Không quân Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (PLAAF)
Không quân Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa hay Không quân quân Giải phóng Nhân dân Trung Hoa (PLAAF) là một quân chủng của Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Hoa. Tính đến năm 2010, PLAAF có khoảng 330.000 quân nhân và 2.500 máy bay, trong đó 1.617 máy bay chiến đấu, PLAAF là lực lượng không quân lớn nhất ở châu Á và lớn thứ ba trên thế giới sau quân Mỹ và Nga. Điều này không bao gồm Binh chủng Không quân Hải quân trực thuộc quân chủng Hải quân có 26.000 nhân viên và 570 máy bay (290 máy bay chiến đấu).
Lịch sử hình thành, tổ chức và biên chế của PLAAF
Thời kỳ đầu thành lập
PLAAF được thành lập với sự hỗ trợ của Liên Xô vào ngày 11 tháng 11 năm 1949, ngay sau khi Chủ tịch Mao Trạch Đông công bố thành lập nước sự hình thành của Cộng hòa nhân dân Trung Quốc. Phi đội đầu tiên của PLA được thành lập vào mùa hè năm 1949 với nhiệm vụ bảo vệ Bắc Kinh, thủ đô mới của Trung Quốc.
PLAAF đã đưa máy bay chiến đấu Mig-15 (Trung Quốc gọi là J-2) của Liên Xô vào tham chiến trong chiến tranh Triều Tiên. Liên Xô cũng đã hỗ trợ Trung Quốc trong việc xây dựng ngành công nghiệp máy bay bản địa. Nhà máy máy bay Thẩm Dương đã được phía Liên Xô giúp đỡ lắp đặt dây chuyền sản xuất máy bay huấn luyện hai chỗ ngồi MiG-15UTI. Sau đó những dòng máy chiến đấu nội địa sản xuất theo giấy phép của Liên Xô lần lượt được xuất xưởng, bắt đầu với J-5 ( MiG-17 ) vào năm 1956, sau đó là J-6 ( MiG-19 ) vào năm 1959, [5] và J -7 ( MiG-21 ) vào năm 1967.
Những năm 1960 là thời kỳ khó khăn cho PLAAF. Việc thu hồi viện trợ của Liên Xô do sự chia rẽ Trung-Xô và sự ưu tiên dành cho các chương trình nghiên cứu tên lửa và vũ khí hạt nhân đã gây ra sự suy giảm rõ rệt đối với ngành công nghiệp máy bay của Trung Quốc vào năm 1963. Sự phục hồi bắt đầu vào khoảng 1965, trong thời gian này Trung Quốc đã viện trợ các loại máy bay chiến đấu J-2, J-5 và một số J-6 cho miền Bắc Việt Nam trong chiến tranh Việt Nam . Chương trình nghiên cứu, phát triển của J-8 , máy bay chiến đấu nội địa đầu tiên của Trung Quốc, cũng đã được khởi xướng trong những năm 1960.
Thập niên 1980 cho đến nay
Không quân của PLA đã được tái tổ chức và thu hẹp quy mô vào năm 1985, chuyển từ lực lượng không quân cồng kềnh và hạn chế thành một lực lượng hiện đại hơn được trang bị vũ khí hiện đại, có học thuyết và có khả năng tác chiến cao.
PLAAF được tổ chức thành bảy quân khu, mỗi quân khu trực thuộc một Bộ tư lệnh Không quân. Trong một quân khu gồm một Sư đoàn không quân, ba Trung đoàn không quân trực thuộc và ba Liên đội không quân.
Tổ chức, biên chế của PLAAF hiện nay :
- Quân khu Bắc Kinh gồm 03 Sư đoàn Không quân Chiến đấu (số 7, 15 và 24) và 01 Sư đoàn Không quân Vận tải số 34.
- Quân khu Thành Đô gồm 02 Sư đoàn Không quân Chiến đấu (số 33 và 44).
- Quân khu Quảng Châu gồm 01 Trung đoàn Không quân Độc lập số 2, 05 Sư đoàn Không quân Chiến đấu số 2, 9, 18, 35 và 42, 01 Sư đoàn Không quân Ném bom số 8 và 01 Sư đoàn Không quân Vận tải số 13.
- Quân khu Tế Nam gồm 01 Trung đoàn Không quân Độc lập số 1, 03 Sư đoàn Không quân Chiến đấu số 12, 19 và 31 và 01 Sư đoàn Không quân Tấn công số 5.
- Quân khu Lan Châu gồm 02 Sư đoàn Không quân Chiến đấu số 6 và 37, 01 Sư đoàn Không quân Ném bom số 36.
- Quân khu Nam Kinh gồm 01 Trung đoàn Không quân Độc lập số 3, 04 Sư đoàn Không quân Chiến đấu số 3, 14, 26 và 29, 01 Sư đoàn Không quân Ném bom số 10 và 01 Sư đoàn Không quân Tấn công số 28.
- Quân khu Thẩm Dương gồm 01 Trung đoàn Không quân Độc lập số 4, 05 Sư đoàn Không quân Chiến đấu số 1, 4, 21, 30 và 39 và 02 Sư đoàn Không quân Tấn công số 11 và 22.
Cùng 02 Tập đoàn Không quân số 15, 16 và 03 Sư đoàn Không quân số 43, 44 và 45 nằm dưới sự quản lý trực tiếp của Bộ tư lệnh Không quân Quân Giải phóng Nhân Dân Trung Quốc.