Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 09:08:30 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lực lượng đặc nhiệm trên thế giới  (Đọc 95171 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #50 vào lúc: 02 Tháng Chín, 2012, 07:19:00 pm »

8.LỰC LƯỢNG “Commandos” của Anh

“Commandos” là tên gọi khác của lực lượng đặc nhiệm Anh. Lực lượng này ra đời vào thời kỳ đầu của Đại chiến Thế giới lần thứ 2, là một trong những lực lượng đặc nhiệm ra đời sớm nhất trên thế giới, cùng với khói lửa của cuộc chiến tranh, nó không ngừng được hoàn thiện và phát huy vai trò của mình, trở thành mẫu mực cho lực lượng đặc nhiệm của các nước trên thế giới sau này học tập.


RA ĐỜI TRONG KHÓI LỬA

Tìm hiểu lịch sử của “Commandos” phải ngược dòng thời gian trở về thời kỳ đầu của Chiến tranh thế giới lần thứ 2. Trên chiến trường Châu Âu khốc liệt, liên quân Anh, Pháp thiệt hại nặng nề trước sự đột kích mãnh liệt của các sư đoàn thiết giáp của phát xít Đức. Tháng 6 năm 1950, hơn 300.000 binh sỹ liên quân Anh, Pháp gạt nước mắt từ biệt lục địa Châu Âu, để từ Dunkerque thuộc Pháp vượt biển sang nước Anh.


Trên đuờng rút lui, đội quân rời rạc tuy đa phần đều sống sót trở về, song gần như phải bỏ toàn bộ trang bị. Đại đế quốc Anh lừng lẫy thuở nào phải chịu sự lăng nhục nặng nề, lòng tựu hào dân tộc bị thương tổn.

Thủ tướng Churchill rất đau lòng trước thực tại yếu thế của quân Anh. Nhằm nhanh chóng cứu vãn tình thế, vực dậy lòng tin về cuộc chiến đấu của toàn dân chống phát xít, ngày 6 tháng 6, ông viết thư cho Chủ tịch Hồi đồng tham mưu trưởng tướng Yzmaer, thư viết: “Tác chiến phòng ngự cần chấm dứt tại thời điểm này, tôi chờ đợi quân đội Anh sẽ có những đợt tấn công tích cực và liên tục vào bộ khu vực phát xít Đức chiếm đóng”.


Thủ tướng Churchill cho rằng, mục tiêu tấn công tiếp theo của quân Đức chắc chắn sẽ là nước Anh và để ngăn chặn cuộc xâm lược này thì chỉ còn một cách đó phản công vào lực lượng Đức tại Châu Âu.

Sau thảm bại tại Dunkerque, quân Anh đã bị thiệt hại nặng, lực lượng Anh trên chiến trường Trung Đông và Châu Phi cũng phải đương đầu với các cuộc tấn công mãnh liệt của quân Đức. Trong tình thế như vậy, quân đội Anh không đủ khả năng để vượt qua eo biển giữa nước Anh và Pháp, tổ chức các cuộc tấn công quy mô lớn vào bờ biển phía Tây nước Pháp, càng không thể tính đến chuyện mở các cuộc tấn công với cự ly dài vươn đến bờ biển phía Bắc nơi tập trung lực lượng Đức từ Đan Mạch cho đến Na Uy.


Cho dù như vậy, nhưng ngay cả trong khi phải rút khỏi Dunkerque của nước Pháp, trong quân đội Anh vẫn có một số người bắt đầu nung nấu kế hoạch tấn công vào khu vực bị quân Đức chiếm đóng. Người đó là phụ tá của Tổng tham mưu trưởng quân sự Hoàng gia Anh Gery Dill-trung tá lục quân Drtlai Clark. Trung tá Clark căn cứ vào tình thế lúc đó, đã đề xuất ý tưởng sử dụng những phân đội quy mô nhỏ liên tục tập kích vào trận địa quân Đức từ Narvile ở bờ biển phía Tây Na Uy cho đến bờ biển của Pháp, làm tiêu hao lực lượng quân Đức. Vào thời điểm đó thì đây là biện pháp phản kích duy nhất có thể khiến quân Đức bị tổn thất. Đề nghị này được sự hưởng ứng của nội các chiến tranh, và ngày hôm sau phương án này đã được đệ trình lên Thủ tướng Anh Churchill.


Phương án tập kích của Clark được Thủ tướng Churchill phê chuẩn, nhưng cũng có ý kiến cho rằng trong tình hình quân đội Anh bị thất bại nặng nề như vậy, ý tưởng của Clark khác gì “lấy trứng chọi đá”. Nhưng Thủ tướng Churchill vẫn kiên trù quan điểm cho rằng những cuộc tấn công phá hoại như vậy, nếu được vạch kế hoạch kỹ lưỡng, thực hiện thích hợp, có thể khiến quân Đức phải quay sang củng cố lại phòng tuyến, như vậy sẽ gây ảnh hưởng đến điều động quân số của chúng,làm giảm bớt sức mạnh chiến đấu của chúng trên các chiến trường khác. Hơn nữa, những chiến công như vậy sẽ có tác dụng động viên, cổ vũ tinh thần kháng chiến của toàn dân, có lợi cho toàn bộ cục diện phản công. Ngay chiều hôm đó, Bộ tổng tham mưu lục quân ngay lập tức đã cho thành lập ra “phòng M09” chuyên trách thực hiện kế hoạch này. Trung tá Clark được lệnh nhanh chóng tổ chức thành lập lực lượng chiến đấu, vượt eo biển Manche, tổ chức các cuộc tấn công quy mô nhỏ, lẻ tẻ vào các trận địa quân Đức.


Tính đến khả năng các cuộc tấn công sắp tới của quân Đức, Thủ tướng Churchill yêu cầu Clark khi xây dựng lực lượng đột kích, không được rút chọn bộ bất cứđơn vị nào trong lực lượng phòng thủ đất nước; giảm đến mức có thể số vũ khí cần có, quân số của lực lượng này dừng lại ở mức khoảng 10.000 người, lựa chọn quân số từ các đơn vị lục quân và hải quân lục chiến; vũ khí trang bị kỹ thuật là súng máy Thomson và lựu đạn, khi cần có thể sử dụng mô tô và xe bọc thép. Trong trường hợp quân Đức tấn công vào nước Anh, lực lượng này phải đảm nhiệm đánh trả quân Đức dọc tuyến bờ biển, những nội dung khác thì do Clark quyết định.
Về vấn đề lấy nguyên biên chế từ lực lượng vũ trang bảo vệ đưa sang lực lượng mới thành lập này hay là sẽ tuyển chọn từ các quân binh chủng, ngay trong Bộ tổng tham mưu cũng có ý kiến tranh luận chưa thống nhất. Cuối cùng mọi người đều thống nhất cho rằng nếu đưa nguyên biên chế của lực lượng chiến đấu đưa vào tổ chức lực lượng tập kích thì sẽ không thích hợp cho thực hiện các nhiệm vụ tác chiến không chính thức, cũng rất khó có thể đảm bảo rằng chất lượng của lực lượng này sẽ đạt hiệu quả chiến đấu mong muốn. Cuối cùng quyết định đưa ra là tôn trọng ý kiến của Thủ tướng Churchill.


Trung tá Clark gấp rút tiến hành công tác tổ chức biên chế, chưa đầy một tháng sau, ông ta đã chọn được vài trăm binh sỹ ưu tú có kinh nghiệm chiến đấu dày dạn, tổ chức họ thành lực lượng chiến đấu kiểu mới tương đối độc lập và chính quy, chuyên thực hiện những nhiệm vụ đặc biệt. Biên chế ban đầu gồm 10 chi đội “lực lượng tập kích”, mỗi chi đội gồm hai trung đội, mỗi trung đội có 3 sĩ quan chỉ huy và 47 chiến sĩ. Các thành viên đều có tinh thần hăng hái, thông minh, dũng cảm. Trang bị của họ được coi là hiện đại so với thời đó gồm súng máy hạng nhẹ Thomson, súng tiểu liên, xe mô tô dã chiến và xe ô tộ hạng nhẹ.

Cuối cùng thì lực lượng tác chiến kiểu mới chuyên làm nhiệm vụ đặc biệt này sẽ được đặt cái tên gì?
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #51 vào lúc: 02 Tháng Chín, 2012, 07:22:06 pm »

Churchill và “Commandos”

Trong thời kỳ “chiến tranh Boer” nổ ra ở Châu Phi từ năm 1899 đến 1902, phía Anh đã cử đến đây 250.000 quân để đàn áp những người Boer. Quân số đội quân của người Boer chỉ bằng 1/5 quân Anh, do vậy rất khó để có thể trực tiếp chống trả các cuộc tấn công của quân Anh. Người Boer vốn kiêu dũng, gan dạ, linh hoạt, thông minh. Trước tình thế chênh lệch về lực lượng, họ đã sử dụng chiến thuật tác chiến “xé lẻ đội ngũ”, “tập kích, gây rối” chia nhỏ lực lượng thành lập các tổ chiến đấu nhỏ, dựa vào yếu tố thông thạo địa hình. Trong điều kiện thời tiết, địa hình xấu như ban đêm, ở vùng khe vực, rừng rậm, liên tục bất ngờ tấn công quân Anh, sau đó lại biến mất như những bóng ma. Các cuộc tấn công của họ khiến quân Anh vừa mới đặt chân đến nơi xa lạ đã thất điên bát đảo, run sợ mất tinh thần, đau đầu tìm cách đối phó. Cuối cùng phía Anh đã thua trong cuộc chiến này với cái giá phải trả là gần 100.000 quân bị thương vong. Khi đó người Anh gọi những nhóm người Boer chuyên tiến hành hoạt động đánh du kích quấy nhiễu này là “Commandos” có nghĩa là “đội đột kích”.


Thủ tướng Churchill vẫn còn giữ nguyên ký ức về những năm tháng gian khổ tại Châu Phi và những hành động tập kích bất ngờ của “Commandos”. Ông còn nhớ những kỷ niệm không bao giờ quên.

Tháng 0 năm 1899, trước khi nổ ra chiến tranh giữa quân Anh và những người Boer, Churchill được phái đến Châu Phi với tư cách là phóng viên của báo “Tin điện buổi sớm”. Khi đến được Capurdun, chàng phóng viên trẻ quyết định đi đến vùng Natar, ở đó sắp tới có thể xảy ra cuộc chiến đấu ác liệt. Trên đường đi xe ô tô đến địa điểm nọ, chiếc xe rơi vào ổ phục kích của người Boer. Một nhóm binh sỹ người Boer được trang bị cả đại bác đã xếp những viên đá lớn ở trên đường làm vật chướng ngại. Khi xe ô tô bị nghẽn lối không thể tiến lên, quân mai phục đã nổ súng tấn công từ rất nhiều phía.


Churchill chủ động đảm nhiệm vai trò chỉ huy công việc dọn đường. Churchill thuyết phục người lái xe đã bị thương hãy cho xe lao qua những hòn đá, tiến lên phía trước. Dưới làn đạn của kẻ địch, bọn họ không thể tiến lên được nửa bước, cuối cùng phải vừa đánh vừa rút sau đó tất cả đều bị người Boer bắt sống.


Lúc đầu Churchill tin tưởng rằng, với tư cách một phóng viên tin tức anh ta sẽ nhanh chóng được phóng thích khỏi trại tù binh. Nhưng trái lại sau đó Churchill cùng các đồng đội lại bị dẫn giải về Bolivia, sau đó bị giam trong một trại tù binh trước đây là trường học. Anh ta yêu cầu nhà cầm quyền quân sự Boer phải thả anh ta. Người Boer tỏ ra do dự trước yêu cầu này, nhưng cuối cùng vẫn quyết định thả anh ta. Thực tế thì anh ta không có đủ lý do để được thả, vì anh ta đã cầm súng bắn trả lại họ khi bị tấn công, trong tay anh ta có khẩu súng ngắn Moses, chẳng qua là anh ta đã lập tức vứt đi ngay trước khi bị bắt, nhưng những người Boer lại không phát hiện ra điều đó.


Trước khi thông báo trả tự do đến được trại tù binh thì Churchill đã trốn thoát trước đó. Khi bàn kế hoạch chạy trốn cùng mấy sỹ quan trong trại, mấy người kia chê anh ta chỉ làm vướng chân họ, đến lúc trốn đã không rủ anh ta đi cùng. Churchill đành một mình hành động, đợi đến lúc đêm tối, bọn lính gác sơ hở anh ta trèo tường chạy trốn. Trong tình huống như vậy, anh ta cũng không mấy tin tưởng vào chuyện có thể trốn thoát, nhưng điều thú vị là những người kia lại không thoát được trong khi anh đã thành công.


Trên mình khoác bộ quần áo dân thường, đầu đội chiếc mũ rộng vành, không bị nghi ngờ gì, anh ta lần ra ga tàu hoả, leo lên một toa hàng. Vừa lên tàu anh ta đã lăn ra ngủ cho đến tận lúc trời gần sáng mới tỉnh lại.

Ngày hôm sau mới phát hiện ra Churchill đã trốn thoát bởi vì buổi tối hôm đó, mấy đồng đội của anh đã tài tình làm một người giả nằm trong giường của anh ta. Khi người Boer đi kiểm tra đã bị mắc mưu, thậm chí sáng hôm sau lính cần vụ còn trịnh trọng đặt một cốc trà cạnh giường của anh ta.


Người Boer lập tức tổ chức lực lượng đi tìm bắt, đồng thời cho phân phát thông báo treo giải cho người bắt được, trên tờ cáo thị viết rằng: “Tên tội phạm khoảng 25 tuổi, cao khoảng 1m70, người dong dỏng cao, tóc màu nâu nhạt, mặt xanh xao, có ria mờ, khi nói mang âm mũi, khi đi lưng hơi gù… Người nào bắt được mang về giao cho chính quyền, không kể tên tội phạm đó còn sống hay đã chết, đều được thưởng 25 bảng Anh”.


Churchill nhảy từ trên tàu hàng xuống, định chuyển sang một đoàn tàu khách nào đó. Nhưng một ngày một đêm liền không có chuyến tàu nào chạy qua đó, anh ta đành nhắm khu vực dân cư đi tới. Nhưng lần này anh ta đã gặp may, gặp được một gia đình có người chủ là John Horhad lam quản lý ở mỏ than. Horhad là người gốc Anh, năm xưa đã di cư sang Nam Phi, anh ta vui vẻ giúp đỡ Churchill, đợi khi lệnh truy nã lắng xuống, sẽ tiễn anh lên đường.


Thời điểm truy đuổi gắt gao đã trôi qua, Horhad tặng Churchill một ít đồ ăn và còn tặng thêm một khẩu súng Colt. Trong một buổi tối Horhad đã đưa anh ta lên một chuyến tàu khách chạy qua, đi đến hải cảng Luso thuộc Bồ Đào Nha. Qua nhiều gian nan, cuối cùng Churchill đã quay được trở về nước Anh vào ngày 23 tháng 12.


Trong khoảng thời gian này, người Boer đã giáng cho quân Anh hàng loạt đòn thất bại nặng nề. Churchill quyết định phải cảnh tỉnh mọi người có thái độ thận trọng với người Boer. Anh đã viết một bài báo về những điều đã được trải qua từ khi bị phục kích và bị truy đuổi, rồi gửi bài viết này cho “Tin điện buổi sớm”. Trong đó có đoạn: “Mỗi người Boer đều anh dũng thiện chiến. Họ cưỡi ngựa và chiếm giữ những địa hình có lợi, do đó một người có thể địch lại 3 đến 5 lính chính quy người Anh. Biện pháp duy nhất để đối phó lại là cử ra những chiến sĩ có kinh nghiệm và khả năng không thua kém…”. Bài viết này của Churchill đã gây ra phản ứng khá mạnh lúc đó.


Chiến thuật hành động của người Boer đã để lại cho Churchill ấn tượng sâu sắc, khi có người lấy “Commandos” để đặt tên cho lực lượng đặc nhiệm Anh, Churchill rất thích thú. Do đó lực lượng đặc nhiệm này đã được chính thức mang tên “Commandos”.

“Commandos” ra đời không lâu đã tích cực tham gia hành động, bắt đầu các cuộc tấn công xuất quỷ nhập thần vào lực lượng Đức và đã có những cống hiến lớn vào chiến thắng trong Đại chiến Thế giới lần thứ hai.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #52 vào lúc: 02 Tháng Chín, 2012, 07:24:21 pm »

Phá tung các bến cảng

Bờ biển nước Pháp trước chiến tranh vốn nổi tiếng vì vẻ đẹp, các con tàu thường xuyên ra vào như mắc cửi. Le Havre nằm ở cửa sông Seine, nơi đây có cầu cảng Normandie có thể cho phép tàu chiến trọng tải lớn cập cảng. Sau chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, nơi đây trở thành điểm đậu của tàu ngầm phát xít Đức, đây cũng là căn cứ sửa chữa và huấn luyện của tàu chiến Đức.


Ngày 28 tháng 3 năm 1942, lực lượng “Commandos” Anh đã bí mật xâm nhập, phá huỷ cửa chắn nước của cầu tầu Normandie, gây thiệt hại nặng cho căn cứ tàu ngầm Đức, có thể coi đây là vụ tập kích lớn nhất. Trong cuộc chiến đấu này, lực lượng đặc nhiệm phải trả một giá khá lớn, đã có 34 sỹ quan và 178 binh sỹ hy sinh. Đây là trang sử hào hùng, bi tráng nhất trong lịch sử chiến đấu của “Commandos”. Nhắc đến “Commandos” người ta thường nói tới trận chiến này.


Cửa sông Seine không có địa điểm nào có thể sử dụng làm bãi đổ bộ, nơi đây có địa thế dễ phòng ngự khó tấn công. Căn cứ vào kết quả trinh sát của máy bay trinh sát, gần cầu tàu quân Đức đã tăng cường thêm 5 trận địa pháo. Công phá cầu tàu Normandie là nhiệm vụ khá khó khăn. Trung tá lục quân Hermol được giao nhiệm vụ chỉ huy chiến dịch tác chiến này. Ông là người thông minh, gan dạ từng tham gia vào nhiều trận đánh của “Commandos” và đã lập nhiều chiến công, đã từng được nhận phần thưởng của Thủ tướng Churchill. Sau khi nhạn nhiệm vụ, Hermol lập tức chọn ra 200 thành viên của “Commandos”, bộ tổng chỉ huy giới thiệu thêm 80 người rất thành thạo kỹ thuật phá nổ. Như vậy kể cả sỹ quan chỉ huy, lực lượng này đã lên tới 300 người.


Giữa đêm 22 tháng 3, tiếng đại bác gầm vang từ cảng Dover của Anh, pháo sáng vạch những đường vòng cung trên bầu trời, các con tàu xuôi ngược khẩn trương. “Commandos” đang tiến hành cuộc diễn tập đạn thật. Tàu “Kanbela Dawen” làm nhiệm vụ tấn công vào cửa xả nước ở cầu tàu.


Qua diễn tập trung tá Hermoil phát hiện ra hai vấn đề tồn tại: một là tàu khu trục “Kanbela Dawen” là mục tiêu quá lớn, sẽ dễ làm lộ ý đồ tấn công. Hai là các tàu nhỏ nếu trong khi hành tiến không có pháo sáng chiếu sáng thì rất khõ giữ vững đội hình và tìm bãi đổ bộ.


Dùng binh phải biết lừa dối. Nhằm che đậy ý đồ thật, nhằm tạo cho chiếc khu trục “Kanbela Dawen” có vẻ ngoài giống với tàu ngư lôi của quân Đức, Hermol đề nghị cho cắt ngắn bớt một đoạn ống khói, đồng thời sơn tạo màu sắc giống tàu Đức. Địa điểm tập kết, huấn luyện và xuất phát được chọn tại cảng Faermos cách Le Havre 400 km. Đơn vị đặc nhiệm tham gia chiến dịch này được đặt tên là “Đội đột kích hạm tàu số 10”, đồng thời nói rằng đây là lực lượng làm nhiệm vụ chống tàu ngầm tại khu vực phía Tây eo biển Anh. Ngoài ra còn cho tung tin lực lượng này còn đi ra cả nước ngoài, hiện đang chuẩn bị khối lượng quân trang mùa hè lớn. Những thông tin này đều được báo cáo lên Hitler thông qua mạng lưới điệp báo Đức. Nhưng nhà độc tài này đang còn say sưa trong chiến thắng nên đã coi thường những tin tức này.


Lúc 14 giờ ngày 26 tháng 3, lực lượng tập kích nhổ neo xuất phát từ cảng Faermos. Hạm đội được xếp theo đội hình chữ nhất chia làm 3 đoạn, ở giữa là chiếc khu trục “Asedun”, phía sau là pháo hạm 314 “Tidea” và khu trục “Kanbela Dawen”, tiếp nữa là 14 chiếc xuồng máy và chiếc tàu phóng lôi số 74. Cả hạm đội đi với tốc độ 13 hải lý tiến vào Le Havre.


Lúc 16 giờ, trên mặt biển dậy sóng, các ngọn sóng hung dữ tràn trên boong tàu như muốn thử thách các chiến sĩ. Các chiến sĩ tuy đã trải qua tập luyện gian khổ nhưng khi đối diện với sóng gió dữ dằn cũng không ít người bị say sóng, nôn mửa. Nhất là các chiến sĩ đi trên xuồng máy không những bị sóng nhấc lên rồi dìm xuống mà còn co thể gặp nguy hiểm bị sóng nhấn chìm.


Lúc gần hoàng hôn, mặt biển bỗng lại trở nên yên tĩnh. Trung tá Hermol và trung tá chỉ huy hải quân Layde đang cúi xuống tấm bản đồ trong phòng điều khiển bàn bạc đội hình của tàu khi tiến vào cùng vịnh. Đúng lúc này, chiến sĩ quan sát báo cáo “phía trước có vấn đề”.


Trung tá Layde lập tức phát hiện ra một vật màu đen trên mặt biển cách tàu khoảng 450 mét là một chiếc tàu ngầm đang nổi, đó là một tàu ngầm Đức. Ông hạ lệnh cho tàu “Tidea” nổ súng và phóng ngư lôi. Tàu ngầm Đức lập tức cũng phát hiện ra đội tàu, nó lặn xuống nước, mặt biển trở lại bình thường.


Hermol cảm thấy lo lắng, ông biết rằng nếu chiếc tàu đó không bị đánh chìm, nó sẽ phát điện về sở chỉ huy Đức lại Le Havre, như vậy trận tấn công bất ngờ này sẽ bị địch đối phó trước. Đội tàu đã đến khu vực đã định sớm một tiếng rưỡi so với kế hoạch. Sau khi đổ vào vị trí quy định, sở chỉ huy được chuyển sang chiếc pháo hạm 314, các thành viên lực lượng đột kích cũng chuyển sang các xuồng máy.


Hermol và Layde đối chiếu lại đồng hồ, quyết định lúc 22 giờ sẽ xuất phát nhằm hướng cửa sông Seine. Theo kế hoạch, lúc đó máy bay Anh sẽ ném bom vào Le Havre, nhằm tránh để đội tàu rada của Đức tại mũi Celoske phát hiện, đồng thời che giấu tiếng động cơ phát ra khi thuyền máy đổ bộ. Khi kim đồng hồ chỉ vào con số 10 giờ, Hermol ra lệnh khởi hành.


Trừ chiếc “Asesdun” và “Tidea” đậu lại ngoài vịnh, những chiếc tàu khác đều kéo cờ Đức, tiến vào cửa sông Seine. Chiếc pháo hạm 314 dẫn đầu, tiếp theo là chiếc “Kanbela Dawen” ở phía sau bên trái, tàu ngầm “Styue” hộ vệ bên phải, 14 chiếc xuồng máy xếp thành đội hình hai hàng dọc, đi cuối cùng là chiếc tàu phóng lôi số 74.


Vầng trăng chiếu sáng ở phía trên, trong khi một làn sương mù che phủ lên các con tàu. Tiếng gầm rú của máy bay ném bom phá vỡ sự tĩnh lặng của buổi đêm. Lát sau, phía thượng nguồn sông Seine chìm trong các chớp nổ, bầu trời Le Havre chiếu lên màn đêm ánh lửa rực sáng. Lúc này tại Le Havre tất cả đang chìm trong lửa khói và hỗn loạn.


Hermol dõi mắt nhìn về phía bờ biển đen kịt, lại nhìn sang mặt chiếc đồng hồ dạ quang, lúc này là 1 giờ 20 phút sáng ngày 28. Cửa sông Seine lại trở lại bình thường. Sự yên lặng đó khiến Hermol nghi ngại, lẽ nào quân Đức đã bị trận bom làm cho hoảng sợ? Hay là quân Đức bố trí lực lượng ở đó? Đang suỹ nghĩ, bỗng từ hướng bờ Tây sông Seine có mấy phát pháo sáng bay vọt lên. Dưới ánh sáng chói loà của chùm pháo sáng, làn hoả lực dày đặc bắn đến xối xả, có hai chiếc xuồng máy bất ngờ bị đạn pháo bắn trúng.


Hermol lập tức ra lệnh cho thông tin viên trong trang phục hạ sỹ quân đội Đức, lập tức phát tín hiệu nhận biết tàu phóng lôi Đức. “Chúng tôi là tàu phóng ngư lôi Đức, xin cấp cứu khẩn cấp, đã có hai tàu bị thương, xin được lập tức cập bờ…”. Những tín hiệu này của lực lượng “Commandos” khi tấn công vào đảo Barkesa của Na Uy, đã đoạt được cuốn mật mã trên con tàu kéo vũ trang của Đức tại đây. Trong đợt huấn luyện khi trước, trung tá Hermol đã chỉ thị cho người thông tin viên phải tập đi tập lại, lúc này điều đó đã phát huy tác dụng.


Cú lừa đã lập tức phát huy tác dụng. Một lát sau, đa số các tháp pháo của Đức ngừng nã đạn. Tiếp đó, thông tin viên lại sử dụng ngôn ngữ hàng hải quốc tế thông báo “phía chúng tôi đã bị cuộc pháo kích của ta làm thiệt hại nặng”. Phía quân Đức lập tức báo cáo lên sở chỉ huy về đội tàu đáng ngờ này. Cơ quan tình báo Đức cũng lập tức thu thập tin tức tại các mạng lưới tình báo bằng tốc độ nhanh nhất.

Chỉ 5 phút tạm dừng, đạn pháo từ hai bờ sông lại bắn ra dày đặc. Hermol lập tức hạ lệnh cho hạ cờ Đức xuống và kéo cờ Anh lên.

Các pháo thủ và lực lượng đột kích nãy giờ phải kiềm chế, lúc này họ lập tức bắn trả lại kẻ địch một cách mãnh liệt. Đạn pháo chính xác bay vào các mục tiêu chỉ sau 4 phút, trận địa quân Đức lại lắng xuống. Trong khi kẻ địch còn đang bối rối, đội tàu đã nhanh chóng vượt qua cửa sông Seine.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #53 vào lúc: 02 Tháng Chín, 2012, 07:25:23 pm »

Ụ tàu Normandie đã hiện ra trước mắt. Trung tá Hermol lệnh cho tàu “Kanbela Dawen” tấn công. Lúc 1 giờ 36 phút, con tàu khu trục với tốc độ 20 hải lý, lao mạnh về phía cửa xả nước. Mũi tàu đâm mạnh vào phần cửa nổi lên gây ra tiếng động kinh hoàng. Các chiến sĩ đứng trên tàu đều bị chấn động của va đập làm ngã ra trên boong tàu, trong đó có nhiều người bị thương. Phần cửa nổi của ụ tàu bị phá huỷ nghiêm trọng. Sau đó ba phút, khối thuốc nổ mạnh trong tàu được kích nổ, một tiếng nổ xé vang trời lên mặt nước. Tiếng nổ này làm tiếng của hai bên lắng xuống khoảng mười giây. Quân Đức lúc này dường như đã bừng tỉnh, nhận ra ý đồ của đội tàu nọ, chúng lập tức điều động các loại hoả lực pháo kích ngăn cản đối phương, tình hình trở nên phức tạp. Hermol nhảy ra dẫn 8 chiến sĩ chạy lên bờ, họ nằm rạp xuống để tránh luồng đạn bắn tới, tiến đến sở chỉ huy nằm cạnh ụ tàu, hai chiến sĩ trúng đạn nằm trong vũng máu. Nhóm đặc nhiệm nhất nhảy xuống từ xuồng máy có nhiệm vụ nổ phía phòng điều khiển van hãm nước. Dưới ánh sáng của pháo sáng họ vấp phải làn hoả lực của địch bắn tới ác liệt, cả nhóm đều hy sinh. Nhóm thứ hai đổ bộ từ “Kanbela Dawen” đánh vu hồi vào trạm cấp nước, tiêu diệt nhóm lính gác nhanh chóng cho nổ tung hệ thống cấp nước, tiếp đó quay sang phá huỷ phòng điều khiển van hãm nước.


Trong ụ tàu khói lửa mù mịt, khiến mọi người hoa mắt chóng mặt, các mũi tấn công thực hiện đổ bộ. Nhưng hoả lực của quân Đức như lá chắn lửa của thần chết chặn họ lại. Xuồng máy số 192 bị trúng đạn bốc cháy, dạt sang bên trái tách khỏi đội hình và mắc cạn ở phía Nam bến tàu cũ; xuồng máy số 156 trúng đạn, hệ thống lái bị hỏng, đâm vào một chiếc tàu hàng cạnh đó, hầu hết các chiến sĩ trên xuồng đều bị thương, đành phải rút khỏi cuộc chiến. Một chiếc khác bị sóng đánh lật úp, các chiến sĩ bị rơi xuống nước. Trong mấy mũi tấn công chỉ có cánh trái và cánh phải mỗi bên có một tàu đổ bộ thành công. Trong hoàn cảnh như vậy, rất khó khăn cho thực hành đổ bộ tấn công.


Hermol nhanh chóng kiểm tra lại quân số, tính cả số 30 người bị thương cả nhẹ và nặng, lúc này chỉ còn lại 70 người. Phương án ban đầu là tập kích thành công sẽ nhanh chóng rút về tàu không thể thực hiện được nữa, các con tàu dự định đưa lực lượng quay ra cái thì trúng đạn bị chìm, cái thì bị hỏng phải quay ra giữa chừng, như vậy đường lui đã bị cắt đứt. Hiện tại chỉ còn cách thực hiện theo phương án 2. Trung tá Hermol lập tức phát đi tín hiệu cứu viện cho trung tá Layde đảm nhận nhiệm vụ tiếp ứng.


Hai chiếc tàu “Asesdun” và “Tidea” dưới sự chỉ huy của trung tá Layde đồng loạt pháo kích, yểm hộ cho lực lượng đột kích rút lui, vừa làm nhiệm vụ tiếp ứng và đón những người không đổ bộ được phải quay trở lại, liên lạc với những xuồng máy còn lại để tập trung quân. Lúc này không quân Anh nhận được mệnh lệnh, cho xuất kích 21 chuyến bay làm nhiệm vụ trên không, nhưng vì tại ụ tàu đang diễn ra cuộc hỗn chiến, lực lượng hai bên lẫn lộn do vậy hiệu quả sử dụng không quân không được như ý muốn.


Hermol chia lực lượng còn lại làm 8 tổ, đi sâu vào thành phố Le Havre ở phía Nam của ụ tàu, sau đó rẽ sang phải đi vào trung tâm thành phố. Với cách cơ động như vậy họ có thể tránh được hoả lực hạng nặng của địch truy kích. Họ vừa đi vừa đánh và dạt dần về hướng biên giới Tây Ban Nha. Nhưng hành trình như vậy quá khó khăn, lực lượng lại thương vong nặng, gần như nguồn đạn dược lương thực đã gần cạn. Hermol quyết định tìm một nơi trú ẩn tạm thời, dừng lại chỉnh đốn lực lượng, đợi đến khi đêm xuống sẽ chia ra hành động.


Trinh sát được cử đại đội quay về báo cáo “phía trước có một hầm phòng không”. Các lính đặc nhiệm lần lượt chui vào hầm. Hermol kiểm điểm lại quân số, chỉ còn lại gần 20 chiến sĩ. Ông quyết định đợi khi trời tối sẽ chia nhỏ lực lượng thành từng tổ 2 người, bây giờ cần tranh thủ thời gian nghỉ ngơi lấy sức.


Nhưng họ cũng chẳng được yên bao lâu, sau đó chưa đầy một giờ, bọn Đức đã phát hiện và bao vây họ. Trận chiến không cân sức diễn ra ác liệt, nhiều chiến sĩ anh dũng hy sinh, bọn họ không còn đủ sức lực để chống trả nữa. Hermol quyết định cho mọi người nộp súng đầu hàng.


Cùng ngày hôm đó, lúc 16 giờ 30 phút và 17 giờ 20 phút, tại Le Havre lại xảy ra hai vụ nổ lớn, đó là  tiếng nổ từ những quả ngư lôi hẹn giờ của lực lượng tập kích phóng ra từ trước, đường lạch vào cửa xả ngoài bị phá, đường vào bị kẹt, hệ thống đóng mở cửa ụ tàu cũng bị thuốc nổ phá huỷ, rất nhiều binh lính Đức tử trận.
Trong chiến sĩ Le Havre, cái giá phải trả của người Anh cũng khá nặng nề. Cuối cùng, khi trốn thoát được khỏi nơi giam giữ của phát xít Đức, lẩn trốn sang Tây Ban Nha rồi quay về nước Anh, trung tá Hermol chỉ đưa về được 4 người, tuy phải chịu những tổn thất lớn, song chiến dịch táo bạo này đã đạt được hiệu quả theo đúng kế hoạch, khiến quân Đức mãi sau này còn giật mình kinh sợ.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #54 vào lúc: 02 Tháng Chín, 2012, 07:27:24 pm »

“Thần ưng” ngăn chặn sự ra đời của bom nguyên tử

Sau khi mặt trận thứ hai được mở ra tại Châu Âu, nước Đức phát xít lâm vào thế yếu, phải chống đỡ khó khăn trước sự tấn công của phe Đồng minh. Nhưng Hitler không từ bỏ tham vọng điên cuồng của hắn, hắn đã tập trung nhân tài vật lực huy động các nhà khoa học hàng đầu của nước Đức, tiến hành khẩn trương công việc nghiên cứu chế tạo loại vũ khí nguyên tử có sức công phá huỷ diệt lớn, với cuồng vọng sử dụng những vũ khí giết người đó để cứu vãn tình thế.


Nếu những vũ khí đó của Hitler được nghiên cứu chế tạo thành công và sử dụng trên chiến trường thì cục diện của chiến tranh chắc chắn đã xoay chuyển sang chiều hướng khác.

Nước nặng là nguyên liệu không thể thiếy để chế tạo bom nguyên tử. Nó được tinh luyện từ nước bình thường có chứa những khoáng chất đặc biệt. Trên thế giới lúc này chỉ có nhà máy điện khí hoá Norsken tại Na Uy có thể hoàn thành công đoạn này.


Nhà máy Norsken nằm cách Oslo Na Uy khoảng 100 km về phía Tây, nằm lọt trong các dãy núi hiểm trở, nơi đó có toà nhà bê tông cốt thép và xưởng điện giải nước được xây dựng kiên cố nằm trên vách núi cao 300m, các con đường tiếp cận khu vực này đều được bố trí lực lượng canh gác.


Nếu cho máy bay ném bom đánh phá vào nhà máy này, những thiệt hại gây ra cho dân thường quanh khu vực đó sẽ lớn hơn cả mục tiêu bị phá hoại. Căn cứ vào tình hình đó muốn phá huỷ nhà máy này, chỉ còn cách sử dụng một nhóm tập kích đặc biệt, kết hợp với tổ chức phong trào kháng chiến Na Uy, bí mật tấn công bất ngờ vào khu vực đó. Cuối cùng nhiệm vụ phá huỷ nhà máy nước nặng này đã được giao cho lực lượng “Commandos”. Bộ tổng tham mưu quân đội Hoàng gia Anh đã vạch một kế hoạch tập kích với mật danh “hành động thần ưng”.


Đêm khuya 14 tháng 12 năm 1943, một máy bay ném bom tầm xa nhằm hướng Na Uy tiến tới trên độ cao gần 10km. Trên máy bay có 6 lính “Commandos” Anh, trong số họ hai người quân phục Đức, hai người mặc quần áo công nhân Na Uy, hai người cải trang thành học sinh Na Uy. Họ mang theo súng ngắn giảm thanh, mìn hẹn giờ, thiết bị leo núi và các trang bị đặc biệt khác, đội trưởng là William Keli, họ chính là “đội thần ưng” đang trên đường đến mục tiêu. Khi bay đến khu vực định trước, chỉ thấy 6 chấm đen nhảy dù xuống mặt băng của hồ Sculika. Sau khi chạm đất, họ nhanh chóng vây lại xung quanh người đội trưởng, họ lấy ra bản đồ và địa bàn ra tìm phương hướng. Tiếp đó họ cất giấu dù, rồi xuất phát theo hướng đã định.


Chờ đón họ ở phía trước là khu rừng nguyên sinh băng giá. Cánh rừng này có chiều rộng 40km sâu vào khoảng 25km, tuyết phủ ngập đến đầu gối, trên các cành cây là các khối băng tơ hơn cả cánh tay. Hai người lính đi trước dùng rìu mở đường, những người còn lại bám theo. Khi trời gần sáng, họ mới đi được ba phần tư quãng đường. Mọi người dừng lại nghỉ lấy sức, bỗng cảm thấy cái lạnh giá trở nên khó chịu khác thường. Người đội trưởng ý thức được tình huống, anh hiểu rằng trong thời tiết này không thể dừng tại chỗ được. Họ tiếp tục tiến lên. Khoảng 2 giờ chiều họ mới thoát ra khỏi khu rừng băng giá.


Tối hôm đó trong nhà hát kịch của Norsken, họ đã bắt liên lạc được với nhân viên tình báo bí mật của Na Uy, hôm sau họ có mặt ở khu vực gần nhà máy, bắt đầu tiến hành trinh sát, họ đã nhanh chóng nắm bắt được hoạt động của nhà máy. Xưởng tinh luyện nước nặng trong công sự dưới núi, xưởng này được nối với nhà máy đặt trên mặt đất bằng đường hầm dài 500m, đường ấy chứa dây cáp điện chạy dọc trong đường hầm từ nhà máy đến xưởng trong núi. Bên phải của xưởng là bể nước, bên trái là các hệ thống ống dẫn nước, ở giữa là chiếc máy tinh chế nước nặng. Phía chính diện là bàn điều khiển, ở 4 góc có 4 lính Đức bảo vệ. Xưởng tinh chế cần sử dụng mùn cưa, hàng tuần xe tải sẽ chở đến vào thứ bảy.


Ngày 17 tháng 2, trên con đường núi dẫn đến khu xưởng, một chiếc xe tải quân sự Đức chở đầy mùn cưa đang chạy tới, khi xe đi gần đến một vòng cua, thì từ phía trước có hai lính Đức xuất hiện giơ tay ra hiệu dừng xe, xe dừng lại. Hai lính Đức nhảy lên hai bên bậc cửa nói với người trong buồng lái “Xin dừng lại một… “chữ “lát” còn chưa nói hết, mấy viên đạn đã xuyên ngực tên lái xe và viên sỹ quan Đức đi kèm. Hai “lính Đức” vừa nói chính là hai thành viên trong “đội thần ưng” cải trang.


Mãi đến lúc trời tối, chiếc xe tải chở mùn cưa mới từ từ đi tới. Lính gác ra hiệu dừng xe, cất giọng hỏi: “Tại sao bây giờ mới tới?”.

“Xe bị hỏng dọc đường, nếu không đã đến từ sớm rồi”. Lái xe hạ cửa kính xuống đáp lại. Lính gác nhìn vào trong buồng lái, phẩy tay cho qua. Chiếc xe lọt qua cổng và nhằm thẳng hưởng cửa đường hầm chạy tới.

“Ê, mùn cưa đổ xuống đằng kia chứ, cho xe đến đây làm gì?” Hai tên lính gác cửa đường hầm lên giọng quát.

“Hôm nay cho đổ trực tiếp xuống cửa hầm”, viên sỹ quan đi theo áp tải trả lời. Chỉ thấy cánh tay của viên sỹ quan nọ chìa ra khỏi buồng lái. “Bụp, bụp” hai phát đạn súng giảm thanh bắn ra, hai lính gác gục xuống. Trong nháy mắt cổng đường hầm lại xuất hiện hai “lính gác” mới.


Họ bất ngờ nổ súng tiêu diệt số lính gác trong đường hầm và 4 tên lính trong xưởng máy. Nhưng lính gác thứ 4 khá nhanh trí khi bị trúng đạn ngã xuống chân phải hắn còn kịp dẫm lên một nút báo động. Trong nháy mắt, tiếng còi báo động rú vang khắp khu xưởng. Đội truởng Keli lập tức hạ lệnh “Nhanh, đặc thuốc nổ ngay!” các lính đặc nhiệm nhanh nhẹn đặt các quả mìn hẹn giờ có sức công phá mạnh vào máy tinh chế, bàn điểu khiển, bể nước.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #55 vào lúc: 02 Tháng Chín, 2012, 07:29:22 pm »

Đại đội bảo vệ của Đức bị tiếng còi báo động đánh động, chúng nhanh chóng nhận vũ khí, không đầy 20 phút sau toàn bộ lực lượng bảo vệ đã tập trung bên ngoài và nhanh chóng xông vào đường hầm.

“Đội thần ưng” sau khi đặt mìn lập tức nhảy lên xe tải chở mùn cưa tăng ga chạy về phía cửa. Khi xe còn cách cửa khoảng 40m, bỗng từ trong hai chiếc lô cốt bên đường bay ra hai quả lựu đạn. “Ầm, ầm” hai tiếng nổ dữ dội, chiếc xe tải bị nổ bánh trước, tiếp đó là hai luồng lửa vọt từ hai miệng lô cốt. Đội trưởng Keli và “lái xe” chút nữa thì dính mảnh lựu đạn. Họ nhanh chóng chạy khỏi buồng lái, lăn người về phía sau xe, cùng với 4 người trên thùng xe vừa nhảy xuống, họ sử dụng động tác chiến thuật cá nhân lăn người tiếp cận, tránh được hoả lực từ hai lô cốt, tránh vào cửa hướng bắc của một toà nhà hai tầng.


Lúc này đại đội bảo vệ chỉ còn cách họ 50 mét. Các chiến sĩ đặc nhiệm bắt đầu sử dụng súng ngắn và lựu đạn chống lại. Nhưng sau đó vẫn bị lực lượng địch khoảng 150 tên dồn vào trong phòng, tiếp đó là cuộc chiến ác liệt giữa họ đang lên cầu thang và bọn lính đã xông vào tầng một, lúc này 12 khẩu súng ngắn trong tay họ đã hạ gục 30 đến 40 tên Đức.


“Mau rút lên trên”, đội trưởng Keli ra lệnh. Họ hiểu rằng nếu lên được tầng hai thì sẽ có cách thoát thân. Phía đông toà nhà này có 5 dãy nhà khác, giữa các toà nhà chỉ cách nhau khoảng 1,5 mét.

Tên sĩ quan chỉ huy Đức dường như đã nhận ra ý đồ của họ, hắn nhanh chóng đi vào phòng bảo vệ của tầng 1, nhanh tay ấn nút phóng hoả bảo vệ tầng 2, trên tầng 2 có vài chỗ bắt đầu có lửa phun ra, khói cũng bốc lên dày đặc.


“Chụp mặt nạ, chạy lên trên” đội trưởng ra lệnh dứt khoát, các chiến sĩ nhanh chóng buông mặt nạ chống cháy trong mũ xuống, chụp kín đầu, mặt, cổ và gáy, mặt nạ có hai mắt kinh bằng thuỷ tinh. Họ nhanh chóng vượt qua biển lửa, qua tầng hai vọt sang toà nhà bên cạnh. Quần áo và mặt nạ họ mang trên người làm bằng vải tự động hạ nhiệt, loại chất liệu này có thể chịu được ngọn lửa đốt liên tục trong 3 đến 5 giây.


Dưới tầng một vọng lên tiếng cười đắc ý của bọn Đức: “Ha, ha… chúng mày có mọc cánh cũng không thoát chết”. “Báo cáo, báo cáo! Bọn chúng đã nhảy sang toà nhà 2 rồi ạ” một tên lính Đức vừa báo cáo. “Cái gì? Bọn chúng là người sắt hay sao? Đuổi theo!” Tên đại đội trưởng gầm lên ra lệnh.


Các chiến sĩ leo lên sân thượng toà nhà số 2, rồi tiếp tục chuyển sang toà nhà số 3 và 4. Khi đang chuẩn bị nhảy sang sân thượng toà nhà số 5 thì họ phát hiện ra có 4 đến 5 tên Đức đang trèo lên, trong nháy mắt chỉ thấy “vèo, vèo, vèo, vèo” bốn con dao bay đi, 4 tên lính Đức rơi lộn cổ xuống dưới.


Dưới sân, tiếng còi báo động réo inh ỏi, bọn Đức chạy đi chạy lại tán loạn, các chiến sĩ nhảy sang sân thượng toà nhà số 6, phía đông toà nhà này là tường bao của nhà máy, đỉnh tường cách toà nhà khoảng 2 mét, cao khoảng 3 mét, các chiến sĩ thay nhau yểm hộ và tụt xuống ban công tầng 2 từng người nhảy từ ban công tầng hai nhảy sang tường bao, từ đó lại nhảy xuống đất và chạy nhanh về phía hướng núi.


Khi họ vừa thoát ra khoảng 100 mét, từ cửa nhà máy xuất hiện ba chiếc mô tô ba bánh đuổi theo. “A! Lại cho chúng ta cả xe máy nữa kìa!” một chiến sĩ hài hước.

Đội trưởng Keli ra hiệu cho các chiến sĩ nhanh chóng nằm xuống vệ đường, khi xe còn cách 40 đến 50 mét, chỉ nghe “Chíu, chíu, chíu…” 6 tiếng súng giảm thanh vang lên, 9 tên lính Đức bị hạ gục, mấy chiếc xe mất tay lái đâm vào vệ cỏ bên đường, trong đó có một chiếc đâm vào gốc cây lớn cạnh đó. Lúc này, đất dưới chân bỗng rung lên, tiếp đó từ phía nhà máy vang lên hàng loạt tiếng nổ dây chuyền. “Thành công rồi! Thành công rồi!”, một người xúc động giơ cả hai tay reo vang.


“Rút!”, đội trưởng ra lệnh, họ hanh chóng nhảy lên xe mô tô, chạy như bay trên con đường núi về phía đông. Qua hàng loạt những diễn biến phức tạp nữa, 3 ngày sau 6 thành viên của “Đội thần ưng” quay về được nước Anh.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #56 vào lúc: 02 Tháng Chín, 2012, 07:33:32 pm »

Săn lùng “Con cáo sa mạc”

Sáng sớm ngày 13 tháng 11 năm 1941, có 4 chấm đen âm thầm lúc ẩn lúc hiện trên mặt biển Địa Trung Hải, đó chính là đội đặc nhiệm “Chuột sa mạc” do Trung tá Layke dẫn đầu, lợi dụng bóng đêm, dùng tàu ngầm tiếp cận vị trí gần bờ biển Libya, chuẩn bị đổ bộ thực hiện điệp vụ ám sát sĩ quan chỉ huy cao cấp nhất của Đức tại Châu Phi tướng Rommel, kẻ có biệt danh “Con cáo sa mạc”.

Người liên lạc trên bờ theo kế hoạch đã định, không ngừng nháy đèn pin làm hiệu, phát tín hiệu có thể thực hành đổ bộ.

Lúc này, trên mặt biển sóng to gio lớn, các đợt sóng trào lên dữ dội, muốn vượt qua khoảng cách hơn 100 mét đến vi bờ quả là việc làm nguy hiểm. Lúc này chỉ chưa đầy nửa tiếng đồng hồ nữa là trời sáng. Trung tá Layke nhìn vào mặt biển sóng cuộn trào dữ dội, lại nghe tiếng sóng gầm dữ dằn, một dự cảm không lành len lỏi vào tâm trí. Thời gian để tận dụng bóng tối cho cuộc đổ bộ không còn bao lâu, không thể ở lại đây lâu được, dù thế nào cũng phải tổ chức đổ bộ. Vậy là, mệnh lệnh phát ra, xuồng cao su đưa từ trong tàu ngầm ra chuẩn bị đổ bộ.


Gió không ngừng gào thét, các chiến sĩ cố gắng chèo, khó nhọc đưa con thuyền hướng vào bờ. Sóng gió quá dữ dội, 3 chiếc xuồng cao su bị sóng đánh lật nhào, trong nháy mắt 12 người đi trên xuồng bị chìm xuống lòng biển hung dữ, không thấy có ai ngoi lên mặt biển. Những chiếc xuồng khác cũng khó khăn đến cùng cực mới có thể vượt qua những con sóng cao hơn hai mét, cập được vào bờ. Trung tá Layke mắt nhoà lệ, nhưng cũng coi như đã vượt qua cửa ải ban đầu.


Sau khi đổ bộ được lên bờ, dưới sự dẫn đường của người liên lạc, đội "Chuột sa mạc" cơ động gấp trong khoảng 2km đến được một lòng sông cạn hẹp gọi là "Guadi". Gió biển thổi vào những bộ quần áo ướt, cái rét luồn vào cơ thể. Mọi người có thể trú tạm lại đây để tránh gió. Trung tá Layke cử ra một tố đi trinh sát nắm tình hình, những người khác tạm thời nghỉ ngơi tại chỗ.


Đánh rắn phải đánh dập đầu. Kế hoạch tập kích tiêu diệt Longmer do chính trung tá Layke đề ra. Ngày thứ ba, họ quyết định ra tay hành động, nhằm hướng sở chỉ huy Bộ Tư lệnh Đức chiến trường Châu Phi đóng tại Baeda, nóng lòng muốn tiêu diệt "con thú sa mạc" kiêu ngạo và hung tàn, từ đó thay đổi cục diện chiến trường Châu Phi.


Đêm 16 tháng 11, bóng đêm lạnh lẽo, vầng trăng sáng bàng bạc, các vì sao lấp lánh trên bầu trời. 20 thành viên đội "chuột sa mạc" gấp gáp hành quân trên sa mạc bao la. Nhưng, vào lúc nửa đêm, bầu trời như thấp xuống và tối đen lại, tầm nhìn ngày càng hạn chế, người dẫn đường và trinh sát đi phía trước đội hình cũng bị mất phương hướng, họ buộc phải dừng lại. Layke giở bản đồ địa hình, rút địa bàn để định vị lại hưởng đi.


Đêm tối mịt mùng, xoè tay ra cũng không trông thấy các ngón tay, xung quanh tất cả tồi đen như mực, cũng không thể nhìn vật chuẩn định hướng nào, rất khó để xác định hướng đi. Đang lúc mọi người chụm lại lo lắng, phía trước họ cách khoảng 20 mét, lấp lánh những cặp mắt xanh lè, tiếp đó là vang lên những tiếng hú rợn người. Hỏng rồi, bọn sói đã tìm đến. Hai chiến sĩ trong đội lập tức nâng súng tiểu liên "Stent" có gắn ống giảm thanh lên, “bụp, bụp, bụp,…" bắn vài điểm xạ ngắn, những cặp mắt xanh nọ biến mất trong nháy mắt.


Lát sau, thời tiết thay đổi đột ngột, sấm chớp nổi lên. Layke cùng các chiến sĩ tạm lánh dưới chân một gò cát, xem ra phải đợi trời sáng mới có thể tiếp tự hành trình.

Vào lúc bình minh, các thành viên ăn uống, chỉnh đốn lại trang bị và lại lên đường. Lúc 9 giờ sáng, bỗng nhiên có cơn lốc đến, gió cuốn cát đá bay mù mịt, trời đất tối sầm, họ bị cơn lốc xô đẩy đứng không vững, vội vàng lánh vào một hõm đất, mới tai qua nạn khỏi. Sau cơn lốc, mang trên vai trang bị nặng hơn 40 kg, họ chậm chạp lê bước.


Đến giữa trưa, trời nóng như đổ lửa, nhiệt độ lên tới 45°C, họ bị nóng đến mức người đầrn đìa mồ hôi, những bi đông nước mang theo cũng được dùng đến giọt cuối cùng, cơn khát khiến những cặp môi bỏng rát, gần như tất cả đều rơi vào tình trạng nửa tỉnh nửa mê, đôi chân dường như không còn nghe theo sự điều khiển. Lúc 2 giờ chiều, hai chiến sĩ dường như hết khả năng chịu đựng, ngã gục trên bãi cát sa mạc. Layke bắt buộc phải dừng đội hình, chăm sóc những người bị ngất, bản thân ông dẫn theo 3 chiến sĩ đi ra sau những gò cát, tìm nước uống.


Trời đỡ nóng, nước cũng đã được mang về, các chiến sỹ uống nước, sức lực dần dần được khôi phục trở lại. Trong khi đi tìm nguồn nước, Layke đã có một phát hiện bất ngờ đó là đã phát hiện ra một con đường nhỏ dẫn đến phía sau Bộ Tư lệnh quân Đức, nếu tiếp cận chúng bằng con đường này có thể bất ngờ xuất hiện, kẻ địch sẽ không kịp trở tay.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #57 vào lúc: 02 Tháng Chín, 2012, 07:34:10 pm »

Một giờ sáng ngày 18 tháng 11, ánh điện sáng rực trong khu vực Bộ Tư lệnh quân Đức tại Baeda. Tiếng "tích tích, tà tà" của điện báo và tiếng nổ của động cơ ô tô, mô tô hoà vào nhau, tạo nên bầu không khí hết sức khẩn trương và bận rộn. Lúc này đội đặc nhiệm "chuột sa mạc" của trung tá Layke cũng đã ém ở đây Trung tá lệnh cho 2 chiến sĩ đột nhập vào trong bộ chỉ huy nắm tính hình, chuẩn bị cho phương án tấn công từ nhiều hướng, quyết tâm tiêu diệt "con cáo sa mạc" đã gây cho phía Anh nhiều thất bại nặng nề.


Ba chiến sĩ đi trinh sát lợi dụng bóng đêm, bí mật tiếp cận giết chết tên linh trong trạm gác, đột nhập vào bộ chỉ huy. Rất lâu sau vẫn không thấy họ quay lại, trung tá Layke trong lòng như có lửa cháy. "Đã xảy ra chuyện gì? Lẽ nào họ đã bị bọn Đức bắt được?". Đúng lúc này, phía trong bọ chỉ huy bỗng vang lên những tiếng súng nổ quyết liệt. Thì ra sau khi đã bí mật tiêu diệt tên lính gác, tổ trinh sát chia nhau yểm hộ lần lượt qua hàng rào, luồn vào trong dãy nhà, khi họ đang chuẩn bí bướt lên cầu thang thì bất ngờ chạm trán với một sỹ quan Đức, tên này vội rút súng. Vào giây phút đó một lính đặc nhiệm nổ ngay một phát súng từ khẩu súng trường tự động LIA1, "Đoàng!" tên Đức ngã gục xuống. Trong nháy mắt sở chỉ huy trở nên náo động, tiếng còi báo động tiếng kêu la vang lên khắp nơi.


Layke hiểu rằng 3 chiến sĩ đó đã bị lộ, ông lệnh một tổ yểm trợ từ hướng chính diện, 3 tổ còn lại tấn công vào sở chỉ huy từ 3 hướng khác nhau. Lúc này, các chiến sĩ như những con mãnh hổ, lao về phía toà nhà đen thẫm phía trước. Trong bộ chỉ huý tiếng súng, tiếng lựu đạn nổ hỗn loạn, lửa cháy sáng rực. Layke dẫn theo 4 chiến sĩ xông vào tầng một của toà nhà từ hướng bên phải, vào đến bên trong họ chạm trán với mấy tên Đức đang từ trên cầu thang chạy xuống, một cuộc đấu súng diễn ra. Toàn bộ số lính Đức dưới tầng 1 đã bị tiêu diệt, không còn sự kháng cự nào. Họ nhanh chóng chuyển lên tầng 2.


Layke đẩy nhẹ cánh cửa của phòng tác chiến chỉ huy, hai chiến sĩ lách vào phòng, nhưng không phát hiện được điều gì, nhưng từ phòng bên cạnh có luồng ánh sáng yếu ớt lọt qua khe hở, thì ra bên đó có 6 tên lính Đức đang bắn quét ra phía ngoài qua cửa sổ. Layke nhanh chóng nép vào một bên cửa, một chiến sĩ đạp mạnh vào cửa, cánh cửa bật ra, anh nâng súng bắn quét vào bên trong, một chiến sỹ khác kêu lên “phải dùng thứ này mới đã”, chưa dứt câu một trái lựu đạn được tung vào phòng, anh này thưa kịp né người thì từ trong phòng một viên đạn bay ra găm vào ngực trái, anh gục ngã xuống sàn. Lúc này chỉ nghe một tiếng nổ lớn, đèn trong phòng cũng tắt ngấm.


Họ đang cấp cứu cho người bị đạn, thì cầu thang tầng ba vọng những tiếng bước chân, Layke ra hiệu, hai chiến sĩ hiểu ý, họ nhanh như nhớp chặn ngay cửa cầu thang, nâng súng nhả đạn, khi nhìn lại, thì đó chính là 5 thành viên trong đội "chuột sa mạc" đang áp giải một thượng uý Đức đi xuống, nhưng đã quá muộn chỉ nghe "huỵch" một tiếng, một chiến sĩ đã bị đạn găm vào đùi vết thương khá nặng. Thì ra các chiến sĩ này đã leo lên tầng ba của toà nhà từ phía sau, nhưng chỉ bắt được một thượng uý sĩ quan Đức, không phát hiện được ai khác, không ngờ khi xuống cầu thang lại có sự nhầm lẫn đáng tiếc. Lúc này tiếng súng bên ngoài đã thưa dần, Layke cảm thấy ở đây có điều bất ổn, ra lệnh mang người chiến sĩ bị thương, áp giải cả tên sĩ quan Đức đi theo, nhanh chóng rút khỏi khu vực nguy hiểm.


Các thành viên của đội đặc nhiệm đã rút ra được đến vị trí tập trung, nhưng đáng tiếc là trong toà nhà được coi là "Sở chỉ huy" đó đã không tìm thấy bóng dáng của Rommel. Khi thẩm tra tên tù binh bị bắt thì được biết, ngay buổi tối hôm trước Rommel đã đến mặt trận để thị sát. Vậy là ông trời kia đã cứu nạng cho “Con cáo sa mạc".


Tin bộ chỉ huy bị tấn công đến tai Rommel, hắn cười gằn nhưng vẫn không giấu nổi sự lo lắng và giận dữ trong lòng, Rommel lập tức lệnh cho quân Đức tạ: Bắc Phi, Trung Đông, bằng mọi giá phải tiêu diệt được lực lượng biệt kích Anh to gan, thử xem "Con cáo sa mạc” hay "Chuột sa mạc" sợ hơn.


Các tàu chiến của Đức triển khai phóng toả nghiêm ngặt trên biển, máy bay Đức bay lượn sục sạo, tấn công, lực lượng bộ binh bao vây tầng tầng lớp lớp quanh khu vực lực lượng đặc nhiệm lẩn trốn, bắt đầu một cuộc tấn công tiêu diệt qui mô lớn. Nghe nói, trước những đợt tấn công ào ạt của quân thù, các thành viên của đội "Chuột sa mạc" bị truy kích đến cùng, đa số họ đã hy sinh anh dửng nơi sa mạc. Cuối cùng chỉ có hai người còn sống trỏ về nước Anh. Đội “Chuột sa mạc” lừng lẫy tiếng tăm đã biến vào sa mạc mênh mông như vậy.


Lực lượng “Commandos” đã tung hoành trên khắp các chiến trường Châu Âu, Châu Phi; hàng loạt những hành động tập kích bất ngờ của họ khiến kẻ thù run sợ, thậm chí ngay cả Hitler cũng cảm thấy tức giận điên cuồng khi nhắc đến họ. Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, lực lượng “Commandos” sát nhập với lực lượng Hải quân lục chiến, “Commandos” trở thành cái tên chung của lực lượng Hải quân lục chiến. Về sau này “Commandos” dần dần được xây dựng thành đội quân chính quy, với những qui định chặt chẽ về biên chế, huấn luyện và thực hiện nhiệm vụ. Các thành viên được tuyển chọn từ những người lính ưu tú trong các quân binh chủng, sau đó được tham gia huấn luyện đặc biệt, nếu vượt qua được các khoa mục huấn luyện, họ sẽ được mang mũ nồi và biểu tượng của lực lượng đặc nhiệm. Nhiều quốc gia trên thế giới đề nghị "Commandos" giúp đỡ họ huấn luyện lực lượng đặc nhiệm và tương trợ trong lĩnh vực chống khủng bố. Giữa lực lượng "Commandos" và lực lượng đặc nhiệm của Mỹ, Na Uy, Hà Lan thường xuyên có sự trao đổi nhân viên biệt phái, cùng tương trợ và huấn luyện chéo, do đó nó luôn giữ được khả năng tác chiến mạnh mẽ.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #58 vào lúc: 02 Tháng Chín, 2012, 07:39:57 pm »

9. "THẦN PHONG ĐÔNG DƯƠNG'" TẬP KÍCH SÂN BAY BLAEN


Quân đội Nhật tuy từ trước đến nay tuy không có lực lượng đặc nhiệm với biên chế chính thức, nhưng trong thời kỳ chiến tranh thế giới lần hai, họ đã thực hiện khá thành công nhiều hoạt động tác chiến đặc biệt. Là nước chiến bại trong chiến tranh thế giới lần hai, trong hiến pháp Nhật qui định nhiệm vụ của lực lượng phòng vệ Nhật Bản chỉ chuyên về phòng thủ, trong biên chế lục quân vẫn không có biên chế rõ ràng của lực lượng đặc nhiệm nhưng vẫn có sự tồn tại phổ biến của hệ thống các nhà trường quân đội chuyên đào tạo cấp chỉ huy, chiến sĩ lực lượng đặt biệt. Lực lượng phòng vệ tinh nhuệ mang tên "Thần phong Đông Dương” về thực chất chính là lực lượng đặc nhiệm của Nhật Bản.


ĐỘI BIỆT PHÁI

Trong thời kỳ chiến tranh thế giới lần hai, đặc biệt là trong thập niên 30 khi quân đội Nhật thành lập "Trường quân sự lục quân Nakano", đã đào tạo ra hàng loạt nhân viên điệp báo và lực lượng chiến đấu chuyên thực hiện nhiệm vụ tác chiến đặc biệt.


Ngày 11 tháng 1 năm 1942, lực lượng đặc nhiệm hải quân Nhật Yokosuka nhảy dù xuống đảo Celebes (Indonesia), bắt làm tù binh 1500 lính Hà Lan phòng thủ tại đây; Năm 1943 Bộ Tư lệnh thống soái Nhật đưa ra quyết định bất ngờ thành lập "Đội ngư lôi cảm tử". Những quả ngư lôi loại này có chiều dài 15 mét, sau khi đượC tách ra khỏi tàu ngầm, một người linh cảm tử sẽ điều khiển thiết bị động cơ gắn trên quả ngư lôi, lái nó tiếp cẬn và tấn công mục tiêu, mục tiêu bị tiêu diệt và người chiến sĩ cũng hy sinh. Đã có 100 đội viên "Đội ngư lôi cảm tử" điều khiển 100 quả ngư lôi tấn công vào lực lượng tàu chiến Mỹ tại Thái Bình Dương. Kết quả là đã có 82 quả "Ngư lôi cảm tử" và 8 tàu ngầm làm nhiệm vụ chuyển số thành viên "Đội ngư lôi cảm tử" đã chìm vào đòng biển sau khi đã phá hủy 6 chiếc tàu chiến Mỹ.


Bộ Tư lệnh thống soái Nhật lại có kế hoạch tiếp theo, họ tiếp tục thành lập "Đội đột kích Thần phong". Những thành viên của "Đội đột kích Thần phong" điều khiển máy bay chiến đấu, sử dụng chiến thuật "tự sát”, từ trên không trung họ bổ nhào lao thẳng vào các tàu chiến Mỹ trên mặt biển. Lực lượng này đã gây cho phía Mỹ những tổn thất đáng kể. Để đối phó lại các cuộc tấn công tự sát của "Đội đột kích Thần phong", phía Mỹ đã áp dụng ba biện pháp: Các chiến hạm lớn khi gặp phải loại máy bay "Thần phong" này, lập tức nhanh chóng chuyển hướng, tránh bị va chạm; nếu là tàu chiến loại nhỏ thì phải tăng tốc độ, tránh né khiến máy bay "Thần phong” quá đà lao đầu xuống biển; Khi bị các máy bay này tấn công, các tàu hạ thấp tất cả các loại pháo bắn đạn xuống biển, tạo thành các sóng và bọt nước bắn tung tóe, làm rồi loạn tầm nhìn của "Đội đột kích Thần phong", trên máy bay nhìn xuống chỉ thấy một khoảng bọt nước trắng xóa không xác định được vị trí của mục tiêu.


Trong rừng rậm nhiệt đới của Malaysia, cũng xảy ra cuộc đọ sức giữa lực lượng đặc nhiệm Nhật mang tên "áo xanh bánh xe bạc" và lực lượng chiến đấu mô tô cơ giới hóa của quân đội Anh. Các lính đặc nhiệm Nhật mỗi người sử dụng một chiếc xe đạp, mặc áo nguỵ trang màu lá cây cao su, mang theo vũ khí hạng nhẹ và dụng cụ sửa xe, họ thoắt ẩn thoắt hiện trên những con đường mà xe cơ giới không tài nào qua được. Khi gặp khe suối họ vác xe vượt qua khi gặp sông sâu nước xiết thì đóng bè kết mảng vượt qua, không ngừng tập kích, đánh chia cắt, vu hồi vào đội hình lực lượng mô tô cơ giới hóa của Anh, khiến quân Anh trở tay không kịp, bị tổn thất, thương vong không nhỏ. Một sĩ quan chỉ huy người anh nói "Những tên lính Nhật đi xe đạp này lúc ở phía Đông, lúc lại thấy chúng ở phía Tây, sự thực là rất khó đối phó". Sĩ quan chỉ huy quân đội nhật tại khu vực Nam Á thì đắc ý nói “Lực lượng áo xanh, bánh bạc là lực lượng đặc nhiệm và quân Anh rất khó đối phó, đây là những bông hoa của quân đội Thiên hoàng trên tiền tuyến.


Nhằm cứu vãn sự thất bại, không quân Nhật còn lập ra "Đội đặc công hoa Anh đào" còn gọi là "Đội công kích người bom", đó là loại bom gắn động cơ tên lửa với tên gọi "Hồi thiên" được máy bay đưa lên không trung, sau đó khi phát hiện ra mục tiêu thì thả xuống, một đội viên "đội đặc công" ôm chặt phần đuôi, điều khiển bộ phận động cơ đẩy, tấn công vào các tàu chiến Mỹ ở khu vực Thái Bình Dương với tốc độ 876 km/h. Đã có hàng loạt những đội viên "đội đặc công hoa Anh đào" được máy bay đưa lên không trung rồi sau đó lao xuống tấn công nhưng kết quả chỉ có vài chiếc tàu chiến loại nhỏ của quân Mỹ bị đánh đắm, còn lại số " Đội đặc công hoa Anh đào" này đều đã lần lượt chìm sâu vào trong lòng biển cả.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #59 vào lúc: 02 Tháng Chín, 2012, 07:41:00 pm »

TẬP KÍCH SÂN BAY BLAEN

Thời kỳ cuối cuộc chiến tranh thế giới lần 2, Thái Bình Dương đã từng là chiến trường giữa quân đội Mỹ và Nhật Bản.

Ngày 20 tháng 10 năm 1944, 4 sư đoàn quân đội Mỹ dưới sự chỉ huy của Mac Athur đổ bộ lên đảo Leyte của Philipinnes. Nhưng khi quân Mỹ tiến sâu vào vùng Blaen phía Tây đảo, mưa rừng nhiệt đới đã gây cho họ những khó khăn khá lớn. Những con đường mòn vốn đã nhỏ hẹp của xứ sở này đã biến thành những con sông bùn lầy lội, quân Mỹ chìm ngập - dưới trời mưa và bùn lầy. Muốn tiến lên thì họ lại thiếu pháo lớn dọn đường, muốn vận tải thì lại không có con đường nào cho phép xe hạng nặng chạy. Sư đoàn trưởng sư đoàn dù số 11 tướng Jo Swen quyết định phải lập tức xây dựng tại đây một sân bay, chuyển vũ khí và vật tư cần thiết chi viện cho quân Mỹ tại tiền tuyến. Vậy là ba sân bay dã chiến đã được xây dựng tại Blaen. Quân Mỹ dùng thuốc nổ san phẳng một cánh rừng, mở ra vài đường băng. Tiếp đó hàng loạt các khẩu lựu pháo 75 ly được đưa ra chiến trường, dội bão lửa xuống đầu mấy vạn quân Nhật đang cố thủ tại đây. Phía quân đội Nhật rất bất ngờ trước diễn biến này, lập tức kế hoạch sử dụng lực lượng đặc nhiệm tập kích vào sân bay Blaen được vạch ra. Sư đoàn 26 và 16 của Nhật vượt qua phòng tuyến của quân Mỹ, sau đó tiếp cận sân bay Blaen, chia cắt, bao vây quân Mỹ đang cố thủ tại đây, tiếp đó là sử dụng máy bay vận tải "Mitsubishi 100" đưa lực lượng dù biệt phái ưu tú đang ở sân bay trên đào Luzon đổ bộ đường không xuống ba mục tiêu, ba sân bay dã chiến tại Blaen. Lực lượng này sẽ bất ngờ xuất hiện sau trung tâm phòng ngự quân đội Mỹ và chiếm giữ ba sân bay này, hai sư đoàn Nhật thì bao bọc bảo vệ vòng ngoài.


Lúc này "đội lính dù biệt phái" gồm 350 người đã sẵn sàng đợi lệnh, đội trưởng Shirai nói trước hàng quân "Mục tiêu: sân bay Blaen; nhiệm vụ: phá hủy máy bay, trang thiết bị quân sự quân đội Mỹ và đánh chiếm sân bay chiến thuật: bất ngờ tập kích!; khẩu hiệu: không có ý định sống sót trở về!".


Ngày 5 tháng 12, hai sư đoàn bộ binh Nhật triển khai tấn công mạnh mẽ. Sư đoàn 16 do sư trưởng Makino dẫn đầu bất ngờ tấn công vào sân bay Buri ở phía bắc Blaen. Chiều ngày mồng 6, phía Nhật huy động toàn bộ máy bay trên sân bay trên đảo Luzon, bao gồm 51 chiếc "Mitsubishi 100", 12 máy bay chiến đấu bảo vệ và máy bay ném bom bay đến các mục tiêu tập kích trên đảo Laide. Vào lúc hoàng hôn, máy bay Nhật xuất hiện trên bầu trời Blaen. Đầu tiên là các máy bay nếm bom bổ nhào cắt bom vào đường băng và kho xăng. Tiếp đó, hàng đàn máy bay vận tải sà thấp xuống độ cao nguy hiểm 210 mét, thực hiện đổ bộ khẩn cáp. Hàng trăm lính dù thuộc "đội lính dù biệt phái" đã đổ bộ chính xác xuống sân bay.


Trong chốc lát, cả sân bay hỗn loạn, nhân viên Mỹ tại sân bay chân không giày chỉ kịp mặc áo sơ mi dùng súng trường và súng ngắn bắn bừa vào bóng đêm, nơi có những bóng người đang chạy đi chạy lại trên đường băng. Có một số lính dù Nhật bị bắn hạ xong cũng có khá nhiều lính Mỹ đã bị đạn của người mình bắn trúng.


"Đội lính dù đặc phái" đã nhanh chóng làm chủ sân bay, đội trưởng Shirai hét lên bằng giọng khản đặc "khẩn trương cho nổ máy bay, phá hủy kho đạn, kho xăng!”. Sân bay Blaen chấn động mạnh, lửa bốc cháy sáng rực. Toàn bộ ba sân bay dã chiến đã bị quân Nhật phá hủy. Sư đoàn bộ binh của Makino cũng nhanh chóng đến tiếp ứng "đội lính dù biệt phái".


Ngày 8 tháng 12, sư đoàn dù số 11 của Mỹ được đưa đến và mở cuộc tấn công vào quân đội Nhật, một cuộc chiến đấu giằng co giữa chiếm lĩnh và chống chiếm lĩnh, phản công và chống phản công, bao vây và chống bao vây diễn ra ác liệt. 200 lính "đội lính dù biệt phái" liều chết chống lại sức tấn công mạnh mẽ của quân đội Mỹ, đẩy lùi nhiều đợt tấn công. Phía Mỹ tiếp tục điều quân tăng viện, ngày 11 tháng 12 tức là ngày thứ 5 sau khi lực lượng lính dù Nhật chiếm được sân bay, phía Mỹ phát động tổng phản công. Các sư đoàn 26, sư đoàn 16 và "đơn vị lính dù biệt phái" đã thương vong trầm trọng cuối cùng đã bị tiêu diệt toàn bộ. Nhưng trong trận tập kích vào Blaen này, "đội lính dù biệt phái" của quân đội Nhật đã phá hủy 12 máy bay chiến đấu, kho đạn dược, kho xăng và khối lượng lớn quân trang quân dụng của quân đội Mỹ. Tiếp tế của sư đoàn lính dù 11 bị cắt trong một tuần, đơn vị hàng không số 5 của không quân Mỹ cũng bị thiệt hại nặng, những đơn vị lính Mỹ trong chiến đấu ngoài mặt trận do bị cắt tiếp tế trong một thời gian nên rơi vào tình trạng khó khăn. Một sĩ quan chỉ huy của quân đội Mỹ nói: "Những tên võ sĩ đạo Nhật Bản điên cuồng đã bất chấp cái chết, bất ngờ xuất hiện ở vị trí không ngờ tới. Cuộc tấn công vào sân bay tại Blaen của "đội lính dù biệt phái" thực chất là hành động tự sát đây chỉ là hành động cố gắng của phía Nhật giãy chết trước khi hấp hối, nhưng chính vì đó là sự giãy chết nên nó điên cuồng và nguy hiểm do đó sự tàn phá mà nó gây ra là đáng sợ"
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM