.
Từ tháng 12 năm 2003 đến tháng 10 năm 2007 — một trong các sáng lập viên và chủ tịch CLB «Tình anh em Komsomol hạm đội» — tổ chức xã hội của các cựu cán bộ Đoàn TNCS trong Hải quân, những người mà thời trẻ chuyên trách lãnh đạo trên những cương vị khác nhau tổ chức Đoàn trong Hải quân, sau đó còn tiếp tục phục vụ Tổ quốc lâu dài trên các cương vị quân sự khác nhau tại các vùng khác nhau của đất nước.
Từ trần ngày 2.10.2007 tại thành phố Moskva; an táng tại nghĩa trang Preobrazhensk.
Chuẩn đô đốc Alekseev Oleg Viktorovitch, chủ nhiệm chính trị thứ 2 binh đoàn 17 (1984–1987).
Sinh ngày 27.12.1940 tại stanitsa Krym (nay là thành phố Krymsk) huyện Krym, khu Krasnodar trong gia đình quân nhân — phi công máy bay rải mìn-phóng lôi Hải quân Liên Xô. Dân tộc Nga.
1958–1960 — học viên trường kỹ sư vũ khí Hải quân (thành phố Leningrad), sau khi giải thể trường, các năm từ 1960–1963 — học viên trường Hải quân mang tên M.V.Frunze.
1963–1966 — trưởng ngành thủy lôi-ngư lôi, từ tháng 4 năm 1965 — trợ lý thuyền trưởng tàu thử nghiệm «Karp» lữ đoàn tàu thử nghiệm 177-căn cứ Hải quân Leningrad.
1966–1970 — trợ lý công tác Đoàn TNCS cho chủ nhiệm chính trị trường Hải quân mang tên M.V.Frunze, từ tháng 12 năm 1968 hướng dẫn viên chính ban công tác Đoàn TNCS phòng chính trị căn cứ Hải quân và cơ sở đào tạo hải quân tại thành phố Leningrad.
1970–1972 — thuyền phó chính trị tàu ngầm nguyên tử tuần dương mang tên lửa hành trình К-1 đề án 675 sư đoàn 7-phân hạm đội tàu ngầm nguyên tử số 1-Hạm đội Biển Bắc.
1972–1975 — hướng dẫn viên chính ban công tác thanh niên Cục Chính trị Hải quân Liên Xô.
1975–1977 — phó chủ nhiệm chính trị sư đoàn 11-phân hạm đội tàu ngầm nguyên tử số 1-Hạm đội Biển Bắc.
1977–1980 — chủ nhiệm chính trị — phó sư đoàn trưởng về chính trị sư đoàn 33-phân hạm đội tàu ngầm số 1.
Năm 1978 tốt nghiệp xuất sắc với huy chương vàng Học viện Chính trị-Quân sự mang tên V.I.Lenin (hàm thụ từ xa).
1980–1984 — trưởng ban cán bộ Cục Chính trị Hạm đội Biển Bắc.
1984–1987 — chủ nhiệm chính trị — phó tư lệnh chính trị binh đoàn 17-Hạm đội TBD (quân cảng Cam Ranh, СHXHCN Việt Nam).
1987–1991 — phó chủ nhiệm chính trị, từ 14 tháng 3 năm 1991 — phòng chính trị -quân sự Hạm đội Вiển Đen.
Từ 16 tháng 8 năm 1989 chuẩn đô đốc.
Trên các tàu ngầm của phân hạm đội số 1 và trong các cương vị khác nhau đã hoàn thành một số chuyến đi biển xa phục vụ nhiệm vụ chiến đấu, trong đó tháng 8 — tháng 9 năm 1979 trên tàu ngầm К-513 đề án 671RТ với cương vị chủ nhiệm chính trị sư đoàn — hành quân ngầm dưới lớp băng Bắc Băng Dương và nổi lên tại Bắc Cực.
Trên các con tàu mặt nước đã thực hiện hơn 10 chuyến đi biển phục vụ chiến đấu. Đã ghé thăm các cảng của Nauy, Rumani, Bulgari, Мalta.
В 1989–1991 được bầu làm thành viên Đảng bộ thành phố Sevastopol Đảng CS Ucraina.
Được tặng thưởng huân chương «Phục vụ Tổ quốc trong LLVT Liên Xô» hạng III và nhiều huy chương (10) của LBCHXHCN Xô Viết, huy hiệu của TU Đoàn TNCS Liên Xô «Lòng dũng cảm của quân nhân».
Ngày 3 tháng 7 năm 1992 chuyển ngạch dự bị vì lý do bệnh tật.
Chuẩn đô đốc Маtiushin Nikolai Faefanovitch, chủ nhiệm chính trị-quân sự binh đoàn 17 (1987–1991).
Sinh ngày 13.11.1943. Dân tộc Nga.
1961–1962 — học viên dự bị trường Hải quân Hạm đội Biển Đen mang tên P.S.Nakhimov, thủy thủ tuần dương hạm hạng nhẹ «Мikhail Кutuzov» Hạm đội Biển Đen.
1962–1967— học viên chính thức trường Hải quân Hạm đội Biển Đen mang tên P.S.Nakhimov.
1967 — tháng 12 năm 1969 — kỹ sư phòng thí nghiệm, kỹ sư chính phòng thí nghiệm căn cứ kỹ thuật-tên lửa phân hạm đội tàu ngầm số 1-Hạm đội Biển Bắc.
1970–1972 — nhóm trưởng thuộc ngành tên lửa kíp thủy thủ thứ nhất tàu ngầm tuần dương К-131 đề án 675 sư đoàn 11-phân hạm đội tàu ngầm số 1, từ tháng 12 năm 1970 — sư đoàn 7-phân hạm đội tàu ngầm số 1.
1972–1973 — học viên VSOK VMF.
1973–1975 — thuyền phó chính trị tàu ngầm B-73 đề án АV611 lữ đoàn 161-binh đoàn tàu ngầm số 4-Hạm đội Biển Bắc.
Tháng 9 năm 1974 — tháng 4 năm 1975 — trong biên chế kíp thủy thủ dự bị tại binh đoàn cơ động số 5-Hải quân Liên Xô để thay phiên cho các kíp thủy thủ tàu ngầm diesel binh đoàn 4, rời cảng Аleksandria (CH Ả rập Thống nhất) về nghỉ ngơi tại nhà an dưỡng quân đội Hạm đội Biển Đen.
Tháng 5 — tháng 8 năm 1975 — thuyền phó chính trị tàu ngầm cỡ lớn đề án 641 B-440 lữ đoàn 211-binh đoàn tàu ngầm số 4.
1975–1978 — học viên khoa Hải quân Học viện Quân chính Lenin. Tốt nghiệp Học viện xuất sắc với huy chương vàng.
1978–1980 — phó chủ nhiệm chính trị sư đoàn 10-phân hạm đội tàu ngầm nguyên tử số 2-Hạm đội Thái Bình Dương.
1980–1983 — chủ nhiệm chính trị — phó sư đoàn trưởng về chính trị sư đoàn 29-phân hạm đội tàu ngầm nguyên tử số 4. Được bầu thành viên đảng bộ huyện ĐCSLX huyện Olghinsk khu Primorie.
1983–1987 — phó chủ nhiệm chính trị thứ nhất phân hạm đội tàu ngầm nguyên tử số 4.
Tháng 8 — 9 năm 1985 tham gia trực tiếp khử xạ tai họa thảm khốc xảy ra trên tàu ngầm nguyên tử K-431 đề án 675 của sư đoàn 29 trong vịnh Chazma. CCB các phân đội nguy hiểm đặc biệt CHLB Nga.
1987–1991 — chủ nhiệm chính trị — phó tư lệnh về chính trị, từ tháng 3 năm 1991 — trưởng ban chính trị-quân sự — phó tư lệnh binh đoàn 17-Hạm đội Thái Bình Dương.
Từ 1.11.1989 chuẩn đô đốc.
Tháng 10 năm 1991 — tháng 4 năm 1992 — thuộc quyền điều động của Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương.
Từ 22.04.1992 chuyển ngạch dự bị.
Được tặng thưởng huân chương «Phục vụ Tổ quốc trong LLVT Liên Xô» hạng III, các huy chương của LBXHXHCN Xô Viết, huy chương của nước CHXHCN Việt Nam.
1993–1997 — trưởng ban thanh tra và kiểm định vận tải đường thủy tỉnh Moskva Thanh tra giao thông Nga thuộc Bộ GTVT CHLB Nga.
1997–2008 — phó tổng giám đốc công ty trách nhiệm hữu hạn, từ tháng 2 năm 2009 — trưởng ban, phó chủ tịch thứ nhất ban chấp hành tổ chức xã hội khu vực các đô đốc và tướng lĩnh Hải quân "CLB các đô đốc" («Клуб адмиралов»).
.........