Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 12:51:15 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lính Tây nguyên - phần 3 (tác giả: Nguyễn Trọng Luân)  (Đọc 299110 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
linh71
Thành viên
*
Bài viết: 115


« Trả lời #500 vào lúc: 14 Tháng Mười, 2012, 11:17:31 am »

@NTL:Ở chiến trường, sau bị thườn thì sốt rét là ác mộng của lính.Tôi còn nhớ, giai đoạn 1972 ở QT, lính nằm viện hầu hết là thương binh.Lính sốt rét ít.Không hiểu là muỗi nó sợ đạn bom hay sao ấy. Nhưng sang đến năm 73, sau hiệp định Paris, lính bị sốt rét rất nhiều.Đại đội tôi hồi ấy bị sốt rét nhiều đến nỗi ra bãi tập có lúc chỉ còn hai ba chục lính.Tôi cũng bị sốt rét vào thời gian này.Sốt cao hơn 40 độ. Tiêm ký ninh dầu vào mông không còn thấy đau nữa.Chỉ thấy y tá bảo co chân lên. Co được chân lên là không sợ bị thọt nữa.Tôi nhớ trước khi đi B được phát mỗi đứa một túi thuốc cá nhân của TQ, trong đó có 100 viên nivaquin màu trắng,vị không đắng như ký ninh.Được phổ biến uống ngừa sốt rét. Mỗi ngày một viên.Sau này, khi trở về trường học, bệnh sốt rét còn hành tôi mấy năm nữa mới dứt.Có lần, khi làm bài thi học kỳ môn giải tích, lên cơn sốt, bèn lên gặp cô giáo , nói em xin cô điểm 2, cho em về nghỉ(vì sốt không trả bài được) rồi về. Thế mà qua được môn giải tích đấy.
Logged
behienQYV7C
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1482


« Trả lời #501 vào lúc: 14 Tháng Mười, 2012, 02:56:18 pm »

... Đọc bài của anh Luân xong nghĩ thương bộ đội  , từ đánh Pháp , đến đánh Mỹ , rồi đánh pốt đều thế . Ngày xưa BH ở bệnh viện mấy anh TB chiến trường K hầu hết đều vướng sốt rét , người gầy đét , da xanh tái môi thâm sì , theo kiểu anh Luân kể , có người bị tới giai đoạn " xơ gan cổ chướng " bụng to như PN sắp sinh , nhìn thấy rất đau lòng , vừa bị thương còn vừa bị sốt rét hành .

 Không phải là "đều" đâu BH ơi mà là "tăm phần tăm" trừ mấy ông số đỏ đóng quân trong thành phố.

 

Thì em nói hầu hết là thế , BH trừ những lính K mà ở thành phố đấy . BH nhớ lúc lên 7C gặp anh Hòa ( Gò công ) anh ấy xanh lè , nằm có một đoạn ( dài đúng bằng khẩu AK như bài thơ anh Luân viết )  , gầy đét khi  anh ấy nằm lún xuống cái nệm mất tiêu Sad ,  . Nhìn thấy mấy anh ấy như vậy rất đau lòng , tới giờ mỗi lần gặp anh Hòa BH vẫn nhớ cảm giác đó Sad .

Logged

Cảm ơn đời mỗi sớm mai thức dậy ta có thêm ngày nữa để yêu thương
tralientay
Thành viên
*
Bài viết: 301


« Trả lời #502 vào lúc: 14 Tháng Mười, 2012, 05:01:24 pm »


Tôi xin gửi bài "Cha tôi" của nghệ sĩ nhân dân Đặng Nhật Minh viết về GS Đặng Văn Ngữ, người đã dành cả cuộc đời nghiên cứu chống bệnh sốt rét. Ở dưới là bức hình chiếc kính hiển vi của bác Ngữ (bài này tôi nhận trực tiếp, chưa thấy đăng ở đâu nhưng anh Minh đồng ý gửi cho bạn bè).

Công cuộc chống sốt rét còn dài lâu với khoa học và với nước mình.

---
Cha tôi
Đặng Nhật Minh

Hình ảnh cuối cùng mà tôi còn giữ lại trong ký ức về cha tôi đó là một buổi chiều, giáp tết Đinh Mùi, cách đây đã 30 năm, trước khi lên đường đi vào Nam, cha tôi hẹn đến thăm bố vợ tôi, luật sư Nguyễn Quế. Sau một bữa cơm đạm bạc với gia đình, cha tôi chia tay với tất cả mọi người rồi bế cháu Tân, đứa cháu đích tôn duy nhất từ gác hai xuống đến tận cửa xe Com-măng-ca trước khi trao lại cho tôi. Rồi cha tôi bước lên xe, ngồi vào ghế trước. Chiếc xe rồ máy chuyển bánh... Tôi nhìn hút theo hai chiếc đèn đỏ sau xe cho đến khi chiếc xe đi khuất vào phố đêm. Tôi không có linh cảm rằng đó là cuộc chia tay cuối cùng với cha mình. Cha tôi thường hay đi công tác xa về các tỉnh để chỉ đạo công cuộc chống sốt rét. Những cuộc ra đi như vậy đã thành quá quen thuộc đối với gia đình chúng tôi. Nhưng hai tháng sau, tôi và em gái tôi được bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, hồi đó là Bộ trưởng Bộ Y tế, báo tin: cha tôi đã hy sinh trong một trận bom B52 vào hồi 2 giờ trưa, ngày 1 tháng 4 năm 1967 tại chiến khu Trị Thiên-Huế. Tôi không còn nhớ đã đón nhận cái tin sửng sốt kia như thế nào. Chỉ biết rằng kể từ giây phút đó cho đến nay đã hơn 30 năm, tôi vẫn còn bàng hoàng nghe văng vẳng bên tai câu nói của bác Thạch: Các cháu phải can đảm để nhận cái tin này ….Ba các cháu đã hy sinh….

Năm 1942 cha tôi được chính phủ Pháp cử sang Nhật để nghiên cứu về y khoa. Cha tôi đã đưa mẹ và ba anh em chúng tôi từ Hà Nội về Huế, gửi cho ông bà nội chúng tôi, để lên đường sang Nhật. Suốt 8 năm dài mẹ tôi đã phải hy sinh tất cả vì sự nghiệp khoa học của chồng. Cho đến năm 1949, cha tôi về nước tham gia kháng chiến, mẹ tôi và ba anh em chúng tôi đã làm một cuộc trường chinh suốt 3 tháng trời, đi bộ từ Huế, ra Khu 4 rồi lên Việt Bắc (Chiêm Hoá, Tuyên Quang) để sum họp với cha tôi nhưng cuộc hội ngộ ấy kéo dài vẻn vẹn chưa đầy 4 năm thì mẹ tôi qua đời.

Những năm sau hoà bình lập lại, công cuộc tiêu diệt sốt rét trên miền Bắc là công việc chiếm nhiều sức lực và trí tuệ nhất của cha tôi. Đó là lẽ sống và cũng là liềm say mê lớn nhất của cha tôi trong những ngày khi không còn mẹ tôi ở bên cạnh nữa. Tôi nhớ có lần cha tôi bỏ ra một ngày chủ nhật ngồi viết truyện thiếu nhi để giáo dục về việc phòng chống sốt rét, rồi đọc cho tôi nghe. Một truyện ngắn giản dị, có nhân vật là hai ông cháu. Có lẽ đó là truyện ngắn duy nhất mà ông viết trong đời. Tôi kể lại kỷ niệm này để muốn nói rằng cha tôi cùng các cộng sự của mình đã làm tất cả những gì có thể làm, chỉ vì một mục tiêu duy nhất là tiêu diệt sốt rét và ông đã làm được thành công điều đó trên miền Bắc nước ta trong một thời gian dài.

Có một vật, có thể nói là gần gũi nhất đối với cha tôi, đó là chiếc kính hiển vi. Nó có mặt thường xuyên ngay cả trong phòng ngủ của cha tôi. Khi còn ở Hàn Thuyên, cứ cơm tối xong, là cha tôi ngồi vào bàn bên kính hiển vi hoặc đi bộ vào Trường Y trên đường Lê Thánh Tông, cách nhà chừng 200m, làm việc trong phòng thí nghiệm cho đến 10 giờ tối. Sau này cha tôi nhường căn hộ ở Hàn Thuyên cho ông Phan Huy Chữ - vừa chuyển từ Vĩnh Phú lên làm Phó Giám đốc kiêm Bí thư Đảng ủy nhà trường, rồi dọn xuống ở ngay trong khu tập thể Viện Sốt rét ở Mễ Trì, vì nơi đó có phòng thí nghiệm sát ngay bên cạnh phòng ngủ.
Ngày cha tôi trở về nước tham gia kháng chiến, suốt chặng đường dài từ Nhật Bản đi qua Thái Lan, rồi từ Thái Lan đi bộ xuyên qua Lào về đến Nghệ An, rồi lại từ Nghệ An lên Việt Bắc, trong hành trang của cha tôi ngoài 2 bộ quần áo ka-ki, có một lọ đựng một thứ nấm có khả năng tiết ra chất kháng sinh mà từ đó sau này cha tôi đã chiết xuất ra nước lọc penicilln trong rừng Việt Bắc, ngoài ra còn có một món quà cho tôi, đó là chiếc kính hiển vi nho nhỏ chỉ bằng một gang tay: nhưng có đủ cả ống kính, gương phản chiếu và bộ phận điều chỉnh tiêu cự. Tôi biết cha tôi muốn tôi đi theo ngành Y. Nhưng rồi sau khi học xong phổ thông ở Nam Ninh bên Trung Quốc, tôi được Nhà trường phân công sang Liên Xô học tiếng Nga để về nước làm phiên dịch. Mười chín tuổi tôi đã là một cán bộ phiên dịch Nga văn và điều đó hẳn làm cha tôi thất vọng lắm. Nhưng không bao giờ tôi thấy cha tôi nói ra điều đó. Sau này, hai em tôi học xong phổ thông được Nhà trường phân học các ngành nghề khác, cha tôi cũng không can thiệp. Ngày ấy ai học gì, học ở đâu là do tổ chức phân công, cha tôi biết vậy nên không có ý kiến gì.

Đến năm 1965 sau khi làm phiên dịch được 8 năm, không còn cách gì để thoát khỏi nghề này, lại cũng không mong chờ gì ở “Can thiệp với cấp trên” của cha tôi, tôi bèn thử sức mình trong lĩnh vực điện ảnh. Tôi bắt đầu làm bộ phim tài liệu dài 50 phút “Theo chân người địa chất”. Làm xong tôi hồi hộp mời cha tôi đến xem trong buổi chiếu duyệt ở Cục Điện ảnh. Xem xong ông nói với tôi: Thôi được, con làm đạo diễn điện ảnh cũng được, nhưng nên làm phim Tài liệu - Khoa học. Cha tôi biết rằng năm đó tôi đã 27 tuổi, cái tuổi nếu không được học Đại học thì cũng không thể suốt đời làm cái nghề phiên dịch mãi được. Bộ phim “Theo chân người địa chất” là bộ phim đầu tiên và cũng là bộ phim duy nhất mà tôi mời cha tôi xem. Dự buổi chiếu hôm đó còn có Thứ trưởng Bộ Văn hóa Nguyễn Đức Quỳ. Cha tôi và ông Quỳ quen nhau từ năm 1949, khi cha tôi từ Nhật Bản về Thái Lan bắt liên lạc với Phòng Thông tin của Chính phủ ta ở Bangkok mà ông Quỳ là Trưởng đại diện: Đó là buổi chiếu phim mà suốt đời tôi không bao giờ quên.

Niềm say mê lớn nhất của cha tôi là nghiên cứu khoa học, và phòng thí nghiệm là thánh đường (kể cả những lúc làm việc một mình trong phòng thí nghiệm cha tôi cũng thắt cravatte chỉnh tề). Nhưng không phải vậy mà cha tôi không quan tâm gì đến những việc đời thường khác. Nhiều năm liền cha tôi là cán bộ Công đoàn Trường Y. Một thời gian cha tôi còn là Chủ tịch Ban liên lạc đồng hương Thừa Thiên - Huế ở Hà Nội. Thú vui giải trí mà cha tôi ưa thích là xem bóng đá. Từ ngày cậu tôi - Trung tướng Cao Văn Khánh (chồng của dì tôi là bác sĩ Ngọc Toàn) chuyển sang phụ trách Thể dục thể thao Quân đội, cha tôi được ông biếu cho một chiếc thẻ xem thường xuyên ở sân vận động Hàng Đẫy. Cha tôi không vắng mặt ở bất kỳ trận bóng đá quan trọng nào, nhất là những trận có đội Thể Công. Cha tôi ít khi xem phim, xem kịch. Thì giờ rỗi rãi ông chỉ thích nghe ca Huế và ngâm thơ qua đài. Những lúc ấy tôi biết rằng cha tôi rất nhớ Huế, nơi có bà nội tôi đã trên 80 tuổi. Kể từ ngày cha tôi sang Nhật cho đến khi về lại Hà Nội. Cha tôi đã xa Huế hơn 20 năm. Trong chuyến đi vào Nam lần ấy, ngoài việc nghiên cứu vaccin chống sốt rét cho bộ đội, cha tôi còn ấp ủ một hy vọng nữa là mong được gặp lại bà nội tôi. Bà tôi chắc cũng mong điều đó nên cố sống để chờ con về, nhưng rồi bà tôi cũng ra đi ngay sau ngày cha tôi mất mấy tháng.

Từ nơi tập trung ở Hòa Bình để luyện tập trước khi vào chiến trường, cha tôi viết thư về dặn vợ chồng tôi: “Thỉnh thoảng các con xuống Viện sốt rét, vào căn phòng của Ba, lau chùi dọn dẹp trong phòng. Đồ đạc cứ để nguyên như cũ… như khi Ba đi công tác xa”. Đó là một căn phòng rộng 15m2 ở tầng 2, ở giữa phòng kê một cái giường đệm, phủ khăn trải giường trắng: 2 chiếc ghế xa lông và một chiếc bàn tròn ở gần cửa sổ. ở một góc là chiếc bàn làm việc với sách vở và chiếc kính hiển vi; một góc khác là chiếc tủ đựng quần áo. Đồ đạc riêng đáng giá nhất có lẽ là chiếc đài điện tử mác Tesla của Tiệp mầu cánh dán. Đó là toàn bộ tài sản của cha tôi. Tiếc rằng 5 tháng sau khi cha tôi mất thì căn phòng đó cũng bị trúng bom, không còn lại bất cứ kỷ vật gì. Gần đây Viện Sốt rét - Ký sinh trùng và Côn trùng đã phục hồi lại nguyên trang căn phòng đó, với đầy đủ đồ đạc bên trong hệt như lúc cha tôi còn sống. Có khác chăn là chiếc bàn thờ có ảnh cha tôi mà ngày Rằm Mồng Một, các anh chị trong Viện vẫn thường hương khói.

Mỗi khi đọc lại bức thư cuối cùng của cha tôi. Tôi thấy ông không hề có linh cảm rằng mình sẽ ra đi mãi mãi và đối với chúng tôi - con cái trong gia đình, thì cho đến bây giờ cha tôi vẫn còn đó, đang đi công tác xa và bất cứ làm gì, ở đâu, chúng tôi đều cảm thấy ông luôn ở bên cạnh.

Năm 1991, tôi có dịp đến Nhật Bản. Theo sự giới thiệu của giáo sư Nguyễn Lân Dũng, tôi liên lạc được với bà Seino, người trước kia có một thời gian làm phụ tá cho cha tôi tại Phòng thí nghiệm Trường Đại học Y khoa ở Tokyo. Bà đón tôi như người thân trong gia đình rồi đưa tôi đi thăm lại những nơi mà cha tôi đã sống và làm việc. Tại Đông Kinh học xá, nơi các sinh viên nước ngoài cư ngụ, người ta cho tôi biết địa chỉ của một người Việt Nam trước kia từng chung sống với cha tôi trong cùng một ký túc xá hiện còn sống ở Nhật Bản. Đó là kỹ sư Lê Văn Quý ở thành phố Atami cách Tokyo hơn 100 cây số. Tôi đến thăm bác Quý và được biết thêm về quãng thời gian lưu học tại Nhật của cha tôi.

Bác Quý trân trọng cho tôi xem một tấm bằng lồng trong khung kính treo trang trọng trên bức tường giữa nhà rồi nói: “Đây là tấm bằng của Thành phố Tokyo tặng Bác, cuối năm 1945. Ba cháu cũng có một tấm bằng như thế này. Hồi chiến tranh Tokyo bị ném bom dữ lắm. Ba cháu đã tập hợp các sinh viên Việt Nam và ngoại quốc ở Đông Kinh học xá lập thành các đội cứu thương để cứu chữa cho nhân dân trong khu phố. Ba cháu hướng dẫn nghiệp vụ cấp cứu và đã cứu chữa cho biết bao trường hợp, đặc biệt trong việc cứu chữa bỏng giỏi lắm. Sau đó Toà thị chính Tokyo đã tặng cho mỗi người trong đội cứu thư-ơng một tấm bằng để ghi công. ấn tượng bao trùm nhất của bác Quý về cha tôi là suốt ngày ông chỉ học, miệt mài nghiên cứu, ngoài ra không hề quan tâm đến chuyện gì khác. Nhưng khi nước nhà giành được độc lập, thì cha tôi là người luôn theo dõi tin tức về cuộc kháng chiến ở trong nước để thông tin cho anh chị em lưu học sinh Việt Nam. Cha tôi là Chủ tịch đầu tiên của Hội người Việt Nam tại Nhật Bản. Chính ngọn lửa của lòng yêu nước ấy đã thôi thúc cha tôi từ giã nước Nhật để trở về với công cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc. Bà Seino còn liên hệ cho tôi được gặp giáo sư Tomio Takenchi, Giám đốc Viện Hoá vi sinh Tokyo (Institute of Microbial Chemistry). Trên đường đi tới Viện, bà Seino cho biết giáo sư Tomio là một nhà bác học nổi tiếng của Nhật. Người Nhật thường gọi những bác học như ông là những người bất tử, có nghĩa là những người được mời làm việc cho đến hết đời, không về hưu. Giáo sư Tomio hẹn tiếp tôi trong 30 phút vì ông rất bận. Ông nói với tôi: “Tôi có làm việc cùng cha anh tại Trường Đại học Y khoa Tokyo trong một thời gian. Cha anh lúc đó là đàn anh của tôi. Các công trình nghiên cứu, các bài báo đăng chúng tôi đều viết chung và tên cha anh bao giờ cũng đứng trước tên tôi. Con đường khoa học của cha anh lúc bấy giờ đang bắt đầu rộng mở nhất là sau khi ông phát hiện thành công lần đầu tiên ở Nhật một giống nấm có khả năng tiết ra chất kháng sinh penicillin mạnh. Rồi nước Nhật bại trận. Công cuộc nghiên cứu gặp nhiều khó khăn. Tôi biết người Mỹ đã nhiều lần tìm đến gặp cha anh để mời làm việc nhưng cha anh đã từ chối để trở về nước. Giáo sư cho người đem ra những Tập san Y học cũ chỉ cho tôi xem những bài viết của cha tôi và ông cũng đứng tên chung. Chia tay giáo sư Tomio trở về, tôi thầm nghĩ: Nếu ngày đó cha tôi ở lại Nhật để tiếp tục theo đuổi con đường nghiên cứu khoa học, hẳn ông sẽ trở thành một nhà bác học lớn như giáo sư Tomio, hẳn ông sẽ có những đóng góp có giá trị cho nền Y học của nhân loại; nhưng ông sẽ không được chia sẻ những vinh quang cũng như những khổ đau của đất nước mình, dân tộc mình. Trong con người của cha tôi, niềm say mê khoa học và lòng yêu nước là những phẩm chất không thể tách rời.

Thật vậy, cha tôi đã chia xẻ đến tận cùng số phận của đất nước, của nhân dân mình cho đến khi ông ngã xuống trên rừng Trường Sơn dưới trận mưa bom B52 như bất cứ một người lính nào đã ngã xuống trên suốt dải đất này vì sự nghiệp cao cả và thiêng liêng của Tổ quốc.

Cha tôi nằm trên Trường Sơn lặng lẽ suốt hai mươi năm cho đến khi tình cờ một người tiều phu phát hiện được mộ ông như mộ một người lính vô danh bởi vì trong gói vải dù bọc một ít di hài của ông chỉ có một tấm biển nhôm khắc vẻn vẹn mấy chữ: Đặng Văn Ngữ. 1-4-1967. người ta nghĩ rằng đó là hài cốt của một chiến sĩ nào đó nên đã đưa về Nghĩa trang liệt sĩ xã Phong Mỹ, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên. Mãi năm năm sau anh em chúng tôi mới tìm được để đưa cha mình về nghĩa trang họ Đặng trên núi Ngự Bình.

Cha tôi ra đi cách đây đã hơn 30 năm. Thời gian càng làm cho chúng tôi nhận thức rõ hơn mọi chiều sâu xa của sự mất mát lớn lao này. Không chỉ đối với chúng tôi, con cháu trong gia đình, mà còn đối với nền Y học chung, trong đó có sự nghiệp phòng chống sốt rét mà cha tôi đã dồn hết trí tuệ và tâm huyết trong những năm cuối đời.

Lòng thương yêu vô bờ bến đối với con người, sự gắn bó máu thịt với số phận của đất nước, của nhân dân, đó là những di sản tinh thần mà cha tôi đã để lại cho chúng tôi.
Logged
behienQYV7C
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1482


« Trả lời #503 vào lúc: 14 Tháng Mười, 2012, 07:17:25 pm »

Ở TP.HCM có đường Đặng văn Ngữ thuộc Q. Phú Nhuận , hôm nay đọc bài của anh TLT mới hiểu rõ hơn về BS Đặng văn Ngữ  người thầy , người lính , người lương y . Từ đó BH càng hiểu hơn vì sao chúng ta chiến thắng .

Logged

Cảm ơn đời mỗi sớm mai thức dậy ta có thêm ngày nữa để yêu thương
tralientay
Thành viên
*
Bài viết: 301


« Trả lời #504 vào lúc: 14 Tháng Mười, 2012, 11:52:33 pm »

Tôi viết thêm ít dòng về bệnh sốt rét, về một số nghiên cứu hiện nay trên thế và những điều có thể hy vọng. Mấy dòng sau có thể làm bạn thoạt thấy ngại đọc, nhưng ý chính không phức tạp gì hơn ý của các loại pháo tầm xa từ hạm đội, tên lửa đối không, hay vẽ cảnh đồ binh địa...

Ngoài cách nghiên cứu sốt rét truyền thống, như lấy máu ở đầu ngón tay cho lên lam kính rồi quan sát trên kính hiển vi (như chiếc kính của GS Đặng Văn Ngữ tôi gửi chiều nay), hiện người ta còn tiến hành nhiều nghiên cứu dựa trên sinh học phân tử và thông tin di truyền của con người.

Nói một cách nôm na thì khi cho một giọt máu lên lam kính, với một số kỹ thuật người ta có thể nhìn thấy (bên ngoài) các tế bào máu, nhưng không thấy bên trong. Bên trong mỗi tế bào máu là một hệ thống rất phức tạp mà chỉ với nhưng phương tiện tinh vi hơn, người ta mới có thể "đo" được các dữ liệu chứa rất nhiều bí ẩn di truyền của con người. Phân tích các thông tin này cho phép hiểu nhiều thứ, trong đó có hiểu và điều trị bệnh sốt rét.

Hiện có mấy hướng nghiên cứu chính.

1. Xác định yếu tố di truyền về khả năng kháng bệnh sốt rét. Người ta thấy rằng những cá thể khác nhau có khả năng kháng bệnh sốt rét rất khác nhau (khi ở chiến trường, có bao giờ các bác gặp những người không bao giờ bị sốt rét không?). Biết được những yếu tố di truyền kháng sốt rét có bên trong tế bào của một số người sẽ mở ra khả năng "phát huy" chúng cho nhiều người khác. Một cách làm hiện nay là so sánh rất nhiều biến dạng di truyền của rất nhiều người để tìm ra những yếu tố kháng sốt rét này.

3. Xác định yếu tố di truyền về khả năng miễn dịch sốt rét. Hôm trước ông giáo sư ở Oxford nói là ở châu Phi có những làng gồm hai nhóm người sống chung có gốc gác khác nhau (như ở ta là hai dòng họ khác nhau), một nhóm sốt rét liểng xiểng, một nhóm thì trùng sốt rét không chui được vào ai, tức là họ hoàn toàn miễn dịch với sốt rét. Biết được yếu tố di truyền về khả năng miễn dịch cũng cho phép "phát huy" chúng trong việc phòng ngừa bệnh sốt rét.

3. Xác định các đa dạng di truyền của người ở các vùng miền có khả năng không bị sốt rét nghiêm trọng.

4. Xác định các gien đặc biệt liên quan khả năng kháng bệnh sốt rét.

Nhóm nghiên cứu ở Oxford nơi tôi đến thăm có khoảng 45 tiến sĩ được chọn lọc đang tập trung làm những việc này, cùng một số nhóm ở các nơi khác.

Hiện nay, có lẽ bộ đội ta ít bị sốt rét, nhưng dân các vùng miền núi chắc còn phải chịu đựng sốt rét dài dài. Hy vọng những nghiên cứu hiện đại hiện nay sớm cho phép con người chống được bệnh sốt rét tốt hơn, đẩy lùi được bệnh sốt rét trên toàn thế giới, mà thực chất là ở các nước còn nghèo có nhiều vùng rừng núi như nước mình.
Logged
tuanb5
Thành viên
*
Bài viết: 610


« Trả lời #505 vào lúc: 15 Tháng Mười, 2012, 05:09:58 am »

... Đọc bài của anh Luân xong nghĩ thương bộ đội  , từ đánh Pháp , đến đánh Mỹ , rồi đánh pốt đều thế . Ngày xưa BH ở bệnh viện mấy anh TB chiến trường K hầu hết đều vướng sốt rét , người gầy đét , da xanh tái môi thâm sì , theo kiểu anh Luân kể , có người bị tới giai đoạn " xơ gan cổ chướng " bụng to như PN sắp sinh , nhìn thấy rất đau lòng , vừa bị thương còn vừa bị sốt rét hành .

 Không phải là "đều" đâu BH ơi mà là "tăm phần tăm" trừ mấy ông số đỏ đóng quân trong thành phố.

 Lính thời đánh Pháp thì không rõ nhưng thời đánh Mỹ thì lính KCCM gần như ai cũng bị sốt rét rừng, nội đi dọc Trường Sơn với 6 tháng liền hành quân theo tuyến giao liên vào tới miền Đông, Tây Nam Bộ đã đủ "dính" sốt rét đến no đòn rồi. Về môn sốt rét thì lính ở K sau này cũng không kém phần "long trọng" chuyện này, anh nguyentrongluan tả vẫn chưa hết nỗi khổ của lính sốt rét rừng đâu, BY nghe anh Luân tả về lính sốt rét rừng vẫn thấy còn "sướng" lắm, lính K mà sốt lên đến 40 độ C còn bị "chụp mũ" là sốt tư tưởng, sốt 39,5 độ người run cầm cập vẫn còn mang vác hành quân theo đơn vị nữa kia, có giỏi thì cứ nằm lại với Pốt còn chả ai khiêng mình đâu. Lúc đó còn muốn chết đi cho nó rảnh nợ đời, nhiều người nách to như kẹp quả xoài vào nách, có người phát điên hoặc co giật từng cơn miệng xùi bọt mép, mắt trợn ngược lên toàn lòng trắng, vài phút sau thì ưỡn người gồng cơ cứng lên, thoát "dương" rồi khuất núi không kịp gọi mẹ lấy một tiếng. Ai qua khỏi cơn ác tính ấy thì "kháng bệnh" và chơ như đá cẩm thạch, ai "lai rai" nhúc nhắc sốt rét đều đều và dài dài thì không bao giờ lên cơn ác tính, những ông "dính" nặng thường là lười màn võng cẩn thận hoặc uống nước chưa đun sôi, biết giữ sức khỏe của mình thì kéo dài được thời gian nhiễm bệnh.
 
Nghe bác BY nói về sự "Tăm phần tăm" sốt rét ở chiến trường, tôi nhớ mãi câu nói của 1 vị bác sĩ quân y. Đó là lần tôi và 1 số anh em được trực thăng tản thương về viện 211.Các thương binh đều được khẩn trương cứu chữa. Trường hợp của tôi họ đắn đo xem có phải mổ ngay hay để theo dõi (Mảnh đạn chui vào bụng, chưa xác định có thủng ruột hay không) Một vị bác sĩ kiểm tra lần cuối, hỏi 1 số vấn đề liên quan đến vết thương. Cuối cùng hỏi thêm "Em có bị bệnh gì không" Tôi thật thà trả lời "Em chỉ bị bệnh sốt rét thôi". Với nụ cười nửa thân mật, nửa thương cảm thằng lính trẻ ngu ngơ, bác sĩ bảo: Là anh hỏi có bệnh nội khoa gì không, còn đối với lính trận mạc thì sốt rét không ai gọi là bệnh!. Smiley

Logged

Ngàn năm hồ dễ mấy ai quên.
lexuantuong1972
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1885


TÂT CẢ VÌ ĐỒNG ĐỘI


« Trả lời #506 vào lúc: 15 Tháng Mười, 2012, 08:09:43 am »

Ở TP.HCM có đường Đặng văn Ngữ thuộc Q. Phú Nhuận , hôm nay đọc bài của anh TLT mới hiểu rõ hơn về BS Đặng văn Ngữ  người thầy , người lính , người lương y . Từ đó BH càng hiểu hơn vì sao chúng ta chiến thắng .


@BH: Trong những năm cuối cùng của cuộc KCCM, chính xác từ năm 1970 SV đang theo học tại các trường ĐH ồ ạt lên đường nhập ngũ (trước đó là các SV đã tốt nghiệp ĐH nhập ngũ). Những ngày ấy khi tiễn SV lên đường, Ban Giám hiệu Đại học Y trao cờ luân lưu Tiểu đoàn (hoặc đại đội) Đặng Văn Ngữ cho anh em SV nêu cao truyền thống của nhà trường, xứng danh là thế hệ học trò của người thầy thuốc anh hùng tận trung với nước, tận hiếu với dân. bên ĐHXD cũng vậy, khi bọn anh lên đường nhập ngũ được trao cờ Tiểu đoàn Bùi Ngọc Dương
Logged

Ký ức một thời hoa lửa: (P1)(P2)(P3)(P4)
nguyentrongluan
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1246


« Trả lời #507 vào lúc: 15 Tháng Mười, 2012, 12:22:32 pm »

@ Nguyen dai :
Câu hỏi của bác là sự đau đầu của tướng lĩnh ta đấy .
Tranh cãi đến nay vẫn là tranh cãi . Đánh vây lấn bóc vỏ hay đánh luồn sâu bộc lộ từ trong ra cãi nhau ngay từ năm 72 cơ . Các đơn vị chúng ta đã kiệt sức vì bóc vỏ rồi . Dù sao thì Cũng làm được " Mùa hè đỏ lửa " đó .
KHi đánh đến đường ngang ( TX kon tum ) sư đoàn 320 không còn cả gạo cả đạn nữa ...
Logged
vt738@yahoo.com
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 403



« Trả lời #508 vào lúc: 15 Tháng Mười, 2012, 01:49:34 pm »

   Câu chuyện về 1015 mà bác Luân diễn tả ,đây là câu chuyện lần thứ 2 tôi được biết đến,lần thứ nhất cách đây 6 năm(năm 2006),tôi được nghe một cựu binh-thương binh -của trung đoàn 64(F320) kể về trận đánh này.
   Chẳng là,người anh họ tôi,và cũng là đồng đội của bác ấy,là liệt sĩ hy sinh trong trận đánh 1015 (Tháng 4/1972,chính bác ấy cũng không nhớ ngày anh ấy hy sinh).Khi đ/v bác ấy đụng độ với tiểu đoàn dù của quân ngụy Sài gòn.Tiếc rằng bác ấy nay đã mất,nhưng tình tiết bác Luân tóm lược về trận đánh này cũng như lời kể của bác cựu binh kia là rất trùng hợp
   Qua câu chuyện,ngày ấy và kể cả bây giờ tôi nghiệm ra rằng :Để có một chiến thắng,- như trung đoàn 64 đã làm đươc năm 1972 ở 1015- loại tiểu đoàn dù số 11 khỏi vòng chiến đấu.Thì ta,cái giá của sự hy sinh để đổi lấy chiến thắng cũng là quá lớn
   Đúng là,như ai đã nói:Sau chiến tranh đi khắp Việt nam đâu đâu cũng thấy Nghĩa trang liệt sỹ
Logged
phungthihoa
Thành viên
*
Bài viết: 15


« Trả lời #509 vào lúc: 15 Tháng Mười, 2012, 04:22:41 pm »

Cháu chào các bác, các chú!
Cháu có người cậu liệt sỹ tại chiến trường Tây Nguyên, thông tin tìm kiếm cháu đã đăng ở đây http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php/topic,21814.msg321374.html#msg321374
Cháu thấy các bác các chú ở đây là lính Tây Nguyên, vậy nên cháu muốn hỏi xem có bác, chú nào biết về cậu, đơn vị hay tình hình chiến trận thời điểm cậu hy sinh thì cho cháu biết với.
Cháu xin trân trọng cảm ơn sự chia sẻ của các chú các bác.
Phùng Thị Hoa
0905833848
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM