Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 09:16:32 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lính vệ binh  (Đọc 79865 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Trinhsat
Thành viên
*
Bài viết: 397


« Trả lời #90 vào lúc: 18 Tháng Giêng, 2013, 09:46:03 am »

...Chợt nhớ, vào khoảng năm 77 một hôm đi học về qua chỗ khu ga Trần Quý Cáp thấy công an và phòng thuế đuổi bắt dân “phe” thuốc lá chợt trông thấy một ông bạn cùng đơn vị, mặc bộ quần áo lính cũ tả tơi bưng mẹt thuốc chạy trối chết. Thấy thương một kiếp lính...Lúc xung trận sao mà hiên ngang, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, mà sao khi trở về đời thường lại khốn khổ đến vậy?

Chào bác lính 71.

Đọc chuyện trên của bác, thấy đúng là cảnh đời lính nhiều khi cũng trớ trêu.
xin minh họa cùng bác một đoạn này, cũng về một người lính thương binh bươn trải kiếm sống sau chiến tranh:

     " ...Từ  ngày ra quân, Hà cũng làm đủ thứ việc để sống, phụ thêm vào số tiền trợ cấp thương binh bậc 2 ít ỏi hàng tháng. Một trong những việc đó là thỉnh thong nó ngược lên Thái Nguyên buôn về mỗi chuyến một hai cân chè  hoặc vaì cân măng.
      Cách đây ít ngày, Hà lên Thái Nguyên và khi về, nó mang trong chiếc ba lô 2kg chè móc câu. Hơi nhiều hơn mọi khi, và có lẽ đó là điều không may. Khi chiếc xe ca Ba Đình tậm tạch chạy về đến cầu Phủ Lỗ thì trời đã cuối chiều. Xe vừa qua cầu thì có ba người của phòng thuế xuất hiện bên đường. Hai nam và một nữ. Họ ra hiệu cho xe dừng lại, rồi một người nam trèo lên xe. Anh ta đưa mắt nhìn một lượt từ đầu đến cuối xe rồi lớn giọng:
      - Ai có hàng hoá buôn bán gì khai mau và đem ra cho cơ quan thuế kiểm tra.
      Chừng như đã quen với cảnh này nên từ bác tài xế đến mọi hành khách chẳng ai có phản ứng gì trước cái lối nói xóc óc đầy quyền uy của nhà chức trách. Bác tài còn đế thêm:
      - Thôi, bà con ai có hàng buôn gì thì báo luôn cho nhanh để xe còn kịp về Hà Nội sớm.
      Mọi người nhìn nhau, rồi có hai người đứng lên đi ra ngoài cửa xe. Tự giác cho nhanh chứ giá có giấu cũng chẳng ăn thua gì. Người thứ nhất là một  bà đi buôn măng chừng ngoài năm mươi tuổi. Hàng hoá đến gần chục cân măng. Lập tức đôi thúng và quang gánh của bà ta bị lôi xuống đất. Bà  ta vừa  nhăn nhó, trình bày, van xin với anh phòng thuế đứng dưới đất, vừa chậm rãi dềnh dàng mở cái túi vải đựng măng. Còn người có hàng hoá thứ hai là thằng Hà "thái giám". Nó vừa ôm khư khư cái ba lô dựng hai cân chè trước bụng, vừa cười mếu với anh phòng thuế thứ hai đứng ở cửa xe:
      - Dạ thưa anh, em là thương binh, chỉ có ít chè đem về xuôi biếu người nhà thôi ạ.
      - Biếu với biếc cái gì? Cả một ba lô chè to tướng thế này, không đi buôn thì là gì? Xuống xe ngay.- Người phòng thuế quát to rồi tóm được một bên quai ba lô của Hà kéo mạnh và nhảy xuỗng đất, rồi ra lệnh:
      - Mở ngay ra cho kiểm tra.
      Thằng Hà vẫn giữ chặt miệng ba lô, cố gắng nài nỉ:
      - Thưa anh, đúng là em đem làm quà thật mà.
      - Giở ra, không có xin xỏ gì cả. Đi buôn lậu định trốn thuế hả.
      Lời qua tiếng lại, hai bên giằng co một hồi. Cả  bác tài và hành khách có vẻ sốt ruột. Hà đành nói thật với người phòng thuế, mong cho xong chuyện:
      - Anh ơi, anh làmơn làm phúc tha cho  em. Em có buôn thật, nhưng chỉ có hai cân chè. Anh thông cảm cho em là thương binh, chưa tìm được việc làm gì.
      - À, mày lại còn định giả vờ là thương binh doạ tao à. Định chống lại nhà nước hả?- Người phòng thuế không những không nương tay cho Hà, mà còn lớn giọng, đoạn anh ta bất ngờ giật mạnh chiếc ba lô trên tay Hà.
      Chiếc ba lô bị văng mạnh xuống bãi cỏ, bật nắp, rách giấy báo làm chè văng ra tung toé. Nhìn những búp chè văng ra đất, Hà xót ruột, mắt hoa lên. Rồi bỗng nhiên mặt nó nóng bừng, không bình tĩnh được nữa. Nó đứng thẳng người lên nhìn vào mấy người phòng thuế, thét to:
      - Chúng mày mở to mắt mà nhìn đây này. Bố  mày đã từng đi chiến đấu. Bố mày đã hiến dâng cả bộ c... của bố mày cho Tổ quốc, mà bây giờ có hai cân chè cũng bị cướp à.
      Vừa hét, Hà vừa đưa tay cởi nhanh thắt lưng, tụt cả cái quần vứt xuống đất. Tình huống bất ngờ. Tất cả mọi người kể cả hành khách trên xe lẫn mấy người phòng thuế đều ngẩn người ra khi nhìn thâý người thanh niên mặc áo lính cóm róm lúc nãy, bây giờ đứng hiên ngang bên vệ đường nhưng tồng ngồng và ấn tượng hơn là ở ngay giữa chỗ kín của anh ta không có gì cả, ngoài một mảng đen nham nhở. Chưa ai kịp hiểu ra điều gì thì Hà đã cúi xuống rút ngay chiếc đòn gánh của bà buôn măng huơ lên trời theo hình vòng cung rồi nện một đòn trúng lưng một người phòng thuế. Đoạn nó giật lại rồi trở đầu đòn gánh kia lia một nhát vào ngay cẳng chân người phòng thuế thứ hai đúng lúc anh này co cẳng chực chạy. Còn người đàn bà phòng thuế thì tuy không bị phang gậy nào, song cũng ngã dúi ngã dụi xuống bãi cỏ vì quá luống cuống và sợ hãi.
      Cảnh tượng diễn ra thật bi hài.
       Sau mấy đường gậy tung hoành  như Lục Vân Tiên đánh cướp, bây giờ Hà đứng đó trên bãi cỏ, hiên ngang trong ánh nắng chiều xiên xiên. Còn hai người phòng thuế thì đang lạy như tế sao, van vỉ anh anh em em xin Hà nương tay. Người thương binh đang tồng ngồng trước mặt họ không chút ngượng ngập và chẳng còn gì để mất, chắc dám đổi mạng lắm.
    Hà vẫn còn tức, nó gào to trong hơi thở hổn hển như phân giải:
      - Bố mày không công thần, đã chẳng thèm đi trộm cướp, chỉ mong kiếm sống tử tế qua ngày, nay có hai cân chè, đã phải van nài chúng mày mà chúng mày còn không tha thì bố mày quyết tử cho chúng mày biết.
      - Dạ chúng em xin anh, anh tha cho tụi em. - Hai người phòng thuế vẫn rối rít lạy xin.
      Lúc này mọi người trên xe mới ùa cả xuống. Một số người đến khuyên giải Hà và giúp nó mặc lại chiếc quần. Còn số đông thì xúm lại nhặt số búp chè rơi trên đất cỏ giúp Hà. Bà con còn cẩn thận gói số chè bị dính chút đất để riêng. Bác tài cũng vui vẻ chờ bà con thu xếp và đưa Hà lên xe. Ba người phòng thuế nhân lúc mọi người xúm lại giúp Hà cũng nhanh chân rút gọn. Bà buôn măng cũng được hưởng lây, không mất đồng thuế nào, bày tỏ lòng cám ơn Hà rối rít. Chiếc xe ca lại chuyển bánh, kịp về Hà nội trước lúc trời tối.
      - Đấy là nguồn gốc ấm chè mời cậu đấy. Tớ đã đãi sạch lại số chè dính đất, được mấy ấm để uống. - Hà kết thúc câu chuyện.
      Tôi xoay chén trà nóng trên tay, ngắm nhìn làn hơi nóng đang lung linh trên mặt nước chè. Nhấp ngụm chè vào miệng, tôi thấy bên trong hương chè thơm chát  như có lẫn chút vị hăng của cỏ, và có một vị gì đấy như là mồ hôi,  không phải của đàn ông, cũng chẳng phải đàn bà. Tôi nghĩ đó là vị chè “thái giám”."


http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php/topic,3008.0.html

Logged
huonghn76
Thành viên
*
Bài viết: 1166


WWW
« Trả lời #91 vào lúc: 18 Tháng Giêng, 2013, 10:26:01 am »

                     
                 Chào bác linh Trinh sát và các bác
             Đọc song câu chuyện của bác ,hớp một nước chè mà tôi cảm thấy nó đắng chát ,chẳng còn vị thơm ,ngọc của trà như lúc trước .Không phải tôi liên tưởng đến cái chè thái giám kia .Nhưng tôi thấy như hiện lên cái cảnh bác Hà với hai cân chè đi buôn để kiến sống của một người thương binh ,bị người mang danh là phòng thuế kia áp bức ,và cách hành sử thì rất thô thiển .Cho nên dẫn đến cảnh tức nước vỡ bờ ,vừa đau sót ,vừa bi hài...
                   Ở một đất nước mà một thời khốn khó với bao những con người khốn khổ. Cái lúc mà một nhóm người có một tý quyền hành nhỏ nhoi ,nhưng lại có uy quyền của một ông vua hôn quân bạo chủa ,thì dân ,nhất là người lính mang thương tật như bác Hà lại càng khổ .Chỉ có những giây phút do bức xúc biến thành những hành động phản kháng mạnh mẽ ,chúng ta mới thâý được hả hê .
                 Người dân lúc đó có cái câu "Công an ,phòng thuế ,kiểm lâm .... " Tôi không tiện viết lại
                    Chúng ta so sánh cái thời ấy với tác phẩm :"Những người khốn khổ " của Vích to Huy Gô ,thì nào có kém gì . Hình ảnh bác Hà một Tờ rát BunBa của Gô Gôn.
Logged
linh71
Thành viên
*
Bài viết: 115


« Trả lời #92 vào lúc: 18 Tháng Giêng, 2013, 06:01:04 pm »

Chào bác trinhsat.Cám ơn bác đã ghé thăm và chia sẻ cùng tôi. Theo link của bác, tôi đã đọc trọn vẹn 3 truyện ngắn của Vũ Công Chiến(hay là của bác?) Ấm chè “Thái giám”,Thương nhớ miền Trung và Hoa sim và cỏ may.
Vâng, đất nước ta những ngày sau chiến tranh sao mà khổ đến vậy. Mùa màng thất bát. Người nông dân làm lụng cầm chừng trong tiếng kẻng làm đồng của HTX. Rồi tình trạng ngăn sông cấm chợ những năm bao cấp...Hình ảnh người thương binh Hà cầm cây đòn gánh với lời thét đầy uất ức với ba lô chè vãi tung tóe trên đất thực sự là một nỗi đau không đáng có đối với người lính sau chiến tranh. Tôi lại nghĩ đến biết bao đồng đội mình trở về từ cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc, từ Campuchia...phải chịu nhiều thiệt thòi nhiều lúc đến phũ phàng...
Đọc Thương nhớ miền Trung, lúc đầu còn tôi còn cười được. Sau thì nước mắt cứ tràn ra...Tôi cũng đã trải qua cảnh đồng đội cùng mũi tấn công hy sinh hết, nằm ngay cạnh mình. Chỉ còn trơ trọi mình trước mũi súng quân thù...Thương anh Phóng, thương o Huệ...Thương biết bao mối tình bị cắt ngang bởi đạn thù
Thương anh Phóng, o Huệ bao nhiêu lại mừng cho đồng đội Hoàng và người vợ thân yêu bấy nhiêu. Mừng cho Hoàng được trở về với màu tím hoa sim-màu tím thủy chung mà không phải là màu tím cách trở âm dương ...Đọc Hoa sim và cỏ may, tôi chợt nhớ lại, trước khi đi bộ đội, tôi có đọc trên một số báo QĐND có đăng một truyện ngắn của nhà văn Xô viết Alecsei Tolstoi nhan đề “Bản tính Nga”. Chuyện kể về mối tình của một đại úy xe tăng Hồng quân với cô giáo làng, cốt truyện cũng từa tựa như truyện Hoa sim và cỏ may vậy.Truyện quá hay, tôi đã cắt bài báo mang theo mình vào chiến trường. Các đồng đội tôi chuyền tay nhau đọc đến nát bươm..Và ai cũng ước ao mình có được một người yêu như vậy...Có lẽ, đấy cũng là một nguồn động lực giúp cho người lính đủ dũng khí để sống, để chiến đấu và trở về.
Cám ơn bác một lần nữa. Và cảm ơn trang VMH đã đưa chúng ta lại gần nhau.
Logged
xuanv338
Thành viên
*
Bài viết: 1573


muốn xoa bài viét thừ


« Trả lời #93 vào lúc: 18 Tháng Giêng, 2013, 07:41:18 pm »

    CB chào anh lính71. chào các bác. CB rất mừng anh lính71 có một gia đình hạnh phúc. cũng rất vui là anh đã lên chức ông Nội. Thế mà CB đọc chuyện lẩm cẩm cứ tửng là ông anh duyên tình trắc trở cơ đấy. Thế là nó chỉ trắc trở lúc ban đầu thôi. Đó cũng là do chiến tranh thôi mà. Em đọc truyện của ngắn của Vũ Công Chiến hay của bác trinh sát cũng chẳng biết nữa. Nói đến chè Thái Giám sao mà muốn khóc anh nhỉ. Thương anh Hà quá. Em là con gái mà nhiều lúc nghĩ đến những chuyện như vậy còn muốn khùng lên như một thương binh bị vết thương sọ não vậy. Chuyện anh linh71 hay lắm viết cứ đều đều như giọng văn con gái vậy. Tình cảm, nhẹ nhàng. Mà sao anh không p lên trang một tấm hình cho mọi người được chiêm ngưỡng vậy. CB chúc anh mạnh khoẻ năng ở nhà đón khách ! viết nhiều bài hay.
« Sửa lần cuối: 18 Tháng Giêng, 2013, 08:45:36 pm gửi bởi xuanv338 » Logged
linh71
Thành viên
*
Bài viết: 115


« Trả lời #94 vào lúc: 22 Tháng Giêng, 2013, 05:21:52 pm »

Nhớ về các đồng đội tôi

        Trời Hà Nội cuối năm lúc rét lúc ấm. Đầu óc mình lúc nhớ lúc quên...Chợt nhớ lại một vài hình ảnh đồng đội mà từ khi ra quân đến nay không gặp lại...
        1-Chiến “ngố”
        Bây giờ, cũng chẳng nhớ Chiến họ gì nữa. Lâu quá rồi. 40 năm rồi còn gì.Chiến là lính Hà Bắc bổ sung cho đơn vị năm 73. Chiến quê Sơn Động, Lục Ngạn gì đấy của tỉnh Hà Bắc.Người cao to, đen đúa. Có cái đầu cắt cua gần như trọc nhằng nhịt sẹo chốc đầu, cùng với vẻ mặt bặm trợn gần giống chú Chí của cụ Nam Cao. Lúc đầu, do vóc người lực lưỡng nên Chiến được phân về A hỏa lực của đại đội. Nhưng huấn luyện mãi mà không “vào” nên đại đội chuyển chú ta về A tôi. Và biệt danh “Chiến ngố” ra đời từ đấy. Chiến rất ít nói, tính rất cục tuy không gây gổ gì với ai. Hỏi han mãi, mà cũng phải nhờ giáo Kính cùng đồng hương Hà Bắc gặng giúp, mới biết được Chiến là con lớn của một gia đình nông dân nghèo vùng cao của Hà Bắc. Làng quê của Chiến, ngoài người Kinh còn có cả đồng bào dân tộc Cao Lan cùng chung sống.
        Không biết đứa nào ở A hỏa lực đặt cho Chiến cái biệt danh “Chiến ngố”. Nhưng quả thực huấn luyện cậu ta khó vô cùng. Tập bắn súng thì hai mắt mở trừng trừng. Bảo nheo mắt lại thì nheo mãi không được. Nói nhiều thì cáu lên vứt súng sang một bên rồi văng “ông đ...tập nữa”. Động viên, dỗ dành mãi rồi nó cũng bắn được. Được cái, Chiến rất khỏe. Ngày chủ nhật lính đi kiếm củi cho bếp C, tôi lại dỗ “Chiến chặt cho anh suất củi. Anh đi Đông Hà mua thuốc lá cho em nhé”. OK! Thế là mình tếch ra Đông Hà lượn ngắm mấy cô mậu dịch viên miền Bắc, vào quán uống cà phê nghe cô chủ quán hát “ Hai mùa mưa”. Khi về không quên mua cho chú em bao thuốc Tam Đảo...
        Chiến làm khỏe. Ăn rất khỏe.Làm khỏe thì tốt rồi. Còn ăn khỏe thì là tai họa cho tiểu đội rồi.Cuối năm 73 cho đến gần giữa năm 74, tuy đã tạm ngừng đánh nhau nhưng  lính đói lắm. Cả nước cùng đói. Mỗi bữa cả A có lưng rá cơm mà ông em cứ hồn nhiên làm hai ba bát B52...Anh em lúc đầu còn nói nhẹ. Sau có cậu không nhịn được. Phải làm công tác tư tưởng cho mọi người và cho riêng Chiến mới ổn.
        Lính hay nhận được thư nhà. Và cũng hay viết thư về nhà. Cả đại đội ai cũng nhận được nhiều thư. Chỉ có Chiến là không có thư. Mỗi lần đại đội nhận thư, Chiến lại đỏ hoe mắt bỏ lên đồi sim sau doanh trại. Mãi sau Chiến mới nhận được một lá thư của cô em gái gửi vào.Thấy cu cậu nhận được thư vẻ mặt mừng rỡ nhưng lại buồn rất nhanh. Lại lủi thủi bỏ lên đồi. Tôi lẳng lặng theo sau. Thấy Chiến đang ngồi khóc. Tôi hỏi làm sao. Mãi sau Chiến mới nói em không biết chữ. Anh đọc thư giúp em. Cầm phong thư với nét chữ nguệch ngoạc nhòe nước mắt, mãi tôi mới đọc được cho Chiến nghe. Cho đến lúc ấy, tôi không nghĩ rằng lại có một người lính không biết đọc biết viết. Những ấn tượng ban đầu về Chiến của tôi tuột sạch khỏi tâm thức. Tôi về bàn với giáo Kính. Tôi ra Đông Hà, mua một tập giấy năm hào hai và mấy cây bút chì. Một cuộc đánh vật giữa Chiến với giáo Kính và tôi bắt đầu- đánh vật với những con chữ.Cũng nhiều lúc bẻ bút “ông đ...học nữa. Đau đầu lắm”. Lại dỗ dành. Cũng có lúc nóng lên quát “ngu bỏ mẹ đi ấy” rồi phải ấn cho nó điếu thuốc.Vật vã mãi rồi sắt cũng mài nên dùi. Bài thi tốt nghiệp là bức thư Chiến tự tay viết về cho thầy mẹ và các em dưới sự giám sát của hai ông thầy.Học trò bây giờ mà thấy bức thư ấy thì chết khiếp vì nét chữ và giấy thủng lỗ chỗ vì tác giả tay cứng quá. Còn chúng tôi thì mừng chảy nước mắt.
        Từ ngày biết đọc biết viết, Chiến hoạt bát hẳn lên. Cũng biết nói đùa ra phết. Có lúc tôi trêu “sau này về tao làm em rể mày nhé.”nó lại cười “em cũng muốn làm em rể anh”.
       Tháng 3-1975, E95 vào Tây nguyên đánh thị xã Buôn Mê Thuột. Mấy chú lính 73, 74 cứ hỏi “ đánh nhau thế nào hả anh?”. Tôi bảo các em cứ theo anh.Nói vậy thôi chứ đánh trận thì tôi cũng mù tịt như chúng. Chỉ hơn chúng chút kinh nghiệm năm 72 thôi.Sáng ngày 10-3-1975, C7 và C5 của K5 thọc vào Ngã Sáu. Tiểu đội tôi bám dọc theo bờ tường bao nhà thờ. Súng ta, súng địch nổ ran. Mấy chú lính 73, 74 cụm lại sau tôi.Thế là vừa bắn, vừa chỉ vị trí và mục tiêu cho chúng nó bắn.Thế mà chúng bắn tốt phết. Chiến ngố có điệu bắn nhịp ba tằng tằng tằng rất hay.
        Sau vài chục phút giao tranh, ta đã hoàn toàn làm chủ khu vực Ngã Sáu-nhà thờ và đang phát triển rộng ra xung quanh. Đúng lúc đó pháo ta bắn dồn dập vào khu vực Ngã Sáu. Lính ta tản ra tránh pháo. Đạn pháo rơi chụm vào khu vực Ngã Sáu. Mảnh bay vèo vèo. Tôi vội dẫn lính chạy lộn lại cổng nhà thờ. Cổng nhà thờ khóa bằng một vòng xích. Tôi rút quả thủ pháo kẹp vào vòng xích rồi giật nổ. Mở cổng, dẫn lính chạy ào vào. Cả ông thiếu úy Nghĩa trợ lý pháo binh trên E đi đốc chiến mặt xanh lè cũng chạy vào theo. Trong nhà thờ đông nghẹt dân lánh nạn. Một ông cha cố đứng giữa sân lầm rầm cầu kinh. Tôi lao ra kéo vội ông ta vào trong nhà thờ. Lại nghe súng nhỏ của địch nổ lẹt rẹt đâu đó. Tôi quát Chiến ra sân cảnh giới cho anh, còn mình xách súng chạy vòng sau nhà thờ. Quay lại, thấy ông em đứng như trời trồng đúng chỗ ông cha cố lúc nãy. Vừa tức, vừa buồn cười chạy ra lôi nó vào. Mắng pháo nó bắn chết bỏ mẹ bây giờ. Nó lầu bầu: bảo người ta đứng thì người ta phải đứng chứ. Cũng sợ bỏ mẹ đi ấy...Trời đất ạ, đúng là Chiến ngố thật rồi.
       Xong ở Tây nguyên, tháng Tư chúng tôi xuống đánh tiếp ở Long Khánh. Chiến đã chững chạc hẳn lên. Ngày 17-4-1975, tôi bị thương ra viện 814. Sau 30-4 trở về đơn vị không gặp Chiến. Hỏi ra, biết Chiến bị thương sau tôi. Chắc là nặng. Vì cho đến tận khi tôi ra Bắc cuối tháng 7 Chiến vẫn chưa trở về đơn vị.
Cho đến bây giờ, hình ảnh của Chiến đọng lại trong tôi là thằng Chiến ngố đứng sừng sững trong sân nhà thờ, mặc cho pháo nổ dữ dội vẫn ngơ ngáo nhìn xem anh A trưởng của nó có làm sao không.

       2-Em Dự.
       Dự là lính Hải Hưng bổ sung cho đơn vị cuối năm 74. Lính đợt này toàn quê Thanh Hà, Chí Linh tỉnh Hải Hưng. Lúc đó, đơn vị trống hoác vì vừa chia sẻ quân đi đánh Nông Sơn Thượng Đức, vừa phần lính “ngược” nhiều quá. A tôi còn có 3 mống. Được bổ sung 4 chú lính Hải Hưng. Vừa buồn vì đồng đội đi Thượng Đức, vừa ức vì bị CTV đì đủ các tội , trong đó có tội tày đình là làm ngơ cho lính trốn nên tôi lao vào rèn lính khiếp lắm. Ngay thằng Thắng lính cựu cũng phải kêu sao mày rắn thế. Bốn chú lính mới mỗi chú một vẻ. Thằng Huyền trẻ con nhất, mới 17 tuổi. Tôi hỏi sao mày bé thế mà lại đi. Nó rơm rớm trả lời em không đi thì họ bắt chị em đi. Mà thầy bu em ốm lắm. Chị em mà đi thì ai làm nuôi thầy bu em. Buồn và thương nó nhất. Dự người mảnh khảnh, tính hiền lành. Ai nói gì cũng chỉ tủm tỉm cười. Cậu chàng khoe có chị gái. Cứ nhìn Dự suy ra chị của cậu chắc rất xinh.
         Dự rất chăm vhỉ luyện tập và nắm bắt rất nhanh. Tôi và thằng Thắng cũng rất thích tính của Dự và thấy trong chiến đấu thì sẽ là một người lính có bản lĩnh nên cũng dốc sức “đào tạo”.
         ...Đêm 9-3-1975, vào tới vị trí tập kết, công sự của tôi ở cạnh công sự của Dự.Nằm chờ lệnh tấn công trong tĩnh lặng của vườn cà phê. Bỗng nghe tiếng Dự lào thào anhơi, em buồn đái...Tôi nghĩ bụng chắc “rét” đây, bảo nó lấy dao găm đào một lỗ dưới bụng rồi ấy vào.
Đến lúc vào trận, Dự như lột xác thành một người khác. Không còn cái vẻ rụt rè nữa. Bắn. Vọt tiến.Nấp sau vật cản. Rồi lại bắn, vọt tiến...Cứ như vậy, Dự cùng chúng tôi làm chủ hoàn toàn mục tiêu được giao. Đến chiều, sau khi rời Ngã Sáu về phía sau, tôi hỏi Dự có sợ không.Dự trả lời lúc đầu cũng hơi sợ. Nhưng sau khi “tè” được thì hết sợ.
Sáng sớm hôm sau,11-3 chúng tôi lên xe tăng vào đánh chiếm Tiểu khu Hành chính. Địch chống cự ác liệt. Xe tăng ta bị bắn cháy ngay cửa tòa Hành chính. Máy bay địch lên ném bom thẳng xuống khu vực. Lính ta phát triển đánh trong tòa hành chính. B trưởng của tôi và đồng chí Bát hy sinh khi đánh vào hầm ngầm trong Chi khu. Dự lao xuống hầm ngầm đánh tiếp, tiêu diệt toàn bộ địch trong hầm ngầm nhưng em cũng bị thương nặng. Không trở về đơn vị sau ngày toàn thắng.
          Từ sau khi ra quân cho đến nay, tôi không gặp lại Dự, Chiến, Đá và các em khác. Không biết cuộc sống đời thường của các em như thế nào. Anh chỉ mong các em có một cuộc sống bình an và mong một ngày nào đó được gặp lại các em.
Logged
vanthang341ht
Thành viên
*
Bài viết: 1065

Nhât ky vanthang 341ht


« Trả lời #95 vào lúc: 22 Tháng Giêng, 2013, 07:10:48 pm »


    Chào linh71.
    Những mẩu chuyện như bạn kể thật hay. Có hàng trăm mẩu chuyện như vậy của những người lính chúng ta. Tôi vẫn rất tiếc cho bạn chưa gặp được ai trong số những đồng đội như bạn đã kể. Mong rằng trái đất tròn, đồng đội gặp nhau được lúc này thật quý biết bao.
Logged

Các vua Hùng  đã có công dựng nước
Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước
                         Hồ Chí Minh
xuanv338
Thành viên
*
Bài viết: 1573


muốn xoa bài viét thừ


« Trả lời #96 vào lúc: 22 Tháng Giêng, 2013, 07:25:02 pm »

     CB chào anh lính71. Chào tất cả các bác. Mấy hôm nay tự nhiên CB cũng thấy mình ngô ngố thế nào đấy anh lính vệ binh ạ đầu óc cứ ong ong chẳng nghĩ được cái gì. Vì vậy chẳng viết được nổi bài. Bác vanthang341 và cả huonghn76 đã nhã ý nhắc nhẹ là lâu không thấy có bài viết tiếp mà CB vẫn chưa thể vào cuộc được. Hôm nay đọc bài anh Chiến ngố mà em lại giật thót mình là hôm nay mình cũng đang ngố đây. Anh Chiến ngố đã được các anh dạy từ chỗ không biết đọc, không biết viết mà đã có ngày anh Chiến ngố đã viết được thư về thăm nhà. Chắc thư về, cả nhà anh ấy sẽ ngỡ ngàng. Có lẽ cái trường "Đại học tổng hợp lính" là nơi đã đào tạo được bao điều hay trong cuộc sống và góp thêm sự hoàn thiện của một con người.

     Hai câu chuyện anh lồng trong một bài viết hẳn chắc anh có ngụ ý so sánh gì chăng? Đó là anh Chiến ngố và em Dự có cả chuyện thằng Huyền còn bé mà đã thông minh. Từ hai luồng suy nghĩ và hai nhân cách thật khác nhau. Một người trong cái tư duy trống rỗng ấy vô tư không cần suy nghĩ gì. Pháo bắn cũng mặc thây." bảo người ta đứng thì người ta phải đứng chứ". Còn em Dự thì nhỏ tuổi mà đã biết toan lo thương bố mẹ yếu đau nên đi thay cho chị ở nhà chăm sóc bố mẹ. Một suy nghĩ đầy nhân văn. Hai con người, có hai nhân cách rất riêng nhưng lại cùng một chung là ý chí đánh giặc  

      Ngày đấy em nhớ rằng khi lệnh tổng động viên cả nước. Thanh niên cứ đủ sức khoẻ là đi, tính có hơi man mát hay mắt lác ngưỡng thiên đều lên đường tòng quân cứu nước. Đơn vị em có anh Chiến mắt lác. CB không dám nói ra nhưng cứ hỏi vụng với các bạn rằng. Vậy lúc ngắm súng thì đầu ruồi đội đít điểm đen có lệch không. Thế mà rồi! Anh ấy cũng vẫn đi hết cuộc chiến tranh. Bây giờ mỗi lần gặp mặt đồng đội. Năm nào anh ấy cũng về và mang theo cây đàn mangdoluyn. Anh đã hát hết mình những bài ca đi cùng năm tháng mà không để ý rằng có ai đang nghe mình hát nữa không? Khi mọi người còn đang ăn mà anh vẫn hát?. Nghĩ mà thương thật đó.

       Ngày ấy với khẩu hiệu giặc đến nhà đàn bà cũng đánh. Mắt lác và tính man mát vẫn vô tư, đánh giặc vẫn kiên cường. CB cảm ơn anh lính 71 đã có những câu chuyện thật bi tráng pha chút hài hước. CB chúc anh mạnh khoẻ và khen anh trai kỳ này không đi buôn bán gì mạn miền ngược chăng? Nên thấy có mặt ở nhà liên tục. CB chào anh..



« Sửa lần cuối: 23 Tháng Giêng, 2013, 01:36:16 pm gửi bởi xuanv338 » Logged
Trinhsat
Thành viên
*
Bài viết: 397


« Trả lời #97 vào lúc: 23 Tháng Giêng, 2013, 01:12:39 pm »

Chào bác lính 71,

Sao mà trong đời lính có nhiều hoàn cảnh giống nhau thế bác nhỉ.
Lại trích dẫn ra đây phụ họa vài đoạn cùng bác nhé:

   "...Sau trận đánh phục kích bọn lính Thái ở Bản Vườn lê 42, tôi được cử đi học lớp tập huấn công binh, chuyên về gỡ mìn và kỹ thuật mở cửa hàng rào đánh căn cứ. Mục đích của lớp học là để giúp cho các đơn vị bộ binh, khi đánh các cứ điểm của địch có thể tự mình gỡ mìn và sử dụng kỹ thuật đặt  mìn định hướng phá hàng rào thép gai để tạo cửa mở, hiệu quả hơn cách dùng bộc phá ống thông thường. Sau hơn một tháng, kết thúc khoá học, tôi trở về đơn vị và được phiên chế vào B5, trung đội chuyên làm nhiệm vụ mở cửa và đánh lô-cốt đầu cầu của đại đội. Chỉ huy mới của tôi là tiểu đội trưởng Trịnh.

    A trưởng Trịnh không có gì đặc biệt lắm. Dáng người cũng chỉ tầm thước, nhưng to khoẻ theo kiểu lực điền. Anh vào chiến trường trước tôi hai mùa chiến dịch. Thế cũng đủ để tôi nể phục lắm rồi. Điều đáng nói hơn là anh gan dạ và rất xông xáo trong chiến trận. Anh là một trong những tiểu đội trưởng "cứng" của đại đội. Anh Trịnh đón nhận tôi về tiểu đội một cách hồ hởi. Thái độ của anh làm cho tôi rất thoải mái. Anh giữ tôi lại nằm chung hầm với anh. Căn hầm chữ A có đáy dài 2 mét và rộng hơn 1 mét làm cho chúng tôi thêm gần gũi nhau. Chúng tôi cùng kể chuyện về bản thân mình cho nhau nghe. Chẳng bao lâu mà chúng tôi trở nên thân thiết. Về cá nhân anh, tôi không ngờ là anh lại không biết chữ. Quê anh ở Sơn Tây. Chỉ cách Hà nội có hơn bốn chục cây số, vậy mà do nhà nghèo mà anh không được đi học. Tuổi thơ của anh gắn liền với chăn trâu, cắt cỏ và biết làm ruộng sớm. Trước khi đi bộ đội, anh làm ruộng và là lao động chính trong gia đình. Ở quê, anh còn không biết đến cái tàu hoả hay tàu điện là gì. Cũng vì vậy nên anh càng quý tôi, khi biết tôi đã học hết lớp 10 phổ thông. Sự chân thành và nghịch cảnh đã gắn bó tôi với anh thành đôi bạn lính. Lúc ở hậu cứ, hai chúng tôi luôn ở chung hầm. Còn khi ra trận thì tôi và anh bao giờ cũng đào hầm cạnh nhau. Là tiểu đội trưởng, nhưng trong những trận đánh chốt, anh thích sử dụng hoả lực B40, dù rằng giữ súng này thì phải năng vận động và thay đổi vị trí bắn để tránh địch phản pháo. Nhờ có hàm răng hơi hô, nên anh bắn B40 rất tốt. Có trận chốt, anh bắn tới 12 quả đạn trong một buổi sáng mà vẫn không ù tai hoa mắt như cảnh báo trong lý thuyết. Những lúc ra trận như thế mà được quạt AK yểm hộ cho anh thì thật tuyệt.

         Anh Trịnh tỏ ra quan tâm đến tôi có phần thiên vị hơn so với anh em khác trong tiểu đội. Cũng chút ít thôi, và có phần hợp lý nên cũng không ảnh hưởng đến tình cảm chung trong cả tiểu đội. Chả gì thì tôi cũng là lính thành phố, vóc dáng thư sinh và yếu nhất tiểu đội. Nhưng khi chuẩn bị ra trận thì hầu như toàn bộ thủ pháo và bộc phá trong cả trung đội, tôi đều giành phần bấm kíp và gói, vì tôi đã được học về công binh một cách bài bản. Tôi cũng là người thạo nhất về cách đặt  giá mìn định hướng. Thực ra, nói vậy cho nó đầy đủ thôi, chứ lính tráng trong chiến trường sống chết vì nhau lắm. Ai cũng có thể sẵn sàng hy sinh vì đồng đội."


http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php/topic,3008.120.html

    "...Mùa mưa năm 1973, chiến sự thưa thớt do có hiệp định đình chiến Pari. Tôi nhận được hai ba lá thư nhà. Mấy thằng khác trong tiểu đội cũng có thư. Riêng anh Trịnh thì chẳng có lá thư nào. Lính tráng chiến trường vốn coi nhau như một nhà, nên tất cả thư đều đem đọc chung và được giải thích một phần những nội dung trong đó. Đời sống tinh thần khá hơn. Tuy vậy, anh Trịnh thường chỉ im lặng nghe đọc thư, ít góp thêm chuyện. Thế rồi một lần tôi bảo anh:
          - Anh cần phải biết chữ. Em sẽ dạy anh học.
          - Liệu có được không?- anh băn khoăn hỏi lại.
          - Được. Nhất định được. Ai cũng học được mà. Chỉ cần anh nghe em là được.
Thế là tôi bắt tay vào chuẩn bị dạy anh học. Cả tiểu đội, rồi cả đại đội biết tin, ai cũng ủng hộ. Mọi người đều tin tưởng là một thằng học lớp 10 như tôi nhất định sẽ dạy được vỡ lòng. Chính trị viên đại đội là người dân tộc, văn hoá mới hết lớp 5, nhưng thích cái ý định của tôi lắm. Anh lần qua các trung đội, thu thập cho tôi một lô giấy trắng và vài cây bút bi chiến lợi phẩm. Tôi nhận, nhưng tôi làm theo cách của tôi. Tôi nhớ lại ngày xưa học vỡ lòng, có hộp ô chữ bằng gỗ. Thế là tôi hì hục lấy gỗ đẽo thành những miếng vuông be bé, phơi khô rồi lấy dùi nung khắc những chữ cái vào các miếng gỗ đó. Tôi khâu một cái túi nhỏ bằng vải dù để đựng các ô chữ cái. Thế là từ đó di chuyển quân đến đâu, anh Trịnh cũng đem theo túi chữ đó. Tôi còn dùi thêm trên mỗi miếng gỗ một cái lỗ. Mỗi ngày, tôi lấy ra một chữ cái, sỏ dây vào và bắt anh Trịnh đeo vào cổ như đeo số lính. Cứ dừng chân, hay giải lao trong các buổi hành quân hay luyện tập là anh Trịnh lôi miếng gỗ ra nhận mặt chữ, đọc to ê a và lấy que viết lên mặt đất . Nếu ở lán thì lấy bút viết ra giấy. Học thuộc xong chữ cái thì tập ghép vần, tập đọc. Cái phương pháp của tôi chả hiểu có tính sư phạm nào không, nhưng được cái anh Trịnh rất chịu khó và chăm chỉ. Dần dà anh đã đọc được chữ và đã chép được các bài tập viết do tôi soạn, tuy còn chậm. Sáu tháng sau, cả đại đội vui mừng khi chứng kiến anh đã viết được một lá thư ngắn đầu tiên gửi về nhà. Lá thư đó đã được cả đơn vị xem trước khi bỏ vào phong bì gửi đi."


http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php/topic,3008.130.html

   Nhưng đoạn kết của câu chuyện tuy có buồn, song cũng có hậu:

   "...Một buổi chiều 30 tháng tư của hai mươi ba năm sau ngày miền Nam giải phóng, tôi mới tìm được về quê anh Trịnh. Đứng đón tôi trên nền đất trong một ngôi nhà cấp bốn ở một vùng quê Sơn Tây, là một người đàn ông luống tuổi. Anh mặc một chiếc áo sơ-mi đã ngả màu cháo lòng, một chiếc quần sẫm màu đã bạc, và đi một đôi dép tổ ong. Không còn vẻ cường tráng của một người nông dân mặc áo lính, không còn vẻ dũng mãnh của một người tiểu đội trưởng kiên cường, nhưng tôi vẫn nhận ra anh nhờ ánh mắt rực lên như có lửa. Anh Trịnh, người tiểu đội trưởng một thời của tôi đó. Tôi lao vào ôm chầm lấy anh, ôm thật lâu như năm nào trên ngọn đồi chốt ở Chư Pa, chúng tôi  đã ôm nhau khi vừa thoát ra khỏi cái chết chỉ trong gang tấc, sau khi hóa giải được quả lựu đạn gài. Cả hai cùng xúc động trào rơi nước mắt. Số phận con người đã đun đẩy chúng tôi mỗi người một kiểu. Nhưng tôi thầm nói với anh Trịnh rằng: "anh Trịnh ơi, cuộc đời này dù phũ phàng đến đâu, xô đẩy anh và em đến nơi nào chăng nữa, thì trong lòng em, anh vẫn luôn là người tiểu đội trưởng thân thiết như xưa"."

http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php/topic,3008.130.html


Logged
linh71
Thành viên
*
Bài viết: 115


« Trả lời #98 vào lúc: 23 Tháng Giêng, 2013, 04:59:11 pm »

@chienc3.1972: bạn hiền ơi, bạn bỏ chúng tôi mà đi tận phương trời xa...Nhớ bạn quá.
Nhận được tin nhắn của bạn. Cảm động quá. Chiến ơi, dòng văn học Nga nói chung và dòng văn học Xô viết , đặc biệt dòng văn học Xô viết chiến tranh đã để lại một dấu ấn đặc biệt cho thế hệ chúng mình. Và nó đã đi theo chúng ta khắp nẻo đường khói lửa...Cho tới tận bây giờ.
Tôi còn nhớ thời những năm 66-68 các rạp chiếu phim miền Bắc chiếu rộng rãi các phim Liên Xô về đề tài Chiến tranh Vệ quốc: Bài ca người lính, Người thứ 41, Khi đàn sếu bay qua, Số phận con người, Đợi anh về...Phim Đợi anh về, trước khi chiếu còn có tiết mục ngâm thơ bài “ Đợi anh về” của Simonov nữa.
Gửi tặng bạn bài hát “Đàn sếu” trong phim “Khi đàn sếu bay qua”:
http://www.youtube.com/watch?v=0wRLUYf2A98
Mong gặp chienc3.1972 ở 19c buổi tất niên.

Logged
linh71
Thành viên
*
Bài viết: 115


« Trả lời #99 vào lúc: 23 Tháng Giêng, 2013, 05:02:51 pm »

Thân chào bạn trinhsat. Cám ơn bạn đã chia sẻ cảm xúc cùng tôi. Quả thực ngày ấy tôi rất ngỡ ngàng khi biết Chiến “ngố” mù chữ. Ở miền Bắc trong những năm chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, nền giáo dục có thể nói đạt đến một tầm cao(cao rất nhiều so với bây giờ theo suy nghĩ chủ quan của tôi- nếu có gì không đúng, không theo “đường rầy” thì cũng mong bạn và các đồng đội lượng thứ) với tiếng trống Bắc Lý và các thành tựu giáo dục...Tôi nhớ, ngày ấy đã có phong trào bình dân học vụ, các lớp bổ túc văn hóa, rồi phổ cập giáo dục đến hết cấp I...vì vậy sự ngỡ ngàng của tôi cũng là dễ hiểu. Nhưng sau khi tìm hiểu hoàn cảnh gia đình của Chiến tôi mới vỡ ra rằng, tầm nhìn của mình còn thiển cận quá. Và từ đó, xuất phát từ tình cảm con người, tình đồng đội mà chúng tôi đã cùng nhau hướng dẫn, giúp cho Chiến viết được lá thư đầu tiên về cho gia đình.
   Theo link của bạn, tôi đã đọc câu chuyện Con gà vàng...(tôi không cho đây là một truyện ngắn của lính, mà cho đây là chuyện về một đồng đội, một liệt sĩ). Tới kết chuyện, tôi lại rân rấn nước mắt nhớ tới các đồng đội tôi hy sinh trong sân bay Lạc Giao ngày 10-3-75.
Tôi xin phép copy một đoạn cuối câu chuyện của bạn lên đây :

 “Các đơn vị thuộc Quân đoàn 3, mặt trận Tây Nguyên tấn công đánh chiếm Thị xã Buôn Ma Thuột. Nằm trong đội hình của Đoàn Đặc công 198, đại đội của Hào đánh chiếm Phi trường Hoà Bình nằm ở phía Đông Thị xã. Trận đánh Phi trường của đặc công diễn ra thật gọn gẽ. Lúc 10 giờ sáng ngày 10/ 3/ 1975, khi các đơn vị bộ binh của Sư 316 và Trung đoàn 95B của ta còn đang giằng co đánh nhau với địch tại khu căn cứ của Sư 23 ngụy và khu kho Mai Hắc Đế, thì đại đội của Hào đã làm chủ Phi trường Hoà Bình. Xác bọn lính nguỵ và súng đạn của chúng ngổn ngang khắp trận địa. Cả đại đội của Hào được lệnh nằm lại chốt giữ Phi trường, sẵn sàng đánh quân phản kích. Không có đơn vị bộ binh nào của ta  tiếp quản Phi trường, thay thế cho đơn vị của Hào.
.......
 Không phải chờ đến hôm sau, mà ngay đêm đó, vào lúc 2 giờ sáng, bọn Nguỵ từ dưới khu hầm ngầm đã chui lên tổ chức phản kích. Chúng hoàn toàn nắm thế chủ động, bất ngờ xuất hiện ngay giữa đội hình đơn vị đặc công. Đại đội của Hào đã bị tổn thất nặng ngay từ đầu. Số chiến sĩ còn lại, mặc dù chiến đấu dũng cảm nhưng cũng không chống lại được bọn Nguỵ đông và có tổ chức tốt. Cả đại đội hy sinh gần hết, trong đó có đại đội trưởng Phan Thế Hào. Khi đó, Hào mới vừa tròn 21 tuổi.Phải đến gần trưa hôm sau, các đơn vị bộ binh của trung đoàn 95B mới được điều đến đánh chiếm lại sân bay.”

Và xin phép có một chút ý kiến nhỏ về trích đoạn này như sau:
Tháng 3-1975-Thị xã BMT có 2 sân bay: sân bay Lạc Giao(hay còn gọi là sân bay L19) nằm ngay cạnh thị xã về phía Đông Bắc, không xa khu vực Ngã Sáu-Nhà thờ Chính tòa
Sân bay thứ hai là sân bay Phụng Dực hay sân bay Hòa Bình cách thị xã BMT khoảng 7 km về phía Đông Nam
Trung đoàn 95B chúng tôi tham gia chiến đấu tại BMT ngày 10-3-1975.Đêm 9-3, C7 chúng tôi thuộc K5 E95B ém quân tại vườn cà phê ngay sát hàng rào sân bay Lạc Giao. Sau khi các loại pháo của ta và đặc công trong sân bay khai hỏa, Khoảng mờ sáng, đặc công 198 cho người ra xin bộ binh chi viện. Một B của C7 do B trưởng Nền người Thanh Hóa được lệnh theo đặc công vào đánh trong sân bay.Bộ binh cùng đặc công chiến đấu rất dũng cảm. Địch có hầm ngầm mà do điều nghiên chưa kỹ nên phía ta tổn thất nhiều. B bộ binh chúng tôi hy sinh tại đây khá nhiều. Đánh BMT, C7 chúng tôi hy sinh 17 người, chủ yếu nằm tại sân bay này. Quân ta làm chủ hoàn toàn sân bay này từ trưa ngày 10-3.
Trung đoàn 95 B không tác chiến tại khu vực sân bay Hòa Bình. Sau ngày 11-3 giải phóng hoàn toàn thị xã BMT, E95 được lệnh chốt trong thị xã chống quân địch đổ bộ tái chiếm, sau đó cơ động sang hướng khác. Cuối tháng 3 cơ động xuống Long Khánh.
« Sửa lần cuối: 23 Tháng Giêng, 2013, 05:25:11 pm gửi bởi linh71 » Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM