TẢN MẠN...ĐÒ...Ơ...ƠI...
QĐND - Thứ Hai, 02/07/2012, 10:35 (GMT+7)QĐNĐ-Đò lên Thạch Hãn ơi chèo
nhẹ
Đáy sông còn đó bạn tôi nằm.
Có tuổi hai mươi thành sóng
nước
Vỗ yên bờ mãi mãi ngàn năm
Tiếng lòng chung của mọi ngườiCho đến bây giờ, khi mỗi ngày có ít nhất một vài cuộc điện thoại từ mọi miền đất nước, kể cả nước ngoài gọi vào máy tôi hỏi về bài thơ tứ tuyệt tôi “viết” vào những năm cuối thế kỷ 20, tôi vẫn không thể nghĩ rằng, những vần chữ rứt ra từ tấm lòng mình trong một khoảnh khắc đó lại là sự đồng cảm chung của nhiều người. Để rồi mỗi khi có cuộc gặp gỡ, đình đám, khi nhắc nhớ về một thời chiến tranh… nhiều người lại đem bài thơ này ra đọc, và… bình. Có điều, do mỗi người khi đọc, thường vẫn đọc khác nhau một vài từ, nên ngoài câu hỏi: Bài thơ viết lúc nào, ở đâu, mấy câu… thì hầu hết là những câu tranh luận về những từ khác nhau trong mỗi câu như: đò lên hay đò xuôi; xin hay ơ..ơi; bãi hay mãi… vốn tạo nên những dị bản thơ… Lê Bá Dương! Ngay cả hai tấm bia đá tạc 4 câu thơ này đặt ở 2 bến thả hoa đôi bờ Nam - Bắc sông Thạch Hãn cũng có hẳn dị bản, để rồi mới đây, trong dịp kỷ niệm 40 năm ngày giải phóng Quảng Trị (1-5-1972/1-5-2012), tại ngay bến thả hoa phía Bắc, nhiều đồng bào đồng đội có mặt trong lễ hòa đất nước sông quê vào lòng Thạch Hãn theo chương trình “đưa quê hương vào cho đồng đội” đã trực tiếp hỏi tôi rằng: Tại sao dưới bài thơ tạc trên bia đá không đề tên tác giả? rằng tại sao thơ anh có nhiều dị bản và riêng chỉ hai tấm bia trên bến thả hoa đôi bờ sông cũng khác nhau mấy từ?
Thôi thì bài thơ đã hòa vào tiếng lòng chung của cả mọi người, việc để tên hay không để tên tác giả tuy “phạm luật bản quyền” nhưng nói cho cùng, cũng không cần thiết khi tiếng lòng trong thơ tự nó đã là cái tên vĩnh hằng trong dòng chảy cuộc đời. Nhưng riêng chuyện sai từ, lạc chữ làm nên những dị bản… lần này với tư cách tác giả xin được đôi điều phân tỏ.
Về những dị bản quanh bài thơVâng , bài thơ được “viết” vào chiều 27-7-1987. Xin được đóng ngoặc kép chữ “viết” vì cái cách làm thơ, hoặc làm vế đối bất chợt trong đầu và nhớ nhập tâm rồi sau này tiện lúc nào thì viết thành chữ vào nhật ký, hoặc in sách báo... Bài thơ
Lời người bên sông cũng cùng một cách viết như vậy.
Về nguyên bản bài thơ đầu tiên được “viết” ra như thế này:
Đò lên Thạch Hãn xin chèo
nhẹ
Đáy sông còn đó bạn tôi nằm.
Tan chợ chiều xuôi đò có vội
Xin, xin đừng khuấy đục dòng
trong.
Viết vậy bởi hôm đó, sau lễ hương hoa cho đồng bào, đồng đội, tôi một mình ngồi lặng lẽ bên bờ Thạch Hãn, chợt thấy từng chiếc thuyền của cô bác ngược dòng lên chợ Quảng Trị. Nhìn những mái chèo hối hả khuấy tung bọt nước, chạnh lòng khi nghĩ đến bạn bè, đồng đội vẫn còn gửi thân xác vào đáy sông mà xót xa. Cứ vậy từng lời như từ trong ngực tôi mà thốt ra thành câu, thành chữ thành bài thơ như một lời nhắn gửi, thỉnh cầu của một người lính với mọi người trong cả dòng đời xuôi ngược.
Bài thơ “viết” để trải lòng mình nên tôi không gửi in ở đâu, ngoại trừ một lần cuối năm 1987 khi cùng nhà văn Thế Vũ (mất năm 2004) đi dự đại hội Văn nghệ Thừa Thiên Huế trở về Nha Trang trên một chuyến tàu, tôi có đọc cho Thế Vũ nghe. Sau này vào khoảng đầu năm 1990, trong một lần chuyện trò với 2 người bạn là nhà văn Đỗ Kim Cuông và nhà văn Thế Vũ tại Hội Văn nghệ Nha Trang, Thế Vũ bỗng gợi lại chuyện bài thơ và nói với nhà văn Đỗ Kim Cuông rằng: Lê Bá Dương không chỉ là nhà nhiếp ảnh mà còn viết ký và thơ “đọc được” lắm. Nhân đó Thế Vũ bảo tôi đọc lại bài thơ Lời người bên sông với ý định giới thiệu trên tạp chí Cánh Én (tạp chí của Hội Văn nghệ Nha Trang, nơi Thế Vũ đang phụ trách biên tập). Đỗ Kim Cuông nghe xong nói ngay: Bài thơ rất cảm động, nhưng xót xa quá. Và về câu chữ, từ xin cứ lặp đi lặp lại nhiều lần có nên không? Tôi giải thích là bài thơ chỉ là lời thỉnh cầu xuất phát từ tâm trạng xót xa của một người lính với đồng bào, đồng đội đã hy sinh, đó chính là cảm xúc, là tâm trạng của tôi. Nói vậy nhưng sau đó, khi ngẫm lại ý kiến của Đỗ Kim Cuông về từ xin, nên khi chép lại cho Thế Vũ và Đỗ Kim Cuông, tôi đã sửa lại từ xin trong câu đầu tiên thành từ ơi… Đây là thán từ gọi đò theo phương ngữ Quảng Trị. So với từ xin thì từ ơi đò… bớ đò… hoặc đò ơ… khi gọi lên có tiếng đồng vọng nên nghe thắt thẻo, lênh lang trên sóng nước. Riêng hai câu sau được viết lại: Có tuổi hai mươi thành sóng nước/ Vỗ yên bờ mãi mãi ngàn năm. Với bản thơ này, anh Đỗ Kim Cuông đã biên tập sử dụng in trên Tạp chí Khoa học công nghệ Khánh Hòa số kỷ niệm Ngày Thương binh-Liệt sĩ 27-7-1990 với bản mới:
Đò lên Thạch Hãn ơi chèo
nhẹ
Đáy sông còn đó bạn tôi nằm.
Có tuổi hai mươi thành
sóng nước
Vỗ yên bờ mãi mãi ngàn
năm.
Bẵng qua năm 1992, tôi được mời về dự kỷ niệm 20 năm giải phóng Quảng Trị (1-5-1972/1-5-1992). Trong dịp này, nghe có cuộc hành hương về nguồn của đoàn thanh niên Quảng Trị về chiến khu Ba Lòng, tôi đã nhập cuộc với các bạn trẻ. Cùng đi có nhà báo Đào Tâm Thanh, nhà báo Lê Đức Dục (cùng ở báo Quảng Trị) và nhạc sĩ Thế Hùng.
Trong chặng đường về chiến trường xưa đầy ắp cảm xúc, cùng với những bài hát tếu táo hồi chiến tranh, tôi đã đọc một vài bài thơ ngẫu hứng viết trong một thời trận mạc, trong đó khi Lê Đức Dục hỏi về “sự tích” tôi thả hoa trên sông Thạch Hãn đã được nhà báo Văn Thuần viết cho chương trình Văn nghệ mừng xuân của Đài phát thanh Quảng Trị phát trong đêm 30 Tết năm 1987. Kể lại cho Lê Đức Dục nghe câu chuyện trên, tôi buột miệng đọc lại bài thơ thay cho việc lý giải cả một câu chuyện dài về việc tôi về thắp hương, thả hoa cho đồng đội trên núi, trên gò đồi và sông suối ở Quảng Trị. Mãi đến tháng 7-1995, theo ý của Lê Đức Dục muốn “viết một cái chi đó” cho Tạp chí Cửa Việt, tôi đọc lại cho anh nghe bài thơ. Sau đó không lâu, bài thơ được in thay cho phần mở đầu và được nhắc lại ở phần viết về tác giả bài thơ trong tùy bút của Lê Đức Dục trên tạp chí Kiến thức ngày nay, số 180, nhân kỷ niệm ngày thương binh-liệt sĩ 27-7 với tựa bài: “Thành cổ Quảng Trị - Khúc tưởng niệm của lau trắng và phượng hồng”. Có thể nói, Lê Đức Dục là người đầu tiên và là người có nhiều bài viết rất sâu sắc, cảm động về bài thơ của tôi. Trong đó đặc biệt là bài tùy bút: “Sử thi về một dòng sông” in trên Tuổi Trẻ chủ nhật số 29 (số ra tháng 7-1998) được nhiều bạn đọc quan tâm. Trong bài viết này, Lê Đức Dục đã nhắc lại bài thơ:
Đò xuôi Thạch Hãn xin chèo
nhẹ
Đáy sông còn đó bạn tôi nằm.
Có tuổi hai mươi thành sóng
nước
Vỗ yên bờ bãi mãi ngàn năm.
Cũng như bài thơ in trên Kiến thức ngày nay, từ lên và ơi… trong câu đầu đã được viết thành từ xuôi và xin. Ở câu cuối từ mãi mãi được viết thành từ bãi mãi. Ngay trong bản thơ xuất hiện một cách khiêm nhường tại Bảo tàng Thành cổ Quảng Trị, cũng có hai từ chưa chính xác. Đó là từ xuôi và từ xin vốn dĩ nguyên bản là từ lên và từ ơi. Sở dĩ tôi dùng từ lên bởi có ngược lên thì người ta mới phải vất vả khuấy mái chèo đến độ người lính phải xót xa.
Như vậy, ngoại trừ nguyên bản ban đầu với “nguyên bản” thứ 2 do tác giả sửa chữa thì các dị bản được truyền miệng trong dân gian không khác nhau bao nhiêu. Tuy nhiên, cho dù đọc với chính bản hoặc bất cứ một dị bản nào đều cảm nhận đó chỉ là tiếng lòng vẹn nguyên của tác giả gửi gắm vào những dòng thơ xót xa hòa lẫn máu và nước mắt, thấm đậm tình đồng đội, nghĩa đồng bào. Hơn thế, đó còn là tấm lòng, và là sự tri ân của cả một thế hệ được sống trong hòa bình nhưng vẫn day dứt khôn nguôi khi nhớ về những đồng đội thân yêu đã dâng hiến trọn tuổi thanh xuân cho đất nước. Bởi vậy, có lẽ cũng không nên quá xăm xoi chẻ từ, chiết nghĩa từng chữ trong một bài thơ dồn nén cảm xúc như vậy làm gì, ngoại trừ việc thay từ “mãi” bằng “bãi” trong câu cuối cùng: Vỗ yên bờ, mãi mãi ngàn năm đã “được” đổi thành Vỗ yên bờ, bãi mãi ngàn năm thực sự đã làm hỏng ý tứ bài thơ. Bởi nếu đọc và ngẫm kỹ câu thơ trước: Có tuổi hai mươi thành sóng nước, thì ở câu sau, dòng sông đã không còn là dòng sông hiện hữu nữa, nên cái bờ ở đây cũng không còn là cái bờ cụ thể, vì vậy việc đưa vào dùng tiếp từ “bờ bãi” đã làm khuôn hẹp phổ nghĩa của cả bài thơ...
Lê Bá Dương
http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-VN/89/70/80/80/80/194751/Default.aspx