tralientay
Thành viên

Bài viết: 301
|
 |
« Trả lời #502 vào lúc: 14 Tháng Mười, 2012, 05:01:24 pm » |
|
Tôi xin gửi bài "Cha tôi" của nghệ sĩ nhân dân Đặng Nhật Minh viết về GS Đặng Văn Ngữ, người đã dành cả cuộc đời nghiên cứu chống bệnh sốt rét. Ở dưới là bức hình chiếc kính hiển vi của bác Ngữ (bài này tôi nhận trực tiếp, chưa thấy đăng ở đâu nhưng anh Minh đồng ý gửi cho bạn bè).
Công cuộc chống sốt rét còn dài lâu với khoa học và với nước mình.
--- Cha tôi Đặng Nhật Minh
Hình ảnh cuối cùng mà tôi còn giữ lại trong ký ức về cha tôi đó là một buổi chiều, giáp tết Đinh Mùi, cách đây đã 30 năm, trước khi lên đường đi vào Nam, cha tôi hẹn đến thăm bố vợ tôi, luật sư Nguyễn Quế. Sau một bữa cơm đạm bạc với gia đình, cha tôi chia tay với tất cả mọi người rồi bế cháu Tân, đứa cháu đích tôn duy nhất từ gác hai xuống đến tận cửa xe Com-măng-ca trước khi trao lại cho tôi. Rồi cha tôi bước lên xe, ngồi vào ghế trước. Chiếc xe rồ máy chuyển bánh... Tôi nhìn hút theo hai chiếc đèn đỏ sau xe cho đến khi chiếc xe đi khuất vào phố đêm. Tôi không có linh cảm rằng đó là cuộc chia tay cuối cùng với cha mình. Cha tôi thường hay đi công tác xa về các tỉnh để chỉ đạo công cuộc chống sốt rét. Những cuộc ra đi như vậy đã thành quá quen thuộc đối với gia đình chúng tôi. Nhưng hai tháng sau, tôi và em gái tôi được bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, hồi đó là Bộ trưởng Bộ Y tế, báo tin: cha tôi đã hy sinh trong một trận bom B52 vào hồi 2 giờ trưa, ngày 1 tháng 4 năm 1967 tại chiến khu Trị Thiên-Huế. Tôi không còn nhớ đã đón nhận cái tin sửng sốt kia như thế nào. Chỉ biết rằng kể từ giây phút đó cho đến nay đã hơn 30 năm, tôi vẫn còn bàng hoàng nghe văng vẳng bên tai câu nói của bác Thạch: Các cháu phải can đảm để nhận cái tin này ….Ba các cháu đã hy sinh….
Năm 1942 cha tôi được chính phủ Pháp cử sang Nhật để nghiên cứu về y khoa. Cha tôi đã đưa mẹ và ba anh em chúng tôi từ Hà Nội về Huế, gửi cho ông bà nội chúng tôi, để lên đường sang Nhật. Suốt 8 năm dài mẹ tôi đã phải hy sinh tất cả vì sự nghiệp khoa học của chồng. Cho đến năm 1949, cha tôi về nước tham gia kháng chiến, mẹ tôi và ba anh em chúng tôi đã làm một cuộc trường chinh suốt 3 tháng trời, đi bộ từ Huế, ra Khu 4 rồi lên Việt Bắc (Chiêm Hoá, Tuyên Quang) để sum họp với cha tôi nhưng cuộc hội ngộ ấy kéo dài vẻn vẹn chưa đầy 4 năm thì mẹ tôi qua đời.
Những năm sau hoà bình lập lại, công cuộc tiêu diệt sốt rét trên miền Bắc là công việc chiếm nhiều sức lực và trí tuệ nhất của cha tôi. Đó là lẽ sống và cũng là liềm say mê lớn nhất của cha tôi trong những ngày khi không còn mẹ tôi ở bên cạnh nữa. Tôi nhớ có lần cha tôi bỏ ra một ngày chủ nhật ngồi viết truyện thiếu nhi để giáo dục về việc phòng chống sốt rét, rồi đọc cho tôi nghe. Một truyện ngắn giản dị, có nhân vật là hai ông cháu. Có lẽ đó là truyện ngắn duy nhất mà ông viết trong đời. Tôi kể lại kỷ niệm này để muốn nói rằng cha tôi cùng các cộng sự của mình đã làm tất cả những gì có thể làm, chỉ vì một mục tiêu duy nhất là tiêu diệt sốt rét và ông đã làm được thành công điều đó trên miền Bắc nước ta trong một thời gian dài.
Có một vật, có thể nói là gần gũi nhất đối với cha tôi, đó là chiếc kính hiển vi. Nó có mặt thường xuyên ngay cả trong phòng ngủ của cha tôi. Khi còn ở Hàn Thuyên, cứ cơm tối xong, là cha tôi ngồi vào bàn bên kính hiển vi hoặc đi bộ vào Trường Y trên đường Lê Thánh Tông, cách nhà chừng 200m, làm việc trong phòng thí nghiệm cho đến 10 giờ tối. Sau này cha tôi nhường căn hộ ở Hàn Thuyên cho ông Phan Huy Chữ - vừa chuyển từ Vĩnh Phú lên làm Phó Giám đốc kiêm Bí thư Đảng ủy nhà trường, rồi dọn xuống ở ngay trong khu tập thể Viện Sốt rét ở Mễ Trì, vì nơi đó có phòng thí nghiệm sát ngay bên cạnh phòng ngủ. Ngày cha tôi trở về nước tham gia kháng chiến, suốt chặng đường dài từ Nhật Bản đi qua Thái Lan, rồi từ Thái Lan đi bộ xuyên qua Lào về đến Nghệ An, rồi lại từ Nghệ An lên Việt Bắc, trong hành trang của cha tôi ngoài 2 bộ quần áo ka-ki, có một lọ đựng một thứ nấm có khả năng tiết ra chất kháng sinh mà từ đó sau này cha tôi đã chiết xuất ra nước lọc penicilln trong rừng Việt Bắc, ngoài ra còn có một món quà cho tôi, đó là chiếc kính hiển vi nho nhỏ chỉ bằng một gang tay: nhưng có đủ cả ống kính, gương phản chiếu và bộ phận điều chỉnh tiêu cự. Tôi biết cha tôi muốn tôi đi theo ngành Y. Nhưng rồi sau khi học xong phổ thông ở Nam Ninh bên Trung Quốc, tôi được Nhà trường phân công sang Liên Xô học tiếng Nga để về nước làm phiên dịch. Mười chín tuổi tôi đã là một cán bộ phiên dịch Nga văn và điều đó hẳn làm cha tôi thất vọng lắm. Nhưng không bao giờ tôi thấy cha tôi nói ra điều đó. Sau này, hai em tôi học xong phổ thông được Nhà trường phân học các ngành nghề khác, cha tôi cũng không can thiệp. Ngày ấy ai học gì, học ở đâu là do tổ chức phân công, cha tôi biết vậy nên không có ý kiến gì.
Đến năm 1965 sau khi làm phiên dịch được 8 năm, không còn cách gì để thoát khỏi nghề này, lại cũng không mong chờ gì ở “Can thiệp với cấp trên” của cha tôi, tôi bèn thử sức mình trong lĩnh vực điện ảnh. Tôi bắt đầu làm bộ phim tài liệu dài 50 phút “Theo chân người địa chất”. Làm xong tôi hồi hộp mời cha tôi đến xem trong buổi chiếu duyệt ở Cục Điện ảnh. Xem xong ông nói với tôi: Thôi được, con làm đạo diễn điện ảnh cũng được, nhưng nên làm phim Tài liệu - Khoa học. Cha tôi biết rằng năm đó tôi đã 27 tuổi, cái tuổi nếu không được học Đại học thì cũng không thể suốt đời làm cái nghề phiên dịch mãi được. Bộ phim “Theo chân người địa chất” là bộ phim đầu tiên và cũng là bộ phim duy nhất mà tôi mời cha tôi xem. Dự buổi chiếu hôm đó còn có Thứ trưởng Bộ Văn hóa Nguyễn Đức Quỳ. Cha tôi và ông Quỳ quen nhau từ năm 1949, khi cha tôi từ Nhật Bản về Thái Lan bắt liên lạc với Phòng Thông tin của Chính phủ ta ở Bangkok mà ông Quỳ là Trưởng đại diện: Đó là buổi chiếu phim mà suốt đời tôi không bao giờ quên.
Niềm say mê lớn nhất của cha tôi là nghiên cứu khoa học, và phòng thí nghiệm là thánh đường (kể cả những lúc làm việc một mình trong phòng thí nghiệm cha tôi cũng thắt cravatte chỉnh tề). Nhưng không phải vậy mà cha tôi không quan tâm gì đến những việc đời thường khác. Nhiều năm liền cha tôi là cán bộ Công đoàn Trường Y. Một thời gian cha tôi còn là Chủ tịch Ban liên lạc đồng hương Thừa Thiên - Huế ở Hà Nội. Thú vui giải trí mà cha tôi ưa thích là xem bóng đá. Từ ngày cậu tôi - Trung tướng Cao Văn Khánh (chồng của dì tôi là bác sĩ Ngọc Toàn) chuyển sang phụ trách Thể dục thể thao Quân đội, cha tôi được ông biếu cho một chiếc thẻ xem thường xuyên ở sân vận động Hàng Đẫy. Cha tôi không vắng mặt ở bất kỳ trận bóng đá quan trọng nào, nhất là những trận có đội Thể Công. Cha tôi ít khi xem phim, xem kịch. Thì giờ rỗi rãi ông chỉ thích nghe ca Huế và ngâm thơ qua đài. Những lúc ấy tôi biết rằng cha tôi rất nhớ Huế, nơi có bà nội tôi đã trên 80 tuổi. Kể từ ngày cha tôi sang Nhật cho đến khi về lại Hà Nội. Cha tôi đã xa Huế hơn 20 năm. Trong chuyến đi vào Nam lần ấy, ngoài việc nghiên cứu vaccin chống sốt rét cho bộ đội, cha tôi còn ấp ủ một hy vọng nữa là mong được gặp lại bà nội tôi. Bà tôi chắc cũng mong điều đó nên cố sống để chờ con về, nhưng rồi bà tôi cũng ra đi ngay sau ngày cha tôi mất mấy tháng.
Từ nơi tập trung ở Hòa Bình để luyện tập trước khi vào chiến trường, cha tôi viết thư về dặn vợ chồng tôi: “Thỉnh thoảng các con xuống Viện sốt rét, vào căn phòng của Ba, lau chùi dọn dẹp trong phòng. Đồ đạc cứ để nguyên như cũ… như khi Ba đi công tác xa”. Đó là một căn phòng rộng 15m2 ở tầng 2, ở giữa phòng kê một cái giường đệm, phủ khăn trải giường trắng: 2 chiếc ghế xa lông và một chiếc bàn tròn ở gần cửa sổ. ở một góc là chiếc bàn làm việc với sách vở và chiếc kính hiển vi; một góc khác là chiếc tủ đựng quần áo. Đồ đạc riêng đáng giá nhất có lẽ là chiếc đài điện tử mác Tesla của Tiệp mầu cánh dán. Đó là toàn bộ tài sản của cha tôi. Tiếc rằng 5 tháng sau khi cha tôi mất thì căn phòng đó cũng bị trúng bom, không còn lại bất cứ kỷ vật gì. Gần đây Viện Sốt rét - Ký sinh trùng và Côn trùng đã phục hồi lại nguyên trang căn phòng đó, với đầy đủ đồ đạc bên trong hệt như lúc cha tôi còn sống. Có khác chăn là chiếc bàn thờ có ảnh cha tôi mà ngày Rằm Mồng Một, các anh chị trong Viện vẫn thường hương khói.
Mỗi khi đọc lại bức thư cuối cùng của cha tôi. Tôi thấy ông không hề có linh cảm rằng mình sẽ ra đi mãi mãi và đối với chúng tôi - con cái trong gia đình, thì cho đến bây giờ cha tôi vẫn còn đó, đang đi công tác xa và bất cứ làm gì, ở đâu, chúng tôi đều cảm thấy ông luôn ở bên cạnh.
Năm 1991, tôi có dịp đến Nhật Bản. Theo sự giới thiệu của giáo sư Nguyễn Lân Dũng, tôi liên lạc được với bà Seino, người trước kia có một thời gian làm phụ tá cho cha tôi tại Phòng thí nghiệm Trường Đại học Y khoa ở Tokyo. Bà đón tôi như người thân trong gia đình rồi đưa tôi đi thăm lại những nơi mà cha tôi đã sống và làm việc. Tại Đông Kinh học xá, nơi các sinh viên nước ngoài cư ngụ, người ta cho tôi biết địa chỉ của một người Việt Nam trước kia từng chung sống với cha tôi trong cùng một ký túc xá hiện còn sống ở Nhật Bản. Đó là kỹ sư Lê Văn Quý ở thành phố Atami cách Tokyo hơn 100 cây số. Tôi đến thăm bác Quý và được biết thêm về quãng thời gian lưu học tại Nhật của cha tôi.
Bác Quý trân trọng cho tôi xem một tấm bằng lồng trong khung kính treo trang trọng trên bức tường giữa nhà rồi nói: “Đây là tấm bằng của Thành phố Tokyo tặng Bác, cuối năm 1945. Ba cháu cũng có một tấm bằng như thế này. Hồi chiến tranh Tokyo bị ném bom dữ lắm. Ba cháu đã tập hợp các sinh viên Việt Nam và ngoại quốc ở Đông Kinh học xá lập thành các đội cứu thương để cứu chữa cho nhân dân trong khu phố. Ba cháu hướng dẫn nghiệp vụ cấp cứu và đã cứu chữa cho biết bao trường hợp, đặc biệt trong việc cứu chữa bỏng giỏi lắm. Sau đó Toà thị chính Tokyo đã tặng cho mỗi người trong đội cứu thư-ơng một tấm bằng để ghi công. ấn tượng bao trùm nhất của bác Quý về cha tôi là suốt ngày ông chỉ học, miệt mài nghiên cứu, ngoài ra không hề quan tâm đến chuyện gì khác. Nhưng khi nước nhà giành được độc lập, thì cha tôi là người luôn theo dõi tin tức về cuộc kháng chiến ở trong nước để thông tin cho anh chị em lưu học sinh Việt Nam. Cha tôi là Chủ tịch đầu tiên của Hội người Việt Nam tại Nhật Bản. Chính ngọn lửa của lòng yêu nước ấy đã thôi thúc cha tôi từ giã nước Nhật để trở về với công cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc. Bà Seino còn liên hệ cho tôi được gặp giáo sư Tomio Takenchi, Giám đốc Viện Hoá vi sinh Tokyo (Institute of Microbial Chemistry). Trên đường đi tới Viện, bà Seino cho biết giáo sư Tomio là một nhà bác học nổi tiếng của Nhật. Người Nhật thường gọi những bác học như ông là những người bất tử, có nghĩa là những người được mời làm việc cho đến hết đời, không về hưu. Giáo sư Tomio hẹn tiếp tôi trong 30 phút vì ông rất bận. Ông nói với tôi: “Tôi có làm việc cùng cha anh tại Trường Đại học Y khoa Tokyo trong một thời gian. Cha anh lúc đó là đàn anh của tôi. Các công trình nghiên cứu, các bài báo đăng chúng tôi đều viết chung và tên cha anh bao giờ cũng đứng trước tên tôi. Con đường khoa học của cha anh lúc bấy giờ đang bắt đầu rộng mở nhất là sau khi ông phát hiện thành công lần đầu tiên ở Nhật một giống nấm có khả năng tiết ra chất kháng sinh penicillin mạnh. Rồi nước Nhật bại trận. Công cuộc nghiên cứu gặp nhiều khó khăn. Tôi biết người Mỹ đã nhiều lần tìm đến gặp cha anh để mời làm việc nhưng cha anh đã từ chối để trở về nước. Giáo sư cho người đem ra những Tập san Y học cũ chỉ cho tôi xem những bài viết của cha tôi và ông cũng đứng tên chung. Chia tay giáo sư Tomio trở về, tôi thầm nghĩ: Nếu ngày đó cha tôi ở lại Nhật để tiếp tục theo đuổi con đường nghiên cứu khoa học, hẳn ông sẽ trở thành một nhà bác học lớn như giáo sư Tomio, hẳn ông sẽ có những đóng góp có giá trị cho nền Y học của nhân loại; nhưng ông sẽ không được chia sẻ những vinh quang cũng như những khổ đau của đất nước mình, dân tộc mình. Trong con người của cha tôi, niềm say mê khoa học và lòng yêu nước là những phẩm chất không thể tách rời.
Thật vậy, cha tôi đã chia xẻ đến tận cùng số phận của đất nước, của nhân dân mình cho đến khi ông ngã xuống trên rừng Trường Sơn dưới trận mưa bom B52 như bất cứ một người lính nào đã ngã xuống trên suốt dải đất này vì sự nghiệp cao cả và thiêng liêng của Tổ quốc.
Cha tôi nằm trên Trường Sơn lặng lẽ suốt hai mươi năm cho đến khi tình cờ một người tiều phu phát hiện được mộ ông như mộ một người lính vô danh bởi vì trong gói vải dù bọc một ít di hài của ông chỉ có một tấm biển nhôm khắc vẻn vẹn mấy chữ: Đặng Văn Ngữ. 1-4-1967. người ta nghĩ rằng đó là hài cốt của một chiến sĩ nào đó nên đã đưa về Nghĩa trang liệt sĩ xã Phong Mỹ, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên. Mãi năm năm sau anh em chúng tôi mới tìm được để đưa cha mình về nghĩa trang họ Đặng trên núi Ngự Bình.
Cha tôi ra đi cách đây đã hơn 30 năm. Thời gian càng làm cho chúng tôi nhận thức rõ hơn mọi chiều sâu xa của sự mất mát lớn lao này. Không chỉ đối với chúng tôi, con cháu trong gia đình, mà còn đối với nền Y học chung, trong đó có sự nghiệp phòng chống sốt rét mà cha tôi đã dồn hết trí tuệ và tâm huyết trong những năm cuối đời.
Lòng thương yêu vô bờ bến đối với con người, sự gắn bó máu thịt với số phận của đất nước, của nhân dân, đó là những di sản tinh thần mà cha tôi đã để lại cho chúng tôi.
|