Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 06:22:20 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Điểm tin quân sự tổng hợp  (Đọc 324846 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
nguyenhoangcema
Thành viên
*
Bài viết: 2087


AK 47


« Trả lời #510 vào lúc: 02 Tháng Năm, 2012, 03:27:44 pm »

Ngân sách quốc phòng Mỹ: Lầu Năm Góc giảm, Hạ viện tăng

Trái ngược với xu thế cắt giảm ngân sách do Lầu Năm Góc đề xuất, Hạ viện Mỹ mạnh tay duyệt chi cho nhiều dự án quốc phòng.

Không quân

Tiểu ban quốc phòng Hạ viện về không quân chiến thuật khuyến nghị chi thêm 1,1 tỷ USD so với khoản do Lầu Năm Góc đề nghị cho một số chương trình mua vũ khí. Nếu luật được chuẩn y, Không quân sẽ sử dụng UAV  Block 30 Global Hawks cho đến hết năm 2014. Lầu Năm Góc đề nghị chi 75 triệu USD cho các máy bay không người lái (UAV) nhưng tiểu ban đề nghị chi thêm 263 triệu USD cho các chiến dịch đang tiếp tục.


Trinh sát cơ không người lái tầng cao RQ-4 Global Hawk có hi vọng được cứu thoát khỏi bị "đắp chiếu".

Tiểu ban cũng kiến nghị cung cấp tài chính để mua 36 UCAV MQ-9 Reaper của hãng General Atomics, nhiều hơn số lượng không quân yêu cầu là 12 chiếc.  Để mua thêm 12 máy bay này, tiểu ban đã đề nghị chi thêm 180 triệu USD vào tổng số ngân sách mà không quân yêu cầu là 920 triệu USD.

Lục quân

Dự thảo của Ủy ban tăng thêm 250 triệu USD chi phí trang thiết bị cho lực lượng Phòng vệ và Dự bị quốc gia. Đồng thời, khuyến nghị chi thêm 181 triệu USD cho việc duy trì nâng cấp xe tăng Abrams M1 và 140 triệu USD cho việc nâng cấp xe chiến đấu bộ binh Bradley. Tiểu ban còn đề nghị thêm 62 triệu USD để tăng sản lượng sản xuất xe cứu kéo M88A2 trong năm 2013. Trong bài phát biểu của mình, McKeon nói ông phản đối bất kỳ khoản cắt giảm thêm nào đối với các lữ đoàn hạng nặng của lục quân. “Chúng ta nhất quyết phải duy trì những đội quân đó. Điều đó có nghĩa là phải chấm dứt việc cắt giảm lực lượng, cũng như phải gìn giữ các cơ sở công nghiệp cung cấp trang thiết bị cho đội quân đó," ông này nói.

Đầu năm 2012, tướng Ray Odierno - Tham mưu trưởng Lục quân điều trần trước Quốc hội rằng lực lượng này đang tiến hành một nghiên cứu về phối hợp các lực lượng có thể đưa đến việc cắt giảm lớn số lượng các lữ đoàn. Ông cũng cho biết, các đơn vị xe tăng của lục quân trong tình trạng rất tốt và vì vậy lục quân quyết định tạm thời đóng cửa dây chuyền sản xuất đối với các loại xe tăng Abrams và xe chiến đấu bộ binh Brandleys cho đến khi cần được nâng cấp vào đầu năm 2017.

Hải quân

Tiểu ban về lực lượng biển và triển khai quân đã đưa thêm một điều khoản đòi hỏi tối thiểu phải có 12 tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo thường trực trong tương lai gần, dù hải quân có kế hoạch giảm số tàu xuống dưới mức đó vào năm 2019. Dù 14 tàu lớp Ohio vẫn đang phục vụ, đội tàu này theo kế hoạch sẽ bắt đầu giảm dần khi những chiếc cũ nhất thôi không hoạt động.


Tàu ngầm hạt nhân tiến công lớp Virginia.

Các kế hoạch của hải quân cho biết sẽ giảm lực lượng xuống còn 11 tàu vào năm 2029 và còn 10 tàu vào năm 2032, và số tàu này sẽ được duy trì trong một thập kỷ trước khi bắt đầu tăng khi tiến hành thay thế các tàu ngâm. Tiểu ban cũng chuẩn y đề nghị của hải quân đối với các hợp đồng nhiều năm cho 10 chiếc tàu ngầm tấn công lớp Virginia – nhiều hơn 1 chiếc so với yêu cầu của hải quân – và 10 tàu khu trục lớp Arleigh Burke. Tiểu ban về sẵn sàng chiến đấu kiến nghị không để cho hải quân loại ra 3 trong 4 chiếc tuần dương hạm Ticonderoga trang bị hệ thống Aegis dự định sẽ ngừng hoạt động vào năm 2013.

Phòng thủ tên lửa

Tiểu ban về các lực lượng chiến lược kiến nghị chi thêm 170 triệu USD cho việc mua thêm một radar phòng chống tên lửa AN/TPY-2 trong năm 2013. Trước đó, Lầu Năm Góc chỉ đặt dự trù yêu cầu mua một chiếc. Dự thảo của tiểu ban đề nghị chi thêm 357 triệu USD cho chương trình phòng thủ mặt đất Midcourse, tổng số lến 1,3 tỷ USD.

Về khoản chi mới, có 100 triệu USD cho Bộ Quốc phòng để đánh giá 3 địa điểm dự kiến bố trí tên lửa phòng thủ trên bờ biển phía Đông nước Mỹ. Một phần của nghiên cứu này bao gồm đánh giá về tác động đến môi trường do việc vị trí bố tên lửa nói trên. Trong khi những kiến nghị của Ủy ban quốc phòng Hạ viện cho ta hiểu sâu hơn về một số ưu tiên về quốc phòng của Quốc hội Mỹ, ít người ở Washington tin rằng quốc hội sẽ thông qua ngân sách vào ngày 1/10, ngày đầu tiên của năm tài chính mới. Thay vào đó, một loạt các biện pháp chi tiêu tạm thời, gọi là các nghị quyết cho phép chính phủ tiếp tục hoạt động, dự kiến được đưa ra để chính phủ hoạt động bình thường cho đến sau cuộc bầu cử tổng thống vào tháng 11/2012.

Nguồn http://quocphong.baodatviet.vn/Home/QPCN/Ngan-sach-quoc-phong-My-Lau-Nam-Goc-giam-Ha-vien-tang/20125/207747.datviet
Logged

Việt Nam long live
(Sống ở trên đời chả sợ, thì sợ gì chết. Chết đã không sợ thì... ngoài vợ ra còn sợ cái gì nữa.)
nguyenhoangcema
Thành viên
*
Bài viết: 2087


AK 47


« Trả lời #511 vào lúc: 02 Tháng Năm, 2012, 03:31:38 pm »

Phi công Mỹ sợ lái F-22

Tình trạng thiếu dưỡng khí khi lái F-22 khiến các phi công Mỹ lo sợ và một số muốn từ bỏ việc bay trên các chiến đấu cơ này. Một số trong tổng số 200 phi công được đào tạo để lái các máy bay F-22 của Không quân Mỹ mong muốn được chuyển sang làm công việc khác bởi họ lo lắng về vấn đề thiếu khí oxy đối với các chiến đấu cơ tàng hình này, một quan chức Không quân Mỹ cho biết hôm 30/4.

Tướng Mike Hostage, Tư lệnh tác chiến Không quân Mỹ tại căn cứ không quân Langley, bang Virginia xác nhận với các phóng viên, một số ít các phi công đã yêu cầu không muốn tiếp tục bay trên loại chiến đấu cơ F-22 Raptor tiên tiến nhất của không quân, họ muốn được bố trí một công việc mới. "Rõ ràng đây là một điều rất nhạy cảm, bởi chúng tôi đang cố gắng đảm bảo rằng, chúng tôi đang nỗ lực tìm giải pháp khắc phục tình trạng thiếu oxy trên máy bay F-22", Tướng Hostage nói. Tuy nhiên, ông Hostage không cung cấp con số chính xác các phi công "sợ lái" F-22 và cho biết, yêu cầu của các phi công này sẽ được không quân xử lý riêng.


Chiến đấu cơ F-22 Raptor.

Các quan chức Không quân Mỹ tin rằng, máy bay F-22 vẫn an toàn. Tuy nhiên, họ đồng ý sẽ thỏa mãn các yêu cầu của phi công. "Không quân Mỹ cũng không muốn một phi công làm gì mà anh ta không thích", ông này nói. Một buổi giao ban không quân hàng tuần đã được tổ chức để điều tra vấn đề này, thậm chí họ còn nhờ tới sự can thiệp của NASA và Hải quân để tham gia tìm hiểu xem điều gì đã xảy ra đối với cơ thể của các phi công lái máy bay F-22 trong điều kiện khắc nghiệt.

F-22 là để đối phó với Trung Quốc

Mỗi chiếc F-22 có giá đắt cắt cổ tới 143 triệu USD, nhưng loại máy bay này đã bị rất nhiều quan chức chỉ trích vì không được Không quân đem ra sử dụng trên các chiến trường như Afghanistan, Iraq hay nhiệm vụ cấm bay trên bầu trời Libya. Tướng Hostage nói rằng, máy bay F-22 rất quan trọng với nước Mỹ để có thể duy trì ưu thế trên không với những mối đe dọa tiềm năng trong tương lai như Trung Quốc, ông cũng hy vọng rằng, trong tương lai, các công ty Mỹ sẽ tiếp tục chế tạo nhiều máy bay chiến đấu hơn để có thể đảm bảo được ưu thế trước đối phương.

Iran phản ứng với sự xuất hiện của F-22 trong khu vực

Trước đó, Tạp chí Aviation Week cho biết, không quân đã điều một số lượng "không ít" các máy bay tàng hình F-22 tới một căn cứ không quân ở các Tiểu Vương quốc Arab (UAE), gần lãnh thổ Iran. Phản ứng trước hành động này, hôm 1/5, Bộ Trưởng Quốc phòng Iran, Chuẩn tướng Ahmad Vahidi nói rằng, hành động triển khai các máy bay F-22 tới gần lãnh thổ của quốc gia Hồi giáo sẽ làm tổn hại tới an ninh khu vực. Các máy bay tàng hình F-22 Raptor đang được Không quân Mỹ triển khai ở các căn cứ không quân khác bên ngoài Virginia, gồm căn cứ hỗn hợp Elmendorf-Richardson, Alaska; căn cứ Trân Châu Cảng, Hawaii; căn cứ Nelli ở Nevada; căn cứ Holloman, NM và căn cứ Tyndall, Fla.


Nguồn http://quocphong.baodatviet.vn/Home/QPCN/Phi-cong-My-so-lai-F22/20125/207651.datviet
Logged

Việt Nam long live
(Sống ở trên đời chả sợ, thì sợ gì chết. Chết đã không sợ thì... ngoài vợ ra còn sợ cái gì nữa.)
nguyenhoangcema
Thành viên
*
Bài viết: 2087


AK 47


« Trả lời #512 vào lúc: 02 Tháng Năm, 2012, 03:34:31 pm »

Malaysia muốn có thêm tàu ngầm

Hải quân Malaysia đang muốn có thêm tàu ngầm để tăng cường năng lực bảo vệ vùng biển nước này.


Tàu ngầm tấn công KD Tun Razak.

Tư lệnh Hải quân Hoàng gia Malaysia, Đô đốc Tan Sri Abdul Aziz Jaafar tiết lộ, nước này lên kế hoạch mua thêm tàu ngầm tăng cường khả năng phòng thủ biển. Tuy nhiên, theo Tướng Jaafar thì do hạn chế ngân sách, kế hoạch mua thêm tàu ngầm không thể thực hiện trong tương lai gần và các sĩ quan hải quân cũng cần có thêm thời gian đào tạo để có kinh nghiệm vận hành. “Kỹ năng và kinh nghiệm là cần thiết để đảm bảo tàu ngầm có thể hoạt động một cách an toàn và hiệu quả,” tướng Aziz Jaafar nói.

Hiện nay, Hải quân Malaysia biên chế 2 tàu ngầm tấn công chạy động cơ diesel – điện lớp Scorpene mang tên KD Tunku Abdul Rahman (chuyển giao năm 2009) và KD Tun Razak (chuyển giao năm 2010). Tàu ngầm Scorpene do hãng DCNS Pháp và Navantia Tây Ban Nha hợp tác phát triển, xuất khẩu tới 4 quốc gia: Brazil (4 tàu), Chile (2 tàu), Ấn Độ (6 tàu) và Malaysia (2 tàu).

Scorpene dài 67,5m, lượng giãn nước 1.750 tấn, trang bị 4 động cơ diesel SEMT Piesltick 12 PA4 V200 cho phép đạt tốc độ tối đa 20 hải lý/h, tầm hoạt động gần 10.000km. Tàu được thiết kế công nghệ hiện đại của Châu Âu, được giới thiệu là có khả năng giảm tối đa tín hiệu hồng ngoại, điện từ, từ tính, âm thanh khi hoạt động. Tàu trang bị 6 máy phóng ngư lôi cỡ 533mm có thể dùng để bắn ngư lôi hạng nặng “cá mập đen” (tầm bắn 50km), tên lửa hành trình đối hạm SM-39 Exocet (tầm bắn 50km) và 30 thủy lôi.

Hiện nay, trong khu vực Đông Nam Á, ngoài Malaysia còn Hải quân Singapore duy trì 6 tàu ngầm (2 chiếc lớp Archer và 4 chiếc lớp Challenger), Hải quân Indonesia có 2 tàu ngầm lớp Cakra 209 và họ đã ký hợp đồng với Hàn Quốc mua 3 tàu lớp Chang Bogo , Hải quân Nhân dân Việt Nam đã ký hợp đồng mua 6 tàu lớp Kilo và Hải quân Thái Lan đang lên kế hoạch mua các tàu ngầm cũ của Đức

Nguồn http://quocphong.baodatviet.vn/Home/QPCN/Malaysia-muon-co-them-tau-ngam/20125/207548.datviet
Logged

Việt Nam long live
(Sống ở trên đời chả sợ, thì sợ gì chết. Chết đã không sợ thì... ngoài vợ ra còn sợ cái gì nữa.)
nguyenhoangcema
Thành viên
*
Bài viết: 2087


AK 47


« Trả lời #513 vào lúc: 02 Tháng Năm, 2012, 04:28:57 pm »

Thái bình dương không thái bình.


Cuộc diễn tập chung giữa hai nước " Hiệp đồng hải quân – 2012” diễn ra từ ngày 22 đến 27 tháng tư 2012 trên biển Hoàng Hải, đã làm dấy lên sự quan tâm đặc biệt của rất nhiều nước trong và ngoài khu vực châu Á – Thái bình dương ngay từ thời điểm đầu tiên của tuyên bố chung. Hai cường quốc quân sự biển cùng  hiệp đồng lực lượng hải quân trong một khu vực vô cùng nhạy cảm Tây Thái Bình Dương, Đông Bắc Á, khu vực đang là tâm điểm của sự chú ý từ những sự kiện bắt nguồn từ Bắc Triều tiên. Cuộc diễn tập này không phải là cuộc diễn tập đầu tiên, nhưng là cuộc diễn tập có quy mô lớn đầu tiên giữa Liên bang Nga và Trung Quốc. Nhiệm vụ của Liên bang Nga và Trung Quốc – làm suy giảm ảnh hưởng của Mỹ trong khu vực.

Olga Tanasiichuk, phóng viên của "Ukrinform" Ucraina tại Bắc Kinh

Những cuộc diễn tập đầu tiên – chống khủng bố, thực hiện sứ mệnh Hòa bình – được tiến hành vào tháng 8 năm 2005, hiệp đồng diễn tập với hàng chục chiến hạm. Đưa vào diễn tập, phía Trung Quốc sử dụng 16 tầu, bao gồm tàu khu trục hộ tống, tàu tên lửa, tầu hậu cần kỹ thuật tổng hợp, tàu bệnh viên dã chiến, hai tàu ngầm. Nước Nga tham gia với 10 chiến hạm, trong đó có soái hạm tầu cận vệ tuần dương tên lửa Varangian với sự hộ tống của 3 tầu chống ngầm hạng nặng "Nguyên soái Shaposhnikov", "Đô đốc Panteleyev" và "Đô độc Vinogradov". Chiến hạm  "Đô đốc Tributs" đến thẳng khu vực diễn tập trực tiếp từ nhiệm vụ hải hành tuần tiễu trên Vịnh Aden. Đồng thời, nước Nga cũng gửi đến cuộc diễn tập các tầu yểm trợ hậu cần kỹ thuật như (tầu chở dầu "Pechenga" tầu kéo "MB-37" và "SB-522"), máy bay chiến đấu, vận tải, máy bay trực thăng trên boong Ka-27 và các loại trang thiết bị khác, và các phân đội lính thủy đánh bộ. Kế hoạch diễn tập có nội dung xạ kích bắn đạn thật vào các mục tiêu trên biển và trên không từ các loại vũ khí khác nhau, bổ xung nhiên liệu và cơ sở vật chất trên biển khi cơ động, cùng hoạt động trong những vùng nước nguy hiểm, thực hiện nội dung tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn và hỗ trợ các tầu bị tai nạn trong thiên tai. 


Biển Hoàng Hải, nơi diễn ra cuộc diễn tập của hải quân Nga - Trung

Tuy nhiên, thông điệp về cuộc diễn tập cũng làm căng thẳng thêm các đồng minh thân cận của Mỹ như Nhật Bản, Hàn quốc và một số quốc gia khác, gần với vùng biển lãnh thổ mà ở đó sẽ diễn ra cuộc diễn tập. Nhiều nhà quan sát cho rằng cuộc diễn tập của Bắc Kinh và Moscow có mục đích gửi một tín hiệu rõ ràng đến Tokyo về thực tế khả năng quân sự của họ, bởi vì cả Nga và Trung Quốc có vấn đề chưa được giải quyết về chủ quyền lãnh thổ với Nhật Bản (những hòn đảo phía nam quần đảo Kuril đối với Nga và quần đảo Điếu Ngư – đối với Trung Quốc và Senkaku theo tên gọi của Nhật Bản) .

Các nhà sử học quân sự nhìn thấy ở cuộc tập trận này khá nhiều dấu hiệu đặc biệt thuộc về lịch sử. Trong trường hợp này, soái hạm của hạm đội Thái bình dương là tầu tuần dương tên lửa mang tên "Varyag". Đó là tên của một tàu tuần dương hạng nặng của hạm đội Nga hoàng, đã bị các thủy thủ Nga tự nhấn chìm vào năm 1904 gần cảng Chemulpo trong cuộc chiến tranh Nga - Nhật. Ngoài ra còn có một "Varyag" nữa, người Trung Quốc mua vào năm 1998 từ Ukraina với $ 20 triệu định biến thành một sòng bạc nổi, tầu sân bay hiện đang được sửa chữa và hoàn thiện giai đoạn cuối cùng trước khi trở thành phương tiện hiện đại của Hải quân Trung Quốc với ý nghĩa chiến đấu là tàu sân bay đầu tiên. Ngoài ra, một yếu tố được gọi là khá khiêu khích nữa là đầu tiên trong lịch sử có một lực lượng hải quân đặc nhiệm hỗn hợp các chiến hạm lớn đi qua eo biển Tsushima giữa Nhật Bản và bán đảo Triều Tiên. Tuy nhiên, phía Trung Quốc nhấn mạnh rằng trên cơ sở Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển, eo biển Tsushima trong hệ thống định vị là một vùng nước quốc tế.  Đồng thời biển Nhật Bản và Hoàng Hải, nơi cuộc diễn tập sẽ diễn ra, từ một quan điểm pháp lý quốc tế nói chung, hoặc là thuộc sở hữu của Trung Quốc hoặc Nga, hoặc không phân biệt và thuộc về vùng biển quốc tế...


Sơ đồ hành quân qua eo biển Nhật Bản - Hàn Quốc của Hải quân Liên bang Nga

Tuy nhiên, mục đích chính của cuộc diễn tập này , như hầu hết các nhà quan sát đánh giá, chưa chứng tỏ sự liên kết thống nhất của Trung Quốc và Hải quân Nga để chống lại liên minh khu vực dẫn đầu bởi lực lượng quân sự Mỹ. "Hiệp đồng hải quân - 2012" mang ý nghĩa chính trị và thăm dò lẫn nhau nhiều hơn là cuộc diễn tập hiệp đồng tác chiến theo những cái nhìn đầu tiên "- nhận định của nhà bình luận viên Frank Ninguyzen trên tờ thời báo Đức Sueddeutsche Zeitung. Ông tin rằng cuộc diễn tập là "một cái gì đó nhiều hơn so với liên minh trong cuộc chiến chống khủng bố. Cụ thể, sự hiện diện quân sự trong vùng biển của Thái Bình Dương, sự cạnh tranh địa chiến lược trong một khu vực giàu tài nguyên thiên nhiên, và cuối cùng là sự lên cơ bắp của các lực lượng (bao gồm Liên bang Nga và Trung quốc)" Tác giả người Đức cũng không nghi ngờ rằng mục đích chính của cuộc tập trận Trung-Nga là "ngăn chặn  tham vọng của Hoa Kỳ trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương.


Tuần dương hạm "Varyag" Nga đến cảng Thanh Đảo


Tầu sân bay Thi Lang (tên từng gọi cũng là "Varyag")

Nhận định của nhà bình luận viên này không phải là đơn nhất. Nhiều nhà phân tích quân sự phương Tây nói rằng trong những năm gần đây, Bắc Kinh, tăng cường ngân sách quốc phòng và hiện đại hóa vũ khí trang bị, đặt ra một nhiệm vụ quan trọng là làm giảm ảnh hưởng của quân đội Mỹ trong khu vực. Điều này trở nên đặc biệt khẩn cấp sau khi vào đầu năm 2012 Washington đã chính thức công bố "sự trở lại" của Mỹ tại khu vực châu Á, lần lượt, dựa trên những cơ sở người Mỹ lo ngại sự trỗi dậy của Trung Quốc ảnh hưởng đến tình hình an ninh của toàn khu vực. Trong báo cáo về chiến lược quốc phòng mới của Mỹ, được trình bày bởi Tổng thống Obama vào ngày 5 tháng 1 năm 2012, quyết định bố trí lại các lực lượng đóng quân ở nước ngoài, người Mỹ sẽ giảm lực lượng của mình ở  châu Âu đồng thời tăng cường các hệ thống phòng thủ tên lửa và xây dựng các hệ thống phòng thủ này trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Đặc biệt, Australia đã đã là điểm đóng quân của Lính thủy đánh bộ Mỹ, tổng số quân đồn trú sẽ đạt đến 2,5 nghìn binh sĩ, Singapore – điểm neo đậu tàu chiến Mỹ. Hoa Kỳ cũng có ý định mở rộng hợp tác quân sự với Philippines, Thái Lan, Việt Nam, Malaysia, Indonesia và Brunei. Khu vực này tập trung khoảng 60% tàu sân bay Mỹ, các chiến hạm nổi và tàu ngầm.

Trên thực tế, Trung Quốc hoàn toàn không phủ nhận những hoạt động phát triển quân sự của họ nhằm mục đích ngăn chặn và đẩy lùi sự ảnh hưởng và thống trị của Mỹ ở châu Á Thái bình dương. Và Liên bang Nga sẵn lòng giúp đỡ Trung Quốc trong mục đích này, do cũng không thích ý tưởng của một thế giới "đơn cực" trong đó tất cả đều xoay xung quanh Mỹ. Đặc biệt, một chuyên gia hàng đầu của Trung Quốc về vấn đề quốc tế, một admin của trang blog - cổng thông tin blshe.com Ma Xiaolin nói rằng "theo xu hướng chuyển dịch trung tâm chiến lược của Mỹ về phía Đông, sự tăng cường hợp tác chiến lược giữa Hoa Kỳ với các nước trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương, sự tăng cường hợp tác quân sự với các đồng minh, sự can thiệp của Washington vào biển Đông, tạo ra một mối đe dọa đến lợi ích cơ bản của Trung Quốc và Nga trong khu vực, Trung Quốc và Nga chắc chắn sẽ phải để cho một tín hiệu rõ ràng để người Mỹ." Hơn nữa, Ma đã đi xa hơn nữa khi nói rằng " các cuộc diễn tập  tiếp theo sẽ đánh dấu một sự hợp tác chiến lược trong bối cảnh luôn thay đổi các sự kiện ở Tây Á và Bắc Phi, cũng như trong kịch bản cuộc khủng hoảng Syria.

Nhà bình luận viên của tờ báo International Herald Leader  Hải Tao, viết: "Trung Quốc và Nga có những lợi ích chiến lược trong các vùng nước biển Đông Bắc Á, đặc biệt Trung quốc và Nga đều nỗ lực vì mục đích cho sự ổn định và an ninh trên biển của các đường vận tải thương mại của  chiến lược phát triển kinh tế. Tuy nhiên, trong vài năm qua, Mỹ, Nhật Bản và các nước khác liên tục thực hiện cuộc diễn tập quân sự đe dọa sự ổn định trong khu vực và đe dọa sự an toàn các tuyến đường vận tải của Trung Quốc và Nga dẫn đến đại dương. Đối với lực lượng hải quân Trung-Nga  được coi là vẫn còn tương đối yếu nếu so sánh với Mỹ và các đồng minh, các cuộc diễn tập sắp tới có thể được gọi là một nỗ lực kềm chế sự thống trị của Mỹ ở Đông Á, hoặc các cuộc diễn tập buộc cho một hình thức phòng thủ chủ động, mang tính phòng ngừa "Tuy nhiên, Bình luận viên Cao cũng cảnh báo, không thể coi cuộc diễn tập như là một "Thách thức”.

Cũng phải nhận thức rõ ràng trong giai đoạn hiện nay, Mỹ, Hàn Quốc và Nhật Bản tổ chức thường xuyên tổ chức các cuộc diễn tập quân sự chung, cuộc tập trận chung Trung - Nga hiện chỉ có thể được coi như một "câu trả lời" và cũng là một nỗ lực để khôi phục lại sự cân bằng lực lượng của hai bên trên vùng nước châu Á Thái bình dương. Nhưng theo cách này, với quy mô của các lực lượng hải quân tham gia diễn tập và vùng nước của "Hiệp đồng hải quân - 2012" không thể so sánh được với các cuộc diễn tập tổ chức các nước nói trên. Ngoài ra, một thực tế quan trọng, không giống như Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc là đồng minh quân sự, Trung Quốc và Nga hoàn toàn không phải là đồng minh.

Nhiều phương tiện truyền thông phương Tây đã gọi đây là một "trò chơi khoe  cơ bắp ở của các lực lượng Thái Bình Dương."  Cần phải nói rằng trong những ngày vừa qua, vùng nước của đại dương lớn nhất thế giới rất "nóng": gần đây trên biển Đông đã diễn ra cuộc tập trận của lực lượng hải quân Mỹ - Philippines hỗn hợp với tên gọi là Balitikan 2012 ("vai kề vai"), trong cuộc diễn tập này cũng có sự tham gia của Nhật Bản, Hàn Quốc và Úc. Các bên tham gia đã thực hành huấn luyện phản công lại  một cuộc tấn công bằng vũ khí phương tiện thông thường của lực lượng "khủng bố” đang cố gắng đánh chiếm các cơ sở dầu khí trên biển. Một điều là đáng chú ý rằng một số các hoạt động tác chiến đã diễn ra gần với  lãnh thổ đang tranh chấp giữa Philippines và Trung Quốc và xung quanh  hòn đảo Palawan, (tên Trung Quốc đặt là – Huanyan) trong tuần qua giữa hai nước đã thực tế có một chiến tranh ngoại giao, gần như có thể chuyển thành  1 cuộc đối đầu quân sự. Cuộc diễn tập, kéo dài cho đến khi 27 tháng 4, có sự tham gia khoảng 7.000 binh sĩ Mỹ.

Nói chung, có những ý kiến cho rằng, sự gần gũi trong mỗi quan hệ hữu nghị giữa Bắc Kinh và Moscow trong những năm gần đây do, chí ít có thể là, với việc tăng cường các nỗ lực của hai quốc gia trong khu vực nhằm giảm thiểu ảnh hưởng của Hoa Kỳ trên sân nhà. Tuy nhiên, "tình hữu nghị chống lại Washington," chỉ có thể được coi như là một trong những trụ cột của quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước và hoàn toàn không phải là cốt yếu. Vấn đề là theo thời gian, Trung Quốc và Nga trong các lĩnh vực khác nhau là đối thủ hơn là đồng minh, và theo dõi chặt chẽ lẫn nhau trong lĩnh vực những kết quả đạt được trong lĩnh vực quốc phòng an ninh.

Nguồn http://quocphonganninh.edu.vn/index.aspx?Menu=1300&Chitiet=1931&Style=1
Logged

Việt Nam long live
(Sống ở trên đời chả sợ, thì sợ gì chết. Chết đã không sợ thì... ngoài vợ ra còn sợ cái gì nữa.)
nguyenhoangcema
Thành viên
*
Bài viết: 2087


AK 47


« Trả lời #514 vào lúc: 02 Tháng Năm, 2012, 04:33:59 pm »

Những phân tích về Chiến lược Phòng thủ ngoài khơi xa của hải quân Trung Quốc.

Trong những năm gần đây, sự phát triển mạnh mẽ của Quân đội ND Trung Quốc, đặc biệt là lực lượng hải quân, cùng với những tranh chấp về chủ quyền trên biển ngày càng ra tăng đã đặt cho các nhà phân tích chiến lược quân sự những vấn đề khá phức tạp về tư duy hải dương của Trung Quốc, những phân tích đó được tổng hợp lại trong bài viết cho thấy một quan điểm mang tính chiến lược, thể hiện một tư duy hải dương mới của Hải quân Trung Quốc trong giai đoạn hiện nay.

Phòng thủ ngoài khơi xa” mô hình kiểu mẫu của sự thay đổi chiến lược

Đưa ra khái niệm phòng thủ ngoài khơi xa được hiểu như một sự thay đổi cơ bản kiểu mẫu về chiến lược cho những hoạt động tác chiến cấp chiến dịch, chiến lược của lực lượng hải quân Trung Quốc và sự nâng cấp, hiện đại hóa lực lượng hải quân. Quan điểm phòng thủ ngoài khơi xa đã thay đổi hoàn toàn đường lối hoạt động chiến lược của lực lượng Hải quân Trung Quốc, định hướng những hoạt động sẵn sàng chiến đấu của Hải quân Trung Quốc từ vùng nước ven bờ biển lục địa Trung quốc sang những hoạt động sẵn sàng tác chiến trên các vùng biển duyên hải Trung quốc.

Tư tưởng chiến lược của Hải quân Trung Quốc trước đây tập trung vào tư tưởng chiến lược "Phòng thủ bờ biển” lục địa với các kế hoạch phòng thủ ven bờ và bờ biển chống lại một cuộc tấn công xâm lược trên đất liền. Cự thể, chiến lược Phòng thủ bờ biển đặt mục tiêu chống lại lực lượng tấn công đổ bộ bờ biển từ Hạm đội Thái bình dương của Hải quân Xô viết. Do đó, chiến lược Phòng thủ bờ biển Trung Quốc hoàn toàn mang tính tự vệ, dự phòng, đóng vai trò thứ yếu trong một cuộc chiến tranh và có tính chất "nếu như..” trong tương lai chiến tranh và xung đột khu vực.

Kết quả là, cùng với sự kiện ban hành chiến lược " Phòng thủ biển khơi xa” của hải quân Trung Quốc vào năm 1985. Chiến lược quân sự hải quân của Trung Quốc đã chuyển hướng ra các vùng biển xa. Như thường thấy ở Trung Quốc, sự thay đổi định hướng lớn về hải quân trong tư tưởng chiến lược của quân đội Trung hoa là câu trả lời mạnh mẽ cho sự thay đổi của tình hình "an ninh thế giới” trong giai đoạn mới cũng như những thay đổi trong cán cân các lực lượng quân sự trên toàn cầu. Đến năm 1985, Bắc Kinh có thể tin tưởng chắc chắn rằng một cuộc xâm lược hay chiến tranh trên đất liền từ phía Liên bang Xô viết là không thể xảy ra. Cùng lúc, các nhà chiến lược quân sự Trung Quốc đã có những thay đổi lớn trong quan điểm về chiến trường và lực lượng hải quân trên biển lớn. Đồng thời, sự phát triển mạnh mẽ của vũ khí hiện đại cũng cho phép Hải quân Trung Quốc có thể tin tưởng vào khả năng bảo vệ chắc chắn được những lợi ích của Trung hoa trên đại dương khi thực hiện chính sách kinh tế hải dương.

Đưa chiến lược "Phòng thủ ngoài khơi xa” vào thực tế cũng phù hợp với những ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế của Trung Quốc. Tập trung vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế Trung Quốc và triển khai những kế hoạch khai thác nguồn tài nguyên hải dương – nguồn dự trữ thực phẩm và năng lượng dồi dào trong sự phát triển của tương lai Trung Hoa ngày càng đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong chính sách kinh tế chính trị của Đặng Tiểu Bình. Ngoài ra, yêu cầu cấp thiết mang tính sống còn là phải tăng cường chiều sâu tuyến phòng thủ vùng duyên hải và bờ biển của Trung Quốc, nếu tính đến những chuyển dịch của các trung tâm kinh tế từ chỗ nằm sâu trong trung tâm lục địa đang từng bước chuyển dần ra vùng biển phía Đông của Trung hoa.

Cuối cùng " Phòng thủ biển khơi xa” và sự chuyển dịch trong tâm chiến lược của hải quân Trung Quốc ra các vùng nước có ảnh hường trùng với sự tăng cường tìm kiếm,  thăm dò và khai thác nguồn tài nguyên trên các vùng biển quốc tế, những vấn đề gắn liền với quan điểm chủ quyền của Trung hoa trên những vùng nước lãnh hải, đồng thời là đối phó với những tranh chấp, đòi hỏi chủ quyền của các nước trong khu vực châu Á Thái bình dương.

"Phòng thủ biển khơi xa " Một quan điểm tư duy chiến lượng mở rộng.

Theo ý nghĩa của cụm từ " Phòng thủ ngoài khơi xa” đơn giản là một quan điểm tư duy chiến lược, quan điểm này định hướng cho lực lượng Hải quân Trung Quốc cần phải sẵn sàng thực hiện ba nhiệm vụ chiến lược quan trọng trong "Giai đoạn mới”, sẵn sàng tiến hành các hoạt động tác chiến các cấp trên biển lớn, xây dựng các căn cứ hậu cần kỹ thuật và thực hiện nhiệm vụ đảm bảo cho các hoạt động kinh tế, kỹ thuật, quân sự ngoài khơi xa. Ba nhiệm vụ chiến lượng trọng tâm bao gồm:
- Ngăn chặn những kẻ thù tiềm năng trong giới hạn cho phép và sẵn sàng đánh trả những hoạt động tấn công từ phía biển.
- Bảo vệ những vùng nước có tuyên bố chủ quyền của Trung hoa.
- Bảo vệ sự thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ cũng nhưng quyền lợi của quốc gia trên biển.

Sự thay đổi những định nghĩa về Phòng thủ ngoài khơi xa.

Giữa nhiều chuyên gia phân tích quân sự nước ngoài chuyên biệt về Hải quân Trung quốc, điều thực sự ẩn sau quan điểm Phòng thủ ngoài khơi xa” trong khải niệm tu duy chiến lược mở rộng đã tạo ra một sự phức tạp, khó hiểu với những vấn đề chưa được rõ ràng như " phạm vi hoạt động, ý đồ chiến lược, các chương trình nâng cấp và hiện đại hóa” của Hải quân PLA. Một trong những ví dụ gây suy nghĩ là tư duy chiến lược định hướng các hoạt động tác chiến trong giới hạn hai chuỗi đảo hoặc hoạt động trong vùng đặt quyền kinh tế 200 nauticalmile tính từ bờ biển "Exclusive Economic Zone” (EEZ). Chuỗi các quần đảo thứ nhất, rất nổi tiếng với tên là đường lưỡi bò như đã được vẽ trên bản đồ và công bố rộng rãi, được bắt đầu từ quần đảo Kurile, Nhật Bản, quần đảo Ryukyu, Đài Loan, Philippines, và Indonesia (Borneo đến Natuna Besar). Chuỗi đảo thứ hai chạy theo tuyết Bắc-Nam từ quần đảo Kuriles qua Nhật, Bonins, Marianas, Carolines, và Indonesia. Cùng nhau, chúng bao gồm các khu vực hàng hải ra khoảng 1.800 nm từ bờ biển của Trung Quốc, bao gồm hầu hết Biển Đông và các tuyến đường vận tải thương mại Đông Á SLOCs.

Thường xuyên, khi các cuộc hội thảo hoặc tranh luận về quan điểm "Phòng thủ ngoài khơi xa” thường sử dụng những thuật ngữ, những cụm từ gắn liền với những gianh giới địa lý trên các vùng biển ( Biển Nhật bản, Biển Đông) với xu hướng nỗ lực kiểm soát chặt chẽ những vùng nước đã được vạch ra, hoặc thống trị, quản lý các quần đảo đã nêu. Khi quan điểm tư duy chiến lược Phòng thủ ngoài khơi xa được đưa ra vào cuối những năm 70-x và đầu những năm 1980-x Lực lượng Hải quân QĐNDTQ đã tiến hành rất nhiều cuộc thảo luận và tiến hành vô số các cuộc nghiên cứu đánh giá tình hình trên các vùng biển để xác định, tầm xa khơi của Phòng thủ ngoài khơi xa” có thể đạt được. Rất nhiều các cuộc hội thảo nội bộ của Hải quân được tiến hành từ quan điểm gắn liền với các vùng địa lý.


Những tầu hộ tống tên lửa của hải quân Trung quốc


Hạm đội tầu chiến đấu của hải quân Trung quốc.


Tiếp dầu trên không của không quân Trung quốc

Ngoài ra, các sĩ quan của Hải quân Trung quốc thường giải thích với báo chí nước ngoài  về nội dung của chiến lược "Phòng thủ ngoài khơi xa” gắn liền với quyền của Trung hoa nhằm bảo vệ trong khu vực đặc quyền kinh tế, hoàn toàn mơ hồ và lẫn lộn giữa khái niệm giới hạn đặc quyền kinh tế 200-nm EEZ và chủ quyền của Trung Quốc đang đòi hỏi nói chung.  Nói rõ ràng, từ bất cứ góc nhìn nào, tư tưởng chiến lược "Phòng thủ ngoài khơi xa”  đã có tầm bao quát vượt ra ngoài các vấn đề giới hạn về địa lý hoặc phạm vi địa lý. Những nghiên cứu kỹ lưỡng và cụ thể trên nhưng hành động cho thấy rằng, ngày hôm nay, thuật ngữ "phòng thủ ngoài khơi" không bao hàm bất kỳ giới hạn hoặc ranh giới địa lý. Các danh giới không xuất hiện cho đến ngày nay, trên thực tế, trong bất kỳ những tuyên bố chính thức nào về giới hạn tối thiểu hoặc tối đa khoảng cách tính từ bờ biển đến  đại dương được gắn liền với khái niệm "Phòng thủ ngoài khơi xa". 

Theo những tính toán của Viện Khoa học quân sự QĐNDTQ, trong giai đoạn đến năm 1980 Lực lượng hải quân thực hiện chiến lượng phòng thủ bờ biển trong giới hạn khu vực đặc quyền kinh tế tính đến 200 mile tính từ bờ biển. Theo sự chỉ đạo của Đặng Tiểu Bình trong những năm 1980- x. Phòng thủ ngoài khơi của Trung Quốc bao gồm cả các biển Hoàng Hải , biển Đông Hải, biển Đông, quần đảo Trường Sa, vùng biển bên trong và bên ngoài của Đài Loan và quần đảo Ryukyu và khu vực biển Bắc Thái Bình Dương. "Năm 1997, Giang Trạch Dân đã ra chỉ lệnh hướng dẫn cho hải quân Trung Quốc "nên tập trung nâng cao khả năng chiến đấu toàn diện của lực lượng trong chuỗi quần đảo đầu tiên, cần tăng cường khả năng răn đe hạt nhân và vũ khí thông thường, nỗ lực nâng cao khả năng "phản công”, từng bước nhanh chóng phát triển năng lực chiến đấu để bảo vệ lợi ích của Trung Quốc trên những đại dương xa xôi.".

Nhưng, Lực lượng Hải quân Trung Quốc sẽ với xa đến đâu với tư duy chiến lược "Phòng thủ ngoài khơi xa” . Theo các  sĩ quan Hải quân cao cấp của Trung Quốc và những ấn phẩm của Hải quân. Câu trả lời sẽ là: Tầm xa giới hạn tuyến phòng thủ của hải quân Trung Quốc phụ thuộc vào khả năng hoạt động của hải quân cho phép các cụm tầu hoạt động trên biển lớn và những yêu cầu cần thiết được yểm trợ và bảo vệ của đất nước Trung Quốc.

Đối với nhiều sĩ quan của Hải quân Trung Quốc, giới hạn này được hiểu như là các hoạt động của tầm xa tác chiến hải quân bao gồm có giới hạn phạm vi tác chiến mà máy bay chiến đấu lực lượng không quân Trung quốc có căn cứ trên đất liền có thể đạt tới và khả năng cũng như tầm xa và năng lực của lực lượng chống ngầm của Hải quân trong chiến trường biển.

Các nhà lý luận quân sự của Trung Quốc có quan điểm cho rằng hai chuỗi đảo và quần đảo hình thành cơ sở địa lý cơ bản cho tuyến phòng thủ hàng hải của chiến lược Phòng thủ ngoài khơi xa. Xác định ranh giới chính xác của khu vực phòng thủ hàng hải và hai chuỗi đảo và quân đảo chưa bảo giờ được Chính phủ Trung Quốc chính thức xác nhận trên các phương tiện thông tin đại chúng, do đó chúng có thể là nhiều giới hạn khác nhau. Theo một thông kế các sự kiện những tuyên bố, vùng "nước xanh" của Trung Quốc mở rộng về phía đông ở Thái Bình Dương theo chuỗi đảo đầu tiên, được hình thành từ các quần đảo Aleutians, Kuriles, quần đảo của Nhật Bản, Ryūkyūs, Đài Loan, Philippines, và Borneo. Xa hơn về phía đông là "vùng nước xanh" kéo dài chuỗi đảo thứ hai chạy từ phía bắc quần đảo Bonin và nối liền về phía nam thông qua Marianas, Guam, và Quần đảo Caroline.

Đô đốc Hải quân Liu Huaqing tư lệnh trưởng của Lực lượng hải quân Trung quốc (PLAN) những năm (1982-1988) và phó chủ tịch sau này của Ủy ban quân sự Trung ương (1989-1997). Liu và những người khác được xác định rõ ràng nhiệm vụ chiến lược (Hồi ức của Liu Huaqing) (Bắc Kinh: Nhân dân Giải phóng Quân đội, 2004)] là các chuỗi các đảo và quần đảo đầu tiên, hoặc giới hạn hiện tại các hoạt động tác chiến tiềm năng của Hải quân tuyến thứ nhất, bao gồm các quần Nhật Bản và các quần đảo của phía Bắc và phía Nam của Nhật Bản (các quần đảo sau các tranh chấp của Trung Quốc), các quần đảo thuộc vùng nước Hàn Quốc, Đài Loan, và Philipins. Chuỗi đảo và quần đảo thứ hai, Liu đưa ra khái niệm tuyến phòng thủ chặt chẽ và đầy đủ trong phạm vi hoạt động tác chiến của Hải quân trong tương lai, bao gồm chuỗi quần đảo có phạm vi từ quần đảo phía nam Nhật Bản đển Bonin và quần đảo Marshall, bao gồm cả Guam.

Khởi đầu, Trung Quốc sẽ nỗ lực toàn lực lượng để có thể có quyền kiểm soát vùng biển Hoàng Hải, Đông Hải và biển Đông. Ba vùng biển này nằm trong chuỗi quần đảo - vành đai phòng thủ thứ nhất của hải quân Trung Quốc thuộc Thái bình dương bao gồm cả các quần đảo Philippines và đảo Ryukyu. Một số các nhà phân tích Trung Quốc trong các bài viết công khai đã đưa vào chuỗi đảo thứ nhất này cả đảo Diego Garcia, căn cứ quân sự quan trọng của quân đội Mỹ trên Ấn độ dương, như một yếu tố trong vành đai phòng thủ chiến lược của bờ biển Trung Quốc. Viết trong trang Guofang Bao (Jiang Hong và Wei Yuejiang) Một trăm nghìn binh sĩ Mỹ trong khu vực Châu Á Thái bình dương đang mong đến một "Ngôi nhà mới”  Guofang Bao, 10 tháng 6, 2003, 1, FBIS-PP20030611000068]  Trong đó, Jiang Hong và Wei Yuejiang đã phác họa chuỗi đảo và quần đảo bao quát một khu vực rộng lớn bao gồm tất cả mọi con đường từ các quần đảo của Indonesia đến đảo Diego Garcia trong một vòng cung duy nhất không tách rời. Điều đó có nghĩa là, trong vòng cung này là tất cả các con đương giao thông đường biển giữa Trung Quốc với các vựa dầu khí Tây Nam Á. 

Tuyền đường vành đai thứ 2 trong chiến lược Phòng thủ ngoài khơi xa bao gồm cả vùng biển Nhật Bản, biển Philippines và Indonesia biển, bao gồm Kuriles, Kokkaido, và quần đảo Marianas và Palau ở phía nam. Để ngăn chặn việc triển khai của lực lượng hải quân thù địch vào vùng biển phía tây Thái Bình Dương, các nhà hoạch định quân đội Trung Quốc đang tập trung vào mục tiêu ngăn chăn các tàu nổi hoạt động tầm xa và dài ngày (cụm tầu sân bay và các tầu tấn công chủ lực).  Bộ Quốc phòng Mỹ trong những bản phân tích và đánh giá cơ cấu tổ chức biên chế hiện tại đồng thời định hướng nâng cấp phát triển cơ cấu tổ chức lực lượng vào năm 2007 đã dự báo rằng: Trung Quốc đang tìm kiếm khả năng ngăn chặn các chiến hạm nổi, các cụm tầu tấn công có nguy cơ đột phá qua các tuyến phòng thủ nhiều lớp, được coi như vành đai các quần đảo và đảo thứ 2 (tức là, những hòn đảo kéo dài về phía nam và phía đông từ Nhật Bản, và xa hơn nữa là căn cứ quân sự Guam ở phía tây Thái Bình Dương). Một trong những lĩnh vực được thấy rõ ràng nhất là sự đầu tư vào hệ thống các tên lửa đạn đạo tầm trung, hệ thống C4ISR điều khiển và định vị mục tiêu trong khu vực, hệ thống diều khiển hỏa lực trên boong tầu nhằm tấn công các mục tiêu trên biển rộng (đại dương) hoặc hệ thống hạ tầng bảo đảm ven bờ. Một số các nhà phân tích cũng tin rằng, nếu như Trung Quốc thật sự muốn phát triển khả năng kiểm soát toàn bộ khu vực đến vành đai tuyến phòng thủ đảo và quần đảo thứ 2, họ cần phải phát triển tầu sân bay để phục vụ cho mục đích chiến lược đã được đặt ra.   

Trong quan điểm của Jiang Hong và Wei Yuejiang, tuyền quần đảo và đảo thứ 2 phải đi qua Guam – một trong những tiền đồn phía trước của quân đội Mỹ - và kết thúc ở Australia. Các nhà phân tích khác của Trung quốc thì cho rằng đó là tuyến phòng thủ hải đảo thứ 3 – Guam. Một số các bản phân tich không chính thức khác đề cập đến chuỗi các đảo và quần đảo thứ 3 tập trung vào quần đảo Hawai và các căn cứ quân sự Mỹ, được coi là hậu phương chiến lược của lực lượng quân sự Hoa kỳ. 

Nguồn http://quocphonganninh.edu.vn/index.aspx?Menu=1372&Chitiet=1930&Style=1
Logged

Việt Nam long live
(Sống ở trên đời chả sợ, thì sợ gì chết. Chết đã không sợ thì... ngoài vợ ra còn sợ cái gì nữa.)
nguyenhoangcema
Thành viên
*
Bài viết: 2087


AK 47


« Trả lời #515 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2012, 09:47:33 am »

Nghiên cứu phát triển phần mềm an ninh, an toàn mạng hiện đại, chất lượng cao

Giới thiệu với tôi danh sách hơn 50 sản phẩm khoa học-công nghệ thông tin (KH-CNTT) điển hình ứng dụng phục vụ công tác quản lý, huấn luyện, SSCĐ và bảo đảm an ninh, an toàn mạng trong toàn quân, Đại tá Phạm Việt Trung, Giám đốc Phòng Thí nghiệm trọng điểm An toàn thông tin (TĐATTT - Cục CNTT, Bộ Tổng tham mưu) khẳng định: Đó là sản phẩm của trí tuệ, nội lực của các nhà khoa học CNTT Quân đội. 10 năm qua, Phòng Thí nghiệm TĐATTT đã hoàn thành nghiên cứu thiết kế, chế tạo số lượng lớn sản phẩm phần mềm có uy tín chất lượng cao, được ngành CNTT cả nước công nhận.

Triển khai nhiệm vụ bảo mật, an toàn thông tin trong lĩnh vực QP-AN, Phòng Thí nghiệm TĐATTT xác định phải tạo ra những sản phẩm đặc thù, hiện đại, phù hợp với điều kiện trang bị và phương thức tác chiến của Quân đội ta. Cấp ủy, chỉ huy đơn vị từ đó tập trung đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ, nhân viên có trình độ cao, chuyên môn giỏi để đảm đương nhiệm vụ. Trên cơ sở tổ chức, biên chế được giao, lãnh đạo, chỉ huy đơn vị tham mưu quy hoạch, tổ chức tuyển chọn chặt chẽ, chú trọng đến cán bộ trẻ có năng lực tốt để gửi cán bộ vào đào tạo tại các trung tâm trong và ngoài nước. Đây là lực lượng cán bộ nòng cốt để xây dựng, phát triển ngành thiết kế, sản xuất phần mềm bảo mật, ATTT trong Quân đội. Bằng sự quan tâm của trên và nỗ lực của đơn vị, đến nay, hơn 50% cán bộ của Phòng có trình độ sau đại học, tỷ lệ là tiến sĩ CNTT ngày càng nâng lên. Bên cạnh đó, thực hiện chức năng đào tạo cán bộ, nghiên cứu viên trình độ đại học và sau đại học chuyên ngành CNTT cho toàn quân, từ năm 2008 đến nay, Phòng Thí nghiệm TĐATTT triển khai quản lý và hướng dẫn 12 nghiên cứu sinh tiến sĩ, hàng chục học viên cao học và đại học. Kết quả bảo vệ luận văn, luận án tốt nghiệp đều đạt cao, nhiều học viên được tuyển chọn về làm việc tại đơn vị.


Cán bộ, nghiên cứu viên Phòng Thí nghiệm TĐATTT trao đổi các giải pháp thiết kế sản phẩm phần mềm mới.

Với đội ngũ cán bộ, nghiên cứu viên đào tạo cơ bản, Phòng Thí nghiệm TĐATTT hoàn thành xuất sắc vai trò tham mưu, tư vấn và giám sát, thẩm định các dự án, nhiệm vụ thuộc lĩnh vực bảo mật, ATTT trong Quân đội và Nhà nước. Toàn phòng tổ chức đồng bộ hoạt động nghiên cứu ứng dụng thành tựu tiến bộ KH-CN vào thiết kế, chế tạo các sản phẩm bảo mật, ATTT; tổ chức sản xuất sản phẩm; xây dựng và hoàn chỉnh quy trình công nghệ khai thác sử dụng, chuyển giao cho các cơ sở trong và ngoài quân đội. Từ năm 2010 đến năm 2012, cán bộ, nghiên cứu viên của Phòng triển khai 53 đề tài nghiên cứu, nhiệm vụ KH-CN các cấp, trong đó có 2 đề tài, nhiệm vụ cấp Nhà nước, 3 đề tài cấp Bộ Quốc phòng. Các sản phẩm phục vụ bảo mật, ATTT điển hình như: Phần mềm quản lý tài sản số; chống truy cập trái phép cho máy tính cá nhân, chặn thu thư điện tử trên mạng internet; USB khóa cứng đưa vào ứng dụng đạt độ tin cậy cao. Hiện nay, cán bộ, nghiên cứu viên của Phòng đang triển khai nghiên cứu các phương pháp can thiệp vào hệ thống trên hệ điều hành Window, ứng dụng xây dựng chương trình bảo vệ thư mục, file khỏi truy cập trái phép; nghiên cứu, ứng dụng bộ công cụ chuyên dụng kiểm tra, đánh giá an toàn thông tin hệ thống mạng LAN, website. Đặc biệt, Phòng chủ trì Dự án xây dựng bộ sản phẩm cảnh giới an ninh mạng máy tính quân sự và triển khai cho các mạng diện rộng cấp chiến dịch, chiến lược trong Bộ Quốc phòng. Đây là đề tài đòi hỏi sự tập trung trí tuệ, phối hợp hiệp đồng cao giữa các nhà khoa học và cán bộ quản lý, chỉ huy điều hành các cơ quan, đơn vị. Sản phẩm không những sử dụng tốt, phù hợp với điều kiện quân đội ta, mà còn bảo đảm tính năng bảo mật, độ an toàn cao nhất đối với thông tin trong hệ thống.

Bám sát thực tiễn hoạt động huấn luyện, SSCĐ của Quân đội, Phòng Thí nghiệm TĐATTT tập trung đầu tư thiết kế, xây dựng các phần mềm chuyên dụng và chuyển giao cho các đơn vị toàn quân. Đáng kể là các sản phẩm phần mềm tác nghiệp bản đồ số-lập quyết tâm chiến đấu; tính phần tử bắn cho 18 loại pháo mặt đất; tính phần tử phóng cho tên lửa đất đối đất; các loại phần mềm quản lý cán bộ, tài sản, VKTBKT... Nhiều loại sản phẩm phần mềm phục vụ huấn luyện có giá trị, hiệu quả cao như: Hệ thống phần mềm tạo lập, cập nhật cơ sở dữ liệu phục vụ diễn tập và kết nối với hệ thống mô phỏng; phần mềm điều khiển trung tâm thao trường đối kháng; hệ thống mô phỏng luyện tập cho kíp chiến đấu Đài điều khiển tên lửa C125-MI v.v..

Trong thời gian tới, nhu cầu bảo mật và ATTT ngày càng tăng, đặc biệt là trong tác chiến mạng, nhiệm vụ của Phòng Thí nghiệm TĐATTT ngày càng tăng lên và nặng nề. Bên cạnh việc đầu tư nâng cao tiềm lực KH-CN, Phòng chú trọng nghiên cứu cơ bản, tạo ra sản phẩm chất lượng cao, hiện đại đưa vào ứng dụng, đặc biệt là triển khai xây dựng chương trình bảo mật cho các hệ thống thông tin theo yêu cầu của Nhà nước và Bộ Quốc phòng. Phòng tiếp tục bám sát thực tiễn Quân đội, phối hợp với các cơ quan, đơn vị đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng CNTT vào mọi hoạt động quản lý, huấn luyện, SSCĐ; tổ chức hợp tác về KH-CN, chuyển giao công nghệ với các cơ quan, đơn vị trong và ngoài nước; tham gia các hoạt động dịch vụ KH-CN gắn với chức năng, nhiệm vụ của Phòng Thí nghiệm TĐATTT theo quy định của Nhà nước và Bộ Quốc phòng.

Nguồn http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-VN/61/43/4/38/38/186954/Default.aspx
Logged

Việt Nam long live
(Sống ở trên đời chả sợ, thì sợ gì chết. Chết đã không sợ thì... ngoài vợ ra còn sợ cái gì nữa.)
nguyenhoangcema
Thành viên
*
Bài viết: 2087


AK 47


« Trả lời #516 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2012, 09:49:51 am »

Nhật Bản đặt mua 4 chiến đấu cơ F-35 đầu tiên

Nhật Bản đã quyết định đặt mua 4 chiến đấu cơ thế hệ 5 F-35A Lightning II (phiên bản không quân) đầu tiên. Đơn hàng nói trên đã được Cơ quan hợp tác quốc phòng thuộc Lầu Năm góc (DSCA) đệ trình lên Quốc hội Mỹ với đánh giá Nhật Bản trong tương lai có thể chi tới 10 tỉ USD để mua chiến đấu cơ F-35. Nhật Bản hiện cũng cân nhắc khả năng mua thêm 38 chiến đấu cơ loại này, nhưng thời điểm ký hợp đồng và chuyển giao các máy bay F-35 nói trên chưa được xác định. Dự kiến, hợp đồng chuyển giao F-35 cho Nhật Bản sẽ có hiệu lực sau khi được Quốc hội Mỹ thông qua và việc chuyển giao chiến đấu cơ mới sẽ được thực hiện theo chương trình Bán vũ khí ra nước ngoài (FMS).


Ảnh minh họa/ Internet

Cùng với chiến đấu cơ F-35, Nhật Bản cũng đặt mua thêm 4 động cơ Pratt & Whitney F135 và 5 động cơ dự phòng. Ngoài ra, nước này cũng đặt mua thêm thiết bị đối kháng điện tử; hệ thống liên lạc, dẫn đường và dẫn bắn; thiết bị phân biệt địch ta, tự vệ kèm theo. Phía Mỹ sẽ đảm bảo dịch vụ hậu cần và đào tạo phi công cho phía Nhật Bản. DSCA đánh giá, Nhật Bản là quốc gia có ảnh hưởng chính trị và kinh tế lớn tại khu vực Đông Á và Thái Bình Dương, đồng minh chiến lược của Mỹ trong khu vực. Việc chuyển giao chiến đấu cơ F-35 nằm trong “Thỏa thuận hợp tác và an ninh giữa Mỹ và Nhật” ký từ năm 1960. Theo thỏa thuận này, Mỹ được phép duy trì sự hiện diện quân sự tại Nhật và là chìa khóa hợp tác quân sự giữa hai bên.

Theo DSCA, F-35 chuyển giao cho Nhật sẽ thay thế cho các đơn vị chiến đấu cơ  F-4EJ Kai Phantom cũ của nước này và không làm thay đổi cán cân quân sự trong khu vực. Cuối tháng 12-2011, Nhật Bản đã chọn chiến đấu cơ F-35 là sản phẩm thắng cuộc trong gói thầu tìm mua 42 chiến đấu cơ mới của không quân nước này. Tổng trị giá của gói thầu nói trên ước đạt 4 tỉ USD.

Nguồn http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-VN/61/43/115/115/115/187058/Default.aspx
Logged

Việt Nam long live
(Sống ở trên đời chả sợ, thì sợ gì chết. Chết đã không sợ thì... ngoài vợ ra còn sợ cái gì nữa.)
nguyenhoangcema
Thành viên
*
Bài viết: 2087


AK 47


« Trả lời #517 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2012, 11:23:38 am »

Chiến lược chống Trung Quốc của Washington
Phần I

Dầu mỏ thống trị thế giới. Tạo lập được ưu thế hải quân ở Biển Đông và các vùng biển lân cận, Mỹ sẽ buộc kinh tế Trung Quốc quỳ gối khi cần thiết.


Barack Obama và Julia Gillard đồng tâm hiệp lực kiềm chế Trung Quốc (Reuters)

Không thể xem xét các quá trình đang diễn ra hôm nay ở Trung và Cận Đông, cũng như Đông Phi bên ngoài bối cảnh sự ganh đua Mỹ-Trung. Cũng không thể bỏ qua thực tế là chính sách đối ngoại Mỹ là nhằm làm suy yếu Trung Quốc - đối thủ chính của Mỹ trong cuộc đấu giành quyền chi phối thế giới.

Ta đều biết là Trung Quốc không sở hữu trữ lượng lớn tài nguyên năng lượng trên lãnh thổ của mình nên rất phụ thuộc vào nguồn cung dầu mỏ từ bên ngoài. Vịnh Persique đã trở thành thị trường dầu mỏ tiện lợi nhất cho Trung Quốc; ban lãnh đạo Trung Quốc hiển nhiên là hy vọng nó vẫn như thế trong 20-30 năm tới. Ngoài ra, lục địa châu Phi, nhất là các quốc gia vịnh Guinea và Sudan cũng ngày càng quan trọng trong việc bảo đảm an ninh năng lượng của Trung Quốc.

Các tàu chở dầu mỏ Cận Đông và châu Phi đến Trung Quốc qua Ấn Độ Dương, nơi thực hiện đến 50% khối lượng vận chuyển container trên thế giới và 70% khối lượng vận chuyển sản phẩm dầu mỏ. Đồng thời, nằm ở Ấn Độ Dương là đa số trong 11 khu vực hiểm yếu nhất có nguy cơ làm tắc nghẽn việc cung cấp hydrocarbon trên thế giới: các eo biển Hormuz, Bab al Mandeb và Malacca, eo biển Lombok (Indonesia) nối Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, kênh đào Suez, tuyến đường vòng xa quanh mũi Hảo Vọng. Vì thế, không có gì ngạc nhiên khi Ấn Độ Dương đang trở thành một trong những khu vực rủi ro quan trọng nhất, nơi đụng độ lợi ích của các cường quốc khác nhau.

Việc vận chuyển dầu mỏ và hàng hóa bằng đường biển tương đối rẻ cũng như vai trò gia tăng của giao thông đường biển trong nền kinh tế thế giới trong điều kiện toàn cầu hóa đã làm gia tăng vai trò của Ấn Độ Dương như một khu vực có tầm quan trọng chiến lược.

Với sự thay đổi tương quan sức mạnh trên thế giới trong thập kỷ 1990, Trung Quốc bắt đầu hoạch định chiến lược (đúng hơn là khái niệm) dài hạn và cực kỳ tham vọng được gọi là “Liên châu” đối với khu vực này. Thuật ngữ “Liên châu” (String of pearls - chuỗi ngọc trai) là do các chuyên gia thuộc Viện Nghiên cứu chiến lược Mỹ (US Strategic Studies Institute) nghĩ ra. Năm 2006, họ công bố báo cáo “Liên châu: giải pháp cho vấn đề sức mạnh gia tăng của Trung Quốc trên bờ biển châu Á”. Trong báo cáo này, các tham vọng của Trung Quốc bảo vệ tuyến đường mà họ xây dựng bị xem là thách thức trực tiếp đối với sự bá quyền của Mỹ trong khu vực.

Yếu tố năng lượng đã đóng vai trò then chốt trong việc Trung Quốc xây dựng chiến lược “Liên châu”. Hơn 85% dầu mỏ và sản phẩm dầu mỏ được vận chuyển tới Trung Quốc từ vịnh Persique và châu Phi qua Ấn Độ Dương đi qua eo biển hẹp Malacca thường xuyên bị hải tặc tấn công. Nhận thấy sự phụ thuộc quá lớn vào nguồn cung dầu mỏ từ bên ngoài, Bắc Kinh đang cố bảo vệ mình trước bất kỳ mưu toan nào cắt đứt các tuyến đường cung cấp năng lượng. Bản chất của chiến lược “Liên châu” là thiết lập các điểm tựa của Trung Quốc dưới dạng các căn cứ hải quâ và không quân hay các hải cảng “thân hữu” trải dài từ đảo Hải Nam của Trung Quốc đến cảng Gwadar của Pakistan và dùng để bảo đảm an toàn cho việc cung cấp dầu mỏ đến Trung Quốc.

Chiến lược của Obama

Tháng 11/2011-tháng 1/2012, Barack Obama đã công bố hàng loạt nội dung thú vị trong chính sách Đông Á của mình. Tháng 11/2011, Tổng thống Mỹ thực hiện chuyến thăm các nước khu vực châu Á-Thái Bình Dương và tham gia hội nghị của ASEAN và Thượng đỉnh Đông Á EAS. Chủ đề quan trọng của các cuộc đàm phán là thảo luận tình hình xung quanh các quần đảo tranh chấp ở Biển Đông. Như ta đã biết, hiện có nhiều nước như Trung Quốc, Việt Nam, Philippines, Malaysia và Đài Loan đều tuyên bố chủ quyền đối với thềm lục địa của quần đảo Trường Sa giàu khoáng sản.

Ngay trước Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á ở Indonesia, Barack Obama đã ký với Thủ tướng Australia Julia Gillard hiệp định triển khai quân đội Mỹ tại căn cứ quân sự Darwin. Vào năm 2012, tại căn cứ nằm ở Các lãnh thổ phía bắc (một đơn vị hành chính của Australia), sẽ triển khai 200-250 lính thủy đánh bộ, cũng như các tàu của hài quân Mỹ và máy bay. Còn đến năm 2016, căn cứ Darwin sẽ tiếp nhận 2.500 lĩnh Mỹ và “một số lượng nào đó các binh đoàn hải quân và không quân”, mà con số cụ thể thì công chúng hiện chưa biết gì cả. Hoàn toàn có thể là một phần trong đội quân Mỹ 100.000 người ở châu Phi trong tương lai sẽ được chuyển tới căn cứ Darwin.

Phát biểu tại nghị viện Australia, Barack Obama tuyên bố: “Với tư cách tổng thống, tôi đã đưa ra một quyết định chiến lược được suy tính kỹ. Mỹ là một quốc gia Thái Bình Dương nên chúng tôi sẽ đóng vai trò quan trọng hơn và lâu dài trong việc định hình khu vực này. Chúng tôi sẽ duy trì khả năng tung sức mạnh quân sự độc nhất vô nhị và răn đe các mối đe dọa vì hòa bình của chúng tôi. Mỹ là một thế lực Thái Bình Dương, và chúng tôi đã đến châu Á để ở lại đây”, và nói thêm rằng, “Mỹ không sợ Trung Quốc, quốc gia lớn mạnh nhất trong khu vực”.

Cố vấn an ninh quốc gia của Tổng thống Mỹ là Ben Rhodes giải thích các phát biểu của Barack Obama: “Hiệp định quân sự về việc triển khai đạo quân Mỹ ở Australia – đó là tín hiệu cho thấy, chúng tôi dự định tiếp tục đóng vai trò then chốt trong bảo đảm an ninh ở phần này của khu vực, nơi sức mạnh quân sự Trung Quốc đang gia tăng”. Có lẽ việc Lầu Năm góc thành lập cơ quan quân sự mới là Air See Battle Command (Bộ chỉ huy Tác chiến không-hải) mà một trong các nhiệm vụ được công bố chính thức là chuẩn bị toàn diện cho Hải quân, Không quân và Thủy quân lục chiến  Mỹ cho nhiệm vụ vô hiệu hóa một quốc gia X. Do trong danh sách các mối đe dọa tiềm tàng Air See Battle Command có nêu ra các chiến hạm, tàu ngầm, máy bay, tên lửa chống hạm và vệ tinh do thám Trung Quốc, nên chẳng khó khăn gì để đoán ra quốc gia X mà các nhà hoạch định chương trình cho Air See Battle Command định đánh nhau là Trung Quốc.

Những câu hỏi về lý do lập căn cứ quân sự mới của Mỹ ở Australia vẫn nhiều hơn những câu trả lời. Trước hết là những mục tiêu thực sự của việc chính phủ Mỹ quân sự hóa khu vực này lần đầu tiên sau chiến tranh Việt Nam là gì và một căn cứ quân sự mới trên lãnh thổ một trong những quốc gia hòa bình nhất khu vực để làm gì? Viên tướng không quân Mỹ phụ trác hoạch định chiến lược của các lực lượng quân ự Mỹ ở Thái Bình Dương Michael Keltz tình cờ hé lộ rằng, các tiêm kích F-22, máy bay vận tải C-17, cũng như máy bay ném bom chiến lược sẽ được triển khai ở Australia.

Vì thế, nghe ra rất nước đôi là những lời nói của Tổng thống Mỹ đương nhiệm rằng, “chúng tôi đã kết thúc tất cả các cuộc chiến, và vì thế tôi giao phó cho đội chuyên gia an ninh quốc gia của mình nhiệm vụ bảo đảm sự hiện diện ở châu Á-Thái Bình Dương với tư cách nhiệm vụ ưu tiên”.

Ngoại trường Mỹ Hillary Clinton trên tạp chí Foreign Policy đã viết rằng, hiện tại, một nước Mỹ suy yếu về kinh tế không thể cho phép mình là cường quốc chi phối đồng thời ở mấy khu vực trên thế giới. Bởi vậy, có thể dự đoán rằng, các nỗ lực đối ngoại của Mỹ sẽ chủ yếu nhằm vào khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Tuy nhiên, chưa rõ những nước nào ở châu Á-Thái Bình Dương giao cho Mỹ sứ mệnh “đóng vai trò đáng kể và lâu dài trong việc định hình tương lai” của khu vực này.

Chính sách mà Mỹ toan tính thực thi ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương sẽ khiến lãnh đạo Trung Quốc cực kỳ lo ngại bởi vì một căn cứ quân sự  ở Australia sẽ khóa kín vành đai các căn cứ quân sự Mỹ bao quanh Trung Quốc và tạo ra cho Washington khả năng kiểm soát các tuyến đường giao thương đường biển trọng yếu nhất mà qua đó một lượng hàng hóa có tổng trị giá 5.000 tỷ USD được vận chuyển hàng năm.

Người Mỹ đang sẵn sàng bổ sung thêm thành tố kinh tế cho khía cạnh quân sự trong chính sách Đông Á của họ. Theo Аssociated Press, trong Hội nghị Thượng đỉnh APEC diễn ra ở Hawaii vào năm 2011, Obama đã tuyên bố rằng, Mỹ đang xem xét ý tưởng lập tổ chức thương mại khu vực mới không có sự tham gia của Trung Quốc. Như vậy, giới tinh hoa chính trị Mỹ chắc chắn dự định đối phó một cách tổng hợp với Trung Quốc. Bao vây xung quanh Trung Quốc bằng “các liên minh quốc phòng” với các quốc gia khác ở khu vực (ngoài Nhật Bản, Hàn Quốc và Philippines, còn có các liên minh với Việt Nam, Myanmar và Singapore), Washington trong khuôn khổ “học thuyết kiềm chế” của họ còn muốn dựng lên các rào cản kinh tế đối với Bắc Kinh ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

Theo tác giả của cuốn sách “Máu và dầu mỏ” của Giáo sư Trường Hampshire College Michael Klare, ý nghĩa của chiến lược mới của Obama là rất rõ ràng: “Từ nay, nội dung chính của chiến lược quân sự Mỹ sẽ không phải là đối phó với chủ nghĩa khủng bố mà kiềm chế một quốc gia đang phát triển bùng nổ về kinh tế bất kể rủi ro và cái giá của vấn đề”. Ở ý nghĩa này, căn cứ quân sự Mỹ ở Australia có thể xem như một trong những bộ phận của vành đai cách ly mà Mỹ muốn dùng để khóa chặt Trung Quốc, ngăn Trung Quốc tiếp cận đại dương thế giới và kiể soát các tuyến đường biển cung cấp dầu mỏ và khí hóa lỏng cho Trung Quốc.

Sự đối kháng vũ trang, trong bối cảnh đó, không phải là mục tiêu cuối cùng và bất biến. Bằng cách mở rộng tiềm lực quân sự của mình trong khu vực, Mỹ sẽ kích động Trung Quốc có những hành động đáp trả đối xứng và gia tăng hơn nữa chi phí cho quân bị. Như vậy, mục đích chính của “chính sách kiềm chế” này là gây áp lực và bằng cách đó làm suy yếu Trung Quốc về mặt kinh tế bằng cách buộc Trung Quốc chi những khoản tiền khổng lồ cho quốc phòng, chứ không phải cho bành trường sản xuất-thương mại.

Những rủi ro trên các tuyến đường biển

Việc tiếp cận các nguồn năng lượng, hệ thống tuần hoàn của nền kinh tế thế giới, đang mỗi năm một khó khăn hơn đối với các nước Tây Âu và Bắc Mỹ. Hiện nay, người ta đã hiểu rằng, dầu mỏ và khí đốt giá rẻ trong tương lai gần chắc chắn sẽ không có. Trong khi đó, Mỹ trong các thập niên gần đây tiêu thụ đến 40% toàn bộ tài nguyên thiên nhiên của trái đất, trong khi các nhu cầu của các nước như Trung Quốc và Ấn Độ thì liên tục tăng.

Đã xuất hiện một xu hướng rõ ràng là các nước đang phát triển, nơi tập trung các trữ lượng chủ yếu tài nguyên năng lượng của thế giới đang tiến hành quốc hữu hóa các nguồn tài nguyên thiên nhiên của mình để có được nguồn thu cao hơn cho ngân sách quốc gia. Trong giới phân tích phương Tây xác lập quan điểm cho rằng, nếu như một cuộc xung đột vũ trang sẽ xảy ra lúc nào đó giữa Mỹ và Trung Quốc thì chỉ là vì chuyện chia chác các nguồn tài nguyên năng lượng đang tan biến từng ngày.

Rõ ràng là trong những năm tới, chuyện đó khó lòng xảy ra, tuy nhiên cuộc đấu tranh ngầm để giành giật các mỏ dầu khí sẽ diễn ra không ngừng. Theo dự báo, vào năm 2020, Trung Quốc sẽ tiêu thụ tới 13,6 triệu thùng dầu/ngày và đến 16,9 triệu thùng dầu/ngày vào năm 2035, khi nhu cầu dầu mỏ nhập khẩu của Trung Quốc sẽ là 11,6 triệu thùng. Vì thế, sự cạnh tranh giành dầu mỏ giữa các nước tiêu thụ chủ yếu trong tương lai sẽ gia tăng nhiều lần.

Nhập khẩu dầu mỏ của Trung Quốc từ Cận Đông, châu Phi và Mỹ Latinh sẽ tăng mạnh, còn các rủi ro chủ yếu sẽ tiềm ẩn trên các tuyến đường biển dài lê thê. Như Michael Klare viết trên tạp chí European Energy Review, “Bằng cách tạo lập cho mình ưu thế hải quân ở Biển Đông và các vùng biển lân cận, chính quyền Obama rõ ràng nhắm tới việc giành lấy công cụ năng lượng trong thế kỷ XXI có giá trị tương đương cái gọi là hăm dọa hạt nhân trong thế kỷ XX. Chỉ cần các vị đụng chạm đến lợi ích của chúng tôi là chúng tôi sẽ buộc nền kinh tế của các vị phải quỳ gối bằng cách chặn đứng dòng chảy của nhiên liệu có tầm quan trọng sống còn”, chuyên gia Mỹ này đánh giá ý nghĩa của chính sách mới của Obama như vậy.

Đóng vai trò quan trọng trong việc vận chuyển dầu mỏ tới Trung Quốc là Yemern, vốn là một khu vực chiến lược trọng yếu tiếp giáp với vịnh Persiquae và bán đảo Arab. Các quan chức Trung Quốc gần đây có nói về sự cần thiết thiết lập các căn cứ hải quân tại khu vực quan trọng này đối với họ. Tuy nhiên, việc gây mất ổn định ở Yemen và sự dính líu của Mỹ vào cuộc xung đột Yemen đã ngăn chặn các ý đồ của Trung Quốc. Quốc gia duy nhất trong khu vực mà ở đó Trung Quốc có thể xây dựng căn cứ hải quân là Iran bởi lẽ ở tất cả các quốc gia đáng quan tâm còn lại đều có sự hiện diện quân sự của các cường quốc phương Tây. Căn cứ tình hình chính trị rối ren ở Kenya và Somalia, có thể phỏng đoán rằng, khoảng chân không tại một không gian hoàn toàn không bị phân chia dọc theo bờ Tây Ấn Độ Dương sắp tới có thể bị lấp đầy bởi các đạo quân hạn chế của NATO.

Theo các chuyên gia quân sự Mỹ, mục tiêu chính của Obama sẽ là thiết lập sự hiện diện quân sự lâu dài ở Yemen. Chính sách này sẽ đáp ứng hàng hoạt nhiệm vụ mà quan trọng nhất trong số đó sẽ là giành quyền kiểm soát tuyệt đối đối với cảng Aden ở Yemen vốn thường được mệnh danh là “cánh cửa mở sang châu Á”. Kiểm soát được Aden và eo biển Malacca sẽ đặt Mỹ vào vị thế vô song trong “ván cờ lớn” ở Ấn Độ Dương. Bằng cách đặt các tuyến đường biển ở Ấn Độ Dương dưới quyền kiểm soát của mình, Washington sẽ kiềm chế được sự gia tăng sức mạnh kinh tế của Trung Quốc. Bởi vậy, Mỹ chọn chỗ dựa là Ấn Độ, quốc gia đang tìm cách hạn chế các tham vọng của Trung Quốc và bảo vệ lợi ích của họ ở khu vực Ấn Độ Dương.

Trong khi đó, sự hoành hành của hải tặc tại vịnh Aden và Ấn Độ Dương đang trở thành một thứ công cụ để tác động đến an ninh năng lượng của Trung Quốc. Các cuộc tấn công cướp biển nhằm vào các thương thuyền vẫn diễn ra không ngừng và theo một số nguồn tin, những kẻ bị gọi là hải tặc Somalia đang nhận được thông tin từ các hãng bảo hiểm hàng hải Anh, còn tàu bè, thiết bị và vũ khí chúng nhận được từ Mỹ.

Khi một số nước đề nghị tăng cường đấu tranh chống cướp biển thì Mỹ và Anh thường phong tỏa các sáng kiến đó ở Liên Hiệp Quốc vì các lý do “nhân đạo”. Như vậy, những quốc gia chủ yếu và về thực chất là duy nhất chống lại việc thông qua các quy tắc luật pháp quốc tế nhằm chống hải tặc lại là Washington và London. Điều đó khiến người ta nghĩ đến chuyện lãnh đạo Mỹ và Anh muốn sự tồn tại và phát đạt của cướp biển.

Nguồn http://vietnamdefence.com/Home/phantich/Chien-luoc-chong-Trung-Quoc-cua-Washington/20125/51589.vnd
Logged

Việt Nam long live
(Sống ở trên đời chả sợ, thì sợ gì chết. Chết đã không sợ thì... ngoài vợ ra còn sợ cái gì nữa.)
nguyenhoangcema
Thành viên
*
Bài viết: 2087


AK 47


« Trả lời #518 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2012, 11:24:31 am »

Chiến lược chống Trung Quốc của Washington
Tiếp theo và hết

Những mất mát đau đớn của Trung Quốc ở châu Phi

Trong chuỗi các cuộc cách mạng ở thế giới Arab, Libya chiếm một vị trí đặc biệt. Chính ở đó vào năm 2011, liên minh phương Tây đã  giáng một đòn chí mạng vào các lợi ích của Trung Quốc ở châu Phi. Theo bình luận của Paul Craig Roberts, nhân vật đảng Cộng hòa, cựu thứ trưởng tài chính Mỹ dưới thời Ronald Reagan, đăng trên tạp chí Mỹ Foreign Policy, “Trung Quốc đã thực hiện những dự án đầu tư năng lượng quy mô lớn tại miền Đông Libya và trông cậy vào nó, cùng với Angola và Nigeria, về mặt nhu cầu năng lượng của mình”. Vì vậy, theo ông này, cuộc chiến ở Libya là “nỗ lực của Mỹ ngăn chặn cung cấp tài nguyên cho Trung Quốc”. Thực vậy, vào đầu năm 2011, đã có 75 công ty lớn của Trung Quốc hoạt động ở Libya và ký kết các hợp đồng tổng giá trị 18 tỷ USD. Do chiến dịch quân sự của NATO ở Libya, Trung Quốc đã buộc phải đình chỉ 50 dự án lớn đang tiến hành tại quốc gia Bắc Phi này và sơ tán 30.000 chuyên gia Trung Quốc đang làm việc chủ yếu trong khu vực dầu mỏ ở miền Đông Libya. Kết quả là Trung Quốc mất toi những khoản tiền khổng lồ đã đầu tư vào nền kinh tế Libya.

Trong các điện tín ngoại giao Mỹ mà WikiLeaks tiết lộ, các nhà ngoại giao Mỹ đã ghi nhận “sự bùng nổ quan tâm đến Libya từ phía các công ty dầu mỏ quốc tế không phải của phương Tây (trong đó có các công ty của Ấn Độ, Nhật Bản, Nga và Trung Quốc), các công ty này gần đây đã nhận được nhiều hợp đồng nhượng quyền từ Công ty Dầu mỏ quốc gia Libya”. Các công ty này đã có khả năng tạo sự cạnh tranh mạnh mẽ với các công ty dầu khổng lồ của Mỹ và Tây Âu. Ngay trước khi bùng nổ chiến sự do Liên minh Bắc Đại Tây Dương phát động ở Libya, trong số 10 công ty dầu nước ngoài đang khai thác dầu mỏ ở nước này giữ vị trí dẫn đầu là công ty CNPC của Trung Quốc. Vì vậy, nhiệm vụ của chiến dịch Libya là chặn đứng xu hướng nguy hiểm của việc Libya chuyển hướng từ các công ty dầu mỏ Mỹ và châu Âu sang các công ty châu Á và trước hết là đánh vào lợi ích của Trung Quốc, điểm đến của tới 11% tổng khối lượng dầu mỏ Libya. Mỗi năm, con số này hiển nhiên sẽ chỉ có tăng. Ngoài ra, vào tháng 1/2009, Gaddafi đã dại dột đe dọa quốc hữu hóa toàn bộ ngành dầu mỏ và khí đốt, còn trước đó thì ông đã buộc các hãng dầu khí phương Tây hoạt động ở Libya ký lại các hợp đồng của mình với chính phủ Libya theo những điều kiện bất lợi cho các công ty xuyên quốc gia. Việc đe dọa bắt buộc ký lại các hợp đồng, theo các nhà ngoại giao Mỹ, đã tạo ra một tiền lệ quốc tế nguy hiểm, “có thể lặp lại nhiều lần trên toàn thế giới ở các nước sản xuất dầu”. Bởi vậy, cần phải trừng trị Gaddafi, kẻ dám khuấy động sự bình yên.


Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào dẫn đầu các nguyên thủ các nước thành viên APEC (Reuters)

Trong một thời gian dài, một số chuyên gia đã cố chứng minh cho chúng ta rằng, cuộc xâm lược của nước ngoài vào Libya không hề liên quan đến các lợi ích dầu mỏ của các cường quốc phương Tây, mà chỉ liên quan đến mong muốn cực đoan của NATO giúp đỡ nhân dân Libya có được nền dân chủ hằng mong muốn.

Nhưng từ tháng 1/2012, vô số các nguồn thông tin từ các nước khác nhau trên thế giới bắt đầu đưa tin việc đội quân Mỹ đổ bộ vào Libya. Nguồn đầu tiên đưa ra những tin tức này rõ ràng là tờ báo quốc tế tiếng Arab lâu đời nhất Asharq Al-Awsat, hoạt động ở London từ năm 1978. Ngoài ra, hàng loạt báo chí và hãng tin khác cũng đã xác nhận thông tin này.

Thực chất là có 12.000 lính NATO đã đổ bộ xuống gần thành phố Marsa el Brega với chiêu bài “cần hỗ trợ ổn định trong khu vực và bảo đảm an ninh cho dân thường”. Theo các site của Israel, lính thủy đánh bộ Mỹ đã được điều động từ Malta để bảo đảm nguồn cung liên tục dầu mỏ Libya ra thị trường thế giới với giá hạ.

Ai cũng biết rằng, Marsa el Brega là một trong những bộ phận trọng yếu nhất của hạ tầng dầu mỏ Libya, nằm ở đây có các cơ sở lọc dầu và bơm dầu, một nhà máy khí hóa lỏng. Tại Brega còn có một trong hai cảng xuất khẩu dầu mỏ Libya. Nhà máy thứ hai đặt tại thành phố Ras Lanuf nằm cách Marsa el Brega khoảng 70 km. Bởi vậy, việc đặc nhiệm Mỹ đổ bộ rõ ràng là vì muốn chiếm giữ và kiểm soát các cơ sở then chốt của hạ tầng dầu mỏ Libya, cũng như nhằm bảo đảm việc cung cấp không gián đoạn hydrocarbon cho các đồng minh châu Âu.

Đáng chú ý là việc chiếm giữ các cảng xuất khẩu dầu mỏ của Libya trùng về thời gian với việc EU thông qua các biện pháp trừng phạt kinh tế chống Iran và châu Âu tự nguyện từ bỏ dầu mỏ của Iran. Bởi vậy, các nhà lãnh đạo châu Âu nay chắc chắn phải muốn thu xếp nguồn cung dầu mỏ Libya để giảm thiểu tối đa các hậu quả tiêu cực của việc cấm vận mua bán dầu mỏ của Iran đối với kinh tế châu Âu. Nhiệm vụ tung dầu mỏ giá rẻ ra thị trường năng lượng thế giới như vậy xem ra không phải là bất khả thi. Điều tương tự đã có thể thấy ở Iraq sau khi Mỹ chiếm đóng nước này vào năm 2003, khi chính quyền mới ở Iraq dưới sự giám sát chặt chẽ của quân đội Mỹ đã bảo đảm cung cấp các nguồn năng lượng với giá tượng trưng cho “những người giải phóng” mình (Mỹ).

Tình hình ở Nigeria, quốc gia đứng thứ 7 thế giới về khai thác dầu mỏ và chiếm 1/2 tổng trữ lượng khí đốt của châu Phi, cũng căng thẳng đột biến. Nigeria ngày nay là một trong những nhà sản xuất dầu thô nhẹ, có hàm lượng lưu huỳnh thấp, tức là loại dầu thô có chất lượng rất cao mà Libya đang sản xuất và cũng đang được khai thác ở Biển Bắc với trữ lượng đang cạn kiệt.

Ngoài ra, Nigeria còn là một trong những nhà cung cấp năng lượng chủ chốt cho Trung Quốc. Hợp tác giữa Nigeria với Trung Quốc trong những năm gần đây phát triển với tốc độ chưa từng thấy: theo tính toán khiêm tốn nhất, Trung Quốc đã đầu tư vào Nigeria trên 12 tỷ USD. Tháng 5/2010, ban lãnh đạo Trung Quốc đã ký một hợp đồng khổng lồ trị giá 28,5 tỷ USD với chính phủ Nigeria để xây dựng 3 nhà máy lọc dầu mới. Đây là hợp đồng lớn nhất mà Trung Quốc từng ký ở châu Phi. Các công ty Trung Quốc cũng tham gia vào các cuộc đấu thầu. Ví dụ, tháng 7/2010, Công ty dầu mỏ quốc gia Trung Quốc CNPC đã thắng thầu 4 lô dự kiến có dầu, 2 ở đồng bằng sông Niger và 2 ở ranh giới với lưu vực Chad.

Việc Nigeria chuyển hướng sang Trung Quốc không thể không làm cho Mỹ và EU lo ngại khi họ đang mất dần chỗ đứng trên thị trường dầu mỏ của quốc gia châu Phi này mà trước đây là lãnh đại của các công ty xuyên quốc gia Anh-Mỹ. Trong những năm gần đây, nhận được hợp đồng thăm dò các khu vực dầu khí tiềm năng nhất không phải là các công ty phương Tây mà là các công ty Trung Quốc.

Yếu tố khủng bố

Tuy nhiên, tình hình chính trị ở Nigeria đầy bất ổn. Ngoài cuộc khủng hoảng kinh tế mà quốc gia Phi châu này đang chịu đựng, còn có thêm sự căng thẳng sắc tộc và tôn giáo. Nigeria là quốc gia của 250 bộ lạc, được chia gần như thành 2 cộng đồng Thiên Chúa giáo và Hồi giáo. 12 bang miền Bắc Nigeria, nơi các phần tử Hồi giáo đã bám rễ vững chắc từ lâu, sống theo luật Hồi giáo Shariat. Năm ngoái, các phần tử Hồi giáo Nigeria đã đẩy mạnh hoạt động khủng bố. Ví dụ, sát cuối tháng 12/2011, ở Nigeria đã xảy ra hàng loạt vụ khủng bố chống người Thiên Chúa giáo. Trước đó, các phần tử Hồi giáo cực đoan đã tấn công các trạm kiểm soát của quân chính phủ. Trong năm nay, các cuộc tấn công khủng bố vẫn tiếp diễn.

Ngày 3/1/2012, người Thiên Chúa giáo sinh sống ở các bang miền Bắc Nigeria theo luật Shariat bị ra tối hậu thư yêu cầu lập tức rời miền Bắc nước này. Đưa ra tối hậu thư là tổ chức khủng bố Boko Haram, tổ chức đã nhận trách nhiệm về các cuộc khủng bố vào tháng 12/2011. Boko Haram đã gần 10 năm nay liên tục tiến hành các vụ khủng bố và tấn công người Thiên Chúa giáo và các công dân Nigeria không muốn sống theo luật Shariat.

Boko Haram thường được gọi là “Taliban châu Phi” hay “Taliban đen”. Năm 2004, tổ chức này đã lập căn cứ ở bang Yobe, Nigeria, nơi họ gọi một cách hình tượng là “Afghanistan”. Không có gì ngạc nhiên trong việc lựa chọn cái tên đó bởi vì Boko Haram duy trì quan hệ chặt chẽ với Al Qaeda và phong trào Taliban ở Afghanistan và được các tổ chức này năm 2010 hứa hẹn hậu thuẫn cho “những người anh em” ở Nigeria, có nghĩa là trong trường hợp tình hình căng thẳng ở Nigeria, các phần tử Taliban có thể ra tay giúp đỡ các phần tử khủng bố của Boko Haram.

Ngoài ra, ở Nigeria còn tồn tại các băng cướp chuyên nghiệp thường xuyên tấn công các tuyến đường ống dẫn dầu. Ví dụ, các tay súng của Phong trào giải phóng đồng bằng sống Niger thường xuyên tập kích các cơ sở dầu mỏ để đòi chính phủ chia sẽ nguồn thu dầu mỏ với dân chúng các tính ở lưu vực sông Niger. Bằng các cuộc tấn công cướp bóc, các băng cướp địa phương này phong tỏa hoạt động của các công ty dầu mỏ nước ngoài và điều kỳ lạ là mục tiêu mà chúng thường tấn công nhất chính là các công ty Trung Quốc hoạt động ở Nigeria.

Một đòn nặng giáng vào lợi ích của Trung Quốc diễn ra vào năm ngoái là việc công nhận độc lập của Nam Sudan, một quốc gia mới thành lập, nhưng sở hữu trữ lượng dầu mỏ lớn vì thế là mối quan tâm đối với Trung Quốc. Mỹ hoàn toàn có cơ sở để coi Nam Sudan, quốc gia vừa tuyên bố độc lập vào tháng 7/2011, là một trong những đồng minh chủ chốt của mình ở châu Phi: chính phủ Mỹ trong mấy thập kỷ đã vấn động cho việc thành lập nhà nước Nam Sudan có chủ quyền và ủng hộ những người muốn ly khai khỏi Khartoum. Bởi vậy, chính quyền Juba (thủ đô Cộng hòa Nam Sudan) nhìn nhận một cách logic rằng, Washington là đồng minh chiến lược chủ yếu của họ và sẵn sàng cung cấp lãnh thổ của mình để lập căn cứ quân sự có thể là lớn nhất của Mỹ ở châu Phi.

Ngoài ra, các tập đoàn Mỹ đang xây dựng một dự án tham vọng xây dựng các tuyến đường ống dẫn dầu từ Nam Sudan đến bờ biển Đại Tây Dương của châu Phi, đến Cameroon, từ đó dầu mỏ sẽ có thể được chở bằng các tàu chờ dầu đến Mỹ. Bởi vì giá thành khai thác dầu ở Đông Bắc Phi thuộc loại thấp nhất thế giới nên Mỹ sẽ có thể nhận qua tuyến đường ống xuyên Phi (Nam Sudan - Cộng hòa Trung Phi - Cameroon) dầu mỏ giá rẻ nhất thế giới và theo tuyến đường ngắn nhất. Nằm ở Nam Sudan là các mỏ dầu chính của quốc gia một thời thống nhất Sudan. Hiện nay, tuyến đường ống dẫn dầu duy nhất tồn tại chạy từ miền nam lên miền bắc, đến Port Sudan, từ đó các tàu chở dầu vận chuyển dầu mỏ đến châu Á, trước hết là đến Trung Quốc. Nhưng nếu như ra đời “tuyến Cameroon” thay thế thì Trung Quốc có thể không còn dầu mỏ Sudan. Có lẽ, để đạt mục tiêu đó, Tổng thống Mỹ Barack Obama vào tháng 10/2011 đã quyết định phái quân Mỹ đến Uganda với cớ công khai là tham gia chống các phần tử cực đoan trong khu vực. Tuy nhiên, theo một số nhà phân tích, mục tiêu ngầm của Mỹ trong chiến dịch ở Trung Phi là “làm sạch mặt bằng” các khu vực lãnh thổ đang kiểm soát cho các tuyến đường ống dẫn dầu mới. Barack Obama đang cố gắng bảo đảm an toàn cho các tuyến đường xuất khẩu dầu mỏ bằng cách thiết lập trật tự trên các vùng lãnh thổ mà các tuyến đường ống từ Nam Sudan có tầm quan trọng chiến lược đối với Washington sắp tới có thể chạy qua.


Mỹ đang dùng mọi biện pháp để phá chiến lược Liên châu, kiềm chế Trung Quốc
bất kể là chính trị, kinh tế, quân sự, kể cả chiến tranh, đảo chính, nội chiến, khủng bố, hải tặc...

Một thất bại nặng nề của Trung Quốc là dự án bất thành xây dựng tuyến đường ống dẫn dầu Sudan - Libya - tuyến đường ống dẫn dầu xuyên Phi đầu tiên không nằm dưới sự kiểm soát của các cường quốc phương Tây, mà theo kế hoạch là được thực hiện vào năm 2011. Tuyến đường ống dẫn dầu này lẽ ra sẽ nối Biển Đỏ với Địa Trung Hải và chạy theo tuyến Port Sudan - Khartoum - Fezzan - Benghazi. Việc mở tuyến đường ống dẫn dầu này có thể chuyển hướng cung cấp dầu mỏ Libya từ EU sang Trung Quốc, quốc gia đang bảo trợ cho chính quyền Sudan hiện nay. Tuy nhiên, các sự kiện đã biết ở Libya chỉ trong chớp mắt đã xóa sạch các kế hoạch này của Bắc Kinh.

Như vậy, sự đối đầu Mỹ-Trung ở châu Phi và Cận Đông vẫn đang tiếp diễn và chiều kích quan trọng của nó đang là yếu tố năng lượng và các vấn đề an toàn vận chuyển tài nguyên năng lượng. Hiện thời, về mặt này, Mỹ đang thắng thế khi chậm rãi đẩy bật các công ty Trung Quốc khỏi các khu vực có dầu mỏ.

Có vẻ như trong những năm tới, cuộc tranh đấu này sẽ tiếp diễn cả ở những nước giàu tài nguyên thiên nhiên khác. Ngoài ra, đang được bổ sung cho cuộc tranh giành tài nguyên năng lượng là các chiều kích quân sự và kinh tế. Mỹ đang cố gắng kiềm chế Trung Quốc bằng cách gây áp lực quân sự nhất định đối với Trung Quốc và dựng lên “các khối quân sự” với nước châu Á. Nhiệm vụ của Mỹ là rõ ràng: Washington cần cô lập hoàn toàn Trung Quốc bằng cách lợi dụng nỗi sợ hãi của các quốc gia láng giềng của Trung Quốc xuất hiện trước hết do sức mạnh kinh tế của con rồng đang lên Trung Quốc.

Nguồn http://vietnamdefence.com/Home/phantich/Chien-luoc-chong-Trung-Quoc-cua-Washington/20125/51589.vnd
Logged

Việt Nam long live
(Sống ở trên đời chả sợ, thì sợ gì chết. Chết đã không sợ thì... ngoài vợ ra còn sợ cái gì nữa.)
nguyenhoangcema
Thành viên
*
Bài viết: 2087


AK 47


« Trả lời #519 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2012, 11:28:06 am »

Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc sắp thăm Mỹ

Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt sẽ thăm Mỹ vào tuần tới để gặp gỡ người đồng cấp chủ nhà Leon Panetta.
Chuyến thăm diễn ra trong bối cảnh hai nước tìm cách thúc đẩy các mối quan hệ song phương vốn thăng trầm. Người phát ngôn Lầu Năm Góc, ông George Little nói: "Lý do của chuyến thăm nhằm tăng cường hơn nữa quan hệ quân sự và các tiếp xúc với phía Trung Quốc. Chuyến thăm của ông Lương tiếp theo chuyến thăm của Phó Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tới Lầu Năm Góc và chúng tôi tin rằng đây là một điểm quan trọng trong tiến trình hợp tác được tăng cường với các đối tác Trung Quốc."
 
Theo kế hoạch, ông Lương Quang Liệt sẽ đi thăm một vài căn cứ quân sự Mỹ, đặc biệt là căn cứ hải quân ở San Diego, căn cứ lính thủy đánh bộ tại Trại Lejeune ở Bắc Carolina và một căn cứ Lục quân tại Fort Benning ở Nam Carolina. Ngoài ra, ông cũng thăm Học viện quân sự West Point. Một phát ngôn viên khác của Lầu Năm Góc, Đại tá Hải quân John Kirby cũng cho biết Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Panetta dự kiến sẽ sớm có chuyến thăm Bắc Kinh.

Nguồn http://quocphong.baodatviet.vn/Home/QPCN/toancanh/Bo-truong-Quoc-phong-Trung-Quoc-sap-tham-My/20125/207857.datviet
Logged

Việt Nam long live
(Sống ở trên đời chả sợ, thì sợ gì chết. Chết đã không sợ thì... ngoài vợ ra còn sợ cái gì nữa.)
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM