Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:43:16 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Cuộc tiến công chiến lược năm 1972: Quảng Trị-Bắc Tây Nguyên-Đông Nam Bộ (P2)  (Đọc 38424 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #10 vào lúc: 30 Tháng Tám, 2012, 03:48:54 pm »

Tại Đại hội Đảng Dân chủ Mỹ diễn ra vào tháng 7-1972 đã ghi vào cương lĩnh: “Sự trống rỗng của “Việt Nam hóa”, một khẩu hiệu lừa bịp có vẻ như hứa hẹn một thắng lợi ít tốn kém đã bị phơi trần qua cuộc tiến công gần đây. Chính phủ Sài Gòn, mặc dù đã được Mỹ ủng hộ ồ ạt vẫn không có sức sống. Nó không có hiệu lực về quân sự, thối nát về chính trị và gần như suy sụp về kinh tế”. Trước sự thực này, các viên chức ở cả Oasinhton lẫn Sài Gòn cũng phải thừa nhận rằng: “Các điểm này thực ra đã đủ để thỏa mãn các tiêu chí cho chiến thắng mà Hà Nội đã đề ra trước khi cuộc tổng tấn công bắt đầu”(10) và: “Trong giai đoạn đầu, cuộc tổng tấn công đã là một thành công hoàn hảo. Tình báo Mỹ đã đánh giá sai về thời gian, quy mô, địa điểm của các cuộc tấn công. Có được tính bất ngờ, quân đội nhân dân Việt Nam chọc thủng các tuyến phòng thủ mỏng của Việt Nam Cộng hòa, nhanh chóng tiến về thị xã Quảng Trị”(11).

Ngay sau khi bị mất toàn bộ tỉnh Quảng Trị (ngày 2-5-1972), Thời báo New York tại Mỹ rêu rao rằng: Tỉnh Quảng Trị “bị rơi vào tay Cộng sản” và “từ Oasinhton đến Sài Gòn luôn bao trùm một không khí lo âu căng thẳng. Tâm lý thất bại trong quân ngụy lan tràn”(12). Không cam chịu thất bại, địch bắt đầu thực hiện các bước điều chỉnh lực lượng và lập kế hoạch tái chiếm tỉnh này. Ngày 13-6-1972, Bộ Chỉ huy của quân viễn chinh Mỹ ở Sài Gòn hứa tăng viện và hỗ trợ tối đa về hỏa lực (không quân, hải quân, pháo binh). Đồng thời, Nguyễn Văn Thiệu đưa 4 sư đoàn mạnh nhất của ngụy quân, trong đó có 2 sư đoàn được mệnh danh là “thiên thần mũ đỏ” (sư dù) và “cọp biển” (sư lính thủy đánh bộ) thuộc lực lượng tổng dự bị quốc gia với lực lượng tương đương 13 trung đoàn bộ binh, 17 tiểu đoàn pháo binh, 5 thiết đoàn… và nhiều đơn vị không quân, pháo hạm Mỹ hỗ trợ cho cuộc hành quân “tái chiếm” này.

Đồng thời với việc chuẩn bị lực lượng, Nguyễn Văn Thiệu điều tướng Ngô Quang Trưởng (nguyên Tư lệnh Quân khu 4 - Vùng 4 chiến thuật) - ra làm Tư lệnh Quân khu 1, Vùng 1 chiến thuật thay tướng Hoàng Xuân Lãm - viên tướng làm mất cả tỉnh Quảng Trị. Việc thay đổi nhân sự phản ánh quyết tâm của Thiệu tìm kiếm những thắng lợi quân sự nhằm ngăn chặn sự suy sụp tinh thần binh sỹ, đồng thời giữ chặt vùng đất từ nam sông Mỹ Chánh trở vào.

Ngày 19-6-1972, Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh cho quân đội mở một chiến dịch tiến công trong 3 tháng, mệnh danh “Thừa thắng xông lên, tái chiếm lãnh thổ”(13). Theo đó, địch sẽ chiếm lại thị xã Quảng Trị trong tháng 7 và toàn tỉnh Thừa Thiên trong tháng 8 và 9. Động thái này của người đứng đầu chính quyền Sài Gòn được đánh giá là “giai đoạn giành lại quyền làm chủ những đất đai bị Cộng sản tạm chiếm trong toàn lãnh thổ. Không những thế, cuộc tiến công này chắc chắn có một ý nghĩa chính trị, trực tiếp ảnh hưởng tới mọi quyết định đang được thành hình về vấn đề Việt Nam và Đông Dương”(14).

Song song với quá trình nghiên cứu, soạn thảo kế hoạch phản công, địch đẩy mạnh tác chiến ngăn chặn và trì hoãn các cuộc tiến công của ta, nhằm tạo một cục diện chiến trường không xấu hơn đối với chúng. Sau “nhiều lần chỉnh sửa”, kế hoạch phản công của địch được hoàn tất vào ngày 16-6-1972, mang tên Kế hoạch hành quân Lam Sơn 1972. Kế hoạch được thực hiện bằng những trận oanh kích lớn. Ngày 26 và 27-6, trên toàn bộ chiến tuyến phía Bắc sông Mỹ Chánh từ Núi Cái Mương, Hồ Lầy, Đá Bạc (hướng tây), đến Văn Quỹ, Hội Phường Kỳ (hướng đông) và các trận địa hỏa lực của ta nằm dọc đường số 1 huyện Hải Lăng đều bị đánh phá dữ dội. Sáng ngày 28-6, với sự chi viện của không quân và hải quân Mỹ, các sư đoàn chủ lực ngụy bắt đầu ồ ạt tiến công sang bờ bắc sông Mỹ Chánh thực hiện cuộc hành quân “tái chiếm lãnh thổ”.

Cuộc chiến đấu chốt giữ thị xã và Thành cổ Quảng Trị diễn ra quyết liệt từ trung tuần tháng 7 trở đi. Trên khu vực ngã ba Thạch Hãn đến ngã ba Long Hương, 3 tiểu đoàn dù (1, 9, 11), lữ dù 2 và 3 liên tục tấn công vào xung quanh Thành cổ, có ngày quân dù chiếm được gần hết làng Tri Bưu và làng Cổ Thành nhưng mọi cuộc tấn công ồ ạt của quân dù đều bị chặn lại trước những chốt thép kiên cường của quân ta. Với chiến thuật “đánh nhanh thắng nhanh”, nhảy cóc không thành, quân dù buộc phải chuyển sang “đánh chắc tiến chắc” nhằm giảm bớt thương vong. Và với chiến thuật “chậm chắc” mỗi khi gặp ta là địch dừng lại, gọi bom, pháo đánh rồi mới tổ chức tiến công tiếp. Bởi vậy, trên dải đất dài, hẹp chỉ vài cây số vuông của thị xã và Thành cổ Quảng Trị, suốt ngày bom đạn nổ rền rĩ, mặt đất như chảo lửa lớn. Trong cuốn “Cuộc thử thách” của Đê-vơ ri-sớt Pan-Mơ đã miêu tả: “Các cuộc tấn công của Bắc Việt thật là dồn dập, ở một quy mô chưa từng thấy” và “Tổng thống Thiệu tuyên bố tình trạng khẩn cấp đã nói với công chúng là trận chiến tranh quyết liệt đang ở trong tầm tay. Ông đã tung mọi lực lượng dự bị vào các khu vực bị đe dọa”.

Vượt qua mọi khó khăn, gian khổ ác liệt và hy sinh, các chiến sĩ của ta đã chiến đấu kiên cường, chỉ trong vòng từ 28-6 đến 27-7-1972, các đơn vị chốt giữ thị xã và Thành cổ đã đánh thiệt hại nặng lữ đoàn dù 2 và 2 tiểu đoàn lính thủy đánh bộ, buộc sư đoàn dù (đã bị thương vong gần 5.000 tên) phải lui về phía sau củng cố. Trong những ngày này, học giả người Mỹ W.R.Baker đã đánh giá: “Cộng sản tấn công với tốc độ nhanh và chính xác. Đây là những cuộc tấn công hướng tới Thành cổ Quảng Trị và quan trọng nhất là một số đơn vị của cộng sản là lực lượng tại chỗ ngăn chặn bất kỳ sự nỗ lực nào của Việt Nam Cộng hòa”.

Bước sang tháng 8 và tháng 9, cuộc đọ sức quyết liệt giữa ta và địch ở khu vực thị xã và Thành cổ ngày càng diễn ra ở mức độ cao hơn. Về phía quân địch, để hỗ trợ cho tinh thần quân ngụy, ngoài máy bay chiến thuật, chiến lược oanh tạc theo yêu cầu của bộ binh ở tiền duyên, Mỹ còn cho pháo hạm, pháo mặt đất tầm xa bắn tới hai vạn viên đạn suốt một ngày nhưng trước sức tiến công của ta, Mỹ - Ngụy đã phải cay đắng thừa nhận: “Hiệu quả chiến đấu của Quân lực Việt Nam Cộng hòa không đều, họ đứng vững được bởi sự trợ giúp của các cố vấn Mỹ và hỏa lực yểm trợ mạnh mẽ của Mỹ từ trên không, trong đó phải kể đến các phi vụ B52 liên tiếp rải thảm xuống đội hình đối phương”(15) và: “Các điểm yếu nội tại trong cấu trúc chỉ huy của Việt Nam Cộng hòa đã xuất hiện trở lại, khi họ tỏ ra quá phụ thuộc vào yểm trợ hỏa lực của Mỹ”(16). Bản tóm tắt tổng kết chiến tranh Việt Nam của Bộ Quốc phòng Mỹ đã viết: “Các lực lượng vũ trang Việt Nam Cộng hòa vẫn lúng túng trong cố gắng tìm cách dung hòa giữa những yêu cầu bảo đảm an ninh cho dân chúng và với chiến tranh cơ động đã không được chuẩn bị đầy đủ về tâm lý hay chiến thuật để có thể đương đầu với quân Bắc Việt Nam ngày càng được tăng cường cả về số lượng và chất lượng”(17).

Về phía ta, để giữ được Thành cổ, chiến sỹ ta đã phải sử dụng chiến thuật phối hợp hỏa lực và vận động, dùng pháo binh, xe tăng dẫn đầu đánh tan những vị trí địch yếu kém. Các dàn súng phòng không cơ động sẽ ngăn không cho máy bay đến đúng tầm có thể yểm trợ, nhờ đó xe tăng ào tới chiếm các mục tiêu của địch. Trong khi đó, các đơn vị quân đội Sài Gòn không quen cầm cự với hỏa lực pháo tập trung và chưa được huấn luyện để chặn cuộc tiến công ồ ạt của xe tăng, đã tán loạn kinh hoàng trước cuộc tấn công thần tốc của ta.

Từ 28-6 đến 16-9-1972, trải quan 81 ngày đêm để chiếm lại Thành cổ Quảng Trị 16 ha và cả thị xã Quảng Trị hơn 3km2, Mỹ đã ném xuống đây 328.000 tấn bom. Báo chí phương Tây thời đó bình luận, khối lượng bom Mỹ ném xuống Thành Cổ tương đương với sức công phá của 7 quả bom nguyên tử Mỹ ném xuống Hiroshima (Nhật Bản) năm 1945. Trong những ngày đó, quân và dân ta đã vượt qua muôn vàn khó khăn, ác liệt, mưa lũ triền miên để bám trụ và chiến đấu với các đối tượng sừng sỏ, thiện chiến của quân ngụy Sài Gòn với sự yểm trợ hỏa lực chưa từng thấy trong lịch sử chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ ở Đông Dương. Một tờ báo của Mỹ đã viết: Kỷ luật, lý tưởng và tinh thần coi thường cái chết đã kết hợp với nhau như thế nào mà khiến các chiến sỹ Việt cộng vẫn xông lên dưới mưa bom B52? Không có một nhà phân tích nào ở Mỹ đi đến một giải thích đầy đủ.

Cũng trong quá trình diễn ra chiến dịch, nhiều tờ báo tại Mỹ và phương Tây đã bình luận về kết cục bi thảm của nó. Tờ Tin Mỹ và Thế giới, số ra ngày 21-8-1972 viết rằng: “Hệ thống phòng thủ ở Bắc Việt Nam hiện đại, rộng khắp và có hiệu quả, đến nỗi trong bất cứ 1 trận đánh nào 90% máy bay của không quân Mỹ - Ngụy phải lo tự bảo vệ, đề phòng bị MIC tiến công, đồng thời khống chế súng phòng không và tên lửa từ mặt đất bắn lên…”(18). Tờ tạp chí Time của Mỹ, số ra ngày 25-9-1972 đăng tải: “Việc chiếm Quảng Trị sẽ đưa đến cho Sài Gòn một sự quảng cáo tâm lý chiến đấu rất cần thiết nhưng nó tuyệt nhiên không hoàn thành mục tiêu mà Thiệu đã tuyên bố. Tướng Mỹ Frederick Weyand tuần trước báo cáo rằng, ước tính Cộng sản vẫn nắm giữ khoảng một nửa Nam Việt Nam. Hơn nữa, trận đánh chiếm Quảng Trị một lần nữa lại đặt ra những câu hỏi chết người về chiến lược căn bản của cuộc phản công của Thiệu, đó là phó thác quân đội vào những trận đánh đơn lẻ và tổn thất cho những thành phố có tầm quan trọng thứ yếu về mặt quân sự. Đối với Quảng Trị, giờ đây nó chỉ là một đống gạch vụn”(19). Đại tá ALLen chỉ huy trưởng ở Bulge đã chỉ ra rằng: “Chúng tôi đã đánh giá đúng lý do vì sao các lực lượng Mỹ và Nam Việt Nam thất bại trong chiến dịch Quảng Trị năm 1972 và chiến dịch này được gọi là “Thất bại tình báo”, bởi vì Hoa Kỳ và Nam Việt Nam hoàn toàn bất ngờ. Từ đây, có thể tiết lộ rằng: Bộ Chỉ huy chiến đấu của Mỹ và Việt Nam Cộng hòa đã có những thay đổi đáng kể trong tư thế của quân đội Bắc Việt”.

Còn Bộ Tư lệnh MACV (cơ quan cố vấn mọi hoạt động huấn luyện cho quân đội Sài Gòn) đã đưa ra một mệnh lệnh yêu cầu các cố vấn Mỹ phải chuyển sang các cuộc hành quân chiến thuật bằng đơn vị nhỏ, loại bỏ việc hành quân tập trung kiểu Mỹ và nhận định: “Những trận chiến đấu sử dụng các đơn vị lớn coi như đã qua rồi. Cuộc tiến công năm 1972 đã làm cho MACV phải nhanh chóng xét lại vấn đề”(20).

Việc để mất tỉnh Quảng Trị đã làm cho Mỹ - Ngụy hoang mang, dao động mạnh. Tổng Tham mưu trưởng quân đội Sài Gòn, Tướng Cao Văn Viên thú nhận: “Cuộc tiến công năm 1972 của địch đã làm nổi lên một cách bi thảm nhất sự yếu kém cơ bản của quá trình Việt Nam hóa”. Thất bại đó, chứng tỏ nếu quân đội Sài Gòn không có sự hỗ trợ của quân Mỹ, đặc biệt về hỏa lực thì quân đội Sài Gòn khó đứng vững trước sức tiến công của chủ lực quân giải phóng. Nhiều học giả tại Mỹ và phương Tây bình luận rằng: Một yếu tố bất ngờ góp phần cho sự thắng lợi của Bắc Việt Nam trong chiến dịch giải phóng Quảng Trị chính là các chỉ huy Mỹ và Nam Việt Nam quá tự tin về họ, vi phạm nguyên tắc đánh giá thấp đối phương và chiến trường Quảng Trị trở nên khốc liệt, đẫm máu bởi sự hy sinh mất mát quá lớn của cả hai bên. Nhưng theo đồng chí Lê Đức Thọ, sau chiến dịch Quảng Trị năm 1972, tại Pari, Kít-xinh-giơ nói rằng: đứng về mặt quân sự mà nói thì cả hai bên đánh nhau để giữ một cái Thành cổ như vậy thì không ai lại đánh như thế cả. Trả lời Kít-xinh-giơ, đồng chí Lê Đức Thọ cho rằng: “Đó là vấn đề chính trị, đánh để giành thế mạnh chính trị trong đàm phán thôi, chứ còn đứng về quân sự thì không một ai vì một mảnh đất nhỏ đổ nát mà đánh như thế”(21). Đúng như vậy, bởi vì thắng lợi về quân sự trên chiến trường sẽ là lợi thế của các bên trên bàn Hội nghị. Lúc này, tại Pari, đàm phán hòa bình tiếp diễn, nhưng cả hai bên đã đồng ý, Mỹ phải chấp nhận ngừng bắn tại chỗ, thừa nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tồn tại bên cạnh chính quyền Sài Gòn, và Mỹ rút quân hoàn toàn ra khỏi miền Nam Việt Nam, đó mới là thắng lợi to lớn mà chúng ta đã giành được./.

Trung tá, TS. Trương Mai Hương
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


--------------------

Tài liệu tham khảo:

1. Trích theo: “Cuộc thử thách”của Đê-vơ ri-sớt Pan-Mơ, Minh Huy giới thiệu, Tạp chí Lịch sử quân sự tháng 4.1992, tr.48

2. Tài liệu của Việt Nam Cộng hòa năm 1970-1972 - Phòng số 4- Hồ sơ số 59, Lưu TTXVN

3. Tài liệu của Việt Nam Cộng hòa năm 1970-1972, Phòng số 4- Hồ sơ số 141, Lưu TTXVN

4. Peter Dale Scoll, The secret road to the second Indochina War (Âm mưu chiến tranh: Con đường bí mật dẫn tới cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ 2), Boobbs - Merrill Company, New York, 1972

5. David Fulghum & Terrance Maitland, et al, South Vietnam on Trial. Boston: Boston Publishing Company, 1984, tr.138

6. Một chiến thắng bị bỏ lỡ - William Colby- Nxb Công an nhân dân, tr.372

7. Trích theo: “Cuộc triệt thoái đầy bi thảm khỏi thành phố Quảng Trị” - Quốc Hưng dịch, Tạp chí Lịch sử quân sự tháng 5-1992, tr.89

8. Nhận xét của John Van, cố vấn quân sự Mỹ của Vùng 3 Chiến thuật, Nguồn: Neil Shechan, Abright Shining Lie, Random House, 1988, tr.776.

9. Tài liệu của Việt Nam Cộng hòa năm 1970-1972, Phòng số 4, Hồ sơ số 16, Lưu TTXVN

10. Fulgham & Maitland, sđd, tr.183.

11. Andrade, Dale, Trial By Fire: The 1972 Easter Offensive, Americas Last Việt Nam Battle, New York: Hippocrene Books, 1995, tr.590.

12. Thời báo New York tại Mỹ, số ra ngày 3-5-1972

13. Mặt trận vùng giới tuyến 72, Phòng 5- khối Quân sự Bộ Tổng tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng hòa, Sài Gòn, 1974, tr.140.

14. Mặt trận vùng giới tuyến 72, Phòng 5- Khối Quân sự Bộ Tổng tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng hòa, Sài Gòn, 1974, tr.140.

15. Palmer, Dave Ri chard, Summons of the Trumpet: A History of the Vietnam War From A Military Mans Viewpoint. Novato CA: Presidio Press, 1999, tr.324.

16. Andrade, Dale, Trial By Fire: The 1972 Easter Offensive, Americas Last Việt Nam Battle, New York: Hippocrene Books, 1995, tr.529

17. Tóm tắt Tổng kết chiến tranh Việt Nam của Bộ Quốc phòng Mỹ, Tập 6: Tiến hành chiến tranh, Tài liệu do Viện Lịch sử quân sự Việt Nam dịch, tr.9.

18. Tờ Tin Mỹ và Thế giới, số ra ngày 21-8-1972.

19. Tạp chí Time của Mỹ, số ra ngày 25-9-1972

20. Tài liệu của Việt Nam Cộng hòa năm 1970-1972, Phòng số 4, Hồ sơ số 148, Lưu TTXVN

21. Dẫn theo Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ (tuyển chọn từ Tạp chí Lịch sử quân sự), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2006, tr.739.
Logged
spirou
Thành viên
*
Bài viết: 44


Genpei


« Trả lời #11 vào lúc: 07 Tháng Mười, 2012, 01:41:12 am »

Chú Luận có thể kể lại chi tiết cho cháu về trận 1015 được không ạ? Trận này thông tin phía ta thì ít, mà phía địch lại ba hoa quá.
Logged
quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #12 vào lúc: 07 Tháng Mười, 2012, 02:42:15 am »

Chú Luận có thể kể lại chi tiết cho cháu về trận 1015 được không ạ? Trận này thông tin phía ta thì ít, mà phía địch lại ba hoa quá.

Cái này hay đấy, chú Luân sang đây kể lại dưới con mắt lính chiến đi ạ! Cháu nghĩ rằng nhiều anh em  sẽ bay số 2 hỗ trợ theo sau đấy,  Grin
Logged

bob
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 924


« Trả lời #13 vào lúc: 07 Tháng Mười, 2012, 07:30:54 pm »

tháng 4/72 đánh 1015 anh Thế là c viên phó c6 . suốt ngày 14/4 gần dứt điểm thì máy bay hủy diệt trận địa bằng cả bom na pan . Kiều Thế bị thương nằm trên mỏm 3 . Vân tải khiêng tử sĩ và thương binh nườm nượp . Bộ đội ta hi sinh nhiều quá , vận tải vào lấy tử sĩ cũng thương vong nên phải lấy cả bộ binh , trợ chiến và hậu cần E bộ vào vận tải . Tối ấy , thương binh và tử sĩ mang ra...   .




Bác Luân kể tiếp đoạn này đi, tỷ mỷ thêm chút nữa. Hấp dẫn lắm. Chính bob tui ngày đó (4/1972) trong lúc hành quân vào Tân cảnh -Đăk tô đã nghe loáng thoáng: "320 oánh sac ly, đen ta ác liệt lắm"! "Gặp lại tụi Dù ở đường 9 nam Lào..."
Trong chiến dịch xuân hè 1972 ở Tây nguyên, Đầu tháng 4/ 1972, F 320 của bác NTL đã diệt căn cứ 1015 (phía bên kia gọi là Sac-ly) và căn cứ 1049 (Đen- ta). Bob được nghe kể lại các trận oánh nhau tại đây rất ác liệt… Bác có thể kể lại diễn biến các trận này tỹ mỷ một chút để ae hình dung “mùa hè đỏ lửa” ở Tây nguyên phối hợp với hướng chính Quảng trị ! Bob hồi ấy đang ở Cao xạ 14,5 ly vác súng đi cùng E66 đánh Tân cảnh- Đăk tô (thắng giòn dã nhờ các bác diệt sac- ly...). sau bác mấy ngày.
Logged
bob
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 924


« Trả lời #14 vào lúc: 07 Tháng Mười, 2012, 07:50:54 pm »

Chú Luận có thể kể lại chi tiết cho cháu về trận 1015 được không ạ? Trận này thông tin phía ta thì ít, mà phía địch lại ba hoa quá.
- Đúng rùi, bác kể lại chi tiết đi. Trận này 320 đụng lính dù... Ác liệt lắm! Chúng "ba hoa" cái gì chứ! Kết quả cuối cùng thì sao!? - Hồi ấy hỏa lực(máy bay+pháo binh các loại) chúng mạnh lắm. B52 rải thảm suốt ngày đêm...Pháo bầy chúng bắn như trẻ con Đánh trống... Trực thăng vận bay hàng bầy "như ruồi"... Vậy mà có giữ nổi 1015 và 1049 đâu! Hì...hì... Lịch sử còn chói sáng đó, nhân chứng sống còn sờ sờ đó. Kể lại đi bác, mặc dù trận này mình cũng tổn thất khá lớn, bao đồng đội đã nằm lại trên Sac ly-Đelta...
Logged
quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #15 vào lúc: 09 Tháng Mười, 2012, 11:30:13 am »

Chú Luận có thể kể lại chi tiết cho cháu về trận 1015 được không ạ? Trận này thông tin phía ta thì ít, mà phía địch lại ba hoa quá.

Cái này hay đấy, chú Luân sang đây kể lại dưới con mắt lính chiến đi ạ! Cháu nghĩ rằng nhiều anh em  sẽ bay số 2 hỗ trợ theo sau đấy,  Grin

@ các bác :
Luân tôi cám ơn mọi người quan tâm tới đơn vị tôi với trận đánh 1015 vào 4/72 . Tôi cũng thật là tự hào được là lính ở trong đơn vị đó . Nhưng thưa các bác trận 1015 trở thành thương hiệu của E 64 F320 và nó là niềm tự hào nhưng thú thật cũng vô cùng bi tráng . Cũng may , trận đánh đó tôi chưa được tham gia . Và tất cả những cái hiểu của tôi , cái biết của tôi đều là người đến sau . Khi tôi về đơn vị thì những người đánh 1015 trong đại đội tôi với tôi đều là anh hùng . Hôm qua , tôi ngồi ở nhà bác Khuất Duy Tiến một buổi chiêù nghe bác Trung tướng  ấy nói về trận 1015 . Nhìn ông già 83 tuổi khóc mà mình cũng không cầm lòng . Có rất nhiều trong sử ta không viết hoặc viết chưa đủ . Trước khi ra về bác KDT nói với tôi là : Cả đời đánh giặc chưa có trận nào mình chỉ huy mà thương vong tới hơn 300 người mà cũng chưa có trân nào được đánh thắng huỷ diệt kẻ địch như thế . Nếu các bác muốn nghe kể về trận theo góc nhìn của lính thì tôi e ta chỉ nhìn thấy cái ác liệt và hi sinh quá tàn khốc mà thôi . Bởi lúc ấy hướng nào cũng là tử sĩ , xác ta và địch xen lẫn vào nhau khắp chiến hào .
Về phía địch cho là ta lấy thịt đè người là hoàn toàn sai ( vì bộ binh tấn công chỉ có 2 tiểu đoàn , tấn công một tiểu đoàn dù trong công sự ) Mà nên nhớ là một tiểu đoàn dù khác tiểu đoàn bộ binh thường ở chỗ nó có 4 đại đội với quân số 500 người .
Cho là ta dùng pháo binh quá lớn cũng sai . Sở dĩ trận đánh kéo dài 3 ngày vì pháo ta bắn không đủ áp chế và chỉ đến khi quyết định bắn tiếp pháo 30 phút nữa ngỳa cuối cùng thì bộ binh ta mới dứt đỉêm được trận đánh .
Sự ác liệt của 1015 ở chỗ khi chưa thực hành chiếm lĩnh thì ta đã bị thương vong lớn vì B52 . Khi chiếm lĩnh xong thì pháo binh địch đã bắn trúng đội hình ta gây thương vong cho đội hình chuẩn bị nổ súng . Áp tới ngày nổ súng sở chỉ huy trung đoàn dính B52 tiếp . Hầm trung đoàn trưởng dính pháo khoan hi sinh mất đại đội phó pháo binh , trung đoàn phó bị thương ,và một vệ binh hi sinh .Ngay trước khi nổ súng vào ngày 11/4 B52 rải khắp tuyến bàn đạp , bom đánh trúng phẫu trung đoàn . Bác sĩ đại đội trưởng quân y hi sinh . Tình hình ấy đủ thấy trận đánh khốc liệt ngay từ đầu .
Hôm qua tôi gọi điện cho những người thân quen là những người đánh 1015 , anh nào cũg yếu , anh nào cũng thì thầm hãi lắm , thương anh em mình lắm ... tôi cứ bần thần thôi không hỏi nữa .
     Khi tôi về C7 D8 anh em Xê tôi vẫn kể lại giọng điệu vẫn run run . C7 đánh lên mũi dốc đứng , nhiều cây gỗ to đổ xuống rất khó vận động . Khi xung phong máy bay địch lao xuống đánh bom chỉ trong một lượt bom sáng 12 /4 đại đội hi sinh gần ba chục bị thương hơn chục  ,  đại đội trưởng hi sinh ... Nhưng họ không lùi xuống vẫn bám trên sườn dốc chịu lựu đan và pháo đichj trút lên đầu ...
Bác KDT đọc cho tôi những cái tên cán bộ hi sinh trận ấy nghe mà nặng nề  .
Tôi kể ở đây nhé :
Cán bộ tiểu đoàn  : tiểu đoàn trưởng Đàm Vũ Hiệp D8 ( anh Hiệp người Phúc Thọ Hà Tây lúc ấy 22 tuổi )
       chính trị viên Nguyễn Ngọc The D8
      * anh Cam D trưởng D9
Cán bộ đại đội trưỏng : các anh Bành Thế BÌnh c7
           Phùng văn Tiến  c11
          Anh Hải C trưởng quân y
          anh Hinh c7
          Anh Hiền
Anh Thoán TM phó E đưa xuống  thay anh Hiệp cũng bị thương
Việc đánh quân dù ở Tây nguyên đây là lần đầu , nhưng với 320 thì đây là cuộc tao ngộ với kẻ thù duyên kiếp . Cũng Lữ dù này năm trước bị E 64 đánh tơi tả trên đường 9 phía bên Lào và bắt cả lữ trưởng vì thế trận này lữ dù 3 quyết tâm rửa hận . có lẽ cũng vì thế mà tính chất trận đánh càng thêm gay go quyết liệt .


@chú Luân: tâm trạng của cụ KDT, hiểu được chứ chú, một trận bi tráng mà cả hai bên đều quyết tâm, cố gắng hết sức và vùi dập đối thủ đến cùng.

Nào, mời các "chiên da" chia sẻ với bác lính Tây nguyên trận đánh này,  Grin. Em có một số thông tin cơ bản thôi:

1. :
1.1 Lực lượng ta:
- Đã có mặt ở Tây Nguyên: Trung đoàn 28, 66, 95, 40 và một số đơn vị binh chủng kỹ thuật Trung đoàn 24B.

Tăng cường:
- F320A lúc đó hành quân vào đến B3 là tháng 2/1972 (trận đánh tháng 4); lưu ý đây là đơn vị có truyền thống "Đồng Bằng" được Bộ đưa vào Tây Nguyên chờ...  Wink
- Ngoài F320A thì tại thời điểm đó Bộ cũng tăng cường cho B3 sư đoàn 2/F2 thiếu (E1/trung đoàn Ba Gia, E141/ trung đoàn 141); trung đoàn 675/E 675 pháo binh, trung đoàn 7/E7 công binh; ba tiểu đoàn pháo cao xạ 37mm và một đại đội pháo 57mm); một đại đội tên lửa chiến thuật B.72. Ngoài ra còn có tiểu đoàn tăng/ D297 và đại đội tăng/ C16.

1.2 Lực lượng địch:
- Sư đoàn 22 (Đắc Tô - Tân Cảnh), Sư đoàn 23 (Kon Tum) thuộc quân đoàn 2; liên đoàn biệt động quân số 2; liên đoàn biệt động quân số 6; bốn trung đoàn thiết giáp 14, 19, 3, 8 (gồm 10 chi đoàn thiết giáp); bảy tiểu đoàn pháo binh (160 khẩu pháo từ 105 ly đến 175 ly); sư đoàn 6 không quân (214 máy bay các loại). Ngoài ra còn 14 tiểu đoàn và 14 liên đoàn bảo an. Đồng thời, VNCH quyết định ném sư đoàn dù - lực lượng tổng dự bị lên Tây Nguyên. Ước tính có 27 nghìn quân chủ lực và hàng chục nghìn quân địa phương.

em bận, đưa tạm lên,  Grin,
« Sửa lần cuối: 18 Tháng Mười, 2012, 09:49:27 am gửi bởi Tunguska » Logged

bob
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 924


« Trả lời #16 vào lúc: 09 Tháng Mười, 2012, 06:29:12 pm »

@chú Luân: tâm trạng của cụ KDT, hiểu được chứ chú, một trận bi tráng mà cả hai bên đều quyết tâm, cố gắng hết sức và vùi dập đối thủ đến cùng.

Nào, mời các "chiên da" chia sẻ với bác lính Tây nguyên trận đánh này,  Grin. Em có một số thông tin cơ bản thôi:

1. :
1.1 Lực lượng ta:
- Đã có mặt ở Tây Nguyên: Trung đoàn 28, 66, 95, 40 và một số đơn vị binh chủng kỹ thuật Trung đoàn 24B.

Tăng cường:
- F320A lúc đó hành quân vào đến B3 là tháng 2/1972 (trận đánh tháng 4); lưu ý đây là đơn vị có truyền thống "Đồng Bằng" được Bộ đưa vào Tây Nguyên chờ...  Wink
- Ngoài F320A thì tại thời điểm đó Bộ cũng tăng cường cho B3 sư đoàn 2/F2 thiếu (E1/trung đoàn Ba Gia, E141/ trung đoàn 141); trung đoàn 675/E 675 pháo binh, trung đoàn 7/E7 công binh; ba tiểu đoàn pháo cao xạ 37mm và một đại đội pháo 57mm); một đại đội tên lửa chiến thuật B.72. Ngoài ra còn có tiểu đoàn tăng/ D297 và đại đội tăng/ C16.

1.2 Lực lượng địch:
- Sư đoàn 22 (Đắc Tô - Tân Cảnh), Sư đoàn 23 (Kon Tum) thuộc quân đoàn 2; liên đoàn biệt động quân số 2; liên đoàn biệt động quân số 6; bốn trung đoàn thiết giáp 14, 19, 3, 8 (gồm 10 chi đoàn thiết giáp); bảy tiểu đoàn pháo binh (160 khẩu pháo từ 105 ly đến 175 ly); sư đoàn 6 không quân (214 máy bay các loại). Ngoài ra còn 14 tiểu đoàn và 14 liên đoàn bảo an. Đồng thời, VNCH quyết định ném sư đoàn dù - lực lượng tổng dự bị lên Tây Nguyên. Ước tính có 27 nghìn quân chủ lực và hàng chục nghìn quân địa phương.

em bận, đưa tạm lên,  Grin,
-Quangcan@. Đưa thông tin lực lượng tham gia chiến dịch xuân hè 1972 ở Tây nguyên chính xác. Theo mình biết F2 lúc ấy của quân khu 5 lên tăng cường cho B3 do AH Nguyễn Chơn (F trưởng). Riêng pháo cao xạ 57ly có hai khẩu (loại pháo hai nòng tự hành). bob và đơn vị 14,5 ly của bob đã từng đi xóa dấu vêt xích  xe vào trận địa và ngụy trang đường đi của loại 57ly ở Tân cảnh mà. Vâng chiến dịch 1972 ở Tây nguyên lần đầu tiên xuất hiện tên lửa "có mắt" (B72) rất hiệu quả. Tuy nhiên do cơ số đạn có hạn nên cũng chỉ tập trung cho trận Tân cảnh (căn cứ trung đoàn 42 ngụy). Còn đầu tháng 4/1972. F320 oánh quân dù ở 1015, 1049 xe tăng chưa vào kịp thì phải...!? bob chỉ thấy xe tăng ta xuất hiên từ trận Tân cảnh  (24/4/1972).
 
Logged
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #17 vào lúc: 09 Tháng Mười, 2012, 08:39:49 pm »

1972 và cuộc tiên công chiến lược trong VMH đã nói nhiều. Vì tiêu đề của topic có liên quan tới "Quảng Trị-Bắc Tây Nguyên-Đông Nam Bộ" nên cũng xin phép trao đổi 1 lăn tăn từ lâu nhưng chưa có lời giải thỏa đáng.

- Thứ nhất: QĐNDVN có những hệ thống tình báo mà sau này được thế giới đánh giá là hiệu quả chẳng kém gì các lưới tình báo nổi tiếng trên thế giới (có lẽ không cần chứng minh bằng cách kể ra hàng loạt các lưới tình báo cụ thể làm gì)

- Thứ hai: Trong cuộc chiến, các đơn vị "điểm" thường được "quan tâm" hết sức kỹ lưỡng. Thí dụ: Phía QĐNDVN có sư 308, Phia QLVNCH có sư Dù, sư Thủy quân lục chiến. Việc các đơn vị này xuất hiện ở đâu, vùng đó thường được coi là "điểm nóng", là hướng tiến công chính. là ... Do vậy dĩ nhiên về phía QĐNDVN sẽ theo dõi sát sao 2 đơn vị này của QLVNCH.

- Giữa năm 1972 khi các cuộc tiên công ở Tây Nguyên-Đông Nam Bộ của QĐNDVN giảm sút cho phép QLVNCH rút sư Dù, sư Thủy quân lục chiến đưa ra Quảng Trị 1 thời gian rồi mơi tiến hành phản công tái chiếm Quảng Trị. Trong khi đó các sư đoàn của QĐNDVN vẫn lao lên tấn công do vậy không có thế trận tốt để phòng thủ và khi chuyển thế trận sang phòng thủ đã bị tổn thất nặng khi chuyển quân.

    Vậy:

       + Phải chăng những lưới tình báo (được cho là rất hiệu quả) đã không phát hiện được sự chuyển quân của cả 2 sư đoàn (hàng vạn quân với số lượng trang thiết bị (tăng, pháo) rất lớn) ra Quảng Trị làm cho các lượng QĐNDVN rơi vào thế bị động khi bị phản công?

       + Phía QĐNDVN đã biết (sự có mặt của 2 sư này) nhưng vì 1 lý do nào đó vẫn lao lên tiến công?

Vì 1 nguyên nhân gì đi chăng nữa việc không kịp thới chuyển thế trận cho phù hợp đã gây nên nhiều tổn thất cho phía QĐNDVN. Đó là những mất mát không đáng có. Vậy nguyên nhân ở đây thực chất là gì?  

Bác nào có thông tin xin làm rõ đi.
« Sửa lần cuối: 09 Tháng Mười, 2012, 08:46:04 pm gửi bởi Giangtvx » Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #18 vào lúc: 10 Tháng Mười, 2012, 08:37:31 am »

Trích dẫn
...Còn đầu tháng 4/1972. F320 oánh quân dù ở 1015, 1049 xe tăng chưa vào kịp thì phải...!? bob chỉ thấy xe tăng ta xuất hiên từ trận Tân cảnh  (24/4/1972). ..

Theo em, chỗ đó tăng nỏ vô được bác ạ, khó xoay mà dễ bị nó úp bằng B52 + pháo lớn từ xa rồi,  Grin. Với lại theo kế hoạch thì chỉ có tăng cho hướng Đăk Tô - Tân Cảnh và sau này là thọc sâu vào thị xã Kom Tum thôi,  Grin
Logged

nguyentrongluan
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1246


« Trả lời #19 vào lúc: 10 Tháng Mười, 2012, 08:55:42 am »

 Dải phòng ngự tây pô kô gồm cả một loạt cứ điểm khác nhưng trong đó nổi lên là Charlie và Denta. ( 1015, 1049)
Phòng tuyến này được giao cho 320 giải quyết để tiếp theo sau là 28,95,66,24..và F2 tiến hành đánh Dakto Tan cảnh và thị xã Kon tum .
Rất tiếc vào ngày 5/4 /72 E 52 đánh 1049 không thành khiến lính dù lại càng lớn tiếng với 320 . Vì thế khi đánh 1015 ta quyết tâm không để tình trạng lặp lại như 1049 mà quyết tâm đánh vùi dập . Thực tế lúc ây vừa hành quân vào binh lực còn mạnh , khí thế bộ đội tốt hơn nữa đây hầu như là những chiến sĩ đã đánh đường Chín Nam lào có kinh nghiệm và ý chí cao nên sư đoàn rất tin tưởng . Nhưng chưa khi nào tần suất B52 lại dầy như lúc này vì địch cũng dự biết nếu phá vỡ mảng phòng ngự này thì sẽ tất yếu sinh ra một mùa hè đỏ lửa trên hướng bắc Tây nguyên . D7 được tách ra chốt chặn các hướng mà địch có khả năng đưa quân giải toả cho 1015 . Một tiểu đoàn của E 48 dự tính chặn đường rút của tàn quân D11 lữ dù . Tất cả dự liệu đó đều chính xác khiến toàn bộ D11 dù chết và bị bắt . Nhưng vào đêm 15/4 khi bắt tù binh chừng ngót trăm tên thì lính ta lại để vài chuc tên chạy thoát . Số tàn quân này thoát về và bổ xung tái lập lại để tháng 6 lại ra đánh thành cổ quảng Trị .
Trận 1015 ta chưa có xe tăng . NHưng sau khi chiếm 1015 thì một con đường vắt qua yên ngựa trên dãy đồi này chính là đường cho xe tăng tiến vào đánh Dak to Tancanh

Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM