Nguồn: enclyclopedia.mil.ru
Tổ hợp kỷ niệm "Trận Kursk"
Trận Kursk là trận đánh vĩ đại về quy mô, tập trung lớn các lực lượng và vũ khí, cường độ, kết quả và tác động quân sự - chính trị. Đây là một trong số những trận chiến lớn nhất trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Trận đánh kéo dài và ác liệt trong suốt 50 ngày đêm và là sự kết hợp của phòng thủ chiến lược (5-23 tháng 7) và các chiến dịch tấn công (12 tháng 7 đến 23 tháng 8 ) trong Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại do Hồng Quân thực hiện ở khu vực mỏm đất nhô ở Kursk với mục tiêu bẻ gãy cuộc tấn công quy mô lớn của quân Đức và đánh tan cụm quân chiến lược của địch.
Kết quả các cuộc tấn công mùa đông 1942-1943 của quân đội Liên Xô và quân Đức buộc phải rút lui trong thời gian chiến dịch phòng thủ Kharcov trong năm 1943 đã hình thành mỏm đất nhô ở Kursk. Ở đó, các bộ phận thuộc Phương diện quân Trung tâm và Voronhez đang uy hiếp mạnh vào sườn và sau lưng các cụm tập đoàn quân “Trung tâm” và “Nam” của Đức. Về phần mình, các cụm quân của địch đang chiếm giữ các bàn đạp ở Orel và Belgorod-Kharcov, có các điều kiện thuận lợi để đánh mạnh vào sườn các đơn vị quân đội Liên Xô đang phòng thủ ở khu vực Kursk. Trong bất kỳ trường hợp nào, các cuộc tấn công phối hợp của kẻ thù cũng có thể bao vây và đánh bại các lực lượng Hồng Quân đang ở đó. Mối nguy hiểm này đã được khẳng định bằng các tin tức tình báo về những khả năng Bộ chỉ huy quân Đức sẽ thực hiện đòn tấn công quyết định ở Kursk.
Để thực hiện được khả năng đó, lãnh đạo quân đội Đức đã triển khai sẵn sàng cho cuộc tấn công trong mùa hè theo hướng này. Phía Đức tính toàn thực hiện hàng loạt các cuộc tấn công phối hợp mạnh để đánh bại chủ lực Hồng Quân ở khu vực trung tâm chiến trường Xô – Đức, giành lại thế chủ động chiến lược và thay đổi cục diện chiến tranh theo hướng có lợi cho Đức. Bằng ý đồ chiến dịch “Thành lũy” (Tsitadel - Citadel), sử dụng các cuộc tấn công vào hướng rút lui từ phía bắc và phía nam theo cơ sở vòng cung Kursk trong 4 ngày, sẽ bao vây và sau đó tiêu diệt quân đội Liên Xô. Sau đó, sẽ bắt đầu tấn công vào sau lưng phương diện quân Tây Nam (chiến dịch “Panther”) và triển khai tấn công vào hướng đông-bắc với mục đích đẩy cụm quân trung tâm của Liên Xô lùi sâu và tạo ra sự uy hiếp cho Moskva. Để tiến hành chiến dịch “Thành lũy”, quân Đức đã tập trung các tưỡng lĩnh giỏi nhất, nhưng đơn vị có khả năng chiến đấu tốt nhất với tổng cọng 50 sư đoàn (16 sư đoàn tăng và cơ giới) cùng với số lượng lớn các đơn vị độc lập thuộc các tập đoàn quân số 9 và số 2, cụm tập đoàn quân “Trung tâm” (thống chế G.Kluge), tập đoàn xe tăng số 4, sư đoàn xe tăng “Kempf ”, cụm tập đoàn quân “Nam” (thống chế E.Manstein). Các lực lượng này được yểm trợ bởi không đoàn số 4 và 6. Tổng cộng, cụm này có 900 000 quân, khoảng 10 000 pháo và súng cối, gần 2700 xe tăng và pháo tự hành, khoảng 2050 máy bay. Đây là gần 70% các sư đoàn xe tăng; 30% số sư đoàn cơ giới, hơn 20% số sư đoàn bộ binh cũng như hơn 65% tổng số máy bay chiến đấu trên mặt trận Xô – Đức và tập trung trên khoảng 14% chiều dài toàn bộ mặt trận.
Để nhanh chóng đạt được thành công, Bộ chỉ huy quân Đức đã sử dụng số lượng lớn khí tài thiết giáp (xe tăng, pháo tự hành và xe bọc thép) trong thê đội 1. Trong biên chế quân Đức khi đó có các xe tăng hạng trung và hạng nặng T-IV, T-V (Báo), T-VI (Cọp), các pháo tự hành “Ferdinand” có giáp dày và pháo mạnh. Các loại pháo 75 và 88mm có sơ tốc đầu nòng cao và khả năng xuyên giáp mạnh cùng tầm bắn thẳng (trực xạ) 1,5-2,5 kilomet, gấp 2,5 lần tầm bắn của pháo 76mm trên các xe tăng chủ lực (chính) T-34. Trong biên chế các trung đoàn pháo binh thuộc thuộc sư đoàn tăng có các lựu pháo tự hành “Hummels” và “Wespe” cũng có thể sử dụng pháo bắn thẳng vào xe tăng. Ngoài ra, trên các vũ khí này còn lắp thước ngắm quang học tốt. Nó cho phép quân địch chiếm ưu thế trong trang bị xe tăng. Thêm vào đó, trong không quân Đức còn có các máy bay mới: máy bay tiêm kích “Fokke-Wulf-190A”, các máy bay cường kích “Henkel-190A” và “Henkel-129” – những vũ khí đảm bảo khả năng chiếm ưu thế trên không và yểm trợ hiệu quả cho các sư đoàn xe tăng.

Cuộc họp của các sỹ quan Đức, thượng tướng German Hoth và thống chế Erich fon Manstein, tháng 7 năm 1943
Đặc biệt, để tăng tính bất ngờ cho chiến dịch “Thành lũy”, Bộ chỉ huy quân đội Đức đã tiến hành các hoạt động nghi binh quy mô lớn đối với quân đội Liên Xô – tiếp tục tăng cường chuẩn bị chiến dịch “Panther” ở hướng tập đoàn quân “Nam”. Quân Đức đã tiến hành trinh sát kỹ lưỡng, di chuyển xe tăng, tập trung các khí tài vượt sông, thực hiện các cuộc liên lạc vô tuyến, các cơ quan tình báo hoạt động tích cực, phao tin… Còn trong hướng cụm tập đoàn quân “Trung tâm”, ngược lại, toàn bộ được ngụy trang một cách chu đáo. Nhưng mặc dù toàn bộ các biện pháp đã được tiến hành rất cẩn thận và quy mô, chúng không mang lại hiệu quả như mong muốn.
Để đảm bảo cho khu vực sau lưng các cụm quân tấn công, Bộ chỉ huy quân Đức trong thời gian tháng 5-6 năm 1943 đã phát động các cuộc càn quét lớn chống lại du kích Ucraina và Bryansk. Như để chống lại 20 000 du kích Bryansk, Đức sử dụng hơn 10 sử đoàn, còn ở tỉnh Zhitomir, Đức tập trung 40 000 binh lính và sỹ quan. Nhưng kẻ thù không đánh bại được quân du kích.
Khi lên kế hoạch chiến dịch hè-thu năm 1943, Bộ tư lệnh tối cao (Đại bản doanh) đã dự định tiến hành cuộc tấn công lớn và hướng tấn công chính là hướng tây-nam với mục đích đánh tan cụm tập đoàn quân “Nam”, giải phóng bờ trái (phía đông) Ucraina, Donbass và vượt qua sông Dnepr.
Bộ tư lệnh quân đội Liên Xô đã vạch ra kế hoạch chuẩn bị các hoạt động trong mùa hè năm 1943, bắt đầu ngay sau khi kết thúc chiến dịch mùa đông vào cuối tháng 3 năm 1943. Để chuẩn bị cho chiến dịch, có sự tham gia của Đại bản doan, Bộ tổng tham mưu, toàn bộ các tư lệnh phương diện quân phòng thủ mỏm đất nhô ở Kursk. Kế hoạch dự kiến thực hiện mũi tấn công chính ở hướng tây-nam. Tình báo quân đội Liên Xô vào thời điểm đó đã phát hiện việc chuẩn bị cuộc tấn công quy mô lớn của quân đội Đức vào vòng cung Kursk và thậm chí đã biết được ngày bắt đầu chiến dịch.
Nhiệm vụ khó khăn đã đặt ra trước Bộ tư lệnh quân đội Liên Xô – lựa chọn tấn công hay phòng thủ. Trong báo cáo cho Đại bản doanh đánh giá tình hình chung và lý giải của cá nhân về hoạt động của Hồng Quân trong mùa hè năm 1943 ở mỏm đất nhô Kursk, Nguyên soái Zhukov đã viết: “Việc chuyển quân ta sang thế tấn công trong những ngày tới với mục đích ngăn ngừa kẻ địch là không hợp lý. Sẽ tốt hơn, nếu chúng ta làm tiêu hao đich trong tuyến phòng ngự, bắn cháy xe tăng của chúng. Còn sau đó, sẽ đưa các lực lượng dự bị mới, chuyển sang tổng tấn công, đánh gục hoàn toàn cụm quân chủ lực của địch”. Quan điểm này cũng được Tổng tham mưu trưởng Vasilievsky ủng hộ: “Phân tích kỹ càng tình hính và dự đoán phát triển các tình huống cho phép đưa ra kết luận chính xác: các lực lượng chính cần tập trung ở phía bắc và nam Kursk, làm kiệt sức quân địch ở đây trong thế trận phòng ngự. Sau đó chuyển sang phản công và đánh bại chúng”.
Kết quả là đã ra quyết định chưa từng có về chuyển sang phòng ngự mỏm đất nhô ở Kursk. Các lực lượng chính được tập trung ở khu vực phía bắc và nam Kursk. Trường hợp này đã xảy ra trong lịch sử chiến tranh, khi bên mạnh nhất, có toàn bộ khả năng để tấn công, đã lựa chọn một trong số các phương án hành động tối ưu hơn – phòng ngự. Không phải ai cũng đồng tình với quyết định này. Tư lệnh các tập đoàn quân Voronhez và phía Nam – Vatutin và Manilovsky đã tiếp tục ủng hộ quan điểm mở cuộc tấn công chủ động, mang tính chất phòng ngừa ở Donbass. Quan điểm này được sử ủng hộ của Timosenko và Voroshilov và một số tướng lĩnh khác. Quyết định cuối cùng được đưa ra vào cuối tháng 5 – đầu tháng 6, khi đã biết chắc chắn về kế hoạch “Thành lũy”. Phân tích sau đó và hướng phát triển thực tế của các diễn biến đã chỉ ra rằng quyết định chủ động phòng ngự trong điều kiện chiếm ưu thế về lực lượng trong trường hợp này là hợp lý hơn về mặt chiến lược.