Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 08:17:29 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2  (Đọc 206141 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #160 vào lúc: 11 Tháng Tư, 2013, 10:56:38 pm »

(tiếp)


MT "Zapal" đề án 266M. Cam Ranh năm 1981.


MT "Zapal" đề án 266M. Cam Ranh, năm mới 1981.


MT "Zapal" đề án 266M. Cam Ranh năm 1981. Trên cầu tàu: đại úy thuyền trưởng và đại úy KGB.


Tàu công binh xưởng PM-156. Cam Ranh 1980-1981.


Tàu công binh xưởng PM-156. Cam Ranh 1982.Trực canh chống người nhái.


Tàu công binh xưởng PM-156. Cam Ranh 1984-1986.


Tàu công binh xưởng PM-156. Cam Ranh 1984-1986. Nhìn từ trên boong thượng của tàu xuống căn cứ.


Tàu công binh xưởng PM-156. Tiến vào Cam Ranh, 1991.


Tàu công binh xưởng PM-156. Cam Ranh 1991. Ngư dân địa phương.


Tàu công binh xưởng PM-156. Cam Ranh, 1991.
.........
« Sửa lần cuối: 11 Tháng Tư, 2013, 11:15:29 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #161 vào lúc: 12 Tháng Tư, 2013, 08:41:16 pm »

(tiếp)

Tàu quét mìn trên biển MT "Chuẩn úy hải quân Pavlov" đề án 266, lữ đoàn 26


Biển Đông năm 1980, tàu sân bay "Minsk" nhìn từ MT "Chuẩn úy hải quân Pavlov"


Năm 1980, Biển Đông, quân cảng Cam Ranh, một phần thủy thủ đoàn MT "Chuẩn úy hải quân Pavlov" trong thời gian nghỉ ngơi.







Năm 1980, Biển Đông, cảng Đà Nẵng, thủy thủ đoàn MT "Chuẩn úy hải quân Pavlov" trong chuyến thăm thành phố.
..........
Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #162 vào lúc: 12 Tháng Tư, 2013, 09:52:24 pm »

(tiếp)


BPK "Chapaev", Cam Ranh 1985.


BPK "Chapaev", Cam Ranh 1985.


BPK "Chapaev", Cam Ranh 1985.


BPK "Chapaev", Cam Ranh 1985.


BPK "Chapaev", Cam Ranh 1985.
........
Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #163 vào lúc: 12 Tháng Tư, 2013, 10:37:32 pm »

(tiếp)


BPK "Nguyên soái Voroshilov". Nhiệm vụ quân sự 87-88. Tàu đang ở gần bờ biển Việt Nam, ảnh chụp từ trực thăng.


BPK "Nguyên soái Voroshilov". Nhiệm vụ quân sự 87-88. Dưới gốc dừa.


BPK "Nguyên soái Voroshilov". Nhiệm vụ quân sự 87-88. Sân trực thăng trong chuyến ra khơi huấn luyện cứu nạn trên biển Đông.


BPK "Nguyên soái Voroshilov". Nhiệm vụ quân sự 87-88. Chùa Việt Nam.


BPK "Nguyên soái Voroshilov". Nhiệm vụ quân sự 87-88. Cam Ranh 1988.


BPK "Nguyên soái Voroshilov". Tư lệnh Hạm đội TBD và Nguyên soái Moskalenko. Kamchatka 1976.


BPK "Nguyên soái Voroshilov". Nhiệm vụ quân sự 87-88. Cam Ranh tháng 12 năm 1987.
.......
Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #164 vào lúc: 12 Tháng Tư, 2013, 11:18:34 pm »

(tiếp)


BPK "Tallin", Cam Ranh 1986.


BPK "Tallin", gần bờ biển Việt Nam, 1986.


BPK "Tallin", ban 3, Cam Ranh 1986.


BPK "Đô đốc Oktiabrsky". Kiểm tra điều lệnh. Cam Ranh 1990.


BPK "Đô đốc Oktiabrsky". Kiểm tra điều lệnh. Cam Ranh 1990.


BPK "Đô đốc Oktiabrsky". Cam Ranh 1990.


BPK "Đô đốc Oktiabrsky". Cam Ranh 1990.


BPK "Đô đốc Oktiabrsky". Kiểm tra điều lệnh. Cam Ranh 1990.


BPK "Đô đốc Oktiabrsky". Kiểm tra điều lệnh. Cam Ranh 1990.
...........
« Sửa lần cuối: 12 Tháng Tư, 2013, 11:26:11 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #165 vào lúc: 13 Tháng Tư, 2013, 09:49:58 pm »

(tiếp)

Tàu sân bay "Minsk", Cam Ranh, Việt Nam, năm 1980
(ảnh: Vladimir Melnik, trung đoàn cường kích độc lập trên tàu sân bay số 311)
















Trên boong "Minsk". Phi công thử nghiệm Oleg Kononenko (thứ 2 bên phải) một tuần trước khi xảy ra tai nạn Yak-38 ở khu vực gần Côn Đảo (ảnh của L.A.Kononenko)


Trưởng ngành 4 tàu sân bay "Minsk" Viktor Blytov và thanh niên địa phương. Nha Trang 1980  (ảnh của V.Blytov).
........
« Sửa lần cuối: 14 Tháng Tư, 2013, 11:30:22 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #166 vào lúc: 14 Tháng Tư, 2013, 12:25:58 am »

(tiếp)

Tàu sân bay "Minsk" 1979-1980
(Ảnh của thượng úy V.L.Komyze trong chuyến di chuyển qua 3 biển từ Sevastopol về Hạm đội TBD năm 1979 và tại Việt Nam năm 1980)




Ra Địa Trung Hải


Đảo Sokotra


Đi thăm Luanda, Angola


Luanda, Angola


Sỹ quan trực trung tâm thông tin tác chiến. Eo Malakka, tháng 6 năm 1979


Tàu đã vào vịnh Cam Ranh, mùa hè 1980


Trên bãi biển vịnh Cam Ranh


Trên bãi biển vịnh Cam Ranh


Chụp ảnh cạnh Iroquois


Trong căn cứ Cam Ranh


Trong căn cứ Cam Ranh


Trong căn cứ Cam Ranh


Trong căn cứ Cam Ranh


Trong căn cứ Cam Ranh


Thư giãn, tắm nắng


Tránh vào bóng râm


Trên Biển Đông


Trinh sát khí tượng trong sự bám sát của kẻ thù
.....
« Sửa lần cuối: 14 Tháng Tư, 2013, 11:22:52 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #167 vào lúc: 16 Tháng Sáu, 2013, 03:08:36 pm »

(tiếp)



Làng Kamranevka. Yuri Tkachev.

Đã có một thời gian mà tôi, một thiếu tá hải quân, có cơ hội phục vụ tại Việt Nam. Ở đó, trong thời kỳ Xô viết (và hậu Xô Viết, cho đến năm 2002), có một căn cứ đảm bảo vật chất-kỹ thuật của chúng ta phục vụ cho các tàu mặt nước và tàu ngầm của binh đoàn 17 Hạm đội Thái Bình Dương.


Căn cứ hải quân của Liên Xô tại Cam Ranh, tranh vẽ của Edward L. Cooper, năm 1985 - Site "Cựu chiến binh Cam Ranh"

Căn cứ hậu cần này nằm trong vịnh Cam Ranh trên bờ biển đông nam Việt Nam. Chúng tôi, những thủy binh Hạm đội Thái Bình Dương, gọi nơi phục vụ của mình theo phong cách Nga - Kamranevka. Phục vụ tại đây trước chúng ta có người Mỹ, và thậm chí sớm hơn nữa là người Pháp. Nam Việt Nam đã từng là thuộc địa của Pháp.

Khí hậu ở đó thật là khủng khiếp - nóng bức và độ ẩm cao. Khi tôi bay đến Kamranevka và bước chân xuống đường, cảm giác đầu tiên dường như tôi đã mắc kẹt trong một lò nung. Và đang tháng Mười cơ đấy! Tóm lại để có thể sống được ở đây - mà không buồn nản, chỉ là vì phục vụ trung thành cho Tổ quốc phải không ạ?

Người ta nói rằng người Mỹ phục vụ ở đây theo cách luân phiên - hai tuần rồi về nhà hưởng khí hậu quê hương. Còn chúng tôi được phái đến Kamranevka những hai năm. Tùy theo nguyện vọng ta có thể phục vụ lâu hơn. Bộ chỉ huy hạm đội luôn chào mừng chuyện đó.

Chỉ huy PMTO, người Ukraina ông Titenok, cũng như tất cả các sĩ quan ngành hậu cần hải quân của hạm đội, mang quân hàm lục quân - đại tá và ông phục vụ ở Kamranevka đã được 5 năm khi tôi đến. Có điều gì đó không kéo ông về Liên Xô mà để ông bén rễ ở bờ biển Việt Nam. Đại loại là gia đình ông đang ở đâu đó tại Sevastopol, mà không chuyển đến đây. Ở đây ông là ông chủ của một mẩu nước ngoài, còn ở đó, ở Sevastopol, ông sẽ chỉ là một đại tá bình thường, có vô số trên đất Nga.



Và phụ cấp bằng tiền cũng giữ chân người ta trong ngôi làng nóng nực Kamranevka. Mức lương rất tốt tại thời điểm ấy. Còn khi đi về nghỉ phép hoặc nghỉ hẳn, lấy tổng lũy kế những đồng séc mà cơ quan Ngoại thương ban hành có thể "luộc" được trong các "cửa hàng đặc biệt" các trang thiết bị khan hiếm và các loại quần áo thời trang hợp mốt.

Các bà vợ của chúng tôi, khi bước vào một cửa hàng như vậy vào buổi sáng, sẽ dạo chơi ở đó với một vẻ say mê quyến rũ giống như đi bảo tàng, cho đến tận lúc của hàng đóng cửa. Trong các cửa hàng thông thường, tại các quầy, hàng hóa còn nghèo nàn hơn cả so với chỗ ông tiên có bà lão ngồi trong cái thùng trong nhà kho. Ngắm hay không ngắm cũng vậy thôi - đến bánh tiểu mạch cũng chẳng đủ.



Lúc đầu, tôi hầu như không thể hít thở được thứ không khí bị đốt nóng này, nó thiêu cháy ta từ bên trong, và sau này khi đã quen, ta dần dần sạm đen bởi mặt trời và khô xác như một con sứa trên bờ biển. Mỡ nhểu ra khỏi cái bụng Hải quân và nhỏ giọt xuống cát. Thức ăn không trôi được qua cổ họng - trời quá nóng. Cũng nhờ vậy mà - giảm cân.

Sau một thời gian, khi đã quen với khí hậu nóng nực, tôi bắt đầu nhận thấy thiên nhiên tuyệt đẹp của vịnh Cam Ranh - những hàng dừa, những bãi biển cát trắng tinh khiết, biển Đông xanh biếc như màu ngọc.

Tôi đến Kamranevka thay phiên nhà hóa học-đồng nghiệp Ghena Romanov. Ghena ốm đau trầm trọng và một tuần trước khi tôi đến, anh đã trở về Liên bang.

- Yura - Viktor Khozov, phó chủ nhiệm ngành hóa học hạm đội nói một cách bí ẩn trước chuyến đi của tôi đến Việt Nam - Hãy nhớ rằng Titenok thiếu 24 kí-lô rượu. Ông ấy sẽ đẩy cậu đi đâu đó, hoặc trao đổi hàng hóa theo kiểu hàng đổi hàng. Tôi sẽ cho cậu biết điều bí mật tuyệt vời - chúng tôi đã "quay phim" lão ta. Nhưng! Titenok không biết chuyện đó.


Học viên trường dự bị hải quân Nakhimov, Viktor Khozov, năm 1966. Viktor Khozov (đứng giữa) cùng với các bạn cùng lớp.

- Tôi hiểu ý anh! - Tôi đáp, - Chúng tôi sẽ hành động dứt khoát và mạnh mẽ. Ra nước ngoài khi đó được phép mang theo hai chai vodka "Moskva". Và, đương nhiên, rượu ở Việt Nam cũng là loại hàng khan hiếm. Hai chai "Moskva"  tôi mang theo được hải quan Liên Xô phê "duyệt", được các bạn chiến đấu mới của chúng tôi thưởng thức không lâu - chừng năm phút. Trước cuộc gặp gỡ các đồng nghiệp, tôi đến trình diện chỉ huy của mình - đại tá Titenok. Ông sống trên tầng hai một ngôi nhà gỗ hai tầng mà thực dân Pháp xây dựng cuối những năm bốn mươi - đầu những năm năm mươi.

Các căn biệt thự sau ba mươi lăm năm mối không ăn nổi, bởi tất cả các súc gỗ đã được tẩm một loại chất độc nào đó của miền nhiệt đới nhiều tai ương này.

- Tôi đã tiếp nhận công việc - tôi vui vẻ báo cáo - giấy tờ các loại theo quy định, tài sản hiện có trong kho, ngoại trừ hai mươi bốn kí-lô rượu.
- Rượu nào vậy? - người Ucraina ranh mãnh Titenok có vẻ mặt rất sửng sốt.
- Của phòng thí nghiệm hóa học quân sự di động, thưa đồng chí đại tá: Tất cả ba thùng chứa đều rỗng không.

Titenok hiểu ra rằng dắt mũi tôi rất khó. Trên thực tế, tôi sẽ chịu trách nhiệm về sự mất mát tài sản, nếu duyệt ký biên bản bàn giao của người chỉ huy mà không đề cập đến sự thiếu hụt này.

- Được rồi, nhà hóa học, cứ đi đi, hãy viết phiếu, cậu sẽ nhận được món đồ của cậu, tôi chỉ có ba lít thôi, tôi còn phải làm việc. Rồi tôi sẽ ký chúng giúp cậu - Người chỉ huy mới của tôi nói.


Phiên bản trong nước và phiên bản xuất khẩu

Và khi các sỹ quan của PMTO đã nốc cạn chai "Moskva" mừng tôi đến, tôi hỏi họ ai là người chịu trách nhiệm món shilo.

- À, đây, Volodia Babaev! - họ chỉ cho tôi một đại úy hải quân da ngăm đen.
- À, à, Volodya ibn Ali Babaevitch, vậy xin anh hướng dẫn cho tôi vào được kho châu báu của mình! - Tôi long trọng tuyên bố - Lễ hội vẫn tiếp tục nhé! Tôi chìa cho anh ấy xem phiếu xuất rượu, có chữ ký của người chỉ huy PMTO. Trên phiếu ghi rõ ngày - ngày 17 tháng 10 năm 1985. Ngày tôi đến vịnh Cam Ranh.

- Trời, cậu đã kịp làm việc với Titenok khi nào vậy? - Mọi người đều vui vẻ ngạc nhiên trước tính khẩn trương của tôi, - thật là nhanh như phản ứng hóa học!

Chủ nhiệm quân lương, Mishka Smykov - một viên thượng úy to lớn, vụng về, ra lệnh chuẩn bị một bữa ăn tối đặc biệt để mừng dịp tôi đến, và anh nhanh nhẹn chạy đi, lo bữa ăn buổi tối thật ngon cho chúng tôi. Còn tôi và Volodya lấy hẳn ấm trà bằng nhôm 5 lít của hải quân và để không gây sự chú ý không lành mạnh, chúng tôi cứ chậm rãi lang thang trong cái nóng, đi lấy đồ uống.

Khi bóng đêm dày đặc miền nhiệt đới hoang dại, giống như chiếc lều thổ dân Bắc Mỹ, buông xuống căn nhà gỗ 2 tầng của chúng tôi một cách đột ngột bất thường, chẳng hề có dấu hiệu báo trước của hoàng hôn, khi đó trời mới mát mẻ được một chút, bầu trời bắt đầu sáng lên bởi những ngôi sao lớn rậm rịt, tiếng bọn ve sầu kêu như rang trong các bụi cây mộc lan, anh em sĩ quan ngồi vào bàn và mở màn lễ "nhập trạch" vào Kamranevka của tôi.

Tại hạm đội, cũng như ở lục quân, hay không quân, bất cứ ngành phục vụ nào cũng bắt đầu với một lễ "nhập trạch". Nó là đạo luật quân sự "nghiêm túc". Và không phải một bữa tiệc rượu theo nghĩa hiểu thông thường của từ này. Đơn giản là sau này, trong cảnh hối hả và nhộn nhịp của công việc hàng ngày, ta sẽ không có thời gian để làm quen. Một người mới cần phải được tìm hiểu xem anh ta là ai, anh ta thở kiểu gì, anh ta từ đâu đến. Và ngoài ra, anh ta có thể là đồng hương của bạn hay không? Ở đó, ở vùng Viễn Đông, người ta coi là đồng hương nếu ta cùng tỉnh hay cùng một vùng của đất nước với nhau. Sau bàn nhậu, dưới âm thanh du dương của những tiếng chạm cốc thủy tinh chứa thứ rượu đã pha loảng bớt, dưới khẩu vị những món ăn đơn giản của hải quân, chúng tôi giao tiếp với nhau và tìm được bạn cho mình, những người bạn mà ta sẽ không bao giờ phản bội và sống chết có nhau kể cả trong lúc khó khăn.

Sau khi Mỹ rút quân khỏi miền Nam Việt Nam, tại đấy những cấu trúc cơ sở hạ tầng dần dần bị những người cai quản phá hủy. Tháng Tư năm 1975, Bắc Việt Nam sau khi giải phóng Miền Nam, đã thay đổi đột ngột theo hướng Bolshevik, hình ảnh tư sản của cuộc sống của người dân. Sài Gòn được đổi tên thành Thành phố Hồ Chí Minh, các cô gái Việt Nam - làm nghề mại dâm bị đày ra đảo để khai thác đá, còn những người đàn ông - cựu công chức của chế độ tay sai đế quốc bị buộc phải làm việc trên cánh đồng. Người ta cày bừa để trồng lúa. Đổi lại là những gì - từ Liên Xô chuyển đến Việt Nam một số lượng lớn xe máy trang bị kỹ thuật. Nhà hàng, siêu thị, sòng bạc bị đóng cửa. Đèn đỏ bị dập tắt tại các tụ điểm xa hoa của Sài Gòn. Công việc không có. Cái nghèo của miền Bắc Việt Nam lây lan về phía nam của đất nước. Trong những tiệm tạp hóa nghèo nàn, người ta bán các đồ lưu niệm, chế tạo thủ công - mành mành với những vỏ trai, vỏ ốc, hoa quả.

Một bánh xà phòng có thể trao đổi lấy một nải chuối hoặc một cặp trái thơm khổng lồ. Ai đó trong chúng tôi đã dùng một từ tiếng lóng, và chúng tôi, những người Nga, đối với họ là các "korefan".

- Korefan! Kinem (đổi không)? - một người Việt Nam gầy còm hỏi. Và chúng tôi thì chúng tôi "kinemili" (trao đổi) là đương nhiên.


Phố Cửa Hiệu, ảnh G.Trofimov - Căn cứ hải quân trong vịnh Cam Ranh tại Việt Nam

"Kinem" đã bị ban chỉ huy cấm, nhưng trên thực tế họ làm ngơ.

Để đổi lấy những trái cây kỳ lạ của Việt Nam, vỏ trai ốc và quà lưu niệm, phía chúng tôi dùng xà bông, thịt hộp, quân phục hải quân. Giày là loại hàng được đặc biệt đánh giá cao nhất là giày cỡ nhỏ và áo sơ mi hải quân màu kem cộc tay.

Nạn ăn cắp từ phía những người anh em chung vũ khí non trẻ của chúng tôi là hành vi bình thường. Trong khi tôi tắm trong nhà tắm có vòi hoa sen mùa hè, một người Việt Nam nào đó trong trung đội quản lý đã đánh cắp chiếc áo sơ mi mà tôi vô tình vắt trên bức tường phòng tắm . Và đại tá hải quân trưởng ngành hoa tiêu Zayko của chúng tôi đã hai lần từ bãi biển trở về trong độc một chiếc quần sịp.

Vợ ông, người mà ông đưa đến Cam Ranh (các sỹ quan bộ tham mưu được phép mang theo gia đình), đã lớn tiếng la mắng ông bằng đủ loại từ ngữ vì sự mất mát do thiếu cảnh giác này.

Phụ nữ gần như không có, nhưng các cô gái Việt thì thậm chí không muốn nhìn - họ gầy gò, nhỏ bé, ngực phẳng. Ngay cả đàn ông Việt cũng thích những nữ đồng tộc béo tốt. Dấu hiệu của một người Việt Nam giàu có là sự viên mãn vợ ông ta. Vợ của người chỉ huy trung đội quản lý Việt Nam theo quan điểm Việt Nam là một người phụ nữ khá tươi tốt.

- Người giàu ấy à! - ông ta nói với cấp dưới của mình một cách đố kỵ - vợ bao giờ cũng béo, họ nuôi vợ rất tốt.

Mà tại sao lại không nuôi tốt, bởi người Việt Nam tháo vát thường nuôi heo, và tất cả các đồ thải từ bộ phận phục vụ của chúng tôi ông ấy lấy đi hết. Những con heo vui vẻ ụt ịt trong bãi chăn. Và chăm chăm nhìn chúng cũng như nhìn bà chủ tươi tắn béo tốt của chúng với vẻ thèm muốn là những người lính suốt đời đói khát thuộc trung đội quản lý Việt Nam. Người ta chuẩn bị bữa ăn trưa cho mười người bằng một nồi cơm với một số đồ biển.
 
Họ không có bữa sáng và bữa tối. Do đó người Việt Nam đánh bắt và ăn tất cả mọi thứ di chuyển được hoặc đơn giản là động đậy được. Một món ăn đặc biệt là loài thằn lằn lớn, chẳng hạn như kỳ giông. Lúc thủy triều xuống thấp, hàng trăm người Việt Nam ra bờ biển đào bới - họ kiếm đồ ăn.

Cần phải nói rằng người dân bản địa, dù gầy gò nhưng mạnh mẽ và dẻo dai. Cá nhân tôi đã có cơ hội để khẳng định điều đó. Ngày hôm đó tôi đổi phiên trực. Ba đến bốn lần một tháng, các sỹ quan PMTO làm nhiệm vụ trợ lý trực ban tác chiến và phụ trách các vấn đề đảm bảo hoạt động cho các tàu mặt nước và tàu ngầm ghé vào vịnh Cam Ranh.

- Này nhà hóa học! - Titenok gọi cho tôi, - tôi sẽ đưa cậu về nhà, hãy lên xe đi.
Khu nhà ở cách bến tàu quân sự những mười hai km. Sau phiên trực cần phải tìm một chiếc xe trên đường đi về.

- Cảm ơn! - Tôi ngồi thoải mái trên ghế sau chiếc UAZ của ông ấy.
- Trước tiên ta cứ đi, rồi ta đến xem công tác xây dựng bệnh viện tiến triển đến đâu - người chỉ huy của tôi báo trước cho tôi.
..........
« Sửa lần cuối: 17 Tháng Sáu, 2013, 01:57:29 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #168 vào lúc: 17 Tháng Sáu, 2013, 12:50:50 am »

(tiếp)

Động cơ gầm gừ một cách ấm cúng, chiếc xe lăn bánh đều đều trên con đường êm ả dọc theo bờ biển. Tôi bắt đầu thiếp đi sau một phiến trực đêm không ngủ trên chiếc tàu công binh xưởng bị ánh nắng mặt trời thiêu đốt nung nóng bỏng, nơi đặt văn phòng trực ban tác chiến.



- Đứng lại! Đứng lại! - đột nhiên đại tá hét lên. Tôi nhìn ra ngoài cửa sổ xe và nhìn thấy một người Việt Nam đang chạy trốn cõng trên vai một bao xi măng đầy ự, đánh cắp từ công trường xây dựng. Xương sườn của anh ta nhô ra như những chiếc răng bừa cào cỏ, anh ta trông gầy nhỏ và yếu đuối. Món hàng của anh ta đè dúi dụi anh ta. Người thổ dân chỉ hơi trượt chân một chút trên bãi cát, rồi anh ta nhảy lên và chạy nhanh như một con sóc. Anh ta chạy thẳng vào hướng rừng, còn cách đó không quá năm trăm mét.

- Này các cậu lính thủy! Ê, mấy cậu lính thủy - Titenok hét lên - chạy lại đây! Hai cậu thủy thủ lính nghĩa vụ lười biếng chạy bộ đến chỗ chiếc xe, các cậu ấy được cử đến làm việc tại công trường xây dựng bệnh viện.

- Nhìn đi đâu thế, các cậu cả thộn! Người ta lấy xi măng trước mũi các cậu, mà các cậu có đủ cả tai lẫn mồm! Chạy ngay theo! Đuổi kịp và lấy lại! - Đại tá Titenok chỉ về phía tên trộm đang bỏ chạy.

Các cậu lính thủy lạch bạch chạy. Họ không thực sự chạy, bởi lẽ họ đã cam kết "kinem" với người Việt Nam: một bao xi măng lấy một chai rượu gạo giá rẻ. Nhưng đằng sau đại tá đang nổi giận - phải đuổi kịp và lấy lại.

Chắc chắn, người ta sẽ thì thầm với "korefan" hãy chờ đợi cho đến khi thủ trưởng bỏ đi. Phía sau hai thủy thủ cùng khênh một bao xi măng. Và nói cho cùng, hãy thử chạy nhảy trên bãi cát nóng rực với một khối nặng trên vai như vậy xem.

- Thế đấy, thưa đồng chí đại tá, người Việt Nam tự tay bê đồ về nhà của mình, còn với các cậu chiến sỹ này của chúng ta mớ xi-măng đó hoàn toàn vô dụng - Tôi nói với người chỉ huy. Titenok bực tức quá chỉ nhổ nước bọt, mà không tìm ra lời để nói.



Toàn bộ công việc quân sự bắt đầu từ sáu giờ sáng và kết thúc chỉ sau khi ăn trưa. Tiếp đến là giấc ngủ trưa. Tất cả chỉ sống lại vào buổi tối, khi nhiệt độ giảm xuống một chút. Trong giờ nghỉ trưa dài, chúng tôi có thể ngủ trong ngôi biệt thự gỗ, và có thể đi đến bãi biển "Mỹ" để bơi và tắm nắng. Tôi thích lặn ngụp trong làn nước ấm áp của Biển Đông, còn cát trên bãi biển thì nhỏ và trắng như thể tinh bột. Để tránh mặt trời nóng bỏng, người ta thường trú ẩn dưới những bóng dừa hiếm hoi.

Rồi đến buổi tối - món bài bạc preferans muôn thưở của sỹ quan kiểu nửa kô-pếch cho bài "twist" hoặc bi-a.

Điều thú vị - đó không phải là những người bạn thường xuyên của thủy thủ - những con gián có biệt danh "stasik". Trong thời đại của chúng ta, tôi đã thôi không quan sát thấy chúng, - có lẽ lý do dẫn tới điều đó - là bức xạ điện từ. Bây giờ, mọi người đều có điện thoại di động, toàn bộ đất nước đã computer hóa. Tôi nghĩ rằng stasik đã rời khỏi nước Nga. Vâng, người ta có thể sống ở những nơi mà nền văn minh chưa từng đặt chân tới. Nhưng ở đó, tại Kamranevka, lý do lại nằm ở chỗ khác. Tất cả stasik có mặt trên các tàu quân sự và các loại tàu thuyền khác đều bị lũ gián Việt Nam màu đen khổng lồ nuốt hết. Nhìn thấy một trong những con gián ấy tóc trên đầu bạn có lẽ cũng phải dựng đứng.

- Khr ... khr...khr ...... - Tôi thức dậy lúc nửa đêm trong bungalow của mình, tôi bật điện sáng và nhìn thấy cạnh mình, trên bức tường dán giấy bồi, những con gián khổng lồ to như lòng bàn tay đang gặm giấy. Có khoảng một chục con. Mắt chúng lóe lên những ánh đói khát. Chúng đi kiếm ăn đêm bằng lớp hồ dán đã khô, mà trước đây được người ta dùng dán giấy bồi. Đôi hàm mạnh mẽ của chúng nghiến ngấu không chỉ những chú stasik gầy gò khốn khổ. Có vẻ như nếu tôi ngủ thiếp đi, khi đó những con vật này sẽ bò lên người và xử lý luôn cả tôi.

- Còn ở trên trần ngay trên đầu, với những ngón chân nhỏ xíu nhưng bám cực chắc để treo mình là "Masha" - con thằn lằn màu hồng trong suốt. Trong ánh đèn chiếu sáng thấy rõ cả cột sống và các cơ quan nội tạng của nó. Nó cũng chưa là gì.

Tầng đầu tiên ngôi biệt thự của chúng tôi nhiều khi còn được những con rắn, rết, và bọ cạp đến thăm. Đó là những kỳ trùng dị vật của miền nhiệt đới. Và cho đến nay Cam Ranh vẫn luôn ở trong tâm trí tôi. Một trong những mốc quan trọng của đời phục vụ hải quân của tôi có độ dài hơn một phần tư thế kỷ. Và bây giờ là một tài liệu tham khảo từ internet.



"Cam Ranh là căn cứ quân sự lớn nhất của Liên Xô ở nước ngoài. Diện tích của nó khoảng 100 km vuông. Hầu như tất cả các cầu cảng, đường giao thông, các tòa nhà đều được các nhà xây dựng của Liên Xô (Nga) xây dựng. Tàu mặt nước và tàu ngầm quân sự của Liên Xô (Nga), khi thực hiện các chuyến đi biển xuyên đại dương (bao gồm cả vào Ấn Độ Dương và vùng Vịnh Ba Tư), đều được tiếp tế tại căn cứ các loại nhiên liệu, bổ sung hàng hóa dự trữ, tiến hành sửa chữa. Tại căn cứ bố trí một trung đoàn không quân hỗn hợp (OSAP) bao gồm - 4 Tu-95, 4 - Tu-142, phi đội Tu-16 các kiểu khác nhau có 20 chiếc, một phi đội MiG-23 (khoảng 15 chiếc), 2 máy bay vận tải An-24 và 3 máy bay trực thăng Mi-8 (số liệu 1986).... Ngoài ra trực thuộc trung đoàn còn có một căn cứ vũ khí chống ngầm và vũ khí tên lửa và bộ phận TECH (ban bảo dường khai thác kỹ thuật). Nhưng ... ngày 24 tháng 7 năm 2001 Bộ trưởng Quốc phòng Nga Sergei Ivanov cho biết, Nga sẽ rút khỏi Cam Ranh".... Và chúng tôi đã đi. Đáng tiếc thay. Nếu không có các căn cứ hải quân được trang bị tốt - nói chung sẽ không có hải quân, và không có căn cứ hải quân đóng quân tiền tiêu như Kamranevka của chúng ta - không thể có Hạm đội Đại Dương của một cường quốc vĩ đại. Và các chàng trai của hạm đội chúng ta sẽ không phục vụ tại một đất nước nhiệt đới xinh đẹp nữa - đất nước Việt Nam.

Ghi chú:
*"korefan" - nói trại của từ "cố vấn".
**"kinem" - nói trại của từ "kỷ niệm".

........
« Sửa lần cuối: 17 Tháng Sáu, 2013, 02:00:50 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #169 vào lúc: 07 Tháng Bảy, 2013, 11:43:39 pm »

(tiếp)

Quân đội và Hải quân Liên Xô trong sự nghiệp ngăn chặn cuộc xâm lược của Trung Quốc đối với Việt Nam năm 1979
 
Aleksandr Rozin (Alerozin.ru)
                                                          
Vào đêm trước cuộc chiến tranh
                
Sau khi kết thúc chiến tranh Việt Nam và thống nhất 2 miền Bắc và Nam Việt Nam,  mặc dù sự trợ giúp toàn bộ của Liên Xô trong thời gian chiến tranh, các nhà lãnh đạo Việt Nam không muốn phụ thuộc vào Liên Xô, họ thực hành một chính sách độc lập và các mối quan hệ giữa hai nước đã lạnh nhạt phần nào. Nhưng rất nhanh chóng người ta thấy rõ rằng ý định dựa vào Trung Quốc có thể dẫn đến sự phụ thuộc lớn hơn nữa của đất nước, đặc biệt là người Trung Quốc muốn thống trị toàn bộ khu vực. Kết quả là sự lựa chọn của các nhà lãnh đạo Việt Nam dừng lại ở Liên Xô, nhưng trước cuộc xâm lược của Trung Quốc vào tháng Hai-tháng Ba năm 1979,  mối quan hệ dẫu sao vẫn còn lạnh nhạt. Cuộc tấn công của Trung Quốc buộc ban lãnh đạo Việt Nam xích gần lại với Liên bang CHXHCN Xô Viết, bao gồm cả trong lĩnh vực hải quân.

Rạng sáng ngày 17 tháng 2 năm 1979, sau nhiều hành động khiêu khích quân đội Trung Quốc bắt đầu cuộc xâm lược chống CHXHCN Việt Nam. Lý do cho cuộc xâm lược của Trung quốc thì rất nhiều. Công cuộc cải tạo XHCN trong lĩnh vực kinh tế ở miền Nam đã gây ra nhiều thiệt hại, chủ yếu là cho cộng đồng rộng lớn người Hoa tại Việt Nam. Xung đột của cộng đồng đó với người Việt Nam đã mang hình thức hận thù sắc tộc và tác động tiêu cực đến mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc. Mùa xuân - mùa hè 1978, Bắc Kinh đã phát động chiến dịch "Nạn Kiều", tổ chức đưa những người dân tộc Trung Quốc - Hoa Kiều về Trung Quốc.

Cư trú tại Việt Nam có hơn 1,2 triệu người gốc Trung Quốc, và "Nạn Kiều" được nặn ra như một chiến dịch "giết chết một sinh vật sống mà không dùng đòn dao găm công khai, cũng không đầu độc trực tiếp". Người ta cho rằng ở tỉnh Quảng Ninh toàn bộ dân cư gốc Trung Quốc sẽ rời bỏ tỉnh, có nghĩa phải chấm dứt công việc khai thác gỗ, rằng không đủ lao động chân tay trong thời gian thu hoạch lúa, rằng các công nhân ụ tàu sẽ rời bỏ các cảng Hồng Gai, Cẩm Phả và Hải Phòng. Điệp viên của Bắc Kinh đã giúp Hoa Kiều trốn bất hợp pháp về phía Trung Quốc, sau đó chính họ lại đóng cửa biên giới. Vì vậy mà gây ra cảnh tắc nghẽn tại các cửa khẩu biên phòng. Các phần tử khiêu khích người Trung Quốc xúi giục những người bị bỏ lại vô gia cư tấn công các đại diện của chính phủ Việt Nam, tạo ra tình trạng bất ổn, vượt biên về Trung Quốc, mặc dù ngoài chính người Trung Quốc, chẳng ai kìm giữ họ ở khu vực biên phòng. Hơn 170.000 người bị lừa gạt một cách hợp pháp và bất hợp pháp đã rời Việt Nam đi Trung Quốc. Nhiều người trong số họ trở về lục địa quê hương lịch sử của họ, còn một số đi đường qua Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) trên những chiếc thuyền.

Người TQ bắt đầu tạo ra những khó khăn trong các công trình khác nhau được xây dựng tại Việt Nam. Việc cung cấp bản vẽ và máy móc cần thiết bị trì hoãn. Trang thiết bị đến không đầy đủ. Công nhân và kỹ sư Trung Quốc đột ngột bỏ đi. Tất cả những điều này đã có tác động tiêu cực đến việc xây dựng và bàn giao khai thác các công trình cần thiết cho CHXHCN Việt Nam, kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế quốc gia. Ngày 12 tháng 5 năm 1978 chính phủ Trung Quốc quyết định hủy bỏ tất cả các đơn hàng cung cấp thiết bị cho Việt Nam. Bắc Kinh tuyên bố rằng các phương tiện đã phát hành sẽ được sử dụng để tạo việc làm cho những người có quốc tịch Trung Quốc, mà Việt Nam bị cáo buộc đã "trục xuất" họ khỏi đất nước mình. Tiếp theo là các hành động gây áp lực mới từ Bắc Kinh: họ  rút hầu hết các chuyên viên kỹ thuật, bắt đầu thắt chặt việc thực hiện liên lạc thương mại, đơn phương hủy bỏ một số thỏa thuận đã ký của các chính phủ hai quốc gia. Bắc Kinh đã đưa ra một loạt các biện pháp ảnh hưởng đến lợi ích của các nước khác. Ví dụ, họ bắt đầu cấm hoặc hạn chế vận chuyển từ châu Âu qua Trung Quốc các thiết bị và nguyên vật liệu cho Việt Nam. Về vấn đề hàng hóa từ Liên Xô họ đã gây khó khăn trong thập niên 60, thời còn chiến tranh với Hoa Kỳ. Nhiều thiết bị quân sự và hàng hóa khác không đi đến nơi.

Chính phủ Trung Quốc không dựa trên cơ sở nào đã quyết định đóng cửa vào ngày 16 Tháng Sáu năm 1978 các Tổng lãnh sự Việt Nam tại Côn Minh, Nam Ninh và Quảng Châu, đòi tất cả các nhân viên của cơ quan lãnh sự phải rời khỏi Trung Quốc. Tất cả bọn họ đã rời Trung Quốc vào ngày 03 Tháng Bảy. Đây là một hành động nghiêm trọng hướng tới việc làm gay gắt hơn nữa mối quan hệ Trung-Việt. Đồng thời, Bắc Kinh tăng cường gây căng thẳng trên biên giới, kích động phát ngôn chống Việt Nam của người có nguồn gốc Trung Quốc trên đất Việt Nam. Nhưng mối quan hệ đặc biệt căng thẳng do tình hình ở Campuchia (ngày nay là Cambodge).

Trung Quốc đứng về phe chế độ Pol Pot ở Campuchia (nay là Cambodge) gây nên tội ác diệt chủng trong nước (1,7 triệu người chết trong tổng số 7 triệu dân). Sau khi bắt đầu trong tháng 12 năm 1978, các hoạt động chiến đấu của các lực lượng yêu nước Campuchia chống lại quân đội Pol Pot và sự hỗ trợ tích cực cho họ từ phía Hà Nội thể hiện qua việc đưa các cụm quân chính quy Việt Nam quân số đến 120 000 người vào Cam-pu-chia, Trung Quốc tiếp nhận sự xâm nhập của quân đội Việt Nam vào lật đổ chế độ Pol Pot là một đòn giáng mạnh vào uy tín của mình và họ tăng áp lực đối với Việt Nam. Người Trung Quốc, cụ thể, đã triệu hồi đại sứ và tùy viên quân sự của họ từ Hà Nội về, cắt giảm biên chế sứ quán xuống còn 1/3, hủy bỏ các thỏa thuận về đi lại miễn thị thực giữa hai nước, chấm dứt viện trợ kinh tế, và tháng 12 năm 1979 họ ngừng giao thông đường sắt. Đồng thời, trong tháng mười và tháng mười một năm 1978 dưới vỏ bọc các cuộc tập trận quân sự ở khu vực biên giới họ đã chuyển đến 9 sư đoàn và bắt đầu di chuyển bí mật không quân từ các khu vực nội địa vùng trung tâm Trung Quốc đến các sân bay của các quân khu Côn Minh và Quảng Châu.

Thời gian của cuộc tấn công vào Việt Nam được chọn không ngẫu nhiên. Khoảng 85% các đơn vị chính quy của Việt Nam đang ở Campuchia, ngoài ra, còn khoảng 25.000 binh lính Việt Nam tại Lào. Bắc Kinh đã hoàn thành một quá trình chuẩn bị về tâm lý chính trị-quân sự và tiến hành thăm dò ngoại giao. Đặng Tiểu Bình đã đến thăm Washington (29.01-05.02.1979) và trên đường trở về tại Tokyo đã gieo rắc những mối đe dọa với Việt Nam mà không nhận được sự phản kháng cần thiết. Trong những hành động của Mỹ và Nhật Bản, các chuyên gia phân tích chính trị nhìn thấy những quan điểm đồng lõa rõ ràng. Cả Washington và Tokyo cùng với một loạt các bên đều hưởng lợi từ cuộc xung đột Việt-Trung.  Những quan điểm thuận lợi đối với chính quyền Bắc Kinh đã xây dựng nên Hiệp ước Trung-Nhật, thiết lập quan hệ ngoại giao với Mỹ. Những nhượng bộ được người Mỹ thực hiện về vấn đề Đài Loan, cho phép Trung Quốc rút một phần quân đội ném tới biên giới với Việt Nam.

Ngay trước khi nổ ra cuộc xâm lược, ngày 29 tháng sáu năm 1978, Việt Nam gia nhập Comecon. Ngày 3 tháng 11 năm 1978, tại Moskva hiệp ước hữu nghị Xô-Việt giữa Liên Xô và Việt Nam đã được ký kết. Ngoài các điều khoản tiêu chuẩn của một bản hợp tác thương mại và văn hóa, hiệp ước có những điều khoản quân sự quan trọng đề cập đến "phòng thủ chung" có nghĩa là "tham vấn chung và hành động một cách hiệu quả để đảm bảo an ninh của cả hai nước". Đối với Bắc Kinh, sự kiện ký kết hiệp ước là một mũi chích đau đớn. Bởi lẽ các bằng chứng về sự phát triển hợp tác Liên Xô - Việt Nam đã xuất hiện ngay từ mùa hè năm 1978, trong bối cảnh mâu thuẫn ngày càng tăng giữa Việt Nam và Trung Quốc. Theo các nguồn tin chính thức của Mỹ tới tháng 8 năm 1978 ở Việt Nam đã có 4000 cố vấn và các chuyên gia Liên Xô, còn tới giữa năm 1979 số lượng của họ là 5000-8000. Vào tháng Chín năm 1978 Liên Xô bắt đầu thực hiện cung cấp các loại vũ khí mới (máy bay, tên lửa, xe tăng và đạn dược) đến Việt Nam bằng đường hàng không và đường biển.

Đến thời gian này, các mối quan hệ Liên Xô-Trung Quốc đã trải qua những khó khăn thử thách lớn. Ngày 01 tháng 11 năm 1977 cơ quan ngôn luận của những người Cộng sản Trung Quốc, tờ "Nhân dân nhật báo", trong một bài xã luận đã xác định Liên Xô như một kẻ thù nguy hiểm nhất của Trung Quốc, trong khi Hoa Kỳ hiện nay được coi là một đồng minh. Ngày 26 tháng 3 năm 1978 Bộ Ngoại giao Trung Quốc yêu cầu Moskva, ngoài việc công nhận sự tồn tại của các vấn đề khu vực biên giới Trung-Xô, phải rút xa hẳn các đơn vị của Liên Xô tại CHND Mông Cổ, và giảm số lượng của họ trên toàn tuyến biên giới Trung-Xô. Đáp trả đòi hỏi của Trung Quốc, Tổng bí thư Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô Leonid Brezhnev, vào đầu tháng 4 năm 1978 khi thăm Siberia và Hạm đội Thái Bình Dương, đã tuyên bố rằng các hệ thống vũ khí mới ngoài số đã tồn tại sẽ được triển khai tiếp trên biên giới Trung-Xô. Vũ khí mới này, theo lời Brezhnev cho biết, sẽ đảm bảo an ninh cho bạn bè xã hội chủ nghĩa của chúng ta, chống lại sự xâm lược có thể xảy ra, nguồn xâm lược thì ông không chỉ ra, nhưng vậy là quá rõ ràng. Ngoài những lời tuyên bố của Liên Xô, ngày 12 tháng 4 năm 1978 Ulan Bator cũng đã công khai bác bỏ yêu cầu của Bắc Kinh, khi tuyên bố rằng những chi đội quân đội Liên Xô bổ sung đã được triển khai dọc theo biên giới với Trung Quốc của Mông Cổ, là thể theo yêu cầu của Mông Cổ, nhằm đáp trả sự gia tăng quân đội Trung Quốc tại biên giới. Tình hình trên biên giới phức tạp thêm. Trong tháng 5 năm 1978 tại tuyến biên giới Xô-Trung đã phát sinh sự cố biên giới nghiêm trọng nhất kể từ năm 1969, tham gia sự kiện thậm chí có cả các máy bay trực thăng. Liên Xô đến lượt mình đã gây áp lực tích cực lên Trung Quốc nhằm tiếp tục kéo dài và mở rộng Hiệp ước Hữu nghị, Liên minh và hỗ trợ lẫn nhau có giá trị 30 năm với Trung Quốc, được ký kết vào ngày 14 Tháng Hai năm 1950, nay sắp hết hạn.              
.......
« Sửa lần cuối: 08 Tháng Bảy, 2013, 12:49:50 pm gửi bởi qtdc » Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM