Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 10:26:36 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lực lượng đặc nhiệm trên thế giới  (Đọc 95227 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #70 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2013, 04:02:13 pm »

ÁM SÁT "CON CHIM ƯNG THÁNH CHIẾN"

Ngày 16 tháng 4 năm 1988, ngoại ô phía Bắc thành phố Tunisi xảy ra một vụ ám sát, nạn nhân là thành viên Ban chấp hành tổ chức giải phóng Palestin (PLO), Phó tổng tư lệnh lực lượng vũ trang Abu Jihad bị ám sát ngay trong biệt thự của mình. Vụ ám sát này đã được vạch kế hoạch, chuẩn bị trong suốt 5 năm, do lực lượng đặc nhiệm Israel bí mật thực hiện. Abu Jihad tên thật là Khahl al-Warir, sinh tháng 10 năm 1935 trong một gia đình nhỏ tại thành phố bờ tây sông Jordan. Năm 1948 khi cuộc chiến tranh Palestin nổ ra, Jihad đã tích cực tham gia hoạt động trong phong trào giải phóng Palestin, được bầu làm chủ tịch giội liên hiệp học sinh Palestin. Tại đây, năm 20 tuổi, Jihad được lựa chọn đưa vào một căn cứ quân sự gần Cairo, được huấn luyện quân sự. Tháng 2 năm 1959, Jihad đến Kuwait cùng với một số trí thức trẻ người Palestin. Họ ở lại Kuwait tuyển chọn người, bí mật chuẩn bị lực lượng để thành lập tổ chức du kích lớn nhất nằm trong tổ chức giải phóng Palestin tổ chức "Fatah". Năm sau, "Fatah" được chính thức thành lập tại Beirut, tổ chức này gồm ba bộ phận, Jihad trở thành người phụ trách nhóm "Fatah" tại Algeria. Đầu nam 1965, Jihad đã tổ chức thành công trận tập kích đầu tiên của du kích Palestin chống lại Israel. Anh ta thông minh, nhiều mưu mẹo, thành thạo trong việc chỉ đạo, vạch kế hoạch, giáng cho quân đội Israel những đòn đánh nặng nề, những chiến công này đã có ý nghĩa cổ vũ rất lớn tinh thành đấu tranh của người Palestin, quan trọng hơn nó đã chứng tỏ rằng việc tổ chức ra các đội du kích, tiến hành các hoạt động chiến tranh du kích là biện pháp hiệu quả để giải phóng đất nước. Sau đó, Jihad luôn đóng vai trò người chỉ huy các hoạt động đấu tranh vũ trang chống lại Israel trên địa bàn các nước như Jordan, Algeria, Liban, vì sự thông minh quả cảm cũng như những thành tích vang dội đạt được, Jihad được người dân Palestin gọi là "Chim ưng thánh chiến".


Ngoài vai trò là uỷ viên Ban chấp hành tổ chức giải phóng Falestin, Phó tổng tư lệnh lực lượng vũ trang tổ chức giải phóng Palestin, Jihad còn là trưởng đoàn đoàn đại biểu Palestin thuộc Uỷ ban Jordan về các phần lãnh thổ bị chiếm đóng, người phụ trách tổ vũ trang "Gió bão" của "Fatah", người phụ trách tổ chức dân quân bờ Tây và dải Gaza. Đầu tháng 3 năm 1988, tại Israel xảy ra một vụ bắt cóc xe buýt. Đây thực chất là cuộc đấu tranh tự phát của người dân Palestin, nhưng phía Israel một mực qui trách nhiệm cho Jihad là người đã tổ chức, vạch kế hoạch cho vụ bắt cóc này, nhà cầm quyền Israel do đó quyết định tổ chức ám sát Jihad để trả thù cho vụ này. Báo cáo kế hoạch ám sát được trình lên các nhà cầm quyền cao nhất của Israel, trong cuộc họp báo có sự tham dự của Tổng thống Israel, Bộ trưởng ngoại giao Shimon Peres, Bộ trưởng Quốc phòng Rabin đã đồng ý triển khai kế hoạch hành động, lập tức kế hoạch hành động được đưa xuống cho cán bộ phận có trách nhiệm thực hiện. Cơ quan tình báo Mossad, lực lượng người nhái Hải quân và đặc nhiệm lục quân sau khi nhận lệnh, đã nhanh chóng thành lập một đội biệt kích khoảng 30 người, trong đó có hai nữ gián điệp thuộc cơ quan tình báo Israel. Các thành viên trong đối hầu hết đều thông thạo tiếng Ảrập, thạo bắn súng, đặt mìn, giỏi võ thuật, cải trang, chụp ảnh và theo dõi.


Ngay từ năm 1983, Mossad đã cho điệp viên theo dõi Abu Jihad, do đó đã nắm rõ và chi tiết về chỗ ở tình hình bảo vệ tại nơi ở của Jihad tại Tunisia cho đến thói quen, qui luật sinh hoạt của anh ta. Trước khi ra tay ám sát, lực lượng biệt kích đã tập luyện nhiều lần. Trong tập luyện nhiệm vụ của từng người được phân công rõ ràng. Có người làm nhiệm vụ bảo vệ vòng ngoài, chặn các ngả đường dẫn đến mục tiêu có người chuyên theo dõi, có người ở lại giữ phương tiện di chuyển. Mỗi người trong số họ đều phải nắm chắc nhiệm vụ của mình.


Các thành viên đặc nhiệm coi việc tham dự vụ ám sát này là vinh dự của bản thân, họ cho đó là giờ phút vinh quang phục vụ cho tổ quốc và còn đùa cợt với nhau một cách điên rồ rằng, ai là người đầu tiên bắn hạ Jihad, người đó sẽ nhận được món quà là một thiếu nữ xinh đẹp. Đến cuối tháng 3, mọi công việc chuẩn bị đã hoàn tất.


Nhân viên điệp báo được biệt phái đến Tunisia đã gửi về tổng hành dinh của Mossad bức mật điện. "Lúc 4 giờ sáng ngày 16 tháng 4, Abu Jihad sẽ bay từ Tunisia đến một địa điểm bí mật. Lúc 3 giờ sáng sẽ rời chỗ ở đến sân bay". Một tin tức khác được chuyển đến với nội dung: trong chuyến đi này, Jihad sẽ gặp gỡ với một quan chức đứng đầu Nhà nước của quốc gia có quan hệ chặt chẽ với tổ chức PLO, bàn bạc vấn đề nhanh chóng khôi phục sức chiến đấu của PLO, và dự định sẽ phát động hoạt động quân sự lớn nhằm vào Israel. Mossad lập tức triệu tập cuộc họp bất thường có sự tham dự của một số lãnh đạo cán bộ phận có liên quan. Mọi người thống nhất cho rằng, chuyến đi này của Jihad sẽ thực hiện một sứ mạng to lớn, trước khi đi dứt khoát sẽ gặp gỡ bàn bạc với những lãnh đạo khác của PLO.


"Theo kinh nghiệm trước đây, trong vòng hai tiếng trước lúc khởi hành, rất có thể Jihad sẽ ở lại trong tòa biệt thự đó, đó là thời gian từ 1 giờ đến 3 giờ sáng, sẽ rất yên tĩnh. Tiến hành ám sát chắc chắn thành công".


Nhằm đề phòng bất trắc, Shamir, Peres và Rabin quyết định phi vụ này sẽ do Phó tổng tham mưu trưởng thượng tá Barak chỉ huy, cục trưởng cục tình báo quân sự thiếu tướng Shahak, Pered cố vấn đặc biệt của tổng thống tham gia vào việc vạch kế hoạch và lãnh đạo.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #71 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2013, 04:02:54 pm »

Ngày 14 tháng 4 năm 1988, ngay trước thời điểm tháng ăn chay của tín đồ Hồi giáo, màn sương mù buổi sớm bao phủ mặt biển Địa Trung Hải. Một con tàu không rõ quốc tịch lặng lẽ tiến vào gần bờ. Trên thuyền khoảng hơn 20 người mang vũ khí, họ không hề lên tiếng chỉ trao đổi với nhau qua ánh mắt, điều này chứng tỏ giữa họ có những thỏa thuận từ trước. Lát sau, một chiếc xuồng cao tốc được từ từ hạ xuống mặt biển, bọn họ bước xuống chiếc xuồng, nổ máy chạy về phía đã định khi còn cách bờ biển Tunisia vài kilômét chiếc xuồng dừng lại, nhóm người đó nhảy xuống biển và bơi vào bờ. Không có một mệnh lệnh nào được phát ra, họ hành động một cách hết sức nhanh chóng và chuẩn xác.


Trên bờ biển đã có 3 người đang đợi sẵn, khi thấy nhóm người nọ xuất hiện, bọn họ cùng lên xe ô tô chờ sẵn, chiếc ô tô khuất dần sau màn sương mù buổi sáng. Chiếc xe đưa họ đến một căn phòng bí mật, trong phòng hơi tối nhưng rất rộng rãi sạch sẽ, ở đó đã được để hơn 20 bộ quân phục quân đội Tunisia. Khi trời sáng nhóm người nọ đã xuất hiện trên bờ biển trong trang phục quân đội Tunisia. Họ không gây ra bất kỳ sự chú ý nào. Vào lúc gần trưa, trước cửa một hãng cho thuê xe ô tô có một người đàn ông và hai phụ nữ đến thuê xe, ba người này nói tiếng Ảrập rất lưu loát như những người Liban, mấy người không bắt chuyện với nhau, dường như họ đều là những người không quen biết. Người đàn ông cao lớn, điển trai, dáng điệu đàng hoàng và có học thức, hai người phụ nữ rất yêu kiều, đoan trang. Nhân viên hãng xe xem chiếu lệ hộ chiếu của họ. Hai người con gái đó, một người mang tên là Havatz Alamu, người kia là Aih Slida quốc tịch Libăng. Mỗi người thuê một chiếc xe du lịch nhỏ hiệu Wonlfagel của Đức, sau khi làm xong thủ tục xin thuê, họ lần lượt lên xe lái đi. Người đàn ông nọ mang que tịch Libăng với cái tên Guji Najibu thuê xe với mục đích du lịch, anh ta thuê chiếc xe hiệu Peugeot-305 của Pháp, lát sau anh ta cũng lên xe đi khuất. Không ai phát hiện được điều gì đáng ngờ từ những tấm hộ chiếu đó, đây chỉ là bước một trong kế hoạch được tính toán kỹ lưỡng.


Trưa ngày 15 tháng 4, một nữ du khách lái chiếc xe du lịch hiệu Wonkslfagel đến khu Dibusad ngoại ô phía Bắc thành phố Tunisia. Chiếc xe dừng lại, người phụ nữ bước xuống xe với điệu bộ nhàn tản, cô ta vừa đi vừa ngắm cảnh vật xung quanh, lát sau cô đã đến trước một tòa nhà hai tầng màu trắng, khi thấy xung quanh không có bóng người, liền đi men theo bức tường bên ngoài và tiếp đó vang lên những tiếng "lách tách” của máy ảnh. Chủ nhân nhân tòa biệt thự này không ai khác chính là Abu Jihad - Phó tổng tư lệnh lực lượng vũ trang Palestin. Ngày thường Jìhad rất bận rộn nên thường xuyên vắng nhà, chỉ có người vợ Oma Jihad, cô con gái 14 tuổi Hawa, cậu con trai hai tuổi Nidal và một bé trai mới sinh được 8 tháng ở trong ngôi nhà này. Người nữ du khách đó chính là người mang cái tên giả Havatz Alamu, nhân viên điệp báo của Israel, mục đích của cô ta đến đây là nhằm thăm dò, trinh sát địa hình, làm quen với khung cảnh xung quanh, chuẩn bị cho kế hoạch sắp thực hiện.


Lúc 0 giờ 50 phút sáng 16 tháng 4, Jihad trở về biệt thự sau khi dự cuộc họp với chủ nhiệm chính trị tổ chức giải phóng PLO và một số lãnh đạo khác, sau khi xuống xe Jihad dặn hai người vệ sĩ và lái xe: "Đúng 3 giờ chúng ta sẽ ra sân bay".

Jihad không thể ngờ rằng, bàn tay lạnh lẽo của tử thần đang vươn ra chụp lấy anh.

Khoảng 1 giờ sáng, một chiếc Boeing 707 gây nhiễu điện tử mang số hiệu 1/977 bất ngờ bay đến khu vực đường bay quốc tế cách Tunisia 55 km. Khi chiếc máy bay xuất hiện thì toàn bộ hệ thống thông tin tại khu vực Dbsyd đều mất liên lạc, gần như cùng lúc, đường dây điện thoại nối giữa tòa biệt thự của Jihad và đồn cảnh sát địa phương cũng bị cắt đứt.


Lúc 1 giờ 30, trong bóng đêm tĩnh lặng, vọng đến từ xa tiếng động cơ ô tô, nhưng lại ngừng luôn sau đó Lúc này từ trên 3 chiếc xe vừa chạy tới, khoảng 30 bóng đen bịt mặt bước xuống, bọn chúng chia thành ba nhóm, trong đó hai nhóm chặn hai đầu đường và bao vây quanh biệt thự của Jihad, nhóm còn lại gần 8 nam và 1 nữ tay cầm súng tiểu liên, súng ngắn giảm thanh xông vào trong sân. Thông thường có một vệ sĩ thường xuyên làm nhiệm vụ canh gác, chỉ khi nào từ phía trong tòa nhà phát ra một tín hiệu đèn báo màu xanh, người ngoài mới được phép bước vào, nhưng hôm nay hệ thống thiết bị này lại không hoạt động. Người lính gác, lái xe và hai vệ sĩ dường như nhận ra có sự thay đổi đáng ngờ, họ chưa kịp phản ứng, thì đã vấp phải làn đạn tiểu liên, súng gắn giảm thanh bắn quét họ gục ngã xuống nằm trong vũng máu. Trên tầng hai Jihad đang chăm chú đọc tài liệu, nhưng do phản xạ luôn cảnh giác, anh đã nghe thấy những tiếng động đáng ngờ dưới tầng một, anh rút khẩu súng lục luôn mang theo người và vọt ra cửa, liền đó anh trạm trán với những kẻ lạ mặt chạy từ tầng dưới lên, súng trong tay anh vung lên, một phát đạn bay đi. Nhưng cũng gần như đồng thời, cả 4 khẩu tiểu liên trong tay những kẻ lạ mặt cùng nhả đạn, Jihad ngã gục xuống. Một tên lạ mặt rút máy ảnh chụp lại quang cảnh hiện trường, mấy tên còn lại chạy lên cầu thang vào phòng làm việc của Jihad, lấy đi toàn bộ tài liệu trong đó. Sau đó bọn chúng vội vã lên xe rút đi cùng với những kẻ đang đứng canh gác, bảo vệ xung quanh tòa biệt thự.


Những chiếc xe nhanh chóng mất hút trong bóng đêm. Lúc đó là khoảng 1 giờ 45 phút sáng. Bọn hung thủ trên đường trốn chạy đã cho xe chạy với tốc độ 100km/h nhằm thẳng hướng bờ biển. Khoảng 20 phút sau, chúng đã tới được bờ biển cách nơi xảy ra ám mạng khoảng 30km, rồi leo lên một chiếc xuồng cao su đã đợi sẵn, và biến mất sau màn sương dày đặc.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #72 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2013, 04:37:01 pm »

11. ĐỘI ĐẶC NHIỆM "GIÓ LỐC" CỦA PHÁP

Ở phương Tây, có một đội đặc nhiệm được ca ngợi là bách chiến bách thắng, kẻ thù kinh sợ khi nghe tên ho, nhân dân gửi gắm niềm tin vào họ, các đồng nghiệp nước ngoài dành cho họ sự kính phục và cố gắng bắt chước, đó chính là đội can thiệp hiến binh quốc gia Pháp. Đội đặc nhiệm chống khủng bố này không chỉ nổi tiếng khắp Châu Âu mà danh tiếng của họ đã vang dội trên phạm vi thế giới. Từ khi thành lập, đội đã 250 lần xuất kích thực hiện các nhiệm vụ chống khủng bố trên phạm vi toàn quốc và nước ngoài; đã giải cứu thành công hơn 450 con tin, giành đượm những thành tích vang dội. Bằng những hành động cụ thể và thành tích xuất sắc, họ đã trở thành lực lượng tuy ra đời muộn nhưng rất xuất sắc trong đội ngũ lực lượng chung của thế giới.


CHẶNG ĐƯỜNG HUY HOÀNG
Lực lượng đặc nhiệm Pháp ra đời trong bối cảnh trên thế giới bùng lên làn sóng của các hoạt động khủng bố quốc tế. Trong thập kỷ 70 của thế kỷ 20 trên nhiều quốc gia hoạt động khủng bố diễn ra với nhiều hình thức hết sức đa dạng, bọn khủng bố hoạt động trắng trợn, điên cuồng và có nhiều hướng mở rộng phạm vi hoạt động. Năm 1972 tại Thế vận hội Olimpic tổ chức tại Munich các vận động viên người Israel bị tổ chức khủng bố của Palestin ám sát. Đối với các nước phương Tây vụ khủng bố này gây chấn động không khác gì một vụ động đất 8 độ rích te. Không dừng ở đó, năm 1973, Đại sứ quán Ảrập Xêút tại Pháp bị bọn khủng bố tập kích, vụ việc này làm mất mặt chính phủ Pháp. Hàng loạt sự kiện xảy ra đã thúc đẩy quyết tâm của chính phủ Pháp nhanh chóng xây dựng một lực lượng đặc nhiệm tinh nhuệ, có đủ sức mạnh đương đầu với các hoạt động khủng bố. Vậy là vào cuối năm đó, ngày 3 tháng 11 năm 1978 đội đặc nhiệm chống khủng bố của Pháp - đội can thiệp hiến binh quốc gia được chính thức tuyên bố thành lập.


Đội can thiệp hiến binh quốc gia, tên viết tắt bằng tiếng Pháp là GIGN, đây là cách viết rút gọn của 4 từ đơn trong tiếng Pháp có nghĩa là: truy tìm, can thiệp, giải cứu, trấn áp. Đội đặc nhiệm này là một bộ phận trong lực lượng hiến binh, trực thuộc trực tiếp vào Bộ Quốc phòng Pháp, trên thực tế nó có tính độc lập rất cao. Trong thời gian đầu, phân đội can thiệp hiến binh quốc gia có hai sở chỉ huy, một đặt ở Maisonarfe khu vực có phong cảnh rất đẹp ở gần Paris, có nhiệm vụ phụ trách hoạt động chống khủng bố ở miền bắc nước Pháp, sở chỉ huy thứ hai đặt tại Mendmar, phụ trách miền Nam nước Pháp.


Biên chế thời gian đầu của phân đội chỉ có 15 người được chia làm ba tổ, mỗi tổ 5 người, đặt dưới sự chỉ huy chung của trung úy Berluto, Berluto chính là người chỉ huy đầu tiên của lực lượng này. Berluto người tầm thước, tao nhã, đeo một cặp kính khá trang nhã, nói năng lễ độ, có chừng mực. Anh ta nghiên cứu khá sâu sắc về tâm lý học tội phạm, ghét những hành động bạo lực, khát máu. Berluto cũng là cao thủ môn Kung fu, thành thạo các loại vũ khí và đánh tay không. Berluto cho rằng, cái quí của cách dùng binh là ở sự tinh nhuệ chứ không phải ở số đông của lực lượng, thắng là do biết dựa vào mưu mẹo chứ không phải là cậy khỏe. Trong cuộc chiến chống khủng bố, điều cần thiết không phải là những gã trai khỏe mạnh hơn người, liều lĩnh xông xáo mà cần hơn đó là những người dũng sĩ giàu kinh nghiệm, quả cảm, lão luyện. Chính do điều này nên tiêu chuẩn để lựa chọn các thành viên vào đội của Berluto cũng có những điểm khác người. Thành viên đội đặc nhiệm của nhiều nước khác thường có độ tuổi bình quân khoảng 25, chủ yếu là người chưa lập gia đình; nhưng thành viên dưới quyền của Berluto, người trẻ nhất là 25 tuổi, người cao tuổi nhất là 45, họ đều đã có gia đình và con cái.


Về sau, hai sở chỉ huy của lực lượng can thiệp này được sát nhập làm một, biên chế cũng được mở rộng thành 2 sĩ quan và 40 chiến sĩ, được tổ chức thành 3 phân đội và 1 bộ chỉ huy. Mỗi phân đội gồm 2 tổ hành động mỗi tổ 5 người, 1 người chỉ huy phân đội và 1 người huấn luyện chó nghiệp vụ. Thông thường mỗi phân đội trực sẵn sàng chiến đấu 24/24h ngày trong 1 tuần, luôn trong tình trạng sẵn sàng xuất kích đến khu vực xảy ra vụ việc. Sĩ quan Chỉ huy trưởng vẫn là Berluto, lúc này đã mang quân hàm thượng uý.


Sau khi đội can thiệp được ra đời không lâu, họ đã xuất hiện trong các cuộc đấu tranh trấn áp bọn khủng bố, liên tục xuất hiện trên tuyến đầu và đạt được những thành tích đáng kể.

Tháng 2 năm 1976, đội can thiệp đáp máy bay vượt biển sang Djibuti ở miền Đông Châu Phi, giải cứu cho 30 nhi đồng người Pháp bị bọn khủng bố người Somali bắt cóc. Với khả năng tác chiến siêu việt, họ đã tiêu diệt hoàn toàn bọn khủng bố, đạt được hiệu suất chiến đấu cạo, chỉ trừ một nhi đồng trúng đạn chết, những cháu còn lại đều được cứu thoát.


Tháng 11 năm 1979 thánh đường Mecca tại thánh địa Hồi giáo ở Ảrập Xê út bị một nhóm khủng bố chiếm giữ. Quân đội đã được sử dụng trong cuộc tấn công nhưng đã thất bại. Chính phủ Ảrập Xêút không còn cách nào khác, phải cầu cứu sự tương trợ từ phía chính phủ Pháp. Nhiệm vụ khó khăn này lại được giao cho lực lượng đặc nhiệm thực hiện. Một tổ 3 lính đặc nhiệm được khẩn trương đưa đến Ảrập Xê út. Tại đây họ đã dẫn đầu 90 lính đặc nhiệm Ảrập, sử dụng các biện pháp chống khủng bố như dùng hơi cay, tập kích bất ngờ, kết thúc trận đánh bọn khủng bố đã bị tiêu diệt, giáo đường Mecca được giữ gìn nguyên vẹn. Hành động đột kích hiệu quả của nhóm đặc nhiệm, được vương quốc Ảrập Xêút hết sức khen ngợi.


Ngày 2 tháng 5 năm 1981, chiếc Boeing 737 trên đường bay từ Island đến London thì bị một tên khủng bố khống chế, bắt máy bay phải chuyển hướng bay đến Hy Lạp. Sau đó do hết nhiên liệu, máy bay buộc phải hạ cánh khẩn cấp xuống một sân bay ở miền Bắc nước Pháp. Đội đặc nhiệm 16 người dưới sự chỉ huy của Berluto đã lập tức được điều đến sân bay thực hiện giải cứu. Họ nằm ẩn mình trong những bụi cỏ, lợi dụng thời điểm chiếc xe cứu thương tiến đến làm phân tán sự chú ý của khủng bố, họ đồng loạt xông lên, nhanh chóng chia làm hai mũi xông vào máy bay từ phía cửa khoang máy bay và cửa buồng lái. Tên khủng bố chưa kịp phản ứng thì đã bị khống chế. Gói thuốc nổ nhanh chóng bị ném ra khỏi khoang máy bay. Vậy là, chưa phải nổ một phát súng, đổ một giọt máu, họ đã đập tan được một mưu đồ khủng bố quốc tế.


Ngoài việc thực hiện nhiệm vụ tác chiến chống khủng bố đặc nhiệm còn được sử dụng để ngăn chặn các cuộc nổi dậy của tù nhân, chẳng hạn đội đã tham gia trấn áp cuộc bạo loạn của tù nhân bị giam giữ tại nhà tù Clairvauw với ý đồ định vượt ngục. Đội can thiệp được đưa vào cuộc, các xạ thủ nhanh chóng ra tay, hàng trăm tên tội phạm đang hung hăng bị hạ gục, nhiều con tin nhờ vậy được cứu thoát.


Ngoài ra, đội còn tham gia huấn luyện cho lực lượng chống khủng bố của các quốc gia nước ngoài, huấn luyện lực lượng bảo vệ VIP, qua đó mở rộng phạm vi ảnh hưởng ngoại giao của nước Pháp. Năm 1979, sau khi cùng lực lượng đặc nhiệm của Ảrập Xêút dẹp tan bọn khủng bố tại giáo đường Meeca, đội can thiệp đã tiến hành huấn luyện cho lực lượng cận vệ hoàng gia Ảrập Xêút. Đội còn tham gia huấn luyện cho một số lực lượng quân sự khác, đặc biệt là quân đội của các nước trước đây là thuộc địa cũ của Pháp.


Công việc của đội can thiệp diễn ra liên tục bất kể ngày hay đêm, trong đó có những công việc ngày nào cũng được tiến hành đều đặn, ví dụ như làm vệ sĩ bảo vệ những nhân vật quan trọng. Cho dù như vậy, tinh thần cảnh giác của họ không bao giờ tỏ ra bị buông lỏng.

Vào bất cứ lúc nào, khi lợi ích của người Pháp bị đe dọa, đội đặc nhiệm tinh nhuệ, qui mô nhỏ cũng sẵn sàng vào cuộc thể hiện khả năng đặc biệt của họ.

Năm 1984, người chỉ huy đội hơn 10 năm, đã từng vào sinh ra tử trăm trận, Berluto rời đội trong vinh quang, người kế nhiệm là Thượng uý Marselin. Thời gian này biên chế của đội là 54 người, có 4 sĩ quan và 50 chiến sĩ, được biên chế thành 4 phân đội và một bộ phận chỉ huy. Năm 1985, Largeml con người trí dũng song toàn, mang nhiều huyền thoại đã tiếp quản đội, trở thành người đội trưởng thứ 3.


Trong suốt hơn 20 năm qua, đội can thiệp hiến binh quốc gia của Pháp đã giành nhiều thắng lợi rực rỡ trên mặt trận đấu tranh phong khủng bố, trải qua 250 trận đánh nguy hiểm, giải cứu thành công cho hơn 450 con tin, bản thân họ rất ít khi bị thương vong. Đây là điều hiếm có, một kỳ tích trong lịch sử chống khủng bố của lực lượng đặc nhiệm trên toàn thế giới.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #73 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2013, 04:40:52 pm »

SỰ TẬP LUYỆN NGHIÊM KHẮC

Để hoàn thành được những trọng trách nặng nề, giành những chiến công lẫy lừng như vậy không thể thiếu được những tố chất tuyệt vời và quá trình huấn luyện nghiêm khắc.

Trên dòng sông Seine thơ mộng, xung quanh cảnh vật hiện lên vẻ thanh bình. Một người thợ lặn giàu kinh nghiệm đang nhàn nhã nằm dài trên tấm phao như đang tận hưởng làn nước mát lạnh và phong cảnh đẹp đẽ. Bỗng nhiên, một chiếc ca nô lớn bỗng vùn vụt lao đến, người thợ lặn dường như cũng ý thức được mối nguy hiểm. Quả thật, nếu chiếc ca nô chạy vượt qua trên đầu anh ta thì chắc chắn nó sẽ làm thân thể anh trở nên bầm dập. Chỉ thấy chàng trai nọ vụt nhào xuống nước một tay anh ta đẩy chiếc phao sang một bên. Khi chiến ca nô chạy qua khoảng cách giữa anh ta và nó chỉ có vài mét. Chiếc ca nô cứ vậy chạy thẳng, người thợ lặn bình tĩnh trở lại, trên mặt anh ta lộ rõ niềM vui. Thì ra anh ta là lính mới trong đội can thiệp hiến binh quốc gia Pháp, đang thực hiện bài tập đối phó với ca nô trên sông và nếu vượt qua được thì điều đó sẽ chứng tỏ tư cách của người thành viên mới này.


Đội đặc nhiệm chống khủng bố của Pháp cũng như của các nước khác, phải trải qua quá trình tập luyện hết sức gian khổ và nghiêm khác. Để rèn luyện bản lĩnh vững vàng trong mọi điều hiện thời tiết, họ đều phải liên tục thực hiện nhiều khoa mục huấn luyện. Trong đó huấn luyện thể lực và kỹ năng chiến đấu được chú trọng đặc biệt, họ phải nắm vững nhiều kỹ năng như nhảy dù, sử dụng đồ lặn, leo núi lái xe tốc độ cao, bắn súng, đặt thuốc nổ, họ cũng thông thạo những kiến thức về luật pháp, tâm lý học tội phạm, ngôn ngữ, điện tử, máy móc, đạn đạo. Trong các khoa mục huấn luyện môn bắn súng có yêu cầu rất cao và được đặt vào vị trí đặc biệt quan trọng.


Trong các nhiệm vụ tác chiến sau này, chiến sỹ đặc nhiệm phải đơn độc đối phó - với bọn khủng bố trong hoàn cảnh hết sức nguy hiểm và phức tạp, nếu có bất cứ sai sót gì đều có thể gây nguy hiểm cho tính mạng của con tin. Trong bài tập, yêu cầu đối với mỗi thành viên phải đạt được đó là: trong vòng 5 giây, sử dụng súng ngắn tự động bắn trúng vào 6 mục tiêu với cự ly 25 mét (lúc đầu là dùng súng ngắn tự động cỡ nòng 9 ly, sau đó dùng súng côn Mgl cỡ nòng 0.357 inh, sử dụng súng trường FR – F1 cỡ nòng 7,62 ly có lắp đầu nòng che lửa bắn trúng mục tiêu đạt tỷ lệ 93% với cự ly trên 200m. Đại đa số các thành viên đều ghi được kỷ lục vượt trên tiêu chuẩn này. Để đạt được điều đó trong một năm huấn luyện mỗi người đã bắn khoảng 12.000 viên đạn. Ngoài ra họ còn thực hiện nhiều tình huống tập theo giả định, nhiều loại địa hình như sân bay, đường phố, nhà cao tầng, trong phòng hoặc trong rừng rậm, trên mặt nước, đồi núi, sa mạc v.v... họ phải nhanh chóng, chính xác bắn mục tiêu ngay từ phát đạn đầu tiên. Trong điều kiện đêm tối, họ sử dụng súng trường có gắn kính ngắm ánh sáng yếu, chỉ một phát đạn là có thể bắn trúng đồng tiền kim loại ở cự ly ngoài 250 mét. Họ còn bắt buộc phải thực hiện một bài tập xạ kích vô cùng nguy hiểm đó là sử dụng súng ngắn bắn đối kháng.


Hai người trong bài tập này được mặc áo gi lê chống đạn và thực hiện bài tập phải nổ súng vào nhau bằng đạn thật, bài tập này đòi hỏi kỹ thuật bắn cao nếu thực hiện có sai sót thì hậu quả sẽ rất nghiêm trọng.

Mọi thành viên trong đội đều là những chuyên gia trượt tuyết và leo núi. Trường đào tạo lính dù của Pháp đặt tại thành phố Bo trên dãy Bilinius, hàng năm thành viên đội đặc nhiệm phải thực hiện ít nhất là năm đợt huấn luyện nhảy dù tại đây. Khả năng bơi lội của những người lính này cũng không hề tẩm thường, ngoài bài tập đối phó với ca nô nhằm rên luyện sự can đảm và chuẩn bị cho hoạt động đột kích bằng đường thủy, các đội viên còn phải tập bơi cự ly dài, có lúc còn phải kéo theo một hình nhân nặng tới 75 kg. Họ còn buộc phải lặn xuống đáy sông dùng loại bút và giấy đặc biệt viết câu trả lời cho câu hỏi in sẵn trên giấy, tập lặn xuống đáy rồi lại trồi lên, những động tác này đều tiến hành trong khi không được mang thiết bị thở dưới nước. Họ còn phải tập kỹ năng nhảy từ trên cao xuống chỉ dựa vào một sợi dây thừng, bài tập này rất quan trọng, thường được áp dụng khi đổ bộ trên trực thăng xuống đất.


Đấu tay không là một trong những khoa mục huấn luyện quan trọng. Chỉ thị của chính phủ Pháp đối với lực lượng này là: trong tình huống bất đắc dĩ và không ảnh hưởng đến tính mạng, sự an toàn của con tin thì mới được phép sử dụng các loại vũ khí có khả năng tiêu diệt kẻ thù. Do đó họ chủ yếu phải dựa vào khả năng võ thuật để khống chế kẻ thù. Mỗi thành viên trong đội đều đã từng đạt danh hiệu "Vận động viên đai đen", tất cả đều là những cao thủ sử dụng quyền cước. Rèn luyện sức bền cũng là khoa mục rèn luyện bắt buộc, thường xuyên của đội. Hàng ngày vào lúc sáng sớm họ phải mang trên người cả chục ki- lo gam vũ khí, trang bị, chạy trên cự ly vài ki-lô-mét. Quá trình rèn luyện kiên trì ngày này qua ngày khác đã biến họ trở thành những người mình đồng da sắt.


Thành viên của đội còn thường xuyên được đưa đến trung tâm huấn luyện toàn quốc dành cho lực lượng đặc nhiệm, thực hiện khoa mục lẩn trốn, hành quân dã chiến, tìm lương thực, tấn công, rút lui. Có khi máy bay trực thăng đưa họ đổ bộ xuống khu đầm lầy rừng rậm ở Châu Phi, chịu để muỗi, vắt, cá ăn thịt người nhằm nâng cao khả năng chống chọi để tồn tại của họ trong điều kiện cực kỳ khó khăn, hiểm nghèo.


Chỉ khi nào đã vượt qua được những thử thách kể trên, người lính của đội can thiệp mới nhận được chiếc đai lưng màu đen tượng trưng cho địa vị của họ. Các thành viên của lực lượng này khi tham gia các hoạt động chống khủng bố luôn xuất hiện trong bộ quần áo đen, nên họ được mọi người gọi với cái tên "Người áo đen".
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #74 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2013, 04:46:25 pm »

CUỘC GIẢI CỨU

Ngày 3 tháng 2 năm 1976, khi tiếng chuông đồng hồ báo hiệu đã 8h sáng vừa điểm, tại thành phố Djibuti thủ phủ của Afars và Issas thuộc Pháp có 4 kẻ khủng bố đã bắt cóc một chiếc xe buýt chở học sinh của trường học dành cho con em quân nhân Pháp trong căn cứ quân sự tại đó, tiếp đó bọn chúng lái xe đến địa điểm cách vọng gác biên giới Somali 180 m, đưa ra lời đe dọa: nếu phía chính phủ Pháp không đồng ý cho Afars và Issas độc lập, chúng sẽ giết chết  toàn bộ con tin. Afars và Issas thuộc Pháp, còn có tên là Somali thuộc Pháp, tức là Djibuti ngày nay (độc lập ngày 27 tháng 6 năm 1977) nằm ở vị trí đường vào biển Đỏ miền Đông Châu Phi, tại đây người Pháp đã cho xây dựng căn cứ quân sự của họ. Lúc đó phong trào đòi độc lập dân tộc phát triển mạnh, người Pháp thì làm ngơ trước điều này. Đúng vào thời điểm này, đã xảy ra sự kiện thành viên thuỷ tổ chức mặt trận giải phóng bờ biển Somali bắt cóc xe buýt chở học sinh con em quân nhân Pháp. Trên xe có 30 học sinh tuổi từ 6 đến 12.


Tin tức nhanh chóng bay về nước Pháp, chính phủ Pháp choáng váng. Chính phủ quyết định lập tức cử lực lượng đặc nhiệm chống khủng bố - đội can thiệp hiến binh quốc gia đi làm nhiệm vụ giải cứu.

Vào ngày hôm đó, một chiếc xe con màu xanh lam chạy như bay đến Sở chỉ huy của đội đặc nhiệm đặt tại Maisonarfe, đón đội trưởng Berluto đang chỉ huy đơn vị tập luyện đưa về Bộ Quốc phòng. Một viên tướng của Bộ Quốc phòng trao cho anh mệnh lệnh thực hiện chiến dịch giải cứu, phải lập tức xuất phát.


Ngay đêm hôm đó trung uý Berluto dẫn phân đội đặc nhiệm 9 người, lúc 0 giờ 45 phút họ lên chiếc máy bay vận tải DC - 8 đã đượm cải trang, bí mật bay đến Djibuti. Ngay sau khi tới nơi, không quản mệt nhoè sau hành trình dài, Berluto lập tức tổ chức một cuộc họp chớp nhoáng trong tòa nhà lớn của sân bay. Tiếp đó tại sở chỉ huy của tướng Bulase, người phụ trách chiến dịch giải cứu, tiến hành phân tích tình hình. Để nắm được tình hình cụ thể, Berluto tự mình đi trinh sát nắm tình hình.


Đối với trung uý Berluto thì một vài tên bắt cóc kiểu này không có gì đáng kể, nhưng vấn đề hóc búa là ở chỗ cách chiếc xe chở học sinh 180 m là một trạm gác của lực lượng biên phòng Somali. Ngoài 4 tên khủng bố ở trên xe, còn có một tên nữa bên ngoài, làm thế nào để đối phó với tên thứ 5 đang ở ngoài xe và rõ ràng là cuộc bắt cóc này đã thực sự được giới quân sự Somali ngấm ngầm cho phép. Phía Pháp đã điều động một lực lượng quân sự của họ ở nước ngoài, nhằm mục đích sẵn sàng chi viện hỏa lực cho đội đặc nhiệm khi hành động, ngăn chặn mọi hành động quân sự của phía quân Somali. Phân đội đặc nhiệm được trang bị những vũ khí hiện đại, từ máy nghe trộm hiện đại cho đến chìa khóa vạn năng. Nhưng trong trường hợp này, những trang bị trên không có mấy đất dụng võ, họ chủ yếu phải dựa vào bản lĩnh cá nhân nghị lực và khả năng xạ kích đã được rèn luyện. Qua nghiên cứu, trinh sát thực địa, Berluto quyết định vào lúc trời gần sáng đưa 9 thành viên trong đội đặc nhiệm vào vị trí xung quanh chiếc xe. Bằng nghệ thuật ngụy trang điêu luyện họ đã lẫn vào với địa hình, địa vật xung quanh, bọn khủng bố không hề phát hiện được sự có mặt của họ.


Mặt trời Châu Phi như đổ lửa, chiếu cái nóng như thiêu đốt xuống mặt đất, sa mạc bị hun nóng bỏng. Các chiến sĩ vẫn phải giữ nguyên tư thế mai phục. Từ lúc xuất phát ở Paris họ chưa kịp ăn chút gì, cũng chưa kịp uống nước, họ bám trụ kiên cường trên vị trí bằng nghị lực bản thân. Những cặp mắt vẫn dõi vào chiếc xe buýt qua những ống kính ngắm gắn trên thân súng.


Berluto yêu cầu các xạ thủ phải giữ liên lạc liên tục, dưới cổ mỗi người đều đeo một máy bộ đàm siêu nhỏ, họ phải báo cáo thường xuyên về vị trí của từng tên khủng bố, chỉ cần nhận được báo cáo tất cả bọn khủng bố đã nằm trong tầm ngắm của các xạ thủ, họ sẽ lập tức được lệnh nổ súng. Họ bắt buộc phải nổ súng đồng loạt tiêu diệt bọn khủng bố trong thời gian ngắn nhất, chỉ có vậy mới bảo đảm được sự an toàn cho các học sinh đang bị bắt cóc. Vấn đề mấu chốt lại là, liệu trước khi các xạ thủ bắt được mục tiêu, bọn khủng bố có hành động liều lĩnh nào hay không?


Vấn đề mà trung uý Berluto lo ngại là, các học sinh trên xe đã che khuất tầm nhìn của các xạ thủ. Berluto quyết định thực hiện một phương án khá mạo hiểm nhưng nếu bọn khủng bố phát hiện được ý đồ của họ thì hậu quả sẽ không thể lường trước được. Lúc 14 giờ ngày 4 tháng 2, bọn khủng bố đồng ý cho các học sinh được nhận thức ăn, Berluto bố trí cho người đưa đồ ăn bỏ thuốc ngủ vào đó, nhằm khiến các học sinh rơi vào trạng thái buồn ngủ. Bọn khủng bố hoàn toàn không lường được mẹo này. Khi 30 học sinh ăn xong thì đều lăn ra ngủ ngay trên ghế, bọn khủng bố thì cho rằng do số học sinh bị sợ hãi và đói mệt mỏi thiếp đi nên chúng sơ xuất không để ý. Sau gần 10 tiếng đồng hồ mai phục, chờ đợi gian khổ, cuối cùng cơ hội tấn công đã đến, toàn bộ bọn khủng bố đã rơi vào vòng ngắm. Khi nhận được báo cáo, trung uý Berluto lập tức hạ lệnh nổ súng. Lúc này là 15h30 phút chiều. Berluto đã có thể thở ra nhẹ nhõm.


Trong nháy mắt, những viên đạn bay tới nhằm thẳng vào mục tiêu. 4 tên khủng bố trên xe lập tức ngã gục. Tên thứ năm bị hạ gục ngay gần xe ô tô. Tất cả lập tức trở nên hỗn loạn, lính gác biên phòng Somali nổ súng vào phân đội đặc nhiệm, ngăn cản không cho phép họ tiếp cận chiếc xe, lực lượng quân Pháp tiếp viện lập tức dội bão lửa xuống đầu vào trạm gác biên phòng Somali. Berluto tự mình dẫn phân đội lạo tới giải cứu cho các học sinh.


Nếu họ chỉ đến chậm một bước thì chắc chắn tên khủng bố thứ 6 đã lên được xe. Một viên đạn do lực lượng biên phòng Somali bắn tới đã trúng vào một học sinh gái, lực lượng đặc nhiệm lập tức bắn trả. Dưới làn đạn như mưa của lực lượng đặc nhiệm và lính cứu viện Pháp, kẻ chủ mưu vụ bắt cóc và đồng bọn của chúng đều mất mạng hứng chịu sự trừng phạt đích đáng.


Chiến dịch giải cứu con tin tại Djibuti đã kết thúc với thành công xuất sắc. Sau khi nhận được mệnh lệnh khẩn cấp, phân đội đặc nhiệm đã thực hiện hành trình dài sang một vùng đất lạ, nhanh chóng thu thập tin tức, định kế hoạch, kiên trì chờ thời cơ, nghiêm túc chấp hành theo đúng kế hoạch. Trong số 30 con tin có 29 người được cứu thoát an toàn, phân đội đặc nhiệm không có ai bị thương vong. Chiến dịch này được Chính phủ Pháp đánh giá cao, trên ngực của mỗi thành viên trong nhóm đặc nhiệm lại được gắn thêm một tấm huân chương lấp lánh.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #75 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2013, 04:48:38 pm »

SỰ KIỆN BI TRÁNG

Trong cuộc chiến đấu sinh tử chống khủng bố trong suốt hơn 20 năm qua của đội can thiệp hiến binh quốc gia Pháp, có một sự kiện đáng nhớ xảy ra vào tháng 5 năm 1988 trên đảo New Caledonia. Đó là màn chiến đấu bi tráng làm rung động lòng người diễn ra trong 15 phút.

Chìm trong màn sương khói lãng đãng phủ trên mặt nam Thái Bình Dương bao la, những hòn đảo nhỏ như những hạt ngọc trai nằm rải rác đây đó, xinh đẹp đầy sức cuốn hút. Trong số đó có một hòn đảo có hình dáng dài với chiều ngang hẹp tựa như một con thuyền đang yên bình thả neo trên mặt biển màu ngọc bích bao la. Một ngày tháng 4 năm 1988, trên hòn đảo này đã bùng lên sự kiện chưa từng có trên thế giới, một số kẻ khủng bố đã tấn công bắt cóc các cảnh sát làm con tin. Hòn đảo đó chính là một trong những lãnh thổ thuộc địa của Pháp - đảo New Caledonia.


Cư trú trên hòn đảo xinh đẹp này là 150.000 cư dân, trong đó có 7 vạn người Kanaka bản địa, chiếm gần một nửa dân số, người di cư và người gốc Pháp và châu Âu khoảng 6 vạn còn lại là người Châu Á, người Balevey và người Hoa.

Vào lúc trước bình minh ngày 22 tháng 4 năm 1988, trên hòn đảo nhỏ Ouvea gần New Caledonia, tất cả hết sức yên tĩnh, thỉnh thoảng mới vang lên tiếng chim hót trong cánh rừng nhiệt đới hòa vào âm thanh rào rát của tiếng sóng biển.

Bỗng nhiên, một loạt súng nổ xé toang sự bình yên của bóng tối, đánh thức những cư dân đang ngủ say. Ngay trước vị trí doanh trại của phân đội hiến bình số 1 của Pháp đồn trú trên đảo Ouvea, có hơn 30 tên bịt mặt dáng to lớn mặc đồ chuyên dùng đi đêm chui ra từ trong cánh rừng rậm rạp, chúng nhanh như chớp đã xông vào trong doanh trại. Trong tay chúng là súng tiểu liên, súng trường, súng săn thậm chí có tên trong tay nắm chắc những chiếc rìu sắc bén, trên người chúng còn ướt đẫm sương đêm, rõ ràng là những kẻ thảo khấu vừa mới chui từ trong rừng sâu ra. Chúng tỏ ra hết sức dũng mãnh, hung tợn, nhằm thẳng các họng súng nhả đạn vào số hiến binh Pháp còn đang mơ ngủ. Các hiến binh còn đang mắt nhắm mắt mở thì làm sao có thể chống lại được với những tên hung thần này, có hai hiến binh Pháp nhanh tay với lấy súng, nhưng khi tay họ còn chưa chạm được vào cây súng thì đã gục ngã dưới ánh chớp của lưỡi rìu vừa vung tên.


Doanh trại trở nên rối loạn, hầu hết các hiến binh Pháp còn đang cởi trần họ bị trói nghiến lại trong khi trên người chỉ mặc một chiếc quần sịp. Lúc này, đội trưởng Adeson đang ngủ ở gian phòng kế bên hiểu rằng đã có chuyện chẳng lành xảy ra, vội quờ tay chụp lấy máy điện thoại gào lên: "Hỏng rồi, chúng tôi ở đây đã có chuyện, nhanh..." chưa nói hết câu, một lưỡi mã tấu sắc lạnh đã kề sát sau gáy anh ta, kẻ vừa đến giằng lấy ống nghe và gào vào trong máy: "Hãy nghe đây bọn Pháp hãy cút đi! Nếu không tiếp theo sẽ đến lượt mày!". Sau đó khoảng nửa tiếng, khi lực lượng tiếp viện của hiến binh Pháp từ sở chỉ huy ở đảo New Caledonia kéo sang thì trong doanh trại trống rỗng, ngoài 4 xác chết nằm đó, 27 người của lực lượng hiến binh đã mất tích.


Trong một thời gian dài, người Kanaka đã kiên cường tiến hành cuộc đấu tranh nhằm giành độc lập cho New Caledonia mong muốn tách hòn đảo này ra khỏi sự thống trị của người Pháp, họ thành lập ra "Mặt trận giải phóng dân tộc xã hội chủ nghĩa Kanaka", tập hợp trong đó những phần tử cấp tiến, phái này luôn xung đột quyết liệt với phái chủ trương chấp nhận cơ cấu chính quyền thuỷ Pháp. Trong phi vụ bắt cóc hiến binh Pháp này, mục đích của họ là nhằm cảnh cáo chinh phủ Pháp đừng coi nhẹ sự tồn tại của New Caledonia, với ý đồ nhanh chóng giành quyền độc lập.


Tin tức về cuộc tập kích của người Kanaka bản địa bay về Paris, làm cả nước Pháp chấn động. 6h30 phút sáng, tại phòng họp của phủ Tổng thống, tổng thống Pháp Mitterant triệu tập phiên họp nội các khẩn cấp, tập trung đông đủ các quan chức cao cấp, Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Bộ trưởng Ngoại giao, Bộ trưởng Bộ Thuộc địa, Bộ trưởng An ninh Quốc gia, họp bàn tìm biện pháp đối phó. Cuộc họp nhất trí sẽ giải quyết vấn đề bằng vũ lực, phải nhanh chóng giải cứu các con tin. Đối với một cường quốc hiện đại thì với một đối thủ bé nhỏ, một nhóm thổ dân không chịu khai hóa nói chuyện bằng vũ lực là biện pháp đơn giản, trực tiếp và là duy nhất khiến người Kanaka phải tuân theo.


"Đánh nhau với những tên thổ dân không chịu khai hóa không phải là chuyện đơn giản. Những tên Kanaka tay cầm dao không vô cùng hung dữ, tàn bạo mà chúng còn rất thông thuộc địa hình, thông thạo chiến đấu trong địa hình rừng núi, chúng ngày trốn đêm lại ra đánh, rất khó đối phó". Lúc này, Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Bernard Pons là người rất am hiểu tình - hình tại đảo Néw Caledonia, khi thấy các vị quan chức trong cuộc họp tỏ ra coi thường những người Kanaka, liền đứng dậy tỏ ý nhắc nhở mọi người hãy nên thận trọng.


"Vậy thì hãy giao nhiệm vụ này cho "Đội áo đen" của chúng ta lo liệu?" Tổng thống Mitterant đưa ra kết luận. Phía Tây ngoại ô Paris, tại căn cứ huấn luyện của đội đặc nhiệm can thiệp hiến binh quốc gia Pháp nơi đây được bảo vệ nghiêm ngặt, trên các bức tường cao bao quanh được giăng dây thép gai có điện và cắm mảnh thủy tinh. Bên ngoài và bên trong khu doanh trại bố trí nhiều trạm gác, các đội tuần tra liên tục đi lại. Phía sau một cánh rừng chính là khu huấn luyện tiến công đường không cự ly thấp, trên sân tập đang vật vờ hơn chục chiếc vòng bơm hơi có đường kính 20 m, những chiếc vòng nhiều màu giăng hàng như một con rắn đang uốn lượn.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #76 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2013, 04:49:38 pm »

Thượng uý Larers chỉ huy trưởng tổ hành động số 1 đang cùng các nhân viên của mình tập luyện bài tấn công từ máy bay trực thăng tầm thấp. Tiết mục như trò chơi trẻ con này chính là sáng tạo của Larers, yêu cầu của bài tập không những bắt buộc máy bay phải bay với tốc độ cao, chính xác chui qua vòng, người phi công phải vừa lái vừa phải nhằm bắn chính xác vào các mục tiêu di động bất ngờ xuất hiện dưới mặt đất. Đây có lẽ cũng là phương thức tập luyện độc đáo nhất trên thế giới. Trong bài tập này mức độ khó khăn và nguy hiểm đều rất cao, nếu chỉ sai lệch một chút, cánh quạt máy bay sẽ băm nát vòng bơm hơi thậm chí là máy bay bị rơi, người điều khiển bị thương vong.


Thượng uý Larers năm nay 32 tuổi, năm 1986 nhận chức tổ trưởng tổ hành động số 1 . Anh không chỉ thành thạo môn Kungfu - Trung Quốc mà còn tinh thông trong sử dụng các loại vũ khí và đấu tay không, là một nhân tài hiếm có trong lực lượng chống khủng bố. Năm 1986, vì đã giải quyết êm đẹp hai vụ tù nhân gây bạo động mà trở nên nổi tiếng, được cất nhắc lên làm tổ trưởng tổ hành động tổ 1, có sức chiến đấu mạnh nhất của lực lượng "Đội áo đen". Lúc này trên sân thao trường, Larers đang vung chiếc cờ đỏ nhỏ trong tay, vừa gào lên trong máy bộ đàm "Balarc, đồ quỉ quái lại trượt hai mục tiêu nữa rồi. Vòng tròn! Chú ý vào vòng!".


Balarc năm nay 22 tuổi, có một vẻ ngoài dễ mến, đây là anh lính mười ba tháng trước được Larers chọn từ sư đoàn dù đưa lên. Chàng trai này là một tay súng cừ khôi. Balarc khi được nhập vào "Đội áo đen" mới hiểu rằng, nơi đây không chỉ đầy rẫy những anh tài mỗi người đều là các cao thủ, bắn súng hai tay, trèo tường vượt hào, đánh đối kháng tay không v.v... môn nào cũng giỏi.


"Nếu không có bản lĩnh cao cường thì đừng đến chỗ chúng tôi?". Đó là câu nói đầu tiên Balarc được nghe khi giáp mặt với Larers.

Balarc cho chiếc trực thăng "Pettit Bouquetin" đáp xuống, hầm hầm nhảy xuống, lột bỏ mũ, gào lên với Larers: "Anh không có mắt! Gió thổi vòng hơi bay dạt sang bên, vừa lái vừa bắn thời gian lại giới hạn ngắn như vậy, tôi làm gì có ba đầu sáu tay!".


"Đội áo đen" được trang bị loại trực thăng vũ trang "Petit Bouquetin" hiện đại nhất của Pháp, được xếp vào danh sách 4 loại trực thăng vũ trang đầu bảng trên thế giới "Petit Bouquetin" là sản phẩm mới nhất do Công ty công nghiệp hàng không vũ trụ quốc gia Pháp nghiên cứu chế tạo, có tính năng cực kỳ ưu việt. Trên máy bay được trang bị một khẩu súng máy, một ổ súng bắn đạn 30 ly tự động, kính phóng đại hệ số cao chuyên dụng, thiết bị la de đo cự ly, thiết bị hồng ngoại theo dõi mục tiêu, tên lửa không đối đất. Larers yêu cầu các chiến sĩ dưới quyền phải điều khiển thành thạo loại máy bay này, để có thể phát huy uy lực của nó ở mức cao nhất.


Thực ra, trong thâm tâm Larers đã biết Balarc là một tay có triển vọng chỉ cần để tâm đào tạo sẽ trở thành một lính đặc nhiệm xuất sắc, anh ta cũng rất có cảm tình với người thẳng thắn như Balarc. Larers thầm nghĩ, một mình vừa phải điều khiển máy bay lại vừa bắn súng quả có là khoa mục khó cũng cần phải thể hiện cho Balarc thấy cần phải làm gì. Vậy là, Larers quẳng cho Balarc khẩu súng trường mà Balarc ưa dùng, tiếp đó cho anh ta leo lên bám vào đuôi máy bay, tự mình thì chui vào trong buồng lái.


Balarc một tay xách khẩu súng trường, leo lên bám vào phía đuôi trực thăng, chiếc "Petit Bouquetin" gầm lên và lên cao, luồng gió từ cánh quạt khiến Balarc chao đảo. Lúc này, các chiến sĩ trong tổ đã hiểu được ý định của chỉ huy của họ, định dùng phương pháp đặc biệt này để thi đấu với Balarc xem ai là người hạ được nhiều mục tiêu. Cả tổ đặc nhiệm hứng thú chờ đón màn biểu diễn. Larers điều khiển chiếc "Petit Bouquetin" thực hiện một vòng cua đẹp mắt sang trái chui qua một chiếc vòng bơm hơi. Balarc nắm chặt súng, mở thông tin mắt, chuẩn bị nổ súng khi mục tiêu xuất hiện.


"Petit Bouquetin" vừa chui qua chiếc vòng đầu tiên, trên mặt đất đã chồi ra một chiếc bia cỡ nhở, chiếc "Petit Bouquetin" chợt khẽ rung, một loạt điểm xạ từ khẩu súng máy làm chiếc bia vỡ vụn. Tiếp đó là liên tiếp các màn biểu diễn được thực hiện, các chiến sĩ reo hò vỗ tay trước tài nghệ điêu luyện của Larers.


Máy bay hạ xuống, Balarc đỏ mặt nhảy từ đuôi máy bay xuống đất. Đột nhiên, máy bộ đàm giắt ở dây lưng Balarc phát ra tín hiệu chuông, trung tâm chỉ huy của căn cứ yêu cầu Balarc trở về sở chỉ huy nhận nhiệm vụ đột xuất.


Lát sau, Larers nhanh chóng quay lại, lệnh cho các chiến sĩ trong đội nhanh chóng chuẩn bị tác chiến, sau hai tiếng nữa sẽ bay tới hòn đảo New Caledonia tại Nam Thái Bình Dương. Ngay sau khi đến được đảo Ouvea, đội lập tức triển khai truy tìm tung tích của 27 hiến binh bị bắt cóc Đảo Ouvea tuy không lớn nhưng lại có địa hình phức tạp, có rất nhiều hang động tự nhiên, vách đá dựng đứng, thêm vào đó lại có rừng rậm, dã thú thường xuyên xuất hiện, lẩn trốn thì dễ mà truy tìm thì khó. Lực lượng truy lùng đã triển khai công việc trong 3 ngày 3 đêm nhưng không thấy bóng dáng của con tin nào cả. Đúng vào lúc họ đang lâm vào thế bí, người Kanaka đã vô tình giúp đỡ họ. Ngày 2 tháng 4 người Kanaka bất ngờ thả tự do cho 12 con tin, 12 người này đã phải chịu đựng sự ngược đãi, đói rét cùng cực trở về mang theo điều kiện mà người Kanaka đòi hỏi. Điều quan trọng là qua họ lực lượng đặc nhiệm đã xác định được địa điểm các con tin bị giam giữ, nơi đó là một hang đá lớn nằm trong khu rừng rậm ở phía Bắc của đảo Ouvea.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #77 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2013, 04:50:57 pm »

Quần đảo New Caledonia có rất nhiều các hang động tự nhiên, lòng hang ngoắt ngoéo có nhiều vật cản, hầm hố, người bình thường khó có thể vào được. Muốn cứu được con tin trước hết phải tìm hiểu được tình hình đường đi lối lại trong hang. Sau khi Larers thuyết phục một quan chức Toà án trên đảo tên là Beakeni đã đồng ý lợi dụng sự quen biết cũ với những người Kanaka để dẫn đội đặc nhiệm vào hàng đàm phán. Larers chọn chiến sĩ nhanh nhẹn trong đội đi cùng.


Lúc hơn 8 giờ sáng ngày 27 tháng 4, nhóm Larers có 6 người cải trang thành vệ sĩ riêng của Beakeni tiến vào khu vực gần hang núi nơi các con tin bị giam giữ. Hang núi này nằm ở sườn một vực núi dốc, xung quanh đều là những vách đá dốc đứng lởm chởm, chỉ có duy nhất một lối mòn dẫn đến cửa hang, đây quả là địa thế một tướng trấn ải, vạn quân khó vượt. Cửa hang bị cây cối che khuất, đây đó là những khối đá lớn chặn lối, tạo cơ hội thuận lợi cho kẻ thù ẩn nấp tấn công, một vệt đường mòn quanh co dẫn vào vùng cây cối rậm rạp. Larers vừa đi vừa ngầm vạch kế hoạch hành động. Khi họ gần tới cửa hang thì bất ngờ từ sau lưng nơi họ vừa đi qua có mấy kẻ lạ mặt bước ra, nhanh như cắt chúng đánh ngã Beakeni và Larers, 5 người còn lại chưa kịp bước tới trợ giúp thì những nòng súng đen ngòn đã chĩa vào nghe họ.


Bọn họ bị giải vào trong hang. Larers lúc này mới nhìn rõ, đây là một hang đá hẹp và dài uốn lượn theo sườn núi, và gồm nhiều tầng, lòng hang lạnh lẽo ẩm thấp, lờ mờ tối. Trong tầng trên có một khoảng trống khá rộng rãi, đây chính là nơi các con tin đang bị giam giữ, những người này dường như cũng tin rằng chính phủ Pháp sẽ đến giải cứu cho họ nên vẫn giữ được trạng thái tinh thần khá vững vàng. Trong hang có khoảng 50 người Kanaka. Trên nóc hang có trạm gác canh gác suốt 24/24 tiếng trong ngày, khi có báo bất kỳ sự thay đổi nào cũng sẽ bị phát hiện, lính gác sẽ báo động, lúc đó lực lượng người Kanaka trong hang sẽ chiếm giữ những vị trí có lợi trong hang. Các con tin nếu định chạy trốn cũng sẽ vấp phải lưới hỏa lực dày đặc hạ gục, người bên ngoài cũng khó có thể xâm nhập vào bên trong.


Sau một hồi mềm mỏng thuyết phục lẫn đe dọa, người Kanaka đồng ý để Beakeni đóng vai trò người trung gian đàm phán giữa người Kanaka và chính phủ Pháp. Beakeni nói với Larers rằng: "Thủ lĩnh của họ đồng ý để anh quay về nói lại rằng họ đồng ý đàm phán. Trước 10 giờ sáng mai anh phải trở lại, nếu không các con tin sẽ bị bắn chết". Quay về nơi đóng quân Larers báo cáo lên Bộ trưởng thuộc địa về điều kiện trao trả con tin của người Kanaka: thứ nhất, rút toàn bộ quân Pháp ra khỏi New Caledonia; hai là hủy bỏ cuộc bầu cử địa phương; ba là phải nhanh chóng xúc tiến các cuộc đàm phán về vấn đề New Caledonia độc lập với chính phủ Pháp. Chính phủ Pháp tất nhiên không bao giờ chấp nhận những điều kiện do người Kanaka đưa ra, nhưng cũng đồng ý tiếp tục đàm phán, nhưng do sự khác biệt quá lớn trong quan điểm, lập trường giữa hai bên, do đó cuộc đàm phán đi vào ngõ cụt.


Cũng qua quá trình đi đi về về đóng vai trò đưa chuyển thông tin giữa các bên đàm phán, Larers đã ghi nhận được địa hình và tình hình trong hang, và đồng thời cũng đã bí mật đưa vào trong hang hai khẩu súng ngắn và dụng cụ để mở còng tay.


Gần sáng ngày 5 tháng 5, khi sương mù còn chưa tan hàng trăm hiến binh Pháp đã vây kín xung quanh khu vực hang núi. Mọi công tác chuẩn bị đã xong, lực lượng đột kích ở trong và ngoài hang đã sẵn sàng, sau khi nhận được lệnh của Thủ tướng Jacques Chirac, chiến dịch giải cứu mang tên "Chiến dịch thắng lợi" được chính thức mở màn.


Lúc 5 giờ 15 phút sáng, 12 chiến sĩ đặc nhiệm đầu đội mũ nồi đỏ, mặc quân phục rằn ri, mang súng tiểu liên tiến công, lưng giắt lựu đạn, dao găm, sau khí kiểm tra xong vũ khí trang bị lần cuối, họ leo lên ba chiếc trực thăng "Pettit Bouquetin”. Tiếng động cơ trực thăng khuấy động sự tĩnh lặng của buổi sớm mai.


Dưới sự yểm trợ của trực thăng, hiến binh Pháp mở cuộn tấn công vào hang đá. Người Kanaka dựa vào địa thế hiểm yếu đánh lui nhiều đợt tấn công của quân Pháp.

Lúc này các con tin lợi dụng sự hỗn loạn, sử dụng dụng cụ mở khóa tự giải phóng cho nhau. Hai tên lính canh giữ họ bị đánh gục, hai khẩu súng trường tự động rơi vào tay các con tin, những người khác cũng vơ lấy tất cả những thứ có thể sử dụng làm vũ khí.

Người Kanaka phát hiện sự biến động tại khu vực giam giữ con tin, chúng vội cho lực lượng đến ngăn cản, nhưng lập tức bị hỏa lực súng trường và súng ngắn chặn lại. Hai bên ở trong thế giằng co, người Kanaka không tiến lên được, con tin cũng không thoát ra ngoài được.


Trong giây phút nguy cấp đó ba chiếc trực thăng "Pettit Bouquetin" trong màu sơn loang lổ đã lao đến. Một chiếc nhằm thẳng phía cửa hang, hai chiếc quần đảo xả súng bắn quanh khu cửa hang, pháo trên máy bay bắn như vãi đạn làm cửa hang phút thốc tan hoang. Cánh quạt của máy bay khiến cây cối rạp xuống. Balarc hướng kính ngắm la de vào một táng đá nhô lên gần cửa hang, ngón tay án nút phóng, một vệt lửa vọt ra từ bụng chiếc máy bay, 60 phát đạn bay như mưa vào tảng đá, "ầm... ầm... ầm!" sau tiếng nổ đinh tai nhức óc, cả khối đá và hỏa điểm đặt cạnh đó bay tung lên không trung.


Những hỏa điểm người Kanaka bố trí gần cửa hang lần lượt bị tiêu diệt. Lúc đó, Larers bỗng phát hiện có mấy tên từ trong hang nhảy ra ngoài, tiếp đó lẫn sau các lùm cây, có tỏa ra một làn khói trắng đang di chuyển rất nhanh. Người Kanaka đang định cho nổ bộc phá phá hang.

Larers vội vã gào lên với Balarc: "Bay đến gần cửa hang, tôi sẽ nhảy xuống".

"Xuống nữa, thấp phút nừa! lúc này máy bay chỉ còn cánh cửa hang khoảng 5, 6 mét, Balarc dựa vào khả năng điều khiển điêu luyện vẫn rèn luyện hàng ngày, cho máy bay treo cố định trên cửa hang.

"Nhảy xuống!" Larers gào lên và lao xuống phía dưới, hai chiến sĩ khác cũng nhanh nhẹn nhảy xuống tiếp theo. Larers cảm thấy vai phải sau tê tái, nhưng không còn thời gian để tính đến chuyện đó, anh chồm dậy chạy vào cửa hang, lúc này hai chiến sĩ nọ tuy bị va chạm chảy máu song cũng khẩn trương kê súng bắn yểm trợ ghìm đầu bọn khủng bố xuống, Larers tranh thủ cơ hội này lao vào phía trong, dùng dao cắt đứt sợi dây cháy chậm đang tỏa khói.


Bỗng phía sau họ vang lên một tiếng nổ kinh hồn, ngoảnh đầu nhìn lại Larers nhìn thấy chiếc "Pettit Bouquetin" của Balarc điều khiển bùng cháy như một ngọn đuốc xoay tròn và rơi xuống miệng vực. Để yểm trợ cho Larers và chiến sĩ, Balarc đã cho máy bay bay quá thấp, đạn của người Kanaka đã bắn thủng thùng xăng máy bay bắt lửa bùng cháy.


“Balarc! Balarc!” Larers gào lên về hướng chiếc máy bay vừa lao xuống. Trong cơn cuồng nộ, Larers lao lên như một con mãnh thú, khẩu súng trong tay rung lên nã đạn về hướng những kẻ khủng bố.
"Ầm...!” một trái lựu đạn bất thần bùng nổ gần người Larers, bóng viên thượng uý ngã xuống trong quầng lửa, máu thấm ra nhuộm đỏ cả vạt cỏ và những viên sỏi.

Sau 15 phút chiến đấu quyết liệt, trong 24 người Kanaka đã có 18 người bị bắn chết, 6 người bị thương, tên cầm đầu sau đó đã chết trên đường chuyển đến bệnh viện gần đó.

Máu đào của "Đội áo đen" đã đổ xuống mảnh đất New Caledonia, cái giá mà họ phải trả rất nặng nề, hai người lính trong "Đội áo đen" thiệt mạng, một trực thăng "Pettit Bouquetin" bị rơi, thượng uý đội trưởng Larers bị thương nặng, nằm mê man suốt 2 ngày mới thoát khỏi nguy hiểm, giữ được mạng sống. Những tổn thất này đã đặt dấu chấm hết cho kỷ lục trong suốt hơn 20 năm không bị thương vong của đội can thiệp hiến binh của Pháp.


Khi đội đặc nhiệm trở lại Paris, trên dọc hai bên đường về từ cổng của sân bay là chật cứng những người tự giác đến chào mừng, cổng chiến thắng được treo cờ màu sắc sặc sỡ, trong tay dòng người là những bó hoa tươi, đón chào những người anh hùng của nước Pháp quay về. Đằng sau hai chiếc quan tài phủ quốc kỳ Pháp là Thượng uý Larers tay chống nạng, những giọt nước mắt cảm động chan hòa trên gò má.


Trong buổi lễ mừng công long trọng, thượng uý Larers được tặng thưởng tấm huân chương vinh dự và 500.000 phrăng để biểu dương những cống hiến xuất sắc của anh.

Hai chiến sĩ hy sinh vì tổ quốc, ngoài danh hiệu cao quí "Anh hùng nước Pháp" được truy tặng, gia đình mỗi người được nhận 1 triệu phrăng. Tổng thống Pháp Mitterant còn trực tiếp gọi điện chia buồn với người thân của các chiến sĩ, các ngành các cơ quan tại Paris cũng mang đến rất nhiều phần quà an ủi.


Chiến dịch giải cứu con tin trên đảo New Caledonia lần này, không chỉ là chiến dịch quân sự có qui mô lớn nhất của chính phủ Pháp thực hiện tại hải ngoại kể từ sau năm 1962, nước Pháp rút quân khỏi Algeria, nó còn là một ví dụ đặc sắc trong lịch sử đấu tranh chống khủng bố trên thế giới, chiến dịch này được dư luận quốc tế đánh giá cao.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #78 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2013, 04:52:15 pm »

DẸP YÊN BẠO ĐỘNG

Năm 1974, các cuộc bạo động của tù nhân diễn ra trên qui mô toàn nước Pháp. Các tù nhân phá toang song cửa, thoát ra khỏi phòng giam, chiếm các nóc nhà, đốt cháy các cơ sở vật chất, thiết bị của nhà tù. Trong thời gian ngắn, trên toàn nước Pháp xảy ra rất nhiều vụ bạo động tương tự, có nguy cơ bùng bổ trong cả nước. Lực lượng cảnh sát và quân đội hợp tác, nhanh chóng ra tay chế áp tình huống bạo loạn đặc biệt này, họ đã ngăn chặn có hiệu quả sự lan tràn của các cuộc bạo loạn. Trong số đó, chiến công của đội can thiệp hiến binh quốc gia Pháp dẹp yên cuộc bạo động tại nhà tù Clairvauw là một ví dụ điển hình.


Ngày 19 tháng 7 năm 1974, tại nhà tù Clairvauw tràn ngập không khí cuồng loạn và những tiếng đập phá. Bọn tội phạm chen lên đứng đầy trên nóc buồng giam, tên thì cầm gậy, tên thì ném gạch đá, ngói Vỡ vào trong sân. Hơn 300 tù nhân tham gia bạo động, kiểm soát các buồng giam, đốt cháy giấy tờ, cỏ khô và đồ đan lát bằng cây liễu xếp trong gian xưởng lớn, chúng đánh cướp đồ ăn trong nhà ăn và rượu trong kho. Trong đó 250 tên tù chiếm lĩnh khu sân trại giam và bệnh xá, hơn 50 tên tội phạm khác đứng kêu gào trên các nóc nhà. Có 80 tù nhân sắp mãn hạn nên đã không tham gia gây rối, bọn họ bị những kẻ gây rối giam lại trong một khu sân nhỏ. Trong khu buồng giam khoảng 20 tên tù đang chuyển những khối đá lớn mỗi khối khoảng 6 kg, đưa lên vị trí tường cao khoảng 25 mét so với mặt đất, bọn chúng định sử dụng những khối đá này để ngăn chặn cuộc tấn công của các cảnh sát. Ngoài vòng tường bao, lực lượng cảnh sát trật tự được huy động đến tăng viện. Bọn tù đang dỡ ngói trên các mái nhà, chuẩn bị chống trả lâu dài với cảnh sát.


Sau khi vụ bạo động xảy ra đội can thiệp hiến binh lập tức điều động Đội trưởng Berluto. Sau khi nhận lệnh, lập tức anh tập hợp lực lượng thuộc hai phân đội, mỗi phân đội 13 người. Anh giới thiệu vắn tắt nhiệm vụ, sau đó họ lên máy bay trực thăng bay đến hiện trường. Sau chưa đầy 20 phút họ đã đến điểm cần tới.

Berluto quan sát kỹ khu nhà giam, tiếp đó là bàn bạc với cảnh sát trưởng, Giám đốc nhà tù và chỉ huy của lực lượng cảnh sát, tìm biện pháp xử lý. Berluto trình bày ý kiến của mình: "Lực lượng can thiệp sẽ đùng trực thăng đổ quân xuống nóc khu phòng giam, đuổi bọn quấy rối từ trên xuống dưới".


Cảnh sát trưởng, giám thị trưởng nghi ngại hỏi: "Tất nhiên chúng ta không thể nghi ngờ vào khả năng siêu việt của nhóm can thiệp, nhưng mỗi chuyến cất cánh trực thăng chỉ có thể chở theo 5 người, mỗi lần cất hạ cánh cách nhau ít nhất 2 phút. Như vậy, tỷ lệ tương quan lực lượng giữa hai bên sẽ là 1 chọi 20. Như vậy quá chênh lệch".


Berluto nói tiếp "Chúng tôi dự định trước khi hạ xuống chuyến đầu tiên sẽ cho thả lựu đạn cay, như vậy dứt khoát sẽ xua đuổi được bọn chúng“.

Cảnh sát trưởng đồng ý với phương án này, nhưng một vấn đề mới lại xuất hiện: "Máy bay sẽ gặp khó khăn vì bọn tội phạm đang tập trung trên nóc phòng giam chiều rộng 2 mét cách mặt đất 10 mét, đây là một đường di chuyển rỗng bên dưới, nó liền kề với tường bao và bức tường bao quanh thì cao hơn nóc phòng giam. Máy bay muốn vào được trong sân, phải bay qua bức tường cao 20 mét. Sau đó sẽ hạ thấp độ cao lơ lửng trên đường đi trên nóc phòng giam với tư thế đó, lực lượng can thiệp nếu nhảy xuống sẽ rất mạo hiểm".

Người phi công đang đứng bên cạnh liền xen vào: "Không thành vấn đề, chúng tôi đã tập luyện qua khả năng này".

"Tốt lắm, vậy hãy cứ như vậy!" Cảnh sát trưởng quyết định.

6 thành viên thuộc đội cảnh sát cơ động trèo lên nóc một gian nhà xưởng đặt lên đó hệ thống vòi rồng phun nước áp suất cao, chuẩn bị phối hợp hành động với lực lượng đặc nhiệm. Bọn tội phạm đang đứng trên nóc phòng giam không vì vậy mà chùn bước mà còn nổi xung chửi bới ầm ĩ. Lúc này Berluto cùng 4 chiến sĩ leo lên trực thăng, cùng với tiếng động cơ vang rền, máy bay từ từ bốc lên.


Máy bay bay qua bức tường cao 20 mét rồi đột ngột hạ thấp độ cao xuống cự ly cách bọn tội phạm khoảng 10 mét. Các chiến sĩ mở cửa khoang máy bay, ném xuống phía dưới 14 trái lựu đạn cay. Ban đầu bọn tội phạm không nhận ra những trái lựu đạn này, tưởng rằng đó là lựu đạn nổ, hoảng hồn úp mặt xuống đất. Sau những tiếng nổ, những cuộn khói vàng lan tỏa khắp xung quanh, bọn tội phạm bị sặc khói nước mắt, nước mũi trào ra, chúng hò nhau lùi lại dọc theo đường đi trên nóc nhà.


Berluto và 4 lính đặc nhiệm vì tranh thủ thời gian nên không tiếp đất bằng thang dây, mà nhẩy xuống trực tiếp từ cửa máy bay. Họ mang mũ và mặt nạ phòng hóa, trong tay lăm lăm súng tiểu liên tiến dần về phía bọn tội phạm. Bọn này thấy vậy thì đùn đẩy nhau, xô đẩy hỗn loạn.


Trong nhà giam lúc này còn có hơn 80 tù nhân không tham gia gây rối, họ đã sắp mãn hạn nên chẳng muốn dính dáng lôi thôi để rồi lại bị kéo dài thời gian ngồi bóc lịch, họ bị những kẻ quá khích giam trong một khu sân nhỏ, họ đang cầu xin được giúp đỡ.

Trong trại bỗng nhiên khói lửa cuồn cuộn bốc lên. Cảnh sát trưởng thông báo với Berluto rằng, bọn tội phạm đã đốt cháy khu nhà xưởng, trong đó có nhiều giấy tờ cỏ khô và đồ đan lát bằng cành liễu, cứ kiểu này gian nhà xưởng chắc bị thiêu ra tro.

"Được hãy để tôi đi quan sát xem", "Này, Pierre hãy theo tôi, nhớ đeo kính nhìn đêm vào".

Thượng sĩ Pierre vội lôi ra cặp kính rồi chạy theo Berluto, loại khí tài điện tử này có thể tăng cường độ sáng lên 6 vạn lần, trong đêm tối mọi vật vẫn hiện lên sắc nét như ban ngày. Từ khoảng cách 200 mét nó đã có thể cho thấy đầu mẩu thuốc lá nằm trong gian phòng tối.


Berluto và Pierre trèo lên bức tường bao, đeo kính nhìn đêm vào để quan sát khu sân lớn của trại giam. Họ trông thấy khoảng 50 tên tù đang gào thét trên một nóc nhà, hơn 250 tên khác đã chiếm giữ khu nhà giam mới xây và khu bệnh xá. Berluto ý thức được mức độ nghiêm trọng của tình hình. Đột nhiên, Berluto phát hiện trong khu phòng giam mới có khoảng 20 tên vô lại đang vận chuyển những khối đá. Nếu những viên đá với trọng lượng 6 kg này được ném xuống từ độ cao 25 mét xuống khu sân mà cám cảnh sát phải vượt qua, thì chắc chan thịt xương sẽ nát vụn. Berluto lập tức quay lại phòng chỉ huy, báo cáo lại tình hình với cảnh sát trưởng, và đề ra biện pháp đối phó. Sau đó anh ta yêu cầu đưa đến một chiếc máy bay trực thăng.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #79 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2013, 04:54:06 pm »

Cảnh sát trưởng vui vẻ đồng ý: "Điều này dễ thôi, tôi đã chuẩn bị rồi, nhưng phải đợi đến lúc 6 giờ máy bay mới đến được. Từ giờ đến lúc đó, tôi không muốn máu của cảnh sát phải đổ vì những tên vô lại này. Nếu những tên khốn khiếp đó liều lĩnh đe dọa đến tính mạng của cảnh sát, các anh có thể nổ súng tự vệ".


"Rõ, thưa cảnh sát trưởng! Nhưng đội của chúng tôi cũng có thói quen là cố gắng không nổ súng”.

"Điều tôi quan tâm là làm thế nào để cảnh sát và lực lượng bảo vệ an toàn vượt qua khu sân trại không bị gạch đá trên nóc nhà làm bị thương". Cảnh sát trưởng nói.

Berluto tự tin trình bày: 'Tôi sẽ cho bố trí các xạ thủ trên tòa nhà ở góc tường, bắn ngăn chặn không cho bọn tội phạm tiến đến đống gạch đá, không cho chúng nhận được gạch đá tiếp viện. Nếu chúng vẫn cứng đầu tiến lại gần đống đá xa thủ của tôi bắt buộc phải bắn vào tay chúng, bảo đảm cách này sẽ có tác dụng”.

"Vậy cũng được, vậy còn trực thăng thì sao?"

Berluto cân nhắc rồi tiếp "Vẫn có thể dùng biện pháp cũ, trước khi cho tấn công, sẽ có trực thăng thả lựu đạn cay, xua đuổi bọn chúng”.

Cảnh sát trưởng muốn nhìn tận mắt quang cảnh trong sân trại. Ông trèo lên cầu thang, và không khỏi kinh ngạc có khoảng 100 tên tội phạm đang ở trên nóc dãy phòng giam, chúng đang xếp hàng thành dây chuyền tay nhau nhũng viên gạch, ngói gỡ trên mái nhà. Dãy nhà dài khoảng 100 mét. Số lượng gạch ngói sẽ lên tới hàng vạn viên.

Berluto yêu cầu được hành động gấp, đề nghị cảnh sát trưởng cho phép nổ súng về hướng đống gạch ngói.

Trên đường đi trên nóc dãy phòng giam, Berluto cho trực sẵn 4 tay súng. Một tay súng trông thấy có một tên tù đang ôm trong tay ba viên ngói, bước lại gần đống gạch ngói lập tức đưa dấu cộng của kính ngắm vào đống ngói trên tay tên tội phạm, sau tiếng nổ đanh gọn, tên tội phạm cách đó khoảng ngoài 40 mét kêu lên kinh hoàng. Hắn nhảy lùi lại một bước, mấy viên ngói trên tay rơi xuống nát vụn. Tiếp đó có 5 tên tội phạm cũng gặp cảnh tương tự. Chúng đã hiểu ra sự việc, chửi ầm lên và lui về phía sau. Ngay lúc đó bùng lên một tiếng nổ dữ dội, một cột lửa vọt lên bầu trời, đó là do đống chất hóa học trong gian xưởng phát nổ.


Berluto chỉ về hướng đống đá lớn nói với cảnh sát trưởng: "Đó là mối đe dọa lớn đối với chúng ta. Nếu bọn chúng tiếp tục đến gần đó, chúng tôi bắt buộc phải bắn bị thương vài tên.

Lúc sáu giờ sáng, một chiếc trực thăng bay đến. Trong sở chỉ huy đang diễn ra cuộc họp nghiên cứu biện pháp đối phó, Berluto phát biểu: "Khi chúng tôi bắt đầu thả lựu đạn cay từ trên trực thăng xuống, sự chú ý của bọn tội phạm sẽ hướng về phía đó. Khi đó nếu có tín hiệu tấn công của tôi, phân đội sẽ xuất phát, mở đường tiến vào. Đến khi các anh đã giữ được đường vào, lực lượng tiếp ứng sẽ chiếm toàn bộ các dãy nhà, gom toàn bộ số gây rối lại".


Lúc 6 giờ 10 phút, giám đốc nhà tù dùng loa phóng thanh kêu gọi: "Các anh hãy ngừng phá phách, hãy dẹp bỏ ý định trốn thoát! Tôi tin rằng trong các anh hầu hết mọi người đều không đồng tình với phương pháp dùng bạo lực. Hãy quay trở về sân trại, các anh sẽ được an toàn!".

Bọn tội phạm không hề để ý cảnh sát trưởng đang cầm lấy micrô nói tiếp: "Tôi là cảnh sát trưởng, hạ lệnh cho các anh lập tức phải đầu hàng! Các anh có một phút để suy nghĩ!".

Đáp lại là những tiếng chửi rủa và những động tác bỉ ổi.

"Tấn công!" cảnh sát trưởng ra lệnh.

Vào lúc 6 giờ 14 phút, khi chưa có lệnh tấn công, một trung uý cảnh sát đã dẫn tiểu đội xông vào trong sân trại. Lập tức, trận mưa từ các mái nhà dội xuống đầu họ, họ bị gạch đá làm cho khốn khổ.
Viên cảnh sát làm nhiệm vụ quan sát chạy vội đến báo cáo, anh ta phát hiện có một bọn tội phạm đang xông đến chỗ đống đá, chuẩn bị lấy nó để ném xuống đầu tiểu đội cảnh sát. Hơn phục viên đá chuẩn bị được ném xuống, tình thế khá nguy cấp.

"Bắn" Berluto phát lệnh.

Một tên đầu tóc bù xù đang cố sức chuẩn bị ném hòn đá xuống. Một cảnh sát rê súng theo, kính ngắm nhằm đúng vào cánh tay hắn. Tiếng súng vang lên, hắn ngã vật xuống. Tên thứ hai, thứ ba rồi thứ tư cả mấy tên đang vận chuyển mấy khối đá đều bị trúng đạn vào cánh tay và đùi, lần lượt ngã gục xuống. Điều đáng nói là những chỗ bị đạn bắn trúng đều không phải bộ phận nguy hiểm, điều này đòi hỏi kỹ năng bắn phải hoàn hảo.

Một người cảnh sát trẻ lại thay một băng đạn mới, nhưng anh ta không tiếp tục bắn, vì lúc này bọn tội phạm đã hiểu ra vấn đề, chúng thi nhau lùi lại, kêu gào ầm ĩ:

"Phải lấy đá ném vào bọn dưới sân, không cho chúng xông lên!"

Tên tù Paul bị bắn vào chân phải, máu thấm ra ngoài. Hắn đang nằm rên rỉ bên rìa đang đá...

"Mày sợ cái gì chứ?" một tên cầm đầu gầm lên, Paul tức tối: "Tao không bước được nữa, tao sẽ không đi lấy đá để ăn đạn nữa đâu!".

"Đồ hèn!' tên kia gầm lên, trong tay hắn nắm một chiếc cán cuốc lao đến... Giữa bọn tội phạm bỗng nhiên đã xảy ra xung đột. "Choang... choang...!” vang lên tiếng va chạm nhau giữa gậy sắt và cán cuốc, những tiếng gào thét hòa vào nhau, tất cả như một bầy thú đang cắn xé, gào thét.

Một tên tù bị đánh vào đầu, hắn giang rộng hai tay, rơi xuống sân như một con chim trúng đạn, não và máu me toé ra bắn văng lên người đồng bọn. Bọn tội phạm ngừng lại giây lát trước thảm cảnh tàn khốc rồi lại tiếp tục lao vào đánh lẫn nhau.


Mấy người lính trong đội can thiệp đang ở trên hành lang tận mắt chứng kiến cảnh tượng trên, lại có thêm 4 tên tội phạm bị đánh gục. Các cảnh sát vội báo cáo về sở chỉ huy bằng máy bộ đàm.
 
Nhận được tin báo Berluto vội vã lên máy bay trực thăng bay đến hiện trường. Máy bay quần đảo, lượn vòng trên dãy phòng giam. Các tù nhân bên dưới đều bị hành động này thu hút, bọn chúng dừng tay, ngóng lên trên đối phó với mối đe dọa vừa xuất hiện.


Berluto lệnh cho các lính đặc nhiệm ném một loạt lựu đạn cay xuống, các trái lựu đạn đều rơi xuống nóc dãy phòng giam một cách chuẩn xác. Sau đó lại một loạt lựu đạn nữa được phép ném xuống. 30 quả lựu đạn cơ bản đã quyết định được tình thế.


Các tù nhân không phịu nổi màn khói cay xè vội vã xô nhau chạy xuống phía dưới sân và co cụm tại đó. Trên máy bay Berluto ra lệnh cho chúng phải di chuyển đến khu sân chơi để đầu hàng.

Bất ngờ, một tên trong bọn tách ra chạy ra phía cửa. Trong tích tắc, một quả lựu đạn bay đến nổ phía trước, chắn đường chạy của hắn. Tên tội phạm đành ngừng lại, ngước nhìn lên chiếc máy bay đang lơ lửng trên đầu. Berluto khoát tay ra hiệu, bắt hắn phải quay lại.

Qua máy vô tuyến, Berluto phát tín hiệu cho bộ phận dưới mặt đất tấn công. Lực lượng cảnh sát ùa vào trong sân, khép chặt vòng vây, áp sát bọn tội phạm. Tiếp đó, dưới sức mạnh của cảnh sát, bọn gây rối bị khuất phục. Cuộc bạo động tại nhà tù Clairvauw kết thúc.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM