Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:35:50 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lực lượng đặc nhiệm trên thế giới  (Đọc 95184 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #100 vào lúc: 23 Tháng Chín, 2013, 09:01:00 am »

PHẢN ỨNG NHANH

Tin quần đảo Fankland thất thủ bay về nước Anh, cả nước chấn động, lực lượng đặc nhiệm cũng bồn chồn không yên. Đêm về khuya, kinh thành London yên lĩnh trở lại sau một ngày dài ồn a. Đèn vẫn sáng trong một căn phòng làm việc của Bộ Tư lệnh lực lượng cung cấp đường không. Tư lệnh Durbili đang chìm sâu trong suy nghĩ. Ông tin tưởng rằng một khi Bà thủ tướng đã quyết định xuất chinh, thì sẽ loại bỏ mọi trở ngại, bằng mọi giá thu hồi lại quần đảo Fankland.


Ông sải bước đến bên tổ hợp điện thoại màu đỏ, gọi điện cho ngài tham mưu trưởng Hohard đang trong giấc ngủ say, ra lệnh cho ông ta: "Đến ngay Bộ Quốc phòng tìm hiểu tình hình cụ thể về quần đảo Malvinas, gác bỏ các kế hoạch khác, tập trung nghiên cứu tìm cách đến Malvinas trước các lực lượng khác của Anh".


Durbili có vóc dáng trung bình, dáng dấp mạnh khỏe trong đôi mắt sâu ẩn chứa óc quan sát nhạy bén. Ông là một trong những vị tướng của Anh sau chiến tranh thế giới tham gia vào nhiều chiến dịch quân sự tại nước ngoài nhiều nhất, mang trong mình kinh nghiệm chiến đấu dày dạn và tài trí hơn người. Ông cho rằng, do địa hình đặc thù của Malvinas, cuộc chiến giành lại hòn đảo này phải ưu tiên dành cho hình thức tác chiến trên biển, lực lượng hải quân sẽ là lực lượng chiến đấu chủ yếu. Lực lượng cung cấp trên không sẽ sát cánh cùng họ. Ông trực tiếp đến Bộ Tư lệnh hạm đội gặp tư lệnh hạm đội thượng tướng hải quân Fieldhouse đưa ra đề nghị trước khi lực lượng Anh tiến hành bất cứ hoạt động gì, cũng phải cử người của lực lượng đặc nhiệm xâm nhập, trinh sát thu thập tin tức, nhằm cung cấp những thông tin chính xác về tình hình bố trí lực lượng của quân đội Argentina. Tướng Fieldhouse rất thích thú trước lời đề nghị này.


Tiền thân của trung đoàn cung cấp đường không là lực lượng "đổ bộ đường không Commandos" nổi danh trong chiến tranh thế giới lần 2. Đội quân này ăn vận quần phục lục quân hoàng gia, đội mũ nồi màu đất. Lực lượng này chủ yếu thực hiện nhiệm vụ tác chiến trong lòng địch, đối phó với các hoạt động chống chính phủ và tham gia vào các phi vụ hoạt động điệp báo khác. Lứa tuổi trung bình của họ khoảng 25 tuổi. Được trang bị các loại vũ khí gọn nhẹ như súng ngắn, súng tiểu liên giảm thanh, pháo cối cỡ nhỏ, súng phóng lựu, súng bắn tỉa, kính nhìn đêm, thiết bị nghe trộm và các loại khí tài gọn nhẹ, tiện lợi và hiệu quả cao khác. Sự kiện mà họ cảm thấy rất tự hào đó là được tham dự vào cuộc huấn luyện "chiến đấu - sinh tồn" hàng năm tổ chức tại Aicsamel. Trong thời gian ba tuần lễ, các lính đặc nhiệm không mang theo lương thực, không được phép yêu cầu bất kỳ sự trợ giúp nào của những người dân quanh vùng, họ chỉ có thể sử dụng cạm bẫy để bắt rắn, chuột, cá, ếch nhái và côn trùng, hái các loại tảo, nấm, rau dại để ăn cầm hơi. Họ sống trong các hốc đá hoặc những cái tổ bện bằng cành cây, học cách tìm ra nguồn nước hoặc lấy lửa, bọ còn phải sẵn sàng trốn tránh sự vây quét của "kẻ thù”. Những đợt huấn luyện như vậy đã tôi luyện họ trở thành những chuyên gia sinh tồn trong môi trường hoang dã.


Nước Anh hoàn toàn bất ngờ trước cuộc tấn công của Argentina, do không có kế hoạch dự phòng cho trường hợp này tất cả đều phải cập tập tiến hành. Lực lượng đặc nhiệm cũng không ngoại lệ, các lực lượng, bộ phận trong nháy mắt từ trên xuống dưới đều gấp rút đẩy nhanh tốc độ, giành lại thế chủ động.


Do có quá trình hợp tác, trao đổi lâu dài, giữa lự lượng đặc nhiệm của Anh và Mỹ có quan hệ khá chặt chẽ. Phía Mỹ đề nghị với các đồng nghiệp Anh ý tưởng muốn cùng được tham chiến. Nhưng do yếu tố chính trị, không cho phép Mỹ công khai nhảy vào can thiệp, vì vậy phía Mỹ đã hào hiệp cho lực lượng đặc nhiệm Anh mượn những trang bị tốt nhất, trong đó bao gồm tên lửa vác vai "Stinge" mới được biên chế cho bộ đội năm 1981.


Loại tên lửa phòng không này có chiều dài là 1,52 m, đường kính 7cm, thao tác dễ dàng, có thể do một người điều khiển, cự ly 6000 m, đường đạn bay thấp với tốc độ 2 m, trọng lượng đạn 35 kg. Đây là loại tên lửa phòng không vác vai cự ly gần, đối phó hiệu quả đối với máy bay bay thấp và trực thăng, được lực lượng đặc nhiệm đánh giá cao. Sau khi cỗ máy chiến tranh của nước Anh được khởi động, lực lượng đặc nhiệm, binh chủng tinh nhuệ của nước Anh rất hăng hái mong được tham chiến. Từ Briznoton họ lặng lẽ lên máy bay, khi chỉ huy của họ còn chưa kịp ý thức được vị trí chính xác của họ thì họ đã vượt qua quãng đường 4000 km, đến đảo Ason cách Malvinas một nửa hành trình.


Đảo Ason được tạo thành từ những đợt phun trào của núi lửa, khắp nơi là một màu vàng rỉ sắt, khung cảnh kỳ lạ vô cùng, nơi đây đã trở thành căn cứ trung chuyển và bổ sung cho cuộc chiến của quân đội Anh nhằm thu hồi lại đảo Malvinas. Ngay khi vừa đặt chân lên đảo, lực lượng đặc nhiệm đã tập dượt các hoạt động nhằm thích nghi với khí lạnh và địa hình của đảo Malvinas.


Trong cái lạnh cắt da, gió thổi ào ạt, máy bay trực thăng treo lơ lửng ở độ cao thấp, bị gió thổi chao đảo, các chiến sĩ tập đi tập lại động tác tiếp đất. Trên những con sóng cuộn trào, các chiến sĩ chia thành từng tổ lên xuồng cao su tìm cách áp sát bờ, mỗi lần xuồng bị sóng đánh lật úp họ lại bắt đầu từ đầu. Durbili đến tận thao trường chỉ đạo, yêu cầu các chiến sĩ phải có khả năng sinh tồn ý chí sắt đá chống chọi với điều kiện khắc nghiệt, một có thể địch được mười kẻ thù. Các chiến sĩ bùn đất lấm lem, mồ hôi chảy thành dòng, trong gió rét căm căm, họ vẫn giữ được sự hăng hái.


Hạm đội tàu hỗn hợp bao gồm lực lượng đổ bộ, lực lượng tàu chống ngầm, lực lượng đặc nhiệm cung cấp trên không, đội tàu vận tải xếp thành đội hình hành tiến dài hơn trăm km, nhằm hướng Nam Thái Bình Dương lướt tới. Mục tiêu cần giành lại đầu tiên là đảo Georgia.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #101 vào lúc: 23 Tháng Chín, 2013, 09:02:10 am »

CHUYẾN GHÉ THĂM ĐẢO GEORGIA

Đảo Georgia cách đảo Malvinas 1300 km tại 54° độ nam 37° đông với diện tích khoảng 3756 km2, xung quanh có khá nhiều đảo nhỏ và bãi đá. Khí hậu trên đảo rất lạnh, thường xuyên có gió bão và tuyết, băng đóng quanh năm. Nơi đây không có người sinh sống, điều kiện tự nhiên vô cùng khắc nghiệt nhưng đây chính là chiếc lô cốt đầu cầu để tấn công lấy lại Malvinas.


Nếu chiếm được nơi này, đây sẽ là bàn đạp tấn công và là căn cứ chuyển hậu cần. Đây sẽ là đòn đánh tinh thần nhằm vào tinh thần chiến đấu của quân dân Argentina nâng cao vị thế của nước Anh trên bàn đàm phán, nhờ đó có thể tăng áp lực đối với Argentina. Vị trí của đảo này nằm cách xa đất liền công tác cung cấp hậu cần khó khăn, sau khi chiếm được hòn đảo này phía Argentina chỉ cho một lực lượng nhỏ chốt giữ. Để nghi binh, trên các phương tiện báo chí Argentina tạo ấn tượng rằng ở đây có ít nhất có 400 quân canh giữ. Trước khi tấn công, phía Anh bắt buộc phải nắm được số lượng quân và tình hình bố phòng cụ thể trên đảo và phải xác định được ở đảo này có được bố trí tàu chiến hay không. Tư lệnh hạm đội hỗn hợp quyết định tiến hành biện pháp trinh sát đường không.


Nào ngờ liên tiếp trong mấy ngày, vùng trời đảo Georgia mây mù che phủ, không thể nhìn rõ địa hình trên đảo, máy bay trinh sát không có tác dụng, đành phải quay về.

Biện pháp trinh sát bằng máy bay không đạt kết quả, chỉ còn cách sử dụng trinh sát mặt đất, xâm nhập trinh sát thực địa. Trách nhiệm nặng nề này được giao cho lực lượng đặc nhiệm.

Đêm 21 tháng 4, gió lạnh gầm rít, buốt thấu xương. Tổ trinh sát đặc nhiệm gồm 15 người do Kent làm tổ trưởng, mang trên người áo lặn màu đen, đeo kính lặn, mang súng ngắn L1A1 và tiểu liên "Stent", kính nhìn đêm, băng từ chịu nước, máy thu phát cỡ nhỏ.


Bọn họ được chiếc trực thăng "Người trinh sát" đa năng chở đến khu vực vùng biển đảo Georgia, treo lơ lửng trên vùng biển có chiếc tàu ngầm nguyên tử "Kẻ chinh phục" hoạt động, lần theo sợi cáp có đánh dấu dạ quang, họ chui vào trong chiếc tàu ngầm. Khi chiếc tàu ngầm tiến tới khu vực sát đảo, họ lần lượt ra ngoài, bí mật bơi tiếp cận dào, leo lên núi băng, từ đây họ có thể nhìn thấy thị trấn Grytviken thủ phủ của đảo. Trong thị trấn vốn là một cảng dành bắt cá voi trước đây, có khoảng 150 lính Argentina đồn trú. Nhiệm vụ của tổ trinh sát là bí mật theo dõi hoạt động của số lính này.


Gió ngày càng dữ dội với tốc độ trên 400 km/h, các lều bạt bị cuốn bay đi, mọi người đều có thể bị cuốn xuống dáy vực bất cứ lúc nào. Nếu tiếp tục ở lại đây, họ có thể bị chết rét, họ vẫn chưa được tập luyện khoa mục sống sót trong điều kiện băng tuyết, hiện tại không đủ điều kiện để trụ lại, chỉ còn cách báo về trung tâm xin cứu viện. Con tàu khu trục "Antrym" là nơi đặt sở chỉ huy của lực lượng đặc nhiệm đã nhận được điện báo của nhóm Kent, thiếu tá Iron Staly phụ trách việc đảm bảo liên lạc với nhóm, lập tức lệnh cho hai chiếc trực thăng "Wiseks" bay đến núi băng đón tổ đặc nhiệm quay về. Gió thổi mạnh, trời tối dần. Tốc độ quay của cánh quạt cũng gần như tương đương với tốc độ gió thổi, điều này cũng nguy hiểm chẳng kém gì việc bay trên lưới lửa dày đặc của pháo phòng không. Các lính đặc nhiệm lên được máy bay, họ vừa cất cánh thì đã xảy ra sự cố, chiếc máy bay bay đầu loạng choạng như người say rượu rồi rơi xuống mặt đất phủ tuyết Chiếc máy bay sau cũng rơi thẳng xuống từ độ cao hơn chục mét, đập mạnh xuống đất bắn lên rồi lộn nhào vào một đụn tuyết. Gió và tuyết đã hại bọn họ nhưng cũng đã cứu tất cả vì nếu khi đó họ va vào đá thì chắc chắn sẽ tan xác.


Thiếu tá Iron Staly trực tiếp cầm lái chiếc "Wiseks" khác đến đón những người mắc kẹt. Dựa vào kỹ năng điêu luyện, tận dụng thời điểm tạm dừng giữa hai đợt gió, trong hai ngày anh đã bay 7 lần, khó khăn lắm mới đưa được toàn bộ nhóm đặc nhiệm và tổ lái của hai chiếc máy bay trở về.


Ngày hôm sau, khi màn đêm buông xuống, vẫn 15 lính đặc nhiệm chia thành 5 tổ mỗi tổ 3 người leo lên 5 chiếc xuồng cao su gắn động cơ. Dưới sự che chở của màn đêm họ rời khỏi chiếc "Antrym" nhằm hướng đảo Dagras nằm trong khu vực thí trấn Grytviken. Thiếu tá Iron Staly cả đêm ngồi trực bên máy bộ đàm không hề chợp mắt.


Ngày tiếp theo, chuyến đi đã trót lọt, trong số 5 chiếc xuồng đã có 3 chiếc đến được địa điểm, coi như đã đạt tỷ lệ quá bán. Hai chiếc còn lại do động cơ bị hỏng hóc, bị trôi dạt trong bóng tối.

Lúc 1 giờ 30 sáng, một chiếc xuồng bị trôi dạt đã phát tín hiệu về khá yếu ớt, họ báo cáo tọa độ hiện tại yêu cầu cử người đến cứu. Trước lúc trời sáng một máy bay lên thẳng đã căn cứ vào tín hiệu báo tọa độ tìm được và đưa họ trở về.

Chiếc xuồng thứ hai bị gió đẩy trôi giạt đến tận gần phía nam đảo Georgia. Ba lính đặc nhiệm bỏ xuồng bơi xuống nước đổ bộ lên đảo. Gần chỗ họ trốn có rất nhiều lính Argentina. Họ trốn trong các hẻm đá phát tín hiệu cấp cứu về cho trung tâm. Lúc này đã là sáng sớm thứ 6. Nhằm tránh bộc lộ ý đồ tấn công, Kent quyết định, trước khi tấn công thì chưa thể đi tìm cứu họ được.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #102 vào lúc: 23 Tháng Chín, 2013, 09:04:19 am »

Đêm ngày 23, một nhóm đặc nhiệm do thiếu tá Iron Staly dẫn đầu nhân lúc sóng yên biển lặng, đã lên được đảo Dagras, họ hợp quân với nhóm đặc nhiệm 9 người đã đến từ trước. Thiếu tá Iron Staly phân công nhiệm vụ tiếp theo, nhóm 9 người ở lại còn số còn lại sẽ tiếp tục đi sâu về hướng nam, leo lên hòn đảo chính của nam Georgia, từ đây có thể bao quát toàn bộ hoạt động của định.


Trung đội đặc nhiệm tàu thuyền được mệnh danh là "lực lượng tinh nhuệ của những kẻ tinh nhuệ", họ đội mũ nồi xanh, thuộc lực lượng hải quân lục chiến hoàng gia, qua quá trình sàng lọc kỹ lưỡng, số người được lựa chọn chỉ khoảng 3%. Sau khi được chọn, họ phải vượt qua kỳ huấn luyện chuyên ngành kéo dài trong một năm, nội dung được chú trọng trong giai đoạn này là kỹ thuật chiến thuật cá nhân bao gồm kỹ năng xâm nhập đường thuỷ, đổ bộ đường không tầm vừa và cao, sử dụng cái loại sóng, phá nổ dưới nước, trinh sát mặt đất, liên lạc truyền tin nhanh, nhớ đường định vị tọa độ. Hàng năm họ phải đến vùng có khí hậu giá lạnh, tuyết phủ ở bờ biển phía Bắc NaUy tiến hành tập luyện thích ứng môi trường, tăng cường khả năng sống sót trong môi trường khắc nghiệt. Phương thức hoạt động của họ là sử dụng những tổ nhỏ từ 4 đến 6 người chia phân tán bí mật hành động, nếu cần thiết thì lại tập trung lại, họ rất thành thạo tác chiến ban đêm, mỗi tổ đều được trang bị máy điện báo siêu tốc, cái thông tin tình báo thu được sẽ nhanh chóng chuyển về bộ chỉ huy, họ còn được gọi với cái tên "Đội đặc nhiệm lưỡng thê". Khẩu hiệu hành động của họ là "Không dựa vào thực lực mà dựa vào xảo thuật".


Bầu trời trong xanh, ánh mặt trời ấm áp chiếu rọi cũng không làm xua tan cái lạnh của Đại Tây Dương. Cái nhóm trinh sát được chia nhỏ, triển khai công tác trinh sát. Trung tá Kent nhanh chóng nhận được điện báo của các trinh sát viên, thông báo rằng kẻ địch không hề có sự chuẩn bị, không mấy cảnh giác; Kent cho rằng thời cơ đánh chiếm đảo Georgia đã đến, lập tức báo cáo lại tình hình với bộ chỉ huy hạm đội hỗn hợp.


Đúng lúc sắp diễn ra hoạt động đổ bộ, có tin do lực lượng đặc nhiệm báo về: "Quân Argentina tổ chức phòng ngự tại tiếp giáp bờ biển, binh lực được tập trung tại khu vực số 4. Căn cứ vào tọa độ được báo cáo các khẩu pháo hạm trên tàu "Antrym" dội bão lửa vào khu vực này. Trong chốc lát, tiếng nổ vang dậy kế tiếp nhau, tất cả bùng lên như biển lửa.


Dưới sự yểm trợ của pháo, Kent dẫn các lính đặc nhiệm từ trực thăng nhanh chóng đổ bộ, tiếp đất tại khu vực cánh Grytviken khoảng 6 km. Họ bí mật tiếp cận khu vực thị trấn. Phía quân Argentina không phát hiện ra, họ cũng không ngờ rằng quân Anh sẽ xuất hiện từ sau lưng. Lúc 3 giờ sáng, lính Argentina vẫn còn đang say sưa trong giấc mộng, họ yên trí rằng trong các cánh rừng xung quanh đã được cài dày đặc các loại mìn, có thể tiêu diệt bất kỳ kẻ xâm nhập nào. Trong tiếng gió gầm rít, Kent đã tận dụng triệt để tâm lý chủ quan của quân Argentina.


Không có một quả mìn nào phát nổ. Lính của Kent có kỹ năng dò phá mìn siêu hạng, hai người đảm nhiệm dò mìn là hai chiến sĩ có thành tích xuất sắc nhất trong huấn luyện, dưới sự dẫn dắt của họ, các chiến sĩ nhanh chóng tiếp cận và chiếm lĩnh sở chỉ huy.


Khi phân đội của Kent xuất hiện, lính trực ban của phía Argentina mới phát hiện ra, chưa kịp nổ súng thì đã bị hạ gục. Lính Argentina bị dựng dậy, tất cả trở nên hỗn loạn, đa số họ chưa kịp mặc áo khoác thì dưới ánh sáng của pháo sáng họ đã thấy những họng súng đen ngòm chĩa vào mình, 150 lính ở đây đã không kịp có bất cứ phản ứng gì. Trước tình hình này, viên sĩ quan chỉ huy lực lượng Argentina tại đây hạ lệnh cho tất cả đầu hàng, tránh xảy ra một cuộc tàn sát tập thể.


Do những thông tin chính xác mà đội đặc nhiệm cung cấp đường không thông báo, các chiến sĩ hải quân lục chiến đã dễ dàng đổ bộ lên Grytviken, ngày hôm sau đã chiếm được Lis.

Và như vậy, sau 20 ngày bị phía Argentina chiếm giữ, đảo Georgia lại trở về với người Anh. Số 150 lính Argentina bị bắt làm tù binh và 39 thường dân được đưa về đảo Ason sau đó được trả về Argentina. Quốc kỳ nước Anh lại phấp phới bay trên đảo Georgia. Tư lệnh hạm đội hỗn hợp tướng W Deived tự hào nói, việc chiếm lại đảo Georgia là "món ăn khai vị vừa miệng trước khi dùng bữa chính, công lao của lực lượng đặc nhiệm trong sự kiện này không phải nhỏ.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #103 vào lúc: 23 Tháng Chín, 2013, 09:05:04 am »

XỨNG DANH ANH HÙNG

Sau khi chiếm lại Georgia, nước Anh đã có bàn đạp cho các cuộc chiến đấu cự ly xa tiếp sau, ngày 28 tháng 4 hạm đội hỗn hợp tiến vào vùng biển Malvinas và triển khai đội hình, sau khi hoàn thành việc khống chế đường biển và bầu trời, kế hoạch đổ bộ đánh chiếm được hoạch định. Điểm đổ bộ được lựa chọn gần cảng San Carlos, mục đích chủ yếu là tranh thủ tấn công vào vị trí phòng thủ mỏng, bảo đảm yếu tố tấn công bất ngờ.


Nếu đổ bộ vào vị trí gần cảng San Carlos, hạrn đội phải đi vòng qua cửa bắc eo biển Fankland. Tại vị trí này có đảo Pebble nằm thếch về phía Tây, cách đảo chính 800m từ đây có thể kiểm soát được đường vào và vùng biển lân cận, đây là vị trí hiểm yếu có giá trị quân sự cao.


Kết quả trinh sát cho thấy trên đảo Pebble, Argentina đã cho xây dựng một sân bay dã chiến, bố trí một số máy bay chiến đấu, trinh sát, vận tải, một đài ra-đa và một số lượng lính đồn trú. Ra-đa trên đảo có thể kiểm soát đường hàng hải tại eo biển và đường hàng không đi qua khu vực này. Máy bay trên đảo là mối đe dọa cho lực lượng đổ bộ. Đã có một chiếc tàu khu trục của quân Anh bị máy bay chiến đấu "Super Etendard" của Argentina dùng tên lửa "Ecotxet" đánh đắm, những máy bay này cất cánh từ sân bay trên đảo Pebble. Diễn biến của sự việc như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 4 tháng 5, chiếc khu trục hạm "Conveyor" đang ở khu vực vùng biển phía Bắc đảo Malvinas đội hình hạm đội 40 km về phía Tây thực hiện nhiệm vụ rađa cảnh giới, thì bị một máy bay trinh sát Argentina phát hiện và lập tức báo cáo về tọa độ chính xác của chiến tàu này lên sở chỉ huy. Sở chỉ huy lập tức cho ba máy bay "Super Etendard" đã được gắn tên lửa không đối hạm "Ecotxet" cất cánh, được sự yểm trợ của 3 máy bay chiến đấu khác bay đến khu vực có mục tiêu.


Mấy chiếc "Super Etendard" bay thấp trên mặt biển với tốc độ 1200 km/h tiếp cận mục tiêu, khi đến cự ly cách chiếc tàu khu trục khoảng 48 km thì chúng vọt lên cao, phóng ra hai quả tên lửa "Ecotxet".

Hai quả tên lửa như hai luồng khói trắng là là sát mặt biển lao đến mục tiêu. Chiếc "Conveyor" tuy được trang bị khá hiện đại, có cả thiết bị gây phát sóng gây nhiễu chống tên lửa, chỉ đáng tiếc ông trời không phù hộ, lúc này đang có bão biển, mây mù đen kịt, sóng lớn ngất trời, hệ thống ra-đa thông tin vô tuyến và đo xa gần như vô hiệu, trên màn hiển thị tất cả rất mờ mịt. Trong tiếng gầm rít của sóng biển, quả tên lửa "Exocet" nhằm thẳng vào trái tim của con tàu khoang tàu điều khiển hệ thống vũ khí bằng máy tính điện tử: Trong 240 thủy thủ trên tàu có 20 người chết, 24 người bị thương, 43 người mất tích. Lửa trên tàu cháy đến tận lúc 8 giờ sáng ngày hôm sau mới tắt. Con tàu chiến được trang bị hiện đại đã vùi thây xuống lòng Đại Tây Dương như vậy.


Phía quân Anh quyết tâm đầu tiên phải chiếm được hòn đảo Pebble. Nếu dùng máy bay ném bom tấn công thì hiệu quả không đáng kể, trên đảo này các máy bay được phân tán và ngụy trang rất khó tiêu diệt gọn, đường băng đất sau khi bị bom có thể được sửa chữa, khôi phục rất nhanh và làm như vậy cũng sẽ làm lộ ý đồ của chiến dịch đổ bộ. Sau khi cân nhắc kỹ, bộ chỉ huy quyết định sẽ sử dụng lực lượng đặc nhiệm tiến hành tập kích, điều phối thuộc một sĩ quan hiệu chỉnh pháo đi cùng, phối hợp điều chỉnh hỏa lực pháo hạm 112 ly trên tàu “Antrym" yểm trợ cho cuộc tập kích.


Ngày 9 tháng 5, trung tá Kent nhận được mệnh lệnh tập kích sân bay Pebble. Đây là trận chiến cần thiết nếu thành công có thể giảm được sự đe dọa đối với hạm đội Anh; Có thể khiến quân Argentina lầm tưởng rằng lực lượng Anh chỉ tìm cách thực hiện các cuộc tập kích đánh rồi rút. Nhằm quấy rối khiến phía Argentina không xác định được vị trí quân Anh dự kiến đổ bộ, loại trừ được sự đe dọa của không quân đồng thời cắt đứt cầu hàng không vận tải tiếp tế của địch.


Vào lúc hoàng hôn, gió bão đã yếu dần, Trung tá Kent lệnh cho máy bay trực thăng AH - 1 đi đón lực lượng đặc nhiệm đang phân tán tại các địa điểm phân công trở về. Trên đảo có nhiều gò, núi bãi đá, có những khu đầm hồ chưa có dấu chân người, giao thông đi lại rất khó khăn mây mù ẩm ướt, vào tháng trời rét đậm và mưa nhiều điều kiện thời tiết, rất xấu. Lực lượng đặc nhiệm luồn sâu trên đảo đã sang ngày thứ 9, họ ngày ẩn nấp đêm mò ra đi trinh sát, những đợt chiến đấu liên miên khiến thể lực giảm sút nhiều. Sau khi các nhóm trinh sát được đưa về họ được nghỉ ngơi 48 tiếng, khôi phục sức lực. Sau đó nhận mệnh lệnh tập kích đảo Pebble.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #104 vào lúc: 23 Tháng Chín, 2013, 09:06:24 am »

TẬP KÍCH ĐẢO PEBBLE

Đêm 12 tháng 5, trời mưa dầm dề, khí lạnh tràn ngập. Trung tá Kent dẫn đầu nhóm tiền trạm lên máy bay đổ bộ xuống bờ biển hòn đảo mẹ phía Tây đảo Malvinas, chuẩn bị dùng xuồng cao su vượt qua eo biển rộng 800m đổ bộ lên đảo Pebble.

Thời tiết trên đảo Malvinas rất thất thường. Buổi tối trời đột nhiên nổi gió lớn, sóng dữ xô vào bờ, gió lạnh thấu xương. Đối diện với sóng lởn và hành trình 800 mét vượt biển, những chiếc xuồng cao su bơm hơi tự động trở lên nhỏ bé và mạo hiểm. Cho dù có vượt qua được thì sức chiến đấu của đội tiền trạm cũng suy giảm nhiều, ngoài ra lúc này còn cánh thời điểm tổng công kích gần 10 ngày, nếu chậm lại một chút, xem xét sự thay đổi của tình hình rồi quyết định cũng chưa muộn và cũng không gây ảnh hưởng gì đến tổng công kích. Trung tá Kent quyết định sẽ đợi thêm một ngày, các lính đặc nhiệm tranh thủ nghỉ lại tại các khe đá, hẻm núi.


Đêm 13. Sóng vẫn không yếu đi nhưng gió đã có vẻ dịu bớt, Kent chỉ huy nhóm đặc nhiệm xuống xuồng. Xuồng cao su trôi nổi chao đảo trên ngọn sóng, các chiến sĩ cố gắng giữ phương hướng mải miết phèo, khó khăn lắm họ mới sang được bờ bên kia. Sau khi cho dìm thuyền, họ bước chân lên đảo, đi bộ trong suốt hơn hai tiếng đồng hồ và đến được một điểm cao gần sân bay, lập ra một đài quan sát sân bay và khu vực xung quanh, để lại người trực ban rồi những người còn lại ẩn mình trong một thung lũng gần đó, ban ngày họ nghỉ ngơi, ban đêm mò ra hành động.


Qua quá trình quan sát, họ đã nắm được tình hình các máy bay chiến đấu, hệ thống ra đa, lực lượng bảo vệ, cơ sở bảo đảm và địa hình xung quanh, nắm được khả năng chi viện của lực lượng quân đội Argentina đóng ở vòng ngoài.

Lúc này, Kent cũng đã tìm được bãi đáp cho lực lượng tiếp ứng, địa điểm được lựa chọn là một bãi trống khá thoáng đãng, gần sân bay lại có một thung lũng, nới đây sẽ là nơi tiếp cận sân bay mà tránh được tầm kiểm soát của lính gác.


Đêm 14, ác chiến sĩ cơ động đến bãi (táp đã lựa chọn, khống chế các điểm cao có lợi xung quanh, đón 45 người của lực lượng tiếp ứng. Lúc này khu, trục hạm "Antrym" cũng cơ động đến chiếm lĩnh khu vực trận địa đã định phía Nam đảo Pebble, chuẩn bị yểm trợ hoả lực cho đội đặc nhiệm.


Máy bay trực thăng cuối cùng đã đến, do ảnh hưởng của gió và bóng tối lực lượng tiếp ứng đã đến muộn gần nửa tiếng, thời gian an toàn cho hoạt động tác chiến trong bóng đêm chỉ còn khoảng 30 phút.

Binh quí thần tốc. Sau khi lực lượng chi viện hạ cánh, Kent lập tức dẫn đầu đội nhằm hướng sân bay lao đi Khi gần đến vị trí triển khai đội hình, căn cứ vào tình hình cụ thể, biên chế chiến đấu của các tổ chức và khu vực đảm nhiệm được nhắc lại một lần nữa, đồng thời thống nhất lại các nội dung hiệp đồng tác chiến.

Tổ bắn tỉa yểm trợ gồm 8 người, sử dụng súng bắn tỉa giảm thanh gắn kính ngắm hồng ngoại. Khi còn cách sân bay 50 mét, họ gặp tốp lính đi tuần gồm 6 tên, khi bọn này còn chưa kịp phản ứng thì đã ngã gục.


Kent dẫn đầu một tổ, được hai tổ khác yểm trợ tập kích vào kho đạn dược và xăng dầu, họ bị lính gác phát hiện nhưng kịp thời nổ súng tiêu diệt chúng trước và gài xong mìn hẹn giờ. Các nhóm khác chia thành từng tổ 4 người tự tìm mục tiêu đã phân công, họ nhanh chóng cài đặt mìn hẹn giờ vào thân những chiếc máy bay trên đường băng.


Người sĩ quan hải quân hiệu chỉnh pháo leo lên một điểm cao phía sau, nhanh chóng dùng máy dò xa lade xác định tọa độ mục tiêu, chỉ thị mục nêu cho chiếc khu trục hạm cách đó 2 km. Pháo trên đầu như có mắt, chúng tiêu diệt các trận địa định xung quanh sân bay, chi viện đắc lực cho cuộc tập kích.
Lực lượng bảo vệ sân bay như bừng tỉnh, ra sức ngăn chặn cuộc tấn công nhưng lập tức rơi vào vòng ngắm của lực lượng bắn tỉa, đạn súng máy và roc - kẹt ào ạt bắn tới, không ít lính Argentina bị thương vong.

Khoảng thời gian dự định đã hết, Kent phát tín hiệu rút lui, các tổ yểm hộ lẫn nhau, theo đường cũ quay về địa điểm xuất phát.

Khi nhóm đặc nhiệm quay về bãi đỗ của máy bay trực thăng, từ phía sân bay dội lên một tiếng nổ dữ đội, những cột lửa dựng lên cao ngất. Bầu trời khu vực sân bay rực lửa, đảo Pebble như đang trong một trận động đất. Lính Argentina liên lạc yêu cầu tăng viện, nhưng trong tai nghe chỉ vọng lại những tiếng lạo xạo không có tín hiệu nào đáp lại. Trong nháy mắt, 11 chiếc máy bay các loại, một kho đạn, một đài ra đa bị phá huỷ, chỉ có hai lính đặc nhiệm bị thương.


Trong một đêm đảo Pebble bị san thành bình địa. Quân đội Argentina vẫn chưa hiểu được rằng đây mới chỉ là khúc dạo đầu cho cuộc đổ bộ lên cảng San Carlos, họ cho rằng đây chỉ là mưu kế của quân Anh nhằm đánh lạc hướng mà thôi. Sau khi đã giải quyết được vị trí hiểm yếu này, hạm đội hỗn hợp Anh an toàn tiến vào eo biển Fankland, thực hiện tổng công kích đổ bộ vào cảng San Carlos.


Trận chiến chiếm đảo Malvinas kéo dài trong suốt 74 ngày, lực lượng đặc nhiệm đảm nhiệm vai trò hết sức quan trọng. Đúng như phóng viên Anh viết trong cuốn "Đây chính là lực lượng đặc nhiệm cung cấp đường không” "Cuộc chiến tại đảo Fankland (đảo Malvinas) là thắng lợi của sự hiệp đồng quân binh chủng, nhưng lực lượng đổ bộ đã không bị tiêu diệt khi vượt qua vùng biển San Carlos đầy hiểm họa chính là nhờ "lực lượng đặc nhiệm cung cấp đường không” và "lực lượng đặc nhiệm cung cấp tàu thuyền”. Thủ tướng Thatche sau đó đã gửi điện chúc mừng, các phương tiện thông tin phương Tây cũng lên tiếng ca ngợi, thổi phồng lực lượng đặc nhiệm Anh trở thành huyền thoại bất khả chiến bại.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #105 vào lúc: 23 Tháng Chín, 2013, 09:08:28 am »

15. LỰC LƯỢNG ĐẶC NHIỆM "HẢI BÁO" Mỹ TIẾN CÔNG GRENADA

Tại vị trí vùng biển Đại Tây Dương bao la gần châu Mỹ có một dải các hòn đảo với hình dáng xinh xắn, hình bán nguyệt nằm rải rác đây đó. Hòn đảo nằm ở đầu mút phía nam chính là quốc đảo Grenada. Trong tiếng Tây Ban Nha "Grenada" có nghĩa là thạch lựu bởi nó có hình dáng giống quả thạch lựu. Hòn đảo nhỏ này có diện tích 344 km2, do đảo lớn Grenada và đảo nhỏ Garriacou, Vincent ở phía bắc hợp thành, dân số khoảng 115.000 người, 80% là người da đen. Ngày 25 tháng 10 năm 1983, quân đội Mỹ huy động lực lượng phản ứng nhanh tấn công vũ trang xâm lược Grenada. Sau ba ngày chiếm được thủ đô Saint George của Grenada, sau 8 ngày kết thúc cuộc chiến, lật đổ chính phủ non trẻ mới ra đời sau đảo chính tại đây.


"ĐẢO THẠCH LỰU" GẶP NẠN

Đảo Grenada là cánh cửa thông từ biển Caribbe ra Đại Tây Dương, khống chế tuyến đường biển từ miền nam Châu Phi, Nam Mỹ tới kênh đào Panama và đến Mỹ, có vị trí chiến lược rất quan trọng. Đây chính là nguyên nhân để Grenada nổi tiếng hơn các quốc gia láng giềng.


Ngày 7 tháng 2 năm 1974, Grenada tuyên bố độc lập, trở thành thành viên của cộng đồng Caribbe.
Tháng 3 năm 1979, cơn bão táp đảo chính nổi lên. Nhà lãnh đạo tổ chức "phong trào New Jewel" Maurice Bishop phát động cuộc đảo chính vũ trang, lật đổ chính quyền thân phương Tây của Eric Gairy. Tiếp đó được sự viện trợ kinh tế và quân sự của Liên Xô và Cu Ba, Grenada đã thành lập quân đội cách mạng nhân dân, xây dựng lực lượng dân quân. Cu Ba đã cử lính công binh và công trình sư xây dựng tại mũi Salines của đảo lớn một sân bay quốc tế hiện đại cỡ lớn.


Sau khi lên cầm quyền, Maurice Bishop lúc thì nghiêng hẳn về phía Liên Xô và Cu Ba đồng thời gây ảnh hưởng tới các nước xung quanh, lúc thì lại ôn hoà, cải thiện quan hệ với Mỹ, với ý đồ  cùng lúc quan hệ  chặt chẽ với Liên Xô và Cu Ba, đồng thời phát triển hợp tác kinh tế với phương Tây. Chính sách này khiến các nước xung quanh không hài lòng, lại vừa bị Mỹ phản ứng. Thỉnh thoảng phía Grenada lại gây ra một số vụ việc (như hoạt động khủng bố) khiến nước Mỹ rất khó chịu.

Tổng thống Reagan nhiều lần tuyên bố. "Nước Mỹ  chuẩn bị mọi biện pháp cần thiết để dạy dỗ Genada”.

Ngày 13 tháng 10 năm 1983 tư lệnh quân đội Hudson Austin và người trợ thủ là phó Thủ tướng Bernard Coard cầm đầu cuộc đảo chính, bí mật xử tử Tổng thống Maunice Bishop. Một tuần sau giới quân đội tiếp quản chính quyền, thành lập uỷ ban cách mạng do Hudson Austin đứng đầu đồng thời giảm lỏng tổng đốc Paul Scoon.


Một số nước Caribbe e ngại trước những diến biến tại Grenada, yêu cầu Mỹ can thiệp quân sự vào Grenada. Thực ra, các nhà hoạch định chính sách của Mỹ đã chờ cơ hội này từ lâu. Ngay từ khi Cu Ba cho lính công binh giúp Grenada xây dựng sân bay, Mỹ không ngừng sử dụng vệ tinh trinh sát theo dõi tiến dộ thi công sân bay và các công trình quân sự khác. Gián điệp của CIA, quân đội đã sử dụng nhiều biện pháp thu thập tin tức về địa hình và tình hình chính trị tại đây. Ngay sau khi đảo chính xảy ra, Mỹ bắt đầu nghiên cứu đối sách, từ đó đến khi đề ra kế hoạch cụ thể, ra mệnh lệnh chỉ trong vòng chưa đầy 5 ngày. Ngoài ưu thế lực lượng quân sự áp đảo, nhằm bảo đảm thông tin giữa lực lượng tham chiến và giới quân sự chóp bu, Hội đồng tham mưu trưởng liên quân, các trung tâm chỉ huy tác chiến trên toàn quốc, Mỹ đã sử dụng 10 quả vệ tinh thông tin và trạm thông tin chuyển tiếp tại Puerto Rico.


Trong hầm ngầm tác chiến tại Bộ Quốc phòng nhân viên tham mưu cao cấp Bộ Quốc phòng đang giới thiệu về tình hình quân sự của Grenada cho các quan chức cao cấp nghe: "Tổng quân số của Grenada hơn 1000 người, biên chế thành hai tiểu đoàn bộ binh và một đại đội sơn pháo, một đại đội pháo cao xạ. Quân đội Grenada không có không quân, hải quân, không có xe tăng, chỉ có một số ít xe bọc thép, trang bị chủ yếu là vũ khí hạng nhẹ của Liên Xô, sức chiến đấu khá tồi”. "Grenada tuy địa hình phắc tạp nhưng lại thiếu sự chuẩn bị chiến đấu, phòng thủ mỏng. Lực lượng quân sự chủ yếu tổ chức theo biên chế trong đại đội, đóng quân tại một số khu vực quan trọng. Quân chủ lực được bố trí xung quanh thủ đô St.George's và khu vực bờ biển phía tây nam đảo lớn Grenada. Sở chỉ huy  đặt tại Fredricz gần kề thủ đô". "Grenada có 7 kho vũ khí đạn dược, số vũ khí dự trữ chỉ đủ để trang bị cho vài ngàn người. Ngoài ra Grenada có khoảng 2000 dân quân. Bố trí phân tán ở vùng bờ biển phía bắc". "Để xây dựng sân bay, phía Cu Ba đã cử đến đây một tiểu đoàn công binh khoảng 700 người, bao gồm hơn 100 chuyên gia, cố vấn. Người chỉ huy là thượng tá Thelo. Lực lượng này chủ yếu được bố trí tại sân bay Salines và doanh trại gần đó cùng với một số cứ điểm dọc theo tuyến đường từ sân bay tới thủ đô".


Grenada có hai sân bay. Sân bay Pearl ở phía đông bắc là sân bay dân dụng phục vụ nhu cầu thương mại buôn bán; sân bay quân sự lớn Salines tập trung tại đây. Quân Mỹ chọn hai sân bay này làm điểm đột kích đầu tiên, lấy Salines làm trọng điểm. Những binh sĩ Cu Ba này được huấn luyện chính quy, trang bị pháo cao xạ tầm thấp và các vũ khí hạng nhẹ.


Sau khi nghiên cứu tình hình, trong đầu bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ hiện lên đối tượng được chọn - đó chính là đội đặc nhiệm "Báo biển" của hải quân và lực lượng đặc nhiệm lục quân và không quân. Đây là những lực lượng đặc biệt tinh nhuệ là lưỡi kiếm sắc và quả đấm thép của quân đội Mỹ.


Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ lập tức gọi điện cho trung tướng Metcalv tư lệnh hạm đội 2 hải quân. Theo lệnh của bộ trưởng, trung tướng Metcalv lệnh cho thiếu tá John Gurdin, giáo viên của tiểu đoàn 8 hải quân lục chiến, phải lập tức cùng đội đặc nhiệm "Báo biển" cơ động đến khu vực Caribbe, thực hiện kế hoạch do chính tổng thống ký lệnh mang tên "Nổi giận".
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #106 vào lúc: 23 Tháng Chín, 2013, 09:09:53 am »

CƠN GIẬN CỦA BÁO BIỂN

Sau khi nhận được mệnh lệnh thiếu tá Gurdin cảm thấy khá phấn chấn, giờ đây anh ta đã có thể đi khỏi doanh trại của tiểu đoàn 8 hải quân lục chiến vừa bị bọn khủng bố tập kích khi đang làm nhiệm vụ giữ gìn hoà bình tại Libăng. Khi được biết nơi sẽ đến là Grenada, một đất nước quân đội yếu, vũ khí trang bị kém, anh ta cảm thấy dường như chú Sam hùng mạnh lại đang muốn đi ăn hiếp một thiếu nữ vị thành niên. Trong khi họ được trang bị những loại vũ khí hiện đại, tinh vi, có khả năng phản ứng nhanh và hiệu quả, có khả năng cơ động lực lượng tấn công vào bất cứ mục tiêu nào - trên phạm vi toàn cầu. Vậy mà đối thủ của họ là những ai chứ? Thiếu tá Gurdin thở dài. Một đối thủ được huấn luyện kém, trang bị vũ khí lạc hậu, tình hình chính trị xã hội rối ren, hỗn loạn... Một đội “Báo biển" nổi danh lại đi tấn công một quốc gia nhỏ yếu đến vậy, Gurdin cảm thấy như phải tham dự vào một hành động lén lút vụng trộm nào đó. Dưới danh nghĩa tham dự vào cuộc "diễn tập phối hợp" của lực lượng cảnh sát đa quốc gia vùng Caribe lực lượng "Báo biển” được đưa đến căn cứ tại Bacbados.


Trong chiến dịch này mũi chủ công 1500 quân gồm lực lượng đặc nhiệm "Báo biển" và lực lượng hải quân lục chiến Mỹ đi trên 5 chiến tàu chiến lưỡng thê, trong đó có chiếc tàu tấn công “Quan Đảo" có lượng dãn nước 18300 tấn kèm theo 30 chiếc trực thăng trên tàu.


Lực lượng đổ bộ không quân là 5000 quân của sư đoàn 28 đổ bộ đường không, 700 lính biệt kích của hai tiểu đoàn của trung đoàn biệt động số 75 của lực lượng đặc nhiệm lục quân. Máy bay làm nhiệm vụ yểm trợ phi đội 22 của tàu sân bay "Độc lập". Tổng cộng lực lượng tham gia gồm tàu sân bay "Độc lập", 5 tàu chiến và 15 tàu các loại khác, tổng cộng lượng dãn nước là hơn 120.000 tấn. Nếu ghép những chiếc tàu này với nhau diện tích mặt bằng sẽ tương đương với diện tích thủ đô St.George của Grenada.


Ngày 25 tháng 10, tại Grenada đang là lúc sáng sớm, tất cả vẫn như ngày thường. Đỉnh núi Saint Cathrine đang phơi mình trong ánh nắng ban mai, tất cả như đang chìm vào trong bầu không khí yên bình, tĩnh lặng.


Nhưng chính sự tĩnh lặng đó đang âm ỉ một hiểm hoạ trực bùng nổ. Lực lượng tác chiến Mỹ được chia làm hai thê đội. Thê đội đột kích, ngoài lực lượng của "Báo biển" còn có lực lượng hải quân lục chiến và một số tàu chiến. Nhiệm vụ của lực lượng này là phong tỏa mặt biển, tấn công chiến lĩnh hai sân bay trên đảo lớn, cắt đứt mối liên lạc của đảo Grenada với bên ngoài.


Thê đội hai là một lữ của sư đoàn dù 82, có nhiệm vụ hợp đồng tác chiến trên đảo, đánh chiếm các cứ điểm quan trọng và thủ đô St.George, hoàn thành đánh chiếm kiểm soát toàn bộ đảo.

Lúc 5 giờ sáng ngày 25, 400 lính hải quân lên máy bay trực thăng UI - 74 nhanh chóng xuất phát nhằm hướng đảo "Pearl".

Gurdin luôn ghi nhớ câu nói của tổng thống Eisenhower "Khởi nguồn của thể chất là huấn luyện thể chất, lòng tin, ý chí, phân phối và chỉ huy điêu luyện". Trên nguyên tắc này, Gurdin căn cứ vào phương thức tác chiến đã định, sử dụng các cuộc tấn công chớp nhoáng "phẫu thuật ngoại khoa", thực hiện đổ bộ chớp nhoáng nhằm đạt được ý đồ chiến lược.


Binh lính Grenada bàng hoàng trước cuộc tấn công bất ngờ của quân đội Mỹ, họ không kịp phản ứng thậm chí không xác định được kẻ thù là ai. Lính cảnh giới thì nổ súng lên trời, số lính đang ngủ bị đánh thức thì vội vã tháo chạy.


Gurdin dẫn đầu đám lính họ quét sạch lực lượng phòng ngự và vật cản trên đường dẫn tới đài chỉ huy của sân bay, tiếp đó chiếm lấy địa điểm này. Họ tiếp tục đánh chiếm một cứ điểm tại đường ra của sân bay, bố trí lực lượng tại đó nhằm ngăn chặn quân cứu viện.


Thực ra hành động này của Gurdin là thừa. Trận địa phòng thủ của quân Grenada không có chiều sâu cần thiết, lại không có binh lực cơ động, cơ bản không có khả năng chi viện ứng cứu. Đợi đến khi nhận được ra điều này, quân của Gurdin cũng đã mệt nhoài. Gurdin bực bội nổi nóng: "Mất cả hứng! Kiểu lấy thịt đè người này thật chán ngắt, cứ như là đi tập trận vậy!”.


Cùng với các cuộc không kích vào sân bay "Pearl", lực lượng không quân tăng cường chi viện đường không, hai tiểu đoàn đầu tiên với đầy đủ trang bị đi trên 28 chiếc C - 130 và 6 chiếc C - 5A cất cánh từ một sân bay tập kết tại Baebados, nhằm hướng sân bay Salines đang xây dựng tại mũi tây bắc của đảo Grenada bắt đầu đổ bộ.


Thế nhưng, tại Salines lực lượng lính dù vẫn vấp phải sự chống trả ngoan cường của binh lính người Cu Ba. Những chiến sĩ của chủ nghĩa quốc tế Castro hoàn toàn không phải là đạo quân ô hợp hễ đánh là tan. Bọn họ tuy là lính công binh nhưng khá thiện chiến, không những vậy rõ ràng họ đã được nghiên cứu về chiến thuật của Mỹ, hoả lực mặt đất nhằm bắn mãnh liệt vào máy bay, chiếc C - 130 thực hành, đổ bộ xong, những chiếc khác bắt buộc phải chuyển hướng bay tản ra. Dựa vào hoả lực mãnh liệt của chiếc máy bay C - 130, những chiếc sau tránh khỏi được lưới lửa phòng không, chúng vội vã quay vòng trở lại vị trí đổ bộ trong khoảng không.


Lúc này có một kỳ tích xuất hiện. Chiếc C - 130 sau khi bay một vòng quanh khu vực sân bay, bỗng nhiên nhằm thẳng vào lưới lửa phòng không lao xuống. Lúc đầu người Cu Ba tưởng máy bay đã trúng đạn, họ đang định hoan hô thắng lợi nhưng khi nhìn lại thì những nòng súng dưới bụng máy bay bắn toé lên những chùm hoa cà hoa cải, lửa khói ngùn ngụt.


Người Cu Ba tự hỏi, có lẽ nào người Mỹ lại có thể liều lĩnh như vậy, dám tiến hành những đường bay liều mạng không khác gì tự sát? Cùng lúc này, chiếc C - 130 từ độ cao 2000 mét rất nhanh hạ xuống độ cao 1000, 800, 500, 200 mét...


Đến lúc này lực lượng bảo vệ sân bay dường như mới chợt tỉnh, thì ra quân Mỹ đang thực hiện nhảy dù khẩn cấp. Khi còn xuống đến độ cao 150 mét, lực lượng dù lao xuống. Lúc này họ không phải là đang "nhảy dù” nữa mà là "nhảy lầu”, đây là kỷ lục nhảy dù từ độ cao thấp nhất của quân đội Mỹ kể từ sau chiến tranh thế giới lần hai.


Lính dù đang lơ lửng trên không đã vấp phải làn hoả lực bắn từ dưới lên, không ít cánh dù bị đạn bắn thủng nhưng tất cả không có ai bị thương, toàn bộ tiếp đất an toàn. Lúc này lực lượng hai bên trở nện chênh lệch. Binh lính Cu Ba vội vã rút lui.


Sau khi sân bay "Pearl” bị lực lượng "Báo biển" chiếm lĩnh. Lực lượng tiếp ứng 800 người cũng tiếp đất, chiếm lĩnh những khu vực quan trọng quanh sân bay. Nhằm phối hợp với cánh quân tấn công từ hướng nam, đội "Báo biển" trên tàu từ phía bắc Grenada vòng sang bờ biển phía tây đến vùng biển gần vịnh Grand Mai. Vị trí này chỉ cách thủ đô St.George khoảng 1 km.


Lúc 7 giờ 30, từ trên tàu đổ bộ 250 lính hải quân lục chiến, 5 chiếc xe tăng M - 60, 13 xe bọc thép lội nước và một số xe hậu cần bắt đầu tấn công đổ bộ, rất nhanh họ đã chiếm được trận địa xuất phát xung phong, tiếp đó dốc toàn lực tiến vào phủ tổng đốc cách Salines 1,5 km về phía bắc.

Cùng lúc này, sau khi quay về từ sân bay "Pearl" các lính thuộc "Báo biển" dưới sự chỉ huy của thiếu tá Gurdin nhằm thẳng hướng thủ đô St.George tiến tới.

Sau khi đổ bộ, lực lượng "Báo biển" được chia thành 11 tổ theo hai mũi tiến công. Vào lúc giữa trưa. họ đã đến được cánh rừng ngoại ô thủ đô. Lúc này một sai sót khó tránh đã xảy ra. Khi chuẩn bị tấn công đo khâu chuẩn bị gấp gáp, họ không có bản đồ toạ độ của Grenada. Thẳng tay của Gurdin lúc này chỉ có tấm bản đồ du lịch, đành phải dựa vào đó để xác định phương hướng.


"Đi qua đài phát thanh 1800m, tìm thấy toà nhà tầng ở phía nam. Đúng rồi, chính là toà nhà đó". Trước mặt họ xuất hiện toà nhà màu trắng đục, trên tầng thượng lô xô những dàn ăng ten. "Tấn công!" người đội trưởng ra lệnh.

"Khi thấy đám lính trong sắc phục rằn ri, mặt bôi vẽ loang lổ ào đến, binh lính và dân thường chạy tán loạn. Đội "Báo biển” gần như không gặp bất cứ sự chống trả nào hết và nhanh chóng chiếm được toà nhà. Nhưng sau đó họ đã té ngửa thất vọng - không có dấu hiệu nào cho thấy đây là một đài phát thanh mà chỉ đơn thuần là một khu chung cư. Lính đặc nhiệm lại vội vàng rút ra.


Khi ra tới bên ngoài, họ bất ngờ vấp phải làn hoả lực của một tốp lính bắn tới, hai lính đặc nhiệm dính đạn bị thương nặng. Cũng lúc này, lực lượng Mỹ thực hiện đợt đổ bộ đường không tiếp theo, điều này làm phân tán bớt hoả lực nhằm vào đội “Báo biển". Tranh thủ cơ hội này, lực lượng đặc nhiệm nhanh chóng chiếm lĩnh được đài phát thanh.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #107 vào lúc: 23 Tháng Chín, 2013, 09:11:17 am »

GIẢI THOÁT NGÀI TỔNG ĐỐC

Ngày hôm sau, sứ mạng của lực lượng đặc nhiệm là tiến công vào phủ tổng đốc, giải cứu cho Cựu tổng đốc Paul Seoon đang bị giam lỏng tại đây, đưa ông ta ra tàu "Quan Đảo”.

Có 50 chiến binh được Gurdin chọn ra từ lực lượng "Báo biển". Năm mươi chiến sĩ này đều có thể lực sung mãn, tài trí hơn người, mỗi người đều có những sở trường riêng, có người chuyên về thông tin, có người thành thạo cứu người bị thương trên người chiến trường, có người thành thạo cài đặt chất nổ. Lúc này họ đang lặng lẽ men theo bờ biển tiến về hướng St.George.


Phủ tổng đốc do khoảng 100 lính canh giữ. Toà nhà chính được xây dựng theo phong cách cổ điển Châu Âu xung quanh là các hàng cây cao và xanh tốt.

Sau khi bí mật quan sát địa hình, Gurdin nhận thấy địa điểm tấn công lý tưởng sẽ là phía sân sau. Khu vực này có tường cào bao bọc, canh phòng ở đây khá lơi lỏng, cách địa điểm này căn phòng giam lỏng Paul Scoon khá gần. Trong sân còn có một thảm cỏ được xén tỉa công phu, đây sẽ là bãi đáp trực thăng, từ đây ngài tổng đốc sẽ được đưa đến địa điểm mới.


Kế hoạch giải cứu được chia làm hai bước, bước một là tấn công lực lượng lính gác, thu hút hoả lực. Nhóm thứ hai sẽ thực hiện bước hai, tranh thủ phá vỡ bức tường bao, mở đường tiến thẳng vào nơi giam giữ Paul Scoon.

Sau khi nhóm thứ hai vào vị trí, Gurdin phát lệnh "Tấn công".

Trong nháy mắt, hoả lực rocket súng máy, súng  tiểu liên M16A-2 đồng loạt phát hoả.

Sau trận bão lửa ào ạt, mục tiêu phía trước trở nên im lặng, một sự yên lặng đáng ngờ. Lính đặc nhiệm nhìn nhau. Gurdin xông lên trước trong bụng thầm tiếc rẻ: Tốn bao nhiêu đạn để cuối cùng là một trận địa lèo không! Đúng lúc anh đang định văng bậy vài câu thì từ hai dãy nhà bên vang lên những tiếng súng liên tiếp, mấy chiến sĩ bên cạnh anh ta ngã gục.


Gurdin tức điên lên, thì ra là vậy, chúng lại núp trong bóng tối bắn ra! Gurdin vội vã dàn trận ứng chiến, tiếp đó là dẫn nhóm thứ hai vòng ra phía tường bao để đặt bộc phá.

“Ầm…!” khối bộc phá phát nổ, gạch đá bắn ra tứ tung. Quan màn khói dày đặc chỉ thấy bức tường đã bị phá thủng một mảng lớn, đây chính là điều họ cần.

Căn cứ vào thông tin tình báo được cung cấp, Gurdin xác định rất nhanh chóng nơi tổng đốc bị giam lỏng. Trước căn phòng này chỉ có một lính gác. Gurdin nhanh chóng hạ gục tên lính gác, trong phòng im lặng như tờ. Gurdin đạp cửa xông vào, một ông già tóc hoa râm từ từ giơ cao hai cánh tay. Vài người phụ nữ có vẻ là người hầu thì kêu la khiếp đảm. "Đừng sợ, chúng tôi là lính Mỹ đến để giải thoát cho ngài". Mấy người lính xông vào phòng. Viên tổng đốc thấy vây quanh là nhóm người nói tiếng Anh thì hiểu ra rằng họ là những người Mỹ. Ông ta có vẻ rất xúc động, dòng nước mắt chan chứa chảy ra từ cặp mắt già nua, ông ta xúc động ôm chầm lấy những người lính. Người nhà của ông ta vội vã lấy sâm banh từ trong tủ rượu, định mời số lính đặc nhiệm cạn chén chúc mừng chiến thắng.


"Không kịp nữa rồi, khẩn trương lên máy bay!”. Vừa giục giã họ vừa kéo đám người nọ chạy ra máy bay. Trước khi rút, họ cho cài nốt phần thuốc nổ còn lại để đánh sập toà nhà nhằm chặn đường truy kích của lực lượng bảo vệ.

Tất cả diễn ra theo đúng kế hoạch. Khi họ chạy đến bãi cỏ, cánh quạt của thiếc UH - 1 vẫn đang quay sẵn sàng đưa họ cất cánh.

Viên tổng đốc và số lính bị thương lên máy bay, trong tiếng động cơ vang dội, họ rời khỏi khu phủ tổng đốc bay về phía biển nơi chiếc "Quan Đảo" đang trực sẵn.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #108 vào lúc: 23 Tháng Chín, 2013, 09:11:49 am »

TRUY BẮT TỘI PHẠM CHÍNH

Sau khi giải cứu vị tổng đốc, nhiệm vụ tiếp theo là truy lùng cựu phó Thủ tướng Bernard Coard, Chủ tịch ủy ban Quân sự Cách mạng Hudson Austin và hơn mười thành viên chủ chốt khác. Đối với "Báo biển" đây chỉ là "chuyện nhỏ", lúc này toàn bộ khu vực biển xung quanh đảo đã bị phong toả, sân bay đã bị kiểm soát, dù mọc cánh những người nọ cũng không thể chạy thoát.


Dưới sự chỉ đạo của Gurdin, lực lượng đặc nhiệm chia nhỏ, bắt đầu kiểm tra lục soát số tù binh bắt được, chưa đầy nửa ngày sau, Hudson Austin Chủ tịch ủy ban Quân sự Cách mạng và một phần các thành viên của ủy ban đã sa lưới. Tại một cứ điểm khác, lực lượng Mỹ lại bắt được Bernard Coard, người ủng hộ thao túng cuộc đảo chính.


Sau khi kiểm soát được tình hình Grenada, tổng đốc Paul Scoon do nữ hoàng Anh bổ nhiệm lại tiếp tục tổ chức lại chính phủ lâm thời. Chiến dịch của Mỹ tại Grenada kết thúc thuận lợi. Theo những thông tin mà Gurdin nắm được, trong cuộc chiến ngắn ngủi này, phía Mỹ có 18 người chết, 91 người bị thương, 10 trực thăng bị hạ, tổng chi phí là 130.000.000 USD. Phía Cu Ba có 69 người chết, 56 người bị thương, 642 người bị bắt làm tù binh. Phía Grenada có 40 lính thiệt mạng, 15 người bị bắt.
Trận chiến này tuy Gurdin không cảm thấy thoả mãn, nhưng về mặt chiến thuật, anh ta đánh giá rằng vai trò của người vạch kế hoạch và người chỉ huy thể hiện khá xuất sắc.


Một là, khi chuẩn bị khai chiến, phía Mỹ dựa vào ưu thế quân sự tuyệt đối khống chế toàn bộ vùng biển và vùng trời, thiết lập xung quanh Grenada một vùng kiểm soát, phong tỏa rộng 50 hải lý, Grenada bị cô lập hoàn toàn không thể nhận được bất kỳ sự trợ giúp nào từ bên ngoài.


Hai là, chiếm lĩnh mục tiêu đầu tiên là hai sân bay tại phía bắc và nam đảo, lấy đó làm bàn đạp tấn công, làm bãi đạp cho không phận, nhanh chóng hình thành ưu thế về binh lực, liên tục tấn công khiến kẻ địch không có thời gian nghỉ ngơi, củng cố lực lượng. Điều này một lần nữa chứng minh cho luận điểm trong chiến tranh tiến công và phòng thủ ngày nay, chiếm giữ, khống chế các sân bay mang ý nghĩa quan trọng.


Ba là, máy bay trực thăng đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động tác chiến đột kích, trong chiến dịch này hơn 90% lực lượng đổ bộ bằng phương pháp nhảy dù và không vận. Xuất phát từ yếu tố địa hình núi non của Grenada, quân đội Grenada có thể; dựa vào địa hình có lợi ngăn chặn các đợt tấn công của quân đội Mỹ, trong tình huống này trực thăng là loại phương tiện nhằm rút ngắn quá trình tác chiến. Việc. sử dụng lực lượng "Báo biển" vào khâu mấu chốt là rất hợp lý, trong chiến đấu lực lượng này là một lưỡi gươm sắc bén, tính đến thời điểm đó, chưa có ai bị thương vong.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #109 vào lúc: 23 Tháng Chín, 2013, 09:13:53 am »

16. LỰC LƯỢNG ĐẶC NHIỆM COLOMBIA

Phong trào "19 tháng 4" là tổ chức vũ trang chống chính phủ lớn nhất Colombia, đây là một trong những nguyên nhân gây ra mất ổn định tại quốc gia tươi đẹp này. Ngày 14 tháng 3 năm 1986, lực lượng đặc nhiệm đã mở cuộc tấn công chớp nhoáng vào một căn hộ chung cư tại thủ đô Bogota, bắn chết một trong những người sáng lập đồng thời là thủ lĩnh quân sự của tổ chức này: Fayad hoàn thành kế hoạch "kế hoạch chiến dịch đòi nợ", tạo cơ sở cho việc thanh toán triệt để tổ chức khủng bố này.


NỢ MÁU
Colombia là quốc gia có lịch sử lâu đời. phía tây giáp với Đại Tây Dương, phía bắc giáp biển Caribbe, có vai trò quan trọng đối với bảo vệ kênh đào Panama.

Từ những năm 30 của thế kỷ 16, Colombia đã trở thành thuộc địa của thực dân Tây Ban Nha, cho đến nay tiếng Tây Ban Nha vẫn là ngôn ngữ làm việc tại Colombia. Trong lịch sử người Colombia đã không ngừng đấu tranh bất khuất đòi độc lập cho tổ quốc. Đến năm 1819, quân khởi nghĩa của nhà giải phóng Nam Mỹ Simon Bolivar mới giành lại được độc lập cho Colombia, sau đó Nước Cộng hoà đại Colombia bao gồm Ecuador, Venezzuela và Panama được thành lập.


Năm 1886 Eeuador và Venezzuela lần lượt rút ra khỏi nước cộng hoà, nước cộng hoà đại Colombia được đổi tên thành nước Cộng hoà Colombia. Năm 1903, người Mỹ muốn khai phá kênh đào nên đã kích động tỉnh Panama đòi độc lập, Nước Cộng hoà Panama được thành lập. Sau đó Đảng bảo thủ và Đảng tự do thay nhau lên nắm quyền tại Colombia, sự tranh giành giữa hai Đảng này đã nhiều lần dẫn đến đổ máu. Bắt đầu từ năm 1958, Đảng Tự do và Đảng Bảo thủ xây dựng nên Mặt trận toàn quốc, thay nhau chọn ra ứng cử viên tổng thống tham gia bầu cử. Năm 1970, người của Đảng Bảo thủ gian lận phiếu bầu trong cuộc bầu cử tổng thững, ứng cử viên tổng thống của Đảng này với ưu thế hơn 4 vạn phiếu bầu đã chiến thắng ứng cử viên nặng ký Gustavo Rojas Pinilla của Liên minh công chúng toàn quốc, trở thành tổng thống Colombia. Điều này gây nên sự bất bình của Liên minh công chúng. Quốc hội sau đó không ủng hộ khiếu nại của Liên minh công chúng, Anh và Mỹ và các nước phương Tây lại thừa nhận chính phủ của Đảng Bảo thủ, Misael Pastrana Borrero do vậy đã trở thành tổng thống hợp pháp của Colombia. Ngày 19 tháng 4 năm đó, nhà lãnh đạo của Liên minh công chúng Pinilla và bác sĩ Carlos Toredo và một số người khác đã thành lập nên phong trào du kích khét tiếng "19 tháng 4" (M- 19) đi theo con đường sử dụng vũ lực để chống lại Đảng Bảo thủ cầm quyền, giữa tổ chức này và chính phủ sau đó đã liên tiếp diễn ra các vụ xung đột vũ trang. Đặc biệt là phải kể đến vụ xảy ra ngày 6 tháng 11 năm 1985, lực lượng gồm 35 người của phong trào “19 tháng 4", giữa thanh thiên bạch nhật đã tấn công và chiếm lĩnh toà nhà Quốc hội và nghị viện Colombia nằm tại quảng trường trung tâm thủ đô Bogota, địa điểm này chỉ cách phủ tổng thống gần 200m. Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao và 230 quan chức chủ chốt của ngành toà án và quốc hội bị bắt làm con tin, một khối lượng lớn các tài liệu hồ sơ pháp luật bị thiêu huỷ. Chính phủ Colombia quyết định áp dụng biện pháp cứng rắn, sử dụng xe tăng, xe thiết giáp và lực lượng đặc nhiệm tấn công trấn áp. Sau 26 tiếng đọ súng, toàn bộ 35 tên khủng bố bị hạ, 110 con tin bao gồm Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao bị giết.


Nhà lý luận, một trong những nhà sáng lập đồng thời là thủ lĩnh quân sự của phong trào này là Alvaro Fayad là người vạch kế hoạch và tổ chức các hoạt động khủng bố. Ông ta liều lĩnh, ngang tàng, giàu kinh nghiệm chiến đấu, có khả năng tổ chức lãnh đạo nhất định. Ông ta là người điều khiển mọi hoạt động khủng bố của tổ chức này, dựa vào địa hình có lợi và các loại vũ khí tiên tiến của nước ngoài để chống chọi với quân chính phủ. Cơ quan tình báo Colombia sau khi xác định được chủ mưu của vụ khủng bố này là Fayad, lập tức xây dựng kế hoạch truy lùng Fayad mang tên "kế hoạch chiến dịch đòi nợ", quyết tâm bằng mọi giá bắt kẻ khủng bố phải trả nợ máu.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM