Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 10:39:24 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Hoạt động chiến đấu của QC PK-KQ QĐND Việt Nam tháng 12 năm 1972  (Đọc 38461 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #10 vào lúc: 22 Tháng Tám, 2012, 07:33:51 pm »

(tiếp)

Các máy bay gây nhiễu, trong khi bay thành các tốp 4-8 chiếc theo đội hình "hàng ngang" với giãn cách 600-800 m ở độ cao 6-7 km, đồng thời thả các thùng chứa nhiễu thụ động. Nhịp độ thả là 3-5 giây. Vài giây sau khi thả, các thùng chứa nổ tung và các bó nhiễu sẽ được rải ra trong không trung. Trong vòng 4-5 phút mỗi bó nhiễu, mở ra dưới tác động của dòng không khí, sẽ tạo ra trên các màn hình của tất cả các loại radar dấu hiệu có dạng giống như dấu hiệu của mục tiêu. Tới thời điểm các tốp B-52 tấn công tiếp cận, nhiễu đã được phân bố khắp và trên các màn hình hiển thị của radar ta sẽ quan sát thấy chúng dưới dạng những dải liên tục dày đặc, gây khó khăn cho việc tìm kiếm, phát hiện các mục tiêu trên không và đánh giá tình hình.

Các chùm nhiễu thụ động được thả từ máy bay ném bom B-52 như một biện pháp phòng vệ cá nhân cũng như bảo vệ cho các máy bay đang bay phía sau.

Cơ số hạn chế các chùm nhiễu thụ động mang trên máy bay B-52 không cho phép sử dụng chúng để tạo ra nhiễu thụ động trên suốt dọc tuyến đường bay vào khu vực tác chiến của TLPK. Vì vậy, các máy bay B-52 chỉ đặt nhiễu thụ động khi phát hiện tên lửa PK có điều khiển được phóng lên hoặc sau khi không kích xong đi ra khỏi khu vực tác chiến của binh chủng TLPK (để phá "bắn đuổi" - "стрельбы вдогон").

Thời gian thả các chùm nhiễu tùy thuộc vào độ dài của chu kỳ xạ kích, và tốc độ thả các bó nhiễu - phụ thuộc việc đảm bảo đạt xác suất tối đa kích nổ tên lửa của đám mây nhiễu. Quá trình phân tích cho thấy rằng thời hạn thả các bó nhiễu thụ động từ máy bay B-52 thường không vượt quá 20-25 giây (mật độ gây nhiễu - 0,8-1 bó trên 100 m đường bay). Trong những điều kiện này, một máy bay B-52, trang bị 2 súng tự động kiểu ALE-27 có thể thực hiện đối kháng bằng nhiễu thụ động chống lại 4-5 lần xạ kích của bộ đội TLPK.

Trong các cuộc không kích quy mô lớn của không quân chiến thuật, việc gây nhiễu chủ động và thụ động được thực hiện về cơ bản cùng một cách như khi đảm bảo cho các cuộc không kích của không quân chiến lược. Khác biệt trong việc gây nhiễu thụ động chỉ đơn thuần ở chỗ chiều cao thả thùng chứa nhiễu giảm xuống còn 4-5 km. Máy bay thuộc các tốp xung kích không bay trực tiếp trong dải nhiễu thụ động, mà theo quy định thường bay cao hơn dải nhiễu 1-2 km hoặc bên cạnh (bên phải hoặc bên trái) cách 1-2 km. Sự khác biệt trong gây nhiễu chủ động là ở chỗ người ta không gây nhiễu cho đường liên lạc vô tuyến và truyền dẫn vô tuyến. Nhiễu chủ động chế áp các trạm radar dải sóng mét và đêximet chỉ được thực hiện từ các máy bay đối kháng điện tử chuyên dụng từ khu vực quần vòng của chúng. Nhiễu có cường độ trung bình hoặc yếu.

Trong các cuộc không kích quy mô lớn của không quân hải quân trên tàu sân bay, việc đảm bảo đối kháng điện tử được thực hiện bằng cách gây nhiễu chủ động từ các máy bay chuyên dụng kiểu EA-6B, hoặc EKA-3B và từ các tàu chiến của Hạm đội 7 Hải quân Mỹ ở trong vịnh Bắc Bộ, việc tạo ra các nhiễu xung đáp ứng từ các máy bay nhóm xung kích, nhóm bảo đảm yểm trợ và gây nhiễu thụ động từ các máy bay thuộc các tốp phân nhiệm đặc biệt.

Các phương pháp gây nhiễu chủ động bởi các máy bay REP chuyên dụng, cũng như nhiễu thụ động cũng là những phương pháp giống như khi đảm bảo cho các cuộc không kích quy mô lớn của không quân chiến thuật.

Các máy bay thuộc các tốp tấn công và các tốp bảo đảm yểm trợ tạo ra các nhiễu xung đáp ứng, gửi đi theo góc và tầm, và tạo các nhiễu xung đáp ứng bội chỉ trong dải tần số của trạm radar tổ hợp SA-75 M.

Biện pháp đối kháng điện tử khi đảm bảo cho các phi vụ của các máy bay đơn lẻ và các tốp nhỏ không quân chiến thuật và không quân hải quân trên tàu sân bay được thực hiện như sau.

Các máy bay F-111 và F-4 đơn lẻ hoạt động ở các độ cao thấp không bật thiết bị phát nhiễu, cho phép chúng khi sử dụng địa hình địa vật, bí mật tiếp cận các đối tượng cần tấn công. Các máy phát nhiễu của các máy bay này chỉ bật lên khi phát hiện có việc phóng tên lửa phòng không có điều khiển, và gây nhiễu chỉ với đài điều khiển tên lửa. Đồng thời máy bay cũng tiến hành các động tác cơ động thay đổi hướng.

Nhiễu xung đáp ứng và xung đáp ứng bội được tạo ra khi các máy bay đơn lẻ và các tốp nhỏ máy bay (2-4 máy bay) thuộc không quân hải quân trên tàu sân bay hoạt động, nhiễu phát đi theo tầm, theo các tọa độ góc đến các đài radar điều khiển tên lửa. Các máy phát nhiễu xung đáp ứng được bật ở tầm 50-60 km cách đường bờ biển, và tắt khi máy bay bay trở ra vượt qua đường bờ biển.

Trong một số cuộc tấn công, các máy bay đơn lẻ và các tốp máy bay nhỏ thuộc không quân hải quân trên tàu sân bay được bao phủ bởi màn nhiễu từ các máy bay REP hoặc từ các tàu hải quân. Nhiễu trong các trường hợp này chỉ được tạo ra trong dải tần số của các đài radar P-35, PRV-11, RSNA SA-75M.

Mức độ cao trong trang bị phương tiện kỹ thuật đối kháng điện tử hiện đại của không quân Mỹ, việc sử dụng trên quy mô lớn các phương tiện đối kháng điện tử trong quá trình chiến dịch, cho phép bộ chỉ huy quân sự Mỹ làm suy giảm đáng kể hiệu quả trong việc sử dụng các khí tài vô tuyến điện tử của Quân chủng Phòng không và Không quân QDNDVN. Tuy nhiên, cần lưu ý đến những điểm yếu trong các biện pháp đối kháng điện tử, và, trên hết là tính rập khuôn nhất định của nó trong việc tổ chức và thực hiện. Các phương pháp gây nhiễu trong tất cả các cuộc không kích quy mô lớn của không quân chiến lược, chiến thuật và không quân hải quân trên tàu sân bay trong toàn bộ thời gian chiến dịch gần như không thay đổi.

Mức độ tự động hóa trong công tác điều khiển chỉ huy các phương tiện đối kháng điện tử chưa đủ cao. Tất cả các đài gây nhiễu chủ động của máy bay B-52, được thiết kế để chế áp radar của bộ đội các binh chủng radar, TLPK, PPK, đều phải điều khiển bằng tay qua sỹ quan hoa tiêu-trắc thủ (bật và tắt đài gây nhiễu; lựa chọn chế độ làm việc của thiết bị phát nhiễu; thiết lập độ rộng phổ của nhiễu và các thông số điều chế; cấu hình máy phát nhiễu trên tần số đài radar bị chế áp và giám sát thiết bị phát nhiễu làm việc) theo thông tin thu được với sự trợ giúp của đài trinh sát điện tử kiểu ALR-20.

Việc thiếu tự động hóa điều khiển chỉ huy các khí tài đối kháng điện tử của máy bay B-52 đã dẫn đến việc sử dụng chưa tối ưu các khí tài này. Ví dụ, đài gây nhiễu chủ động, có nhiệm vụ chế áp radar P-12, theo quy định, được bật lên ở khoảng cách lớn hơn nhiều so với tầm phát hiện của các phương tiện gây nhiễu đối với các radar đó. Phương tiện đối kháng điện tử sử dụng để chế áp các kênh bắt mục tiêu của đài điều khiển tên lửa PK SA-75M cũng được bật ở khoảng cách hơn 200 km đến đài điều khiển tên lửa (SNR-CHP). Ngoài ra, chế độ làm việc của thiết bị gây nhiễu được cài đặt từ trước, không phụ thuộc vào việc đài điều khiển đạn tên lửa làm việc trong chế độ nào.

Việc bật sớm và liên tục phương tiện đối kháng điện tử mà không tính đến thời gian làm việc của các đài radar bị chế áp, cùng việc phát xạ nhiễu cho phép binh chủng radar và tên lửa PK kịp thời phát hiện các nhóm máy bay B-52 xung kích, cung cấp chỉ thị mục tiêu cho binh chủng tên lửa PK và chuẩn bị các dữ liệu đầu vào cần thiết để xạ kích.

SỬ DỤNG ĐẠN CHỐNG RADAR

Được thực hiện bởi các tốp máy bay chuyên nhiệm phát hiện và chế áp đài radar PK, trong thành phần của nó thường có 4-6 máy bay không quân chiến thuật hoặc không quân hải quân trên tàu sân bay (các máy bay F-105G và F-105D, hiếm hơn cũng có F-4C, A-4, A-6A, A-7E và F-8). Để tấn công vào các trạm radar PK, không quân Mỹ áp dụng tên lửa chống radar AGM-45 "Shrike" và AGM-78 "Standard ARM".

Đạn chống radar được sử dụng để chế áp bằng hỏa lực đài điều khiển đạn tên lửa PK SA-75M, radar dẫn bắn PPK SON-9, radar phòng không P-35 và PRV-11 của binh chủng radar. Các đặc tính chính của các loại đạn chống radar này được kê trong bảng 7.

BẢNG 7.


Các loại đạn chống radar được áp dụng theo cách sau.

Сác tốp chuyên nhiệm phát hiện và chế áp radar PK quần vòng ở phạm vi cách các khu vực ném bom của các máy bay В-52 từ 15-20 km, trên các chiều cao trung bình. Trong thành phần các tốp này có các kíp bay được huấn luyện cực kỳ đặc biệt để sử dụng đạn chống radar và thực hiện các thao tác cơ động chống tên lửa PK. Việc phóng đạn chống radar "Shrike" từ các máy bay ấy được thực hiện không muộn hơn 10-15 sau khi bật cao áp tại đài radar PK.

Thủ đoạn chiến thuật chính khi áp dụng đạn chống radar "Shrike" là phóng đạn trong tư thế bay bằng ở độ cao 2-4 km. Các biện pháp chiến thuật khác trong sử dụng đạn chống radar (phóng khi bổ nhào, bay ngóc lên) hiếm khi được dùng đến.

Các phi công Mỹ cố gắng thực hiện phóng đạn chống radar từ khoảng cách 15-35 km đến vị trí các đài radar PK bị chế áp, nhằm giảm thời gian bay của đạn chống radar và bằng cách đó hạn chế khả năng của các trắc thủ trạm radar mặt đất phát hiện được đạn chống radar. Việc phóng đạn được thực hiện chủ yếu theo cánh sóng biên đồ thị định hướng của ăng-ten đài radar.

Việc phát sóng ngắt quãng của các trạm radar, cùng với việc bước vào hoạt động đồng thời một số trạm radar nằm gần nhau, mức nhiễu chủ động do các máy bay thuộc các tốp xung kích và các tốp bảo đảm tạo ra cao, - tất cả những điều đó đã tác động tiêu cực đến tính chính xác của đạn chống radar. Đặc biệt có trường hợp 5 đến 8 đạn "Shrike" đồng thời được phóng ra, nhưng do sai số dẫn đường lớn (từ vài chục mét đến 1-2 km) nên không gây thiệt hại thực sự gì về con người cũng như trang bị cho lực lượng phòng không. Có lẽ cũng đủ khi nói rằng trong suốt thời gian chiến dịch tập kích đường không này, việc sử dụng đạn chống radar "Shrike" chỉ loại khỏi vòng chiến đấu một tổ hợp TLPK SA-75M và hai máy đo cao PRV-11.
.......
« Sửa lần cuối: 23 Tháng Tám, 2012, 10:44:45 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #11 vào lúc: 23 Tháng Tám, 2012, 07:02:17 pm »

(tiếp)

HOẠT ĐỘNG CỦA KHÔNG QUÂN MỸ ĐỐI VỚI CÁC SÂN BAY CỦA VNDCCH

Khi lập kế hoạch chiến dịch tập kích đường không chống VNDCCH, bộ chỉ huy quân sự Mỹ tính rằng để thực hiện thành công các nhiệm vụ tác chiến mà đã được giao phần chủ yếu cho lực lượng không quân chiến lược, và giảm thiểu tối đa thiệt hại do hỏa lực của hệ thống phòng không và không quân, cần phải khống chế không quân Việt Nam ngay tại các sân bay của họ, vô hiệu hóa chính các sân bay đó trong một thời gian dài. Vì mục đích này, trước hết các đòn không kích sẽ được giáng xuống các sân bay hiện đang hoạt động để phá hủy chúng và bằng cách trên, tước đi khả năng đưa lực lượng không quân Việt Nam vào chiến đấu.

Trong suốt thời gian chiến dịch, không quân Mỹ đã 82 lần tấn công các sân bay cứ của lực lượng không quân tiêm kích, tiến hành cả thảy 116 phi vụ cho mục đích này, trong đó các phi vụ của không quân chiến lược - 36, không quân chiến thuật và không quân hải quân trên tàu sân bay - 80. Các trận tấn công do các máy bay đơn lẻ hoặc các tốp máy bay nhỏ thực hiện.

Không quân chiến lược trong ngày đầu tiên của chiến dịch đã dội bom xuống tất cả các sân bay chính, và chỉ có sân bay quốc tế Gia-Lâm còn hoạt động được trong bốn ngày.

Cũng vào ngày đầu tiên của chiến dịch, các sân bay chủ yếu đang hoạt động như Nội Bài, Yên Bái, Hòa Lạc, Kiến An và sân bay quốc tế Gia-Lâm đã phải hứng chịu các trận không kích. Hiệu quả các cuộc dội bom của máy bay B-52 xuống các sân bay này khá cao.

Kết quả của các đợt ném bom đầu tiên mạng lưới sân bay của LLKQ QDNDVN là trong một thời gian nhất định hầu như toàn bộ mạng lưới đó bị vô hiệu hóa hoàn toàn. Chỉ tính riêng các đường băng và đường lăn của các sân bay nói trên đã phải hứng chịu khoảng 150 quả bom đủ các cỡ khác nhau. Bị ảnh hưởng nặng nhất là các sân bay: Nội Bài (22 trái bom rơi trúng đường băng và 5 trái rơi trúng đường lăn), Gia-Lâm (16 trúng đường băng và 8 trúng đường lăn), Kep (11 trái trúng đường băng và 12 trúng đường lăn), Yên-Bai (4 trúng đường băng và 7 trúng đường lăn), Hòa Lạc (8 trúng đường băng và 14 trúng đường lăn), Kiến An (9 trúng đường băng, 15 trúng đường lăn). Con số này không bao gồm số bom rơi trúng các làn đường dự bị, các đường nhánh và các hạng mục công trình căn cứ khác.

Ngoài đường băng và đường lăn, một số hạng mục công trình của sân bay cũng bị thiệt hại nặng (nhà chứa máy bay, đài kiểm soát không lưu, các dãy nhà công vụ), nhiều đường dây thông tin liên lạc, hệ thống các đài radar kiểm soát cất hạ cánh (РСП) và thiết bị chiếu sáng các sân bay bị đánh hỏng. Tại sân đỗ cảng hàng không quốc tế Gia-Lâm có 8 máy bay bị phá hủy hoặc làm hư hỏng (1 IL-18, 1 AN-24, 2 IL-14, 1 Li-2, 3 An-2), 1 trực thăng MI-6, và 8 xe chuyên dụng đang ở bên ngoài hầm trú ẩn.

Ví dụ điển hình nhất cho chiến thuật hoạt động của không quân Mỹ khi đánh vào sân bay là trận tấn công vào sân bay Nội Bài của 6 máy bay ném bom chiến lược B-52 và 3 máy bay F-111A trong cuộc không kích ồ ạt quy mô lớn đầu tiên của không quân Mỹ vào tối 18 tháng 12 năm 1972.


Sơ đồ 8. Trận tấn công sân bay Nội Bài ngày 18.12.1972.

Hồi 18:50 giờ, 19:10 giờ và 19:20 giờ các máy bay tiêm kích-ném bom F-111A hoạt động đơn lẻ ở các độ cao cực thấp, tấn công bất ngờ xuống sân bay. Tuy nhiên, đòn tấn công không mấy hiệu quả, và về tổng thế, sân bay không bị mất mức sẵn sàng chiến đấu của mình.

Từ 19:20 giờ sân bay bị một biên đội F-4 phong tỏa, biên đội này bay tuần tra theo từng cặp ở cao độ 2000 và 6000 m. Hồi 19:50 biên đội này bay về phía đông bắc sân bay 15-20 km, tại đó chúng tiếp tục bay tuần tiễu.

Hồi 19:54 giờ tốp đầu tiên các máy bay ném bom chiến lược (3 B-52) trong đội hình "so le hàng ngang" với gián cách giữa các máy bay từ 700-800 m, trên chiều cao 10 600 m, tạo thành góc 65 ° so với trục đường băng đã ném bom xuống đường băng và đường lăn. Dải trúng bom oanh tạc từ mỗi máy bay B-52 có kích thước 150x1000m.

Hồi 19:57 giờ tốp thứ hai (3 B-52) cũng với đội hình "so le hàng ngang" trên cùng độ cao 10 600 m, dưới góc 50 ° so với trục đường băng đã tiến hành trận không kích thứ hai.

Kết quả các đợt ném bom là 22 trái bom rơi trúng đường băng bê tông và 5 trái rơi trúng đường lăn chính. Đường băng bị vô hiệu hóa gần như suốt thời gian chiến dịch. Nó chỉ được phục hồi vào cuối ngày 28 tháng 12. Đường lăn chính được phục hồi lại sau một ngày đêm và được sử dụng để cho các máy bay cất cánh và hạ cánh.

Không quân chiến thuật và không quân hải quân trên tàu sân bay đánh phá các sân bay trong suốt thời gian chiến dịch, chúng có nhiệm vụ - bằng cách tấn công đột ngột một cách có hệ thống, chủ yếu là vào ban đêm, nhằm ngăn chặn các sân bay phục hồi tình trạng sẵn sàng chiến đấu, gây mệt mỏi về tinh thần và thể chất cho đội ngũ phi công, cán bộ kỹ thuật và nhân viên phục vụ. Tích cực thực hiện nhiệm vụ này nhất là các máy bay tiêm kích-ném bom F-111A, và chúng chỉ hoạt động vào ban đêm.

Các máy bay F-111A tiếp cận sân bay ở độ cao 60-300 mét, hướng bay cắt ngang đường băng ở góc từ 30-60 °. Việc ném bom được thực hiện với động tác cơ động bay ngóc lên khi tiến vào công kích mục tiêu và ngắm theo mốc chuẩn định hướng hỗ trợ. Thao tác cắt bom diễn ra hoặc ở phần trên nửa vòng ngoặt gấp, hoặc tại góc 45 °, hoặc ở các góc nhỏ, hoặc thậm chí trong đường bay ngang. Để ném bom, theo quy luật, chúng thường sử dụng bom có thiết bị hãm.

Cần lưu ý rằng, mặc dù các máy bay F-111A hành động bất ngờ và thực tế thiếu hoạt động đánh trả của các phương tiện phòng không bảo vệ sân bay, hiệu quả của các cuộc tấn công nói chung là thấp. Điều này có lý do của nó, xét về một mặt, do bom ném xuống có một tỷ lệ lớn chưa nổ, và xét về mặt kia - do các sai số lớn của việc ném bom, cũng như lực lượng máy bay huy động vào các đợt tấn công là nhỏ.

Tính hiệu quả của các cuộc tấn công vào đường cất hạ cánh của các máy bay F-4, A-6 và A-7 thuộc không quân chiến thuật và không quân hải quân trên tàu sân bay cũng vì các lý do trên mà chỉ đạt được mức tương đối thấp.

Vấn đề liên quan đến tác động của không quân Mỹ đến các máy bay QDNDVN tại những nơi đậu thì ta thấy tác động đó là không hiệu quả. Suốt cả chiến dịch không có một máy bay chiến đấu nào của lực lượng không quân QDNDVN tại các sân bay bị phá hủy hoặc bị hư hỏng (trừ 8 máy bay vận tải đã bị phá hủy và một phần bị hư hại tại sân đỗ thuộc sân bay quốc tế Gia Lâm ngày 18 tháng 12).

Tổn thất máy bay tương đối nhỏ là do chúng đã được phân tán và đem đi trú ẩn trên các sân bay, cũng như bên ngoài các sân bay đó (trong núi, trong rừng rậm), do được ngụy trang tốt và do có các công trình trú ẩn được trang thiết bị kỹ thuật tốt.

TỔ CHỨC TRINH SÁT ĐƯỜNG KHÔNG

Trinh sát đường không như là một trong những loại hình đảm bảo chiến đấu chính trong quá trình chiến dịch tập kích đường không được bộ chỉ huy Mỹ đặc biệt chú trọng.

Công tác này được lên kế hoạch và tiến hành thực hiện nhằm xác định các tuyến đường bay tối ưu nhất cho các lực lượng không quân bay tới các mục tiêu phải tấn công, làm phát lộ hệ thống phòng không và xác định khả năng tấn công các mục tiêu ở các độ cao khác nhau, xác định chính xác các đặc tính của trường radar của QDNDVN, xác định tính chất của các đối tượng và đánh giá kết quả các cuộc ném bom vào các đối tượng đó, cũng như để tinh chỉnh các dữ liệu đầu vào cơ bản cần thiết cho việc tổ chức và đối phó hiệu quả với các phương tiện phòng không.

Trinh sát trên không được thực hiện trước mỗi cuộc tập kích quy mô lớn của không quân chiến lược, chiến thuật và không quân hải quân trên tàu sân bay, và trong một số trường hợp được đi trước bằng các đòn tấn công riêng lẻ của các tốp máy bay nhỏ. Nó được thực hiện chủ yếu bởi các máy bay trinh sát đặc biệt, trong đó gồm cả các máy bay trinh sát chiến lược SR-71, RC-135, máy bay trinh sát không người lái loại 147J, các máy bay trinh sát có người lái của không quân chiến thuật và không quân hải quân trên tàu sân bay RF-4C và RA-5C, cũng như tất cả các máy bay tham gia vào các cuộc tập kích đường không.

Trong quá trình chiến dịch, đã tiến hành 149 phi vụ xuất kích nhằm mục đích trinh sát, trong đó bằng máy bay trinh sát chiến lược - 14 phi vụ, bằng máy bay trinh sát không người lái - 49 phi vụ, và bằng máy bay trinh sát của không quân chiến thuật và không quân hải quân trên tàu sân bay - 86 phi vụ.

Cường độ trung bình ngày đêm của các chuyến bay của các máy bay-trinh sát (trước tiên là của máy bay trinh sát chiến lược và trinh sát không người lái) trong chiến dịch tập kích đường không so với mức trung bình ngày đêm hàng năm đã tăng khoảng 2,5 lần, chủ yếu là do sự gia tăng hoạt động của các máy bay trinh sát không người lái, cường độ của chúng so với mức hàng năm đã tăng lên 4 lần.


© US AIR FORCE

Máy bay trinh sát chiến lược SR-71 đã tiến hành trinh sát toàn diện chủ yếu là các khu vực các thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, các sân bay chính đang hoạt động, cũng như tuyến giao thông các tỉnh phía Nam và các tình vùng trung tâm nước VNDCCH. Các tuyến đường bay của các chuyến bay trinh sát của chúng trong khoảng thời gian từ 18-30 tháng 12 năm 1972 được thể hiện trong sơ đồ 9.


Sơ đồ 9. Các đường bay của máy bay-trinh sát SR-71 trong thời gian từ 18 đến 30 tháng 12 năm 1972.

Các chuyến bay trinh sát bắt đầu từ phía miền Nam Việt Nam hoặc từ phía vịnh Bắc Bộ với hướng chung tới thành phố Hà Nội và bay tiếp sang Lào. Khoảng một giờ sau, máy bay SR-71 bay trở lại từ Lào, và bay theo hướng tới các thành phố Hà Nội và Hải Phòng, bay thoát ra về phía vịnh Bắc Bộ.

Sự sắp xếp các tuyến đường bay như vậy cho phép nắm được tổng thể các khu vực chính yếu phải tấn công ở các tỉnh trung tâm VNDCCH và kiểm soát tình hình hoạt động của các tuyến vận tải dẫn về phía nam. Các chuyến bay của máy bay SR-71 được tiến hành ở các độ cao 20 000 - 24 000 m với tốc độ 2800-3200 km / h và diễn ra chủ yếu vào ban ngày khi trời không mây. Trên lộ trình chuyến bay thiết bị đối kháng điện tử không được bật lên. Tuy nhiên, khi trong không trung phát lên lệnh vô tuyến điều khiển của tổ hợp TLPK SA-75M thì chỉ sau 3-5 giây ta đã quan sát thấy xuất hiện nhiễu chủ động trên các màn hình dẫn đường đạn tên lửa.

Máy bay trinh sát chiến lược RC-135, theo quy luật, được sử dụng để trinh sát điện tử tổng thể. Xuất phát từ căn cứ không quân Kadena (đảo Okinawa), chúng bay tiếp tới mũi phái nam đảo Đài Loan, bay vào khu vực phía đông Đà Nẵng và từ đó bắt đầu trinh sát trong các khu vực quy định, thực hiện chuyến bay theo các tuyến ở các độ cao đến 12.000 m (trong khoảng 12 giờ).

Các máy bay bay trinh sát một cách nghiêm ngặt theo lịch trình hai lần trong một ngày đêm - một chuyến vào lúc 21:00-21:20, chuyến hai - vào khoảng 4:00-4:20. Trật tự và trình tự này đảm bảo được việc trinh sát điện tử suốt một ngày đêm trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Trinh sát chi tiết đường không được thực hiện bởi các máy bay không người lái và máy bay trinh sát có người lái thuộc không quân hải quân trên tàu sân bay và không quân chiến thuật. Trong mọi trường hợp, các chuyến bay của máy bay trinh sát KNL đều diễn ra vào ban ngày (8:00-17:00) trong thời tiết không mây hoặc khi có mây tầng trung và tầng thượng. Việc phóng máy bay TSKNL do máy bay mẹ C-130 thực hiện ở tầm xa 70-110 km cách đường bờ biển hoặc biên giới quốc gia của VNDCCH ở độ cao 3000 mét. Khi phóng máy bay TSKNL từ khu vực vịnh Bắc Bộ đường bay của chúng đi ở độ cao 200-600 m, và khi phóng từ Lào - chúng đi ở độ cao 500-2000 m theo địa hình địa phương. Dữ liệu của trinh sát đường không do máy bay TSKNL thu thập được, trong vòng 12-14 giờ sau khi chúng hạ cánh sẽ được chuyển đến các bộ tham mưu tương ứng.

Đường bay của máy bay trinh sát RF-4C và RA-5C diễn ra ở độ cao 1.000-4.000 m. Dữ liệu trinh sát đường không được chuyển đến các bộ tham mưu cấp trên qua 1-1,5 giờ sau khi máy bay hạ cánh.

Tính chất hoạt động của các máy bay trinh sát, tuyến đường bay của chúng, độ cao và thời gian của chuyến bay cho phép bộ chỉ huy các lực lượng PK và KQ QDNDVN xác định được trong một mức độ nhất định những nét khái quát ý đồ của đối phương, và thực hiện các biện pháp cần thiết để đẩy lùi các cuộc tấn công đường không của đối phương xuống các mục tiêu tại VNDCCH.
........
« Sửa lần cuối: 24 Tháng Tám, 2012, 09:31:07 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #12 vào lúc: 24 Tháng Tám, 2012, 12:20:17 am »

(tiếp)

CHỈ HUY VÀ THÔNG TIN LIÊN LẠC

Hệ thống chỉ huy quản lý và thông tin liên lạc được hình thành và hoàn thiện trong năm 1972 ở Đông Nam Á cho phép bộ chỉ huy Mỹ thực hiện chỉ huy hoạt động của không quân và các tàu hải quân khi huấn luyện chuẩn bị cũng như trong quá trình tiến hành "Chiến dịch Linebacker-2". Hệ thống đảm bảo sự phối hợp hành động của tất cả các lực lượng và các phương tiện vật chất khi thực hiện các cuộc tập kích đường không quy mô lớn xuống các đối tượng mục tiêu ở VNDCCH, giải quyết các vấn đề đảm bảo chiến đấu và tổ chức cứu hộ các phi hành đoàn của các máy bay bị bắn rơi hoặc gặp tai nạn.

Thực hiện chỉ huy chung hoạt động tác chiến của các lực lượng không quân - chiến thuật, hải quân và chiến lược - đó là một đơn vị có tên gọi là Trung tâm chỉ huy tác chiến thống nhất ở Sài Gòn (MACV - Military Assistance Command, Vietnam). Nó phối hợp hành động của các lực lượng khác nhau, đăng ký các phi vụ, ấn định và phân phối mục tiêu.

Lãnh đạo các hoạt động tác chiến của không quân chiến lược được thực hiện bởi bộ tham mưu SAC-Strategic Air Command (thông qua SCH của nó), triển khai tại căn cứ không quân Clark (Philippine). Nó tách biệt với bộ tham mưu SAC tại phần lục địa của Hoa Kỳ (thành phố Offut) và Trung tâm chỉ huy thống nhất ở Sài Gòn (MACV).

Lãnh đạo các hoạt động tác chiến của không quân chiến thuật là bộ tham mưu tập đoàn không quân số 7 thông qua một trung tâm được thành lập đặc biệt chỉ huy không quân chiến thuật, nằm trong khu vực thành phố Đà Nẵng (miền Nam Việt Nam). Trung tâm này thực hiện chức năng kiểm soát không phận lãnh thổ miền Nam Việt Nam. Trung tâm tiếp nhận các mục tiêu cần oanh tạc trên lãnh thổ VNDCCH từ Trung tâm chỉ huy tác chiến thống nhất (MACV).

Thực hiện lãnh đạo không quân hải quân trên tàu sân bay là trung tâm chỉ huy bay của lực lượng xung kích tàu sân bay 77 đóng trên một trong các tàu sân bay xung kích. Trung tâm giao mục tiêu đánh phá và phân phối lực lượng máy bay tham gia các cuộc không kích. Đến lượt mình, nó nhận các mục tiêu đánh phá từ Trung tâm chỉ huy tác chiến thống nhất tại Sài Gòn. Ngoài ra, trên mỗi tàu sân bay xung kích cũng có một SCH tàu sân bay đóng vai trò kiểm soát các chuyến bay, chỉ huy máy bay cất cánh, xác định trình tự và thời điểm hạ cánh, phái máy bay tiếp dầu đi tiếp nhiên liệu.

Trực tiếp kiểm soát chỉ huy các hoạt động tác chiến của không quân chiến lược, chiến thuật và không quân hải quân trên tàu sân bay trong các cuộc tập kích quy mô lớn hoặc hoạt động của máy bay đơn lẻ và các tốp máy bay nhỏ trên lãnh thổ VNDCCH được thực hiện từ SCH trên không, bố trí trên một máy bay EC-135. Trong "Chiến dịch Linebacker-2" đã thiết lập việc trực ban suốt ngày đêm của 3 máy bay EC-135, hai trong số đó cất cánh từ căn cứ không quân Kadena (đảo Okinawa) và một từ căn cứ không quân U-Tapao (Thái Lan). Nhiệm vụ trực ban được thực thi theo lịch trình xác định nghiêm ngặt, bằng phương pháp bay quần vòng trên không phận vịnh Bắc Bộ và không phận Lào. Các chuyến bay được thực hiện ở độ cao 8.500-12.500 m với tốc độ 850 km / h. Thời gian thi hành trực ban - 8 tiếng

Chỉ huy tốp máy bay xung kích, được phái đi tấn công các mục tiêu trên lãnh thổ VNDCCH, khi tiếp cận khu vực quần vòng của SCH trên không sẽ thiết lập liên lạc với nó, và báo cáo tọa độ vị trí của mình, số hiệu phi vụ, hướng, tốc độ, độ cao của chuyến bay và thời gian lưu lại trên mục tiêu. Tiếp theo, SCH trên không sẽ chỉ huy trình tự tác chiến của toàn bộ các máy bay tham chiến, thông báo cho các chỉ huy các tốp máy bay xung kích và đảm bảo về tình hình trên không trên tuyến đường bay, sự xuất hiện của các máy bay tiêm kích VNDCCH, cảnh báo xuất hiện máy bay tiêm kích Việt Nam, hành động và vị trí của họ, áp dụng các biện pháp hỗ trợ các phi hành đoàn bị bắn rơi hoặc gặp tai nạn.

Đề phòng trường hợp không thể chỉ huy hoạt động tác chiến của không quân hải quân trên tàu sân bay từ SCH trên không, đã thành lập trung tâm chỉ huy bay dự phòng, được đặt trên một tàu chiến trang bị tên lửa có điều khiển của Hoa Kỳ. Chiếc tàu tên lửa có điều khiển này cơ động trong vịnh Bắc Bộ ngoài khơi bờ biển miền Bắc Việt Nam, sao cho luôn tiếp cận càng gần càng tốt các khu vực tấn công chủ yếu. Có những số liệu cho thấy SCH dự phòng có thể tiếp nhận cả việc chỉ huy hoạt động tác chiến của không quân chiến lược và chiến thuật.

Một sự quan tâm đáng kể được giành cho các vấn đề kiểm soát vùng trời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Vai trò đặc biệt trong vấn đề này là của các máy bay AWACS chuyên nhiệm kiểu EC-121H, đóng tại căn cứ không quân Nakhonphanom (Thái Lan) và các máy bay loại E-1B "Tracer" và E-2A "Hawkeye", đóng căn cứ trên tàu sân bay. Thông thường, khu tuần vòng của chúng nằm trên vịnh Bắc Bộ ở độ cao 10.000-12.000 m. Có các trường hợp máy bay EC-121H bay tuần thám trên không phận Lào. Việc sử dụng các máy bay này, theo thừa nhận của bộ chỉ huy quân đội Mỹ là không đủ hiệu quả vì sự chưa hoàn thiện của các radar trinh sát.

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG CỨU HỘ
   
Đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao trạng thái tâm lý và tinh thần của các phi công trong thời gian không kích lãnh thổ VNDCCH, nơi mà hệ thống phòng không là một trở ngại lớn cho việc gây tội ác mà không bị trừng phạt, bộ chỉ huy Mỹ được giao nhiệm vụ tổ chức hoạt động cứu hộ các phi công trên các máy bay bị bắn rơi hoặc gặp tai nạn. Đối với các phi công khi thực hiện các chuyến bay trên bầu trời VNDCCH, các hướng dẫn bay cần thiết đều quy định việc áp dụng tất cả các biện pháp có thể để đảm bảo trong mọi trường hợp hướng chiếc máy bay bị thương bay về phía vịnh Bắc Bộ. Việc nhảy dù của phi công cần thực hiện trên vịnh Bắc Bộ ở mức cách xa nhất so với đường bờ biển nếu có thể được. Một chiếc xuồng cao su được tự động kích hoạt bơm căng để đảm bảo cứu phi công nổi trên mặt nước, còn máy phát vô tuyến – dẫn đường cho các phương tiện cứu nạn đến nơi.

Nhiệm vụ giải cứu phi hành đoàn các máy bay bị bắn rơi được giao cho đơn vị cứu hộ đặc nhiệm 110 thuộc phi đoàn yểm trợ tác chiến số 7 và cho các tàu chiến của Hạm đội 7 Hoa Kỳ. Các máy bay trực thăng CH-53 của đơn vị cứu hộ, đóng căn cứ trên các tàu chiến (tàu khu trục, tàu khu trục hạng nhẹ, tàu dok-đổ bộ chở máy bay trực thăng "Denver" và các tàu khác có sàn đáp cất hạ cánh cho máy bay trực thăng), cơ động trong vịnh Bắc Bộ, tiến hành ngày đêm quan sát khu mặt nước vịnh Bắc Bộ, tiếp giáp với bờ biển miền Bắc Việt Nam, cũng như sâu 9-10 km vào trong lãnh thổ. Việc tuần tra được tiến hành trong các khu vực máy bay chiến đấu đi vào vùng trời miền Bắc Việt Nam và đi ra sau khi không kích các mục tiêu tại VNDCCH. Ngoài ra, trên boong của mỗi con tàu đều có một máy bay trực thăng sẵn sàng khởi hành trong 5 phút. Các tàu chiến, khi thực hiện các chức năng chủ yếu kiểm soát vùng trời miền Bắc Việt Nam, đồng thời cũng kiểm soát bề mặt vịnh Bắc Bộ và một phần lãnh thổ miền Bắc Việt Nam (sâu vào 7-8 km).

Minh họa cho chiến thuật hoạt động cứu hộ ta có thể dẫn ra ví dụ sau đây. Ngày 20 tháng 12 năm 1972, lúc 08:15 giờ hai đạn tên lửa phòng không có điều khiển được phóng lên chiếc máy bay đầu đàn của biên đội A-7 Corsair-2 ", đang bay ở độ cao 4500 m trong đội hình "so le ngang". Chiếc máy bay trúng đạn và rơi trên cạn, vị trí cách 5 km về phía đông sân bay Kiến An. Phi công bung dù và nhờ gió tây-bắc đẩy ra vịnh Bắc Bộ. Tại thời điểm này, các máy bay khác trong biên đội giảm độ cao xuống còn 300-500 m và dựng lưới lửa súng máy xung quanh khu phi công rơi, ngăn chặn các phương tiện nổi của Việt Nam tiếp cận. Sau 10 phút, một cặp trực thăng CH-53 "Sea King" bay đến, một trong hai chiếc đó đã thực hành cứu viên phi công Mỹ lên máy bay.

Đã có những trường hợp mà một cặp trực thăng cứu hộ thâm nhập vào sâu lãnh thổ Việt Nam 100 km trở lên. Khi đó, một trong hai chiếc sẽ dùng hỏa lực bảo vệ cho chiếc thứ hai, ngăn các lực lượng dân quân bắt giữ viên phi công trên mặt đất. Đồng thời, chiếc thứ hai sẽ sà thấp xuống và thực hành cứu viên phi công của chiếc máy bay bị bắn rơi lên trực thăng.

HẾT CHƯƠNG II
.......
« Sửa lần cuối: 25 Tháng Tám, 2012, 11:21:06 am gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #13 vào lúc: 25 Tháng Tám, 2012, 12:09:54 pm »

(tiếp)

CHƯƠNG III. HOẠT ĐỘNG TÁC CHIẾN CỦA QUÂN CHỦNG PK VÀ KQ QĐND VIỆT NAM

ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA QC PK-KQ QĐNDVN VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỌ ĐÁNH TRẢ CÁC CUỘC KHÔNG KÍCH CỦA KHÔNG QUÂN MỸ

Quân chủng Phòng không và Không quân là một quân chủng thuộc Các LLVT Quân đội Nhân dân Việt Nam. Về tổ chức nó gồm có các sư đoàn PK, các sư đoàn pháo cao xạ và các đơn vị cao xạ độc lập, các đơn vị không quân và radar, các phân đội binh chủng đặc biệt và hậu cần. Cơ cấu tổ chức của Quân chủng Phòng không Không quân QĐNDVN được trình bày trên hình 10.


Sơ đồ 10. Cơ cấu tổ chức QC PK và KQ QĐNDVN, từ trái qua phải, từ trên xuống dưới:
hàng 1: - Bộ tham mưu QC PKKQ - Tư lệnh và Chính ủy QC PKKQ - Cục Chính trị QC PKKQ;
hàng 2: - Các phòng ban tham mưu theo ngành dọc - Tư lệnh binh chủng KQ - Tư lệnh binh chủng radar - Các đơn vị và phân đội hậu cần - Các phòng ban chính trị theo ngành dọc;
hàng 3: - Các trung đoàn KQ tiêm kích - Các trung đoàn KQ vận tải - Các sư đoàn PK (TLPK) - Các sư đoàn pháo cao xạ - Các đơn vị cao xạ độc lập - Các trung đoàn radar - Các đơn vị tác chiến điện tử độc lập;
hàng 4: - Các trung đoàn TLPK - Các trung đoàn PPK.


Thành phần QC PK và KQ có: các binh chủng – TLPK, PPK, KQ và radar, lực lượng nghiệp vụ binh chủng – các đơn vị và phân đội trinh sát, thông tin liên lạc, công binh, hóa học, v.v., cũng như các đơn vị, các phân đội và cơ quan hậu cần.

Trong trang bị vũ khí của các đơn vị và phân đội binh chủng LLPK vào tháng 12 năm 1972, về cơ bản là các loại vũ khí và khí tài tác chiến có nguồn gốc sản xuất từ Liên Xô và Trung Quốc. Trong trường hợp này, binh chủng TLPK được vũ trang các hệ thống SA-75M của Liên Xô, các máy bay tiêm kích - MiG-21 và MiG-17 Liên Xô và MiG-19 Trung Quốc sản xuất; trang bị của các đại đội radar gồm các đài radar sau: radar Liên Xô các kiểu P-10, P -12, P-15, P-30, P-35, PRV-11, radar Trung Quốc các loại 406, 513, 514, 843 và radar Hungary loại P-35; các đơn vị pháo PK được trang bị pháo cao xạ các cỡ 37, 57, 85 và 100 mm là sản phẩm của cả Liên Xô và Trung Quốc.

Sư đoàn phòng không - một loại hình đơn vị hợp thành cấp chiến thuật. Biên chế tác chiến phụ thuộc vào vai trò và vị trí của nó trong hệ thống phòng thủ đường không chung của cả đất nước. Theo quy định, sư đoàn có trong biên chế 1-3 trung đoàn TLPK và 1-3 trung đoàn cao xạ. Các đơn vị KQTK và binh chủng radar không ở trong thành phần biên chế sư đoàn.

Binh chủng Không quân tiêm kích và Radar về tổ chức bao gồm các trung đoàn, là đơn vị chiến thuật chủ yếu của loại hình binh chủng này. Các trung đoàn thuộc quyền trực tiếp (sơ đồ 10) các tư lệnh binh chủng KQ và binh chủng radar (một cách tương ứng).

Trong mùa xuân và mùa hè năm 1972, QC Phòng không và Không quân QDNDVN đã tiến hành các hoạt động chiến đấu mãnh liệt giáng trả các cuộc không kích của Mỹ, bắt đầu từ tháng Tư, đã dội bom vào các mục tiêu hoạt động quan trọng nhất ở miền Bắc Việt Nam. Trong thời gian này, lực lượng không quân tiêm kích đã được sử dụng chủ động và rất hiệu quả; KQTK đã thực hiện gần 800 phi vụ chiến đấu và đã tiến hành 200 trận không chiến, trong đó bắn rơi hơn 80 máy bay địch. Vai trò đáng kể thuộc về lực lượng pháo cao xạ: họ bắn rơi khoảng 150 máy bay địch. Đóng vai trò chủ chốt trong việc đẩy lui các cuộc không kích của máy bay Mỹ, cũng như trước đây, là binh chủng tên lửa phòng không QDNDVN. Đến đầu tháng 12, binh chủng tên lửa đã bắn rơi 350 máy bay địch, nghĩa là gần 60% tổng số máy bay bị bắn rơi trên bầu trời VNDCCH trong năm 1972.

Trong cuộc đấu tranh với không quân Hoa Kỳ ở thời kỳ nói trên QC PK và KQ cũng chịu những tổn thất nặng nề. Không quân tiêm kích mất khoảng 50 máy bay và 15 phi công. Các trận địa phóng của bộ đội tên lửa phòng không đã hơn 60 lần bị tấn công bằng bom và đạn chống radar loại "Shrike", đôi khi dẫn đến loại khỏi vòng chiến đấu đến 50% các hệ thống tên lửa phòng không. Trên các trận địa bệ phóng và trận địa kỹ thuật, đối phương đã phả hủy khoảng 200 đạn tên lửa phòng không. Đã có 137 lần phóng đạn tên lửa loại "Shrike" hàng chục vụ ném bom dội xuống đội hình chiến đấu của bộ đội radar QDNDVN gây ra các loại hư hại khác nhau của hơn 10 trạm radar.

Do thiệt hại khí tài chiến đấu và thiệt hại đội ngũ quân nhân được huấn luyện nên mức độ sẵn sàng chiến đấu của một số đơn vị và phân đội tên lửa PK và KQ tiêm kích đã bị giảm nhẹ.
..........
« Sửa lần cuối: 25 Tháng Tám, 2012, 04:28:52 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #14 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2012, 07:03:20 pm »

(tiếp)

Mặc dù có một số thành công trông thấy vào cuối năm tại các cuộc đàm phán ở Paris và sự tạm ngừng ném bom các mục tiêu phía bắc vĩ tuyến 20, ban lãnh đạo QĐNDVN vẫn tính đến khả năng Hoa Kỳ sử dụng các cuộc không kích quy mô lớn vào các đối tượng trọng yếu ở trung tâm của đất nước. Do đó, Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không và Không quân đã tận dụng quãng thời gian tạm nghỉ này và thi hành trước một loạt các biện pháp để làm giảm hiệu quả của các cuộc không kích. Với mục đích đó họ đã thực hiện một số biện pháp hoàn thiện và tăng cường các cụm TLPK, bảo vệ các thành phố Hà Nội, Hải Phòng và các mục tiêu khác thuộc phần trung tâm nước VNDCCH; cải thiện hệ thống chỉ huy và đảm bảo hậu cần-kỹ thuật của quân chủng, cũng như trang thiết bị và ngụy trang các SCH, các trung tâm điều khiển, các trận địa của bộ đội TLPK, pháo PK và radar; hoàn thiện các phương pháp phân tán máy bay tiêm kích trong các hầm trú ẩn ngoài phạm vị sân bay.

Bảo vệ thành phố Hà Nội thủ đô VNDCCH là 1 sư đoàn PK gồm 3 trung đoàn tên lửa và 5 trung đoàn pháo cao xạ. Cụm PK này có chín tiểu đoàn TLPK luôn ở trạng thái sẵn sàng chiến đấu và 12-15 đại đội pháo phòng không và là cụm PK mạnh nhất trong số tất cả các cụm bộ đội phòng không. Những nỗ lực chính của cụm các đơn vị TLPK và PPK này tập trung bảo vệ các hướng tây bắc và hướng tây – hướng nhiều khả năng nhất cho hoạt động tập kích đường không của không quân chiến lược đối phương. Nhìn chung, cụm này có tính chất là lực lượng tạị chỗ bảo vệ khu vực Hà Nội từ tất cả các hướng. Để tăng cường bảo vệ thủ đô đã thành lập các trung đoàn tên lửa PK mới trang bị tổ hợp S-125. Tuy nhiên, vào đầu chiến dịch này họ không kịp triển khai và không tham gia chiến đấu.

Thành phố và cảng Hải Phòng được bảo vệ bởi 1 sư đoàn PK gồm hai trung đoàn tên lửa phòng không và một trung đoàn pháo cao xạ. Có tất cả bảy tiểu đoàn tên lửa phòng không và năm đại đội pháo cao xạ sẵn sàng chiến đấu. Những nỗ lực chính của cụm này tập trung vào các hướng nam, đông nam và hướng đông.

Trong khu vực Quân khu 4 (phía nam VNDCCH) vẫn còn một cụm đáng kể bộ đội PK, gồm 2 sư đoàn PK, họ có 4 trung đoàn tên lửa PK với 16 tiểu đoàn TLPK (8 trong số chúng mất sức chiến đấu do khí tài hỏng) và 8 trung đoàn PPK (48 đại đội). Cụm này bảo vệ các tuyến giao thông dẫn về vùng phía Nam VNDCCH, các bến phà, kho tàng, cơ sở hậu cần và các khu vực tập kết quân đội ở các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An và Quảng Bình.

Để huấn luyện cho bộ đội TLPK, từ đầu tháng 12 đã tổ chức và thực hiện thường xuyên diễn tập một-hai cấp. Trong các bài diễn tập đã sử dụng những kinh nghiệm thu được trong tháng 11 tại Quân khu 4, tại đó khi chuẩn bị cho chiến dịch “Linebacker-2", người Mỹ đã thực hành tấn công bằng một lực lượng lớn không quân chiến lược (đôi khi tham gia không kích có 15-18 máy bay B-52). Một trong những hướng trọng tâm của diễn tập là tập trung hỏa lực của 2 hoặc 3 tiểu đoàn tên lửa PK vào một mục tiêu (một tốp B-52) trong điều kiện trên không và điều kiện nhiễu rất phức tạp khi đối phương sử dụng đạn chống radar.

Việc các máy bay tiêm kích bảo vệ các mục tiêu ở trung tâm VNDCCH được lên kế hoạch thực hiện bằng toàn bộ các trung đoàn KQTK xuất phát từ 4 sân bay.

Trong các trung đoàn tiêm kích, người ta lựa chọn kỹ càng các phi công được đào tạo tốt nhất. Người ta tổ chức huấn luyện cho họ theo một chương trình đặc biệt, dự kiến các trận không chiến với B-52 (do máy bay IL-18 mô phỏng), cất cánh đường băng ngắn với sự trợ giúp của tên lửa bổ trợ cất cánh (ракетных пороховых ускорителей), hạ cánh trên sân không có trang thiết bị, v.v.

Trong các đơn vị binh chủng radar đã hoàn thành giải quyết các vấn đề bảo đảm hiệu quả cao hơn phục vụ cho các đơn vị TLPK, PPK, KQTK trong các điều kiện nhiễu vô tuyến nặng nhờ sự trợ giúp của các đại đội bố trí bên sườn (các cứ điểm bên sườn).

Đã chính xác hóa sơ đồ thông tin vô tuyến – hữu tuyến. Thông tin liện lạc hai chiều được đảm bảo (chủ yếu là thông tin liên lạc vô tuyến) giữa các tiểu đoàn TLPK và phân đội radar gần nhất.

Trong tất cả các đơn vị binh chủng đã tiến hành công tác bảo trì theo các định kỳ khác nhau, bổ sung phụ tùng, vật tư, nhiên liệu và dự trữ vật chất-kỹ thuật trên các trận địa. Trong binh chủng TLPK tại tất cả các trận địa xạ kích của các tiểu đoàn tên lửa PK thuộc cụm PK Hà Nội và Hải Phòng đã tập trung đủ một cơ số đạn TLPK có điều khiển (6 đạn – trên bệ phóng và 6 đạn – trên xe chở và tiếp đạn).

Trong các đơn vị binh chủng TLPK và radar đã trang bị thêm các công trình trú ẩn bổ sung, tăng cường bảo vệ cabin bằng các phương tiện thủ công (tre, bao tải đất, v.v ...). Không quân đã tiến hành phân tán bổ sung các máy bay tiêm kích trên các sân bay vào hầm trú ẩn, nằm cách sân bay căn cứ 15-20 km (và đôi khi 120 km).

Tuy nhiên, Bộ Tư Quân chủng PKKQ, dù đã bố trí một số thời gian nhất định để huấn luyện bộ đội cách đánh trả các cuộc không kích ồ ạt quy mô lớn của không quân Mỹ, cũng không thể hiện thực hóa đầy đủ tất cả các khả năng của các lực lượng và khí tài phòng không sẵn có và khai thác khả năng sẵn sàng chiến đấu của nó một cách đầy đủ. Ví dụ, tính đến ngày 18 tháng 12, chỉ có 66% các tiểu đoàn TLPK và 38% máy bay tiêm kích sẵn sàng chiến đấu. Đối với tác chiến ban đêm đã chuẩn bị được 18 phi công, trong đó MiG-21 – 13 người và MiG-17 – 5 người.

Để làm cơ sở hoạt động chiến đấu cho QC PKKQ đánh trả các cuộc không kích của không quân Mỹ, ban lãnh đạo QĐNDVN đã ban hành chỉ thị: ưu tiên trước hết dùng lực lượng TLPK tiêu diệt các các máy bay ném bom chiến lược B-52, dùng lực lượng pháo PK – tiêu diệt các máy bay không quân chiến thuật và máy bay hải quân trên tàu sân bay, KQTK tác chiến chống lại không quân chiến lược, chiến thuật và không quân hải quân trên tàu sân bay chỉ bằng lực lượng trực chiến.

Ngày 17 tháng 12, một ngày trước khi bắt đầu chiến dịch tập kích đường không chiến lược, Bộ chỉ huy QĐNDVN đã biết về kế hoạch hoạt động của nó. Do đó Quân chủng Phòng không và Không quân QĐNDVN đã được chuyển sang trạng thái sẵn sàng chiến đấu hoàn toàn.

Sau khi đưa bộ đội chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu hoàn toàn, tất cả các chỉ huy các sư đoàn PK, chỉ huy các đơn vị cấp dưới, các phân đội độc lập được gọi về SCH trung tâm, tại đây Tư lệnh QC PKKQ trực tiếp giải thích tình hình và một lần nữa xác định lại nhiệm vụ chiến đấu được giao cho bộ đội. Tư lệnh sư đoàn phòng không bảo vệ Hà Nội được lệnh chỉ sử dụng TLPK diệt máy bay ném bom chiến lược. Các chỉ huy các sư đoàn khác được lệnh dung TLPK tiêu diệt tất cả các máy bay đàng ở trong vị trí có các tham số xạ kích thuận lợi, và trước hết ưu tiên diệt B-52. Các chỉ huy trung đoàn TLPK cũng được lệnh hạn chế tiêu thụ đạn tên lửa.

Các đơn vị và các phân đội PPK nằm trong thành phần sư đoàn PK được lệnh tiêu diệt các máy bay bổ nhào và các mục tiêu bay thấp, đặc biệt là máy bay tiêm kích-ném bom F-111A, cũng như bảo vệ các trận địa của tiểu đoàn TLPK và sân bay căn cứ của không quân tiêm kích.

Tư lệnh Không quân được lệnh dùng lực lượng trực chiến thi hành nhiệm vụ chủ yếu là tiêu diệt máy bay ném bom chiến lược B-52.

Phần cuối ngày 18 tháng 12 Bộ Tư lệnh QC PKKQ đã biết việc di chuyển của tàu sân bay "Saratoga" vào phần phía bắc Vịnh Bắc Bộ. Hồi 18:30 giờ phân đội radar nằm trên biên giới với Lào, phát hiện ra những chiếc máy bay F-111A đầu tiên ở khoảng cách 250 km và độ cao 900 m, đang bay đến biên giới Việt Nam. Sau 15-18 phút họ phát hiện nhóm F-4, thuộc thành phần tham gia cuộc không kích quy mô lớn đầu tiên.

Tới 19:50 giờ toàn bộ các binh chủng thuộc QC PKKQ đã tiến hành hoạt động chiến đấu đánh trả các cuộc không kích ồ ạt của không quân Mỹ. Khi chống trả các cuộc tấn công đường không, các đơn vị phòng không của đất nước trong một đêm đã 35 lần xạ kích tên lửa PK có điều khiển, bắn hàng trăm đạn PPK và cho xuất kích hai phi vụ KQTK trực chiến, kết quả 7 máy bay địch bị bắn rơi, trong đó có 3 máy bay ném bom B-52 và 1 máy bay tiêm kích-ném bom F-111A. Binh chủng TLPK tiêu thụ 69 đạn tên lửa PK.

Kết quả hoạt động chiến đấu của QC PKKQ QĐNDVN và dân quân tự vệ trong việc đánh trả các cuộc không kích của không quân Mỹ trong tháng 12 năm 1972 được trình bày trong bảng 8.

BẢNG 8


Bảng này cho thấy binh chủng TLPK đã đảm nhiệm gánh nặng chủ yếu trong hoạt động chiến đấu của QC PKKQ đánh trả các cuộc không kích ồ ạt quy mô lớn bằng máy bay của Mỹ. Cũng đủ khi nói rằng mỗi đêm binh chủng đã thực hiện 10-12 lần xạ kích và nhiều hơn nữa. Trong 12 ngày đêm diễn ra "Chiến dịch Linebacker-2", binh chủng TLPK đã tiêu diệt 54 máy bay (66%), trong đó có 31 chiếc B-52. Đặc biệt hiệu quả là hoạt động tác chiến của họ trong đêm 26 tháng 12, sau nghỉ lễ Giáng sinh 36 giờ, Không quân Mỹ đã nối lại các cuộc ném bom và 63 chiếc B-52 đã tấn công đồng thời xuống các thành phố Hà Nội, Hải Phòng và Thái Nguyên. Bộ đội TLPK đã thực hiện 27 lần xạ kích trong trận chiến đấu đó và đã hạ 7 chiếc B-52 và 2 chiếc F-4.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng hiệu quả của các trận chiến đấu với các máy bay ném bom B-52 của binh chủng tên lửa PK được xác định trên nhiều mặt bởi sự tiết kiệm đạn trong quá trình xạ kích do năng suất làm việc thấp của các tiểu đoàn kỹ thuật, không kịp bổ sung lượng đạn đã tiêu thụ tại các tiểu đoàn tên lửa PK, cũng như sự tập trung hóa cứng nhắc khi sử dụng đạn tên lửa PK có điều khiển.

Không quân tiêm kích QĐNDVN trong quá trình chiến dịch đã thực hiện 31 phi vụ xuất kích, đánh được 8 trận không chiến đấu, bắn rơi 7 máy bay địch (9% tổng số máy bay địch bị hạ trong chiến dịch), trong đó có hai B-52.

Để chiến đấu chống lại các máy bay B-52, các máy bay tiêm kích MiG-21 được sử dụng  một cách đơn lẻ. Không chiến với không quân chiến thuật, theo quy luật, thường diễn ra với một cặp MiG-21. Các loại tiêm kích khác không được sử dụng vào các trận đánh.

Hầu hết các phi vụ xuất kích đều được các phi công QĐNDVN thực hiện từ đường băng đất nện có kích thước giới hạn, và từ các đường lăn. Có những trường hợp người ta lấy MiG-21 ra khỏi nơi cất giấu bằng trực thăng Mi-6. Việc đó được thực hiện rất bí mật, cho phép phi công hoạt động như trong một trận phục kích.

Không chiến trên bầu trời Việt Nam tái khẳng định rằng các máy bay tiêm kích Xô viết MiG-21 có các đặc tính kỹ thuật-hàng không cao và có khả năng tiêu diệt các máy bay hiện đại của đối phương.

Cần lưu ý trình độ cao trong công tác huấn luyện chiến đấu của phi công Việt Nam, họ là những người đã thể hiện lòng dũng cảm và chủ nghĩa anh hùng trong điều kiện không quân Mỹ áp đảo hoàn toàn trên không trung, cũng như mức độ cao về huấn luyện tinh thần và tâm lý. Các phi công Việt Nam luôn luôn nỗ lực tìm kiếm thế chủ động trong tác chiến, mặc dù có sự áp đảo lực lượng của không quân Mỹ.

Vai trò quan trọng trong cuộc chiến đấu chống lại không quân chiến thuật và KQHQ trên tàu sân bay, đặc biệt với máy bay tiêm kích-ném bom F-111A, thuộc về các đơn vị pháo phòng không và các phân đội phòng không của lực lượng dân quân tự vệ. Họ đã bắn rơi 20 máy bay địch (25% tổng số máy bay địch bị tiêu diệt trong tháng 12), trong đó có 5 máy bay F-111A.

Tổng hợp các biện pháp mà Bộ tư lệnh QC PKKQ tiến hành trong việc trang thiết bị kỹ thuật công binh công trình và ngụy trang các sân bay, trận địa, SCH, về cơ bản đã đảm bảo khả năng sinh tồn cho LLPK. Mặc dù sự áp đảo trong không trung của không quân Mỹ, mặc dù có vô số cuộc không kích xuống các sân bay và các trận địa PK, không có một máy bay tiêm kích nào bị phá hủy trên mặt đất, còn các trận tấn công xuống các trận địa của các tiểu đoàn TLPK, các trạm radar và các trung tâm chỉ huy trong nhiều trường hợp không đủ hiệu quả.

Trong thực tế, mặc cho không quân Mỹ có ưu thế tuyệt đối trên không, và chúng đã sử dụng các loại máy bay chiến đấu và vũ khí hiện đại nhất và có uy lực mạnh nhất, bộ đội PKKQ QĐNDVN cùng lực lượng dân quân tự vệ đã tiêu diệt 81 máy bay đối phương, trong đó có 34 B-52 và 5 F-111A, gây thiệt hại lớn cho đối thủ đường không.

Thiệt hại đáng kể mà Không quân Mỹ phải chịu, lòng dũng cảm, tinh thần can đảm, chủ nghĩa anh hùng của các lực lượng PKKQ, của tất cả nhân dân Việt Nam là một trong những lý do chính buộc người Mỹ phải từ bỏ việc kéo dài hơn nữa "Chiến dịch Linebacker-2".
..............
« Sửa lần cuối: 29 Tháng Tám, 2012, 01:48:51 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #15 vào lúc: 29 Tháng Tám, 2012, 02:02:02 pm »

(tiếp)

TỔ CHỨC CHỈ HUY BỘ ĐỘI PKKQ

Việc lãnh đạo và chỉ huy chung các hoạt động tác chiến của các đơn vị hợp thành và các đơn vị binh chủng do Bộ Tư lệnh QC PKKQ thực hiện từ SCH Trung tâm.

Các nguyên tắc cơ bản chỉ huy bộ đội PK và KQ xuất phát từ chỉ thị của BCH Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, bản chất của nó là sự cần thiết phải giành được chiến thắng bằng các lực lượng nhỏ trước kẻ thù có số lượng lớn đến múc áp đảo mà vẫn bảo tồn được lực lượng của mình.

Dựa trên các nguyên tắc này, Bộ chỉ huy QĐNDVN đã đặt nhiệm vụ cho QC PKKQ - tiêu diệt lực lượng chủ yếu của Không quân Mỹ - các máy bay ném bom chiến lược và máy bay tiêm kích-ném bom, F-111A. Tư lệnh bộ đội PKKQ cụ thể hoá nhiệm vụ đó và xác định đối thủ chính đối với binh chủng TLPK và KQTK - máy bay ném bom chiến lược B-52, đối với LL pháo PK – các máy bay tiêm kích-ném bom của không quân chiến thuật và máy bay cường kích trên tàu sân bay.

Công tác lãnh đạo chỉ huy các hoạt động tác chiến QC PKKQ thực hiện dựa trên quyết định của Tư lệnh Quân chủng về việc đánh trả các cuộc không kích của không quân Mỹ, soạn thảo phù hợp với các mục tiêu đặt ra cho bộ đội các binh chủng trong quân chủng như trình bày ở trên. Trường hợp tình hình có thay đổi đột ngột, việc làm rõ quyết định đã ban hành (thay đổi nhiệm vụ chiến đấu, cơ động lực lượng và phương tiện để thay đổi các cụm PK hoặc khôi phục lại sự sẵn sàng chiến đấu của nó, sử dụng lực lượng dự bị và phương tiện dự trữ, làm rõ các vấn đề tổ chức hợp đồng giữa các binh chủng trong quân chủng) sẽ được Tư lệnh QC PKKQ thực hiện trong thời gian hoạt động chiến đấu trên cơ sở các báo cáo của cá nhân các thủ trưởng phòng ban nghiệp vụ Bộ Tham mưu QC PKKQ, các tư lệnh binh chủng và các tư lệnh sư đoàn PK.

SCH Trung tâm, từ đó thực hiện việc lãnh đạo chỉ huy chung các lực lượng PKKQ, bao gồm các phòng cỉ huy tác chiến của Tư lệnh QC PKKQ, SCH binh chủng radar, SCH binh chủng không quân và trung tâm thông tin liên lạc. Tất cả đều có trang thiết bị độc lập, đảm bảo giải quyết nhiệm vụ riêng của mình.

Tại SCHTT có bốn kíp tác chiến, mỗi kíp gồm 170 người (55 sĩ quan và 115 hạ sĩ quan, chiến sĩ, công nhân viên quốc phòng).

Lãnh đạo kíp tác chiến là một trực ban chỉ huy trong số các phó tư lệnh QC PKKQ. Kíp tác chiến gồm có trực ban chỉ huy QC PKKQ, trực ban tác chiến binh chủng KQ và radar, trực ban tác chiến quân báo, thông tin liên lạc, hậu cần, chính trị, kỹ thuật và trực ban tác chiến theo hướng.

Việc chuyển bộ đội sang trạng thái sẵn sàng chiến đấu № 1 thực hiện theo quyết định của Bộ Tổng tham mưu QĐNDVN. Khi có sự xuất hiện bất ngờ của máy bay địch, quyền này được trao cho tư lệnh quân chủng, khi vắng mặt tư lệnh tại SCHTT – quyền thuộc về người trực ban chỉ huy QC PKKQ và thậm chí là trực ban tác chiến (với báo cáo tiếp theo về việc ra mệnh lệnh đó).

Để tăng cường cơ cấu tổ chức tổng thể của công tác chỉ huy bộ đội tác chiến, kiểm soát nghiêm ngặt tất cả các hoạt động của bộ đội và các kíp chiến đấu, cũng như nhằm tuân thủ chế độ bảo mật đã thiết lập 9 chế độ hoạt động, được tuyên bố bởi các trực ban tác chiến QC PKKQ. Nội dung các chế độ được xác định một cách đặc biệt bởi các hướng dẫn đã ban hành, các quy định chính trong số đó như sau:
- Chế độ số 1: chuyển bộ đội sang sẵn sàng chiến đấu cấp 1;
- Chế độ số 2: chuyển bộ đội sang sẵn sàng chiến đấu cấp 2;
- Chế độ số 3: Báo cáo về tình hình trong ngày và thông báo xuống các SCH cấp dười;
- Chế độ số 4: kiểm tra sự sẵn sàng chiến đấu của bộ đội và báo cáo kết quả;
- Chế độ số 5: (chế độ nội bộ SCH) nhằm làm cho trực ban tác chiến làm quen với tình hình trong quá trình trực ban và được tuyên bố hai lần một ngày vào buổi sáng và buổi tối. Buổi sáng nghe báo cáo của các cấp dưới, nghiên cứu tình hình và đưa ra các hướng dẫn và các mệnh lệnh trong ngày. Buổi tối thì tổng kết công tác trực ban chiến đấu trong ngày cảnh báo và đặt nhiệm vụ cho ban đêm;
- Chế độ số 6: trực ban tác chiến các SCH cấp dưới báo cáo về các hoạt động của đơn vị mình;
- Chế độ số 7: phân tích trận chiến đấu và đánh giá việc thực hiện các nhiệm vụ tác chiến được giao;
- Chế độ số 8: thực hiện diễn tập huấn luyện kíp chiến đấu SCH;
- Chế độ số 9: chế độ nội bộ SCHTT, được xác định tùy thuộc vào tình hình, ghi chép số liệu vào sổ trực ban.

Kinh nghiệm áp dụng các chế độ làm việc nói trên của các kíp chiến đấu trong hoàn cảnh một cuộc chiến tranh đường không kéo dài (khoảng 8 năm) với Không quân Mỹ cho thấy sức sống và tính khả thi của chúng – chúng loại trừ được sự căng thẳng quá mức và không cần thiết trong đội ngũ lãnh đạo và chỉ huy tại tất cả các cấp.

Tư lệnh QC PKKQ chỉ huy hoạt động chiến đấu của bộ đội TLPK và PPK bằng cách giao nhiệm vụ trực tiếp cho các tư lệnh sư đoàn phòng không, chỉ huy hoạt động chiến đấu của bộ đội KQ và radar thông qua các tư lệnh lực lượng không quân và radar một cách tương ứng.

Tư lệnh sư đoàn PK, trao nhiệm vụ chiến đấu tiêu diệt các máy bay ném bom chiến lược B-52 cho các trung đoàn trưởng TLPK, theo lệ thường khi chúng ở khoảng cách 70-75 km cách SCH trung đoàn TLPK. Điều này cho phép người chỉ huy trung đoàn TLPK có đủ thời gian chết cần thiết cho quyết định phân phối mục tiêu và trao nhiệm vụ cho mỗi tiểu đoàn TLPK.

Tư lệnh và chính ủy sư đoàn PK chỉ huy hoạt động tác chiến của các đơn vị và phân đội thuộc sư đoàn từ SCH của họ.

Đã có trường hợp từ SCH của mình sư đoàn trưởng sư đoàn PK trực tiếp giao nhiệm vụ tác chiến cho các tiểu đoàn TLPK riêng biệt, nếu có sự cần thiết tập trung hỏa lực của các tiểu đoàn TLPK khác nhau vào cùng một mục tiêu trên không.

Việc chỉ huy KQTK thực hiện bởi Tư lệnh QC PKKQ và Tư lệnh Không quân và dựa trên sơ đồ SCHTT - SCH KQ – SCH Trung đoàn KQTK – đài dẫn đường. Mỗi cơ quan chỉ huy trên có thẩm quyền quyết định vấn đề riêng của mình.

Công tác chỉ huy chiến đấu được tập trung hóa một cách chặt chẽ. Quyết định về việc đưa KQTK vào hoạt động chiến đấu và đặc biệt là tham gia vào các trận không chiến, được thực hiện, theo quy định, từ Tư lệnh Quân chủng Phòng không và Không quân. Nó gồm có việc ấn định nhiệm vụ trực chiến của các máy bay tiêm kích, sân bay xuất kích, thời gian đưa chúng vào chiến đấu và các đài dẫn đường, có nhiệm vụ trực tiếp dẫn đường cho máy bay tiêm kích.

Chỉ huy trung đoàn KQTK dựa trên nhiệm vụ chiến đấu được giao, xác định thời điểm cất cánh cho các máy bay tiêm kích của mình, các tham số đánh chặn của mục tiêu được giao. Như vậy, vai trò của các chỉ huy trung đoàn thực tế là kiểm soát chuyến bay, họ thường hành động như các hoa tiêu dẫn đường hàng hải, nếu nhiệm vụ dẫn đường trực tiếp cho máy bay tiêm kích được trao cho trung đoàn. Vai trò hạn chế vai trò và các sáng kiến của các chỉ huy trung đoàn, trong một mức độ nào đó phản ánh lên tính chất việc sử dụng chiến đấu các máy bay tiêm kích.

Việc dẫn đường cho máy bay chiến đấu được thực hiện từ các SCHTT, SCH TĐKQTK, cũng như từ các đài dẫn đường, nằm ở các khoảng cách không lớn hơn 40-50 km cách các sân bay cơ bản và sân bay dự bị.

Biện pháp sử dụng chiến đấu KQTK đơn giản hóa rất nhiều nhiệm vụ của kíp chiến đấu về công tác dẫn đường, bởi vì trong không trung cùng một lúc không có nhiều hơn một cặp máy bay tiêm kích.

Tư lệnh bộ đội radar chỉ huy các đơn vị radar từ SCH binh chủng radar.

Báo cáo về tình hình trên không từ trung đoàn radar tới SCH binh chủng radar được chuyển theo chế độ vô tuyến và hữu tuyến được đưa lên bảng tiêu đồ ghi lại tình hình tổng thể trên không. Dữ liệu tóm tắt sau đó được chuyển xuống hệ thống cảnh báo tập trung hóa.

Phương tiện chính chỉ huy trong binh chủng radar ở tất cả các cấp là liên lạc vô tuyến sử dụng bảng mã SUV.
..........
« Sửa lần cuối: 31 Tháng Tám, 2012, 11:57:20 am gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #16 vào lúc: 31 Tháng Tám, 2012, 11:57:59 am »

(tiếp)

TỔ CHỨC HIỆP ĐỒNG TÁC CHIẾN

Vấn đề tổ chức hiệp đồng tác chiến giữa các đơn vị PK lớn, giữa các binh chủng, cũng như giữa bộ đội PK và dân quân tự vệ trên một mức độ lớn chịu ảnh hưởng từ cơ cấu tổ chức-biên chế hiện thời của QC PKKQ. Sư đoàn PK trong biên chế của nó chỉ có các đơn vị và các phân đội TLPK và PPK.

Tất cả các SCH, ngoại trừ SCHTT, chỉ có khả năng chỉ huy tác chiến một loại binh chủng và khí tài. SCH thống nhất tại QC PKKQ là không có. Ngay cả SCH sư đoàn PK cũng không có trung tâm thông tin-tình báo của riêng họ và họ chỉ nhận được toàn bộ thông tin theo mạng thông báo tập trung hóa từ SCHTT, và các thông tin đến với bộ đội phải mất 5-6 phút. Không có các đại diện của các trung đoàn KQTK tại SCH các đơn vị PK hợp thành, không có SCH nào bố trí cùng nơi với SCH trung đoàn radar, đại đội radar hoặc đài radar.

Do đó, sự hiệp đồng giữa các đơn vị PK hợp thành chỉ được tổ chức thông qua việc thực hiện các nhiệm vụ chiến đấu chung nhằm đẩy lùi cuộc không kích của máy bay địch, khi kẻ địch bay vào vùng hỏa lực của mỗi đơn vị hợp thành, và trao đổi thông tin về hoạt động của họ. Nhà tổ chức trực tiếp sự hiệp đồng các sư đoàn PK trong khu vực thành phố Hà Nội và Hải Phòng là Tư lệnh QC PKKQ, còn tại Quân khu 4 - là một trong những tư lệnh sư đoàn phòng không.

Các điều kiện thuận lợi nhất có được là trong công tác hiệp đồng giữa bộ đội TLPK và bộ đội PPK. Điều này có lý do ở chỗ các đơn vị và phân đội của họ cùng nằm trong một đơn vị hợp thành và người tư lệnh sư đoàn là nhà tổ chức chính cho sự hiệp đồng giữa các phân đội, đơn vị PPK và TLPK (hiệp đồng về thời gian, độ cao, và các mục tiêu trên không).

Trong các cụm TLPK thuộc sư đoàn PK bảo vệ các thành phố Hà Nội và Hải Phòng, hệ thống hỏa lực được xây dựng sao cho trong hầu hết trường hợp, khu vực xạ kích hiệu lực (vùng diệt mục tiêu) của pháo cao xạ 100-mm bao bọc được các góc không có hiệu lực xạ kích (góc chết) của tổ hợp TLPK. Do đó, trên đường mục tiêu bay tới đối tượng đánh phá, về trình tự thời gian, đầu tiên là các tiểu đoàn TLPK khai hỏa, còn thứ hai - đến lượt các đại đội pháo cao xạ 100-mm nổ súng. Do mục tiêu chính của bộ đội TLPK là máy bay ném bom chiến lược B-52, điều đó xác định tính chất hiệp đồng với LL PPK theo các mục tiêu trên không.

Giới hạn trên của khu vực xạ kích hiệu quả (vùng diệt mục tiêu) của các đại đội PPK bảo vệ các tiểu đoàn tên lửa, là ranh giới phân chia vùng hoạt động của tiểu đoàn TLPK và đại đội PPK. Thường theo quy định, tiểu đoàn TLPK được bảo vệ bởi 1 đại đội cao xạ 57 mm, hai đại đội 37 mm và một đại đội - 23 mm; các chỉ huy đại đội cao xạ về tác chiến trực thuộc quyền chỉ huy của tiểu đoàn trưởng TLPK, người trực tiếp tổ chức hiệp đồng.

Công tác tổ chức hiệp đồng giữa binh chủng TLPK, PPK và KQTK theo các khu vực được thể hiện rất rõ ràng, vì trong điều kiện nhiễu nặng và phức tạp và thông tin quá trễ (5-6 phút), một hệ thống thông tin liên lạc nghèo nàn và dễ bị tổn thương, kiểu hiệp đồng loại này là thích hợp nhất và có thể chấp nhận được .

Sự tương tác giữa các binh chủng TLPK, PPK, và KQTK theo thời gian, phân khu và độ cao theo cách tổ chức của mình sẽ phức tạp hơn nhiều. Hiệp đồng theo thời gian giữa bộ đội TLPK, PPK và KQTK diễn ra khi mục tiêu phải tấn công của KQTK bay thoát sang khu vực của bộ đội TLPK hoặc PPK. Trong những hoàn cảnh như vậy từ SCHTT thông qua tư lệnh sư đoàn PK đến trung đoàn trưởng TLPK hoặc trung đoàn trưởng PPK sẽ có lệnh cấm nổ súng. Ví dụ, lệnh cấm đó đã xảy ra ngày 28 Tháng 12, khi một cặp 2 phi công Việt Nam không chiến với một biên đội F-4 trên khu vực tây bắc thành phố Hà Nội tại độ cao 5.000 m, tức là trong khu tác chiến của bộ đội TLPK và PPK (đại đội pháo cao xạ 100 mm). Sự hiệp đồng như thế được sử dụng rộng rãi nhất khi máy bay tiêm kích chiến đấu với các máy bay trinh sát không người lái.

Trên thực tế, do mức độ tích cực trong hoạt động chiến đấu của máy bay tiêm kích là thấp nên việc tổ chức hiệp đồng giữa họ với bộ đội PPK và TLPK không gặp khó khăn gì nghiêm trọng.

Sự hiệp đồng giữa bộ đội TLPK, PPK và KQTK theo các phân khu và các độ cao trong thực tế không được thực hiện.

Ảnh hưởng đến công tác tổ chức hiệp đồng giữa bộ đội TLPK và PPK với KQTK là thời gian trễ khá lớn trong việc truyền số liệu tình hình kẻ địch trên không, trong thông tin đó thiếu thông tin về các chuyến bay của không quân mình, cũng như thiếu liên lạc trực tiếp giữa SCH trung đoàn KQTK và SCH PK, SCH trung đoàn TLPK và SCH trung đoàn PPK.

Để đạt được sự an toàn cho các máy bay tiêm kích khi hạ cánh tại các sân bay căn cứ đang ở trong khu vực tác chiến của các tiểu đoàn TLPK và các đại đội PPK, người ta quy định độ cao và hướng xác định cho máy bay tiêm kích khi tiếp cận khu vực của bộ đội TLPK hoặc PPK. Máy bay tiêm kích khi cất cánh cũng phải bắt buộc thực hiện các thao tác cơ động xác định để ra khỏi khu vực của bộ đội TLPK và PPK, và sau đó mới có thể lấy hướng bay đi làm nhiệm vụ.

Sự hiệp đồng giữa các lực lượng và khí tài, phương tiện của QC PKKQ QĐNDVN với các lực lượng phòng dân quân tự vệ còn yếu. Có một số lượng lớn các đơn vị, gồm toàn dân thường (có cả các cô gái trẻ, phụ nữ, người già), được trang bị súng trường, súng máy (trong đó có súng cỡ nòng lớn) và thậm chí cả pháo cao xạ. Trong thời kỳ đang diễn ra cuộc không kích – từ báo động đến báo yên - các đơn vị này hầu như không được chỉ huy kiểm soát. Bất kỳ máy bay nào xuất hiện trong tầm nhìn của họ đều bị coi là máy bay của Mỹ và họ cứ thế nổ súng vào nó. Cũng yếu như vậy là công tác giải quyết các vấn đề liên quan đến sự đảm bảo an toàn cho phi công khi rời khỏi chiếc máy bay bị bắn rơi hoặc bị hư hỏng. Tất cả phi công đang nhảy dù xuống đều bị coi là phi công Mỹ, và các cỡ súng cầm tay đồng loạt khai hỏa mạnh mẽ vào họ.


HOẠT ĐỘNG CHIẾN ĐẤU CỦA BINH CHỦNG TLPK

Bộ đội TLPK thuộc QC PKKQ QĐNDVN vào đầu cuộc tập kích chiến lược đường không này có trong biên chế 36 tiểu đoàn TLPK, trang bị các tổ hợp TLPK SA-75M "Dvina" phiên bản 3 cabin điều khiển với đạn V-750M (11D) và đài radar trinh sát và chỉ thị mục tiêu P-12, cùng 9 tiểu đoàn kỹ thuật. Lực lượng của họ được tổ chức thành 9 trung đoàn tên lửa PK, nằm trong biên chế của 4 sư đoàn phòng không.

Các nỗ lực chính của bộ đội tên lửa PK tập trung vào bảo vệ thủ đô Hà Nội của nước VNDCCH, bảo vệ các sân bay bố trí trong khu vực đó như  Nội Bài, Gia-Lâm, Kép, các đầu mối đường sắt Đông Anh và Yên-Viên, cảng và khu công nghiệp của thành phố Hải Phòng, cũng như bảo vệ các bến phà, các tuyến đường giao thông bộ, các nút giao thông đường bộ và bộ đội tập trung ở các tỉnh thuộc Quân khu 4 (Thanh Hóa và Nghệ An).



Bộ đội Tên lửa Phòng không hình thành 3 cụm TLPK: cụm Hà Nội, cụm Hải Phòng và cụm Quân khu 4. Các tiểu đoàn tên lửa PK trong các cụm này chiếm lĩnh các trận địa phóng cách xa các đối tượng họ bảo vệ từ 7-15 km. Giãn cách giữa họ đối với cụm PK Hà Nội – là 8-18 km, cụm PK Hải Phòng – là 7-12 km, và cụm PK Quân khu 4 – là 6-20 km.

Tính đến ngày 18 tháng 12, trong số 36 tiểu đoàn TLPK, số sẵn sàng chiến đấu là 24 tiểu đoàn chiếm 66,6%. Trong đó số SSCĐ tại cụm Hà Nội và Hải Phòng tương ứng là - 75% và 86%, con số đó thấp hơn nhiều tại Quân khu 4 - 50%. Cụm TLPK thuộc các sư đoàn PK Hà Nội và Hải Phòng được thể hiện trong sơ đồ 11.


Bố trí các cụm TLPK thuộc các sư đoàn PK Hà Nội và Hải Phòng tính đến ngày 18/12/1972.
...........
« Sửa lần cuối: 01 Tháng Chín, 2012, 01:56:50 am gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #17 vào lúc: 31 Tháng Tám, 2012, 05:44:10 pm »

(tiếp)

Đặc điểm chung của các hoạt động chiến đấu. Trong thời kỳ chiến dịch đường không, tại khu vực tác chiến của bộ đội TLPK (chủ yếu là trong khu vực các cụm PK Hà Nội và Hải Phòng) có hơn 1.800 loại máy bay chiến đấu khác nhau, trong đó có 390 máy bay B-52, gần 1200 máy bay không quân chiến thuật và máy bay hải quân trên tàu sân bay, 70 máy bay loại F-111A và gần 150 máy bay trinh sát các loại SR-71, 147J, RF-4C và RA-5C.

Bức tranh tổng thể về hoạt động chiến đấu của bộ đội tên lửa PK đánh trả và đẩy lùi các cuộc tấn công đường không ồ ạt quy mô lớn của không quân chiến lược Mỹ được trình bày trong bảng số 9, đánh trả không quân chiến thuật và KQHQ trên tàu sân bay trình bày trên bảng số 10.

BẢNG 9




BẢNG 10


Như ta thấy từ các bảng thống kê nói trên, trong giai đoạn này bộ đội tên lửa PK tham gia đánh trả 25 cuộc không kích quy mô lớn và thực hiện 181 đợt xạ kích. Kết quả các trận chiến đấu là họ đã bắn rơi 54 máy bay, gồm 31 chiếc B-52, 13 F-4, 10 A-6 và A-7. Họ đã thực hiện 135 đợt xạ kích vào mục tiêu B-52 (74% tổng số lần xạ kích), tiêu thụ 244 đạn tên lửa. Hiệu quả chung của công tác bắn B-52 tính trung bình cho cả giai đoạn là 0,23. Tiêu thụ đạn trung bình cho mỗi máy bay bị bắn rơi là 7,9 đạn tên lửa.

Đối với không quân chiến thuật và KQHQ trên tàu sân bay, bộ đội TLPK đã tiến hành 46 đợt xạ kích (26% tổng số lần xạ kích), tiêu thụ 77 đạn tên lửa, bắn rơi 23 máy bay. Hiệu quả xạ kích là 0,5, với mức tiêu thụ đạn trung bình là 3,3 cho mỗi chiếc máy bay bị bắn rơi.



Trong tất cả những trận chiến đấu mà bộ đội tên lửa PK đã tham gia, có 2 trận điển hình nhất: trận đánh của các tiểu đoàn TLPK sư đoàn PK Hà Nội ngày 19 tháng 12 (4:40-5:46 giờ) và trận đánh của các tiểu đoàn TLPK cùng sư đoàn này ngày 26 tháng 12 (22:15-23:24 giờ).

Trong trận không kích quy mô lớn thứ nhất có sự tham gia của 66 máy bay, trong đó có 24 máy bay В-52. Các đối tượng bị tấn công là sân bay Bạch Mai và 3 khu vực nằm trong khoảng 10–12 km về phía tây-bắc và phía tây trung tâm thành phố Hà Nội. Cuộc không kích diễn ra từ hướng tây bắc tạo thành một dải 20–25 km. Mật độ đòn không kích của nhóm tấn công – 0,6 máy bay trong một phút.

Trong trận đánh này tham gia chiến đấu có 9 tiểu đoàn TLPK sẵn sàng chiến đấu thuộc sư đoàn PK Hà Nội. Thành phần và mức độ sẵn sàng chiến đấu của bộ đội TLPK các đơn vị trên khi bắt đầu hoạt động tác chiến được trình bày trên bảng 11. Sự đánh trả cuộc không kích được minh họa trên sơ đồ 12.

BẢNG 11



Sơ đồ 12. Đánh trả cuộc không kích quy mô lớn của KQ chiến lược Mỹ vào các mục tiêu tại khu vực Hà Nội ngày 19.12.1972.

Sơ đồ cho thấy số hiệu các mục tiêu và các đường bay của chỉ các tốp B-52 bị bắn. Các tuyến đường bay của các tốp làm nhiệm vụ đảm bảo yểm trợ không thể hiện.

Việc đặt nhiệm vụ cho các tiểu đoàn từ SCH được thực hiện theo số liệu của bộ đội radar. Các số liệu chỉ thị mục tiêu được cho trong hệ thống tọa độ "góc phương vị-tầm" đối với SCH trung đoàn TLPK.

Việc tính toán lại tọa độ mục tiêu được thực hiện tại các tiểu đoàn. Để xác định tọa độ và các tham số chuyển động của mục tiêu trong tình hình nhiễu phức tạp tại SCH trung đoàn TLPK, người ta sử dụng phương pháp tam giác, và để làm điều đó người ta sử dụng số liệu từ 2-3 tiểu đoàn. Việc đo góc phương vị diễn ra với nhịp độ 10 giây. Có nhiều tiểu đoàn cung cấp thông tin và điều đó làm khó khăn thêm cho các tiêu đồ viên và trắc thủ hướng, và cuối cùng dẫn đến làm tăng lỗi trong việc xác định tọa độ và các thông số di chuyển của mục tiêu.


........
« Sửa lần cuối: 01 Tháng Chín, 2012, 02:25:35 am gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #18 vào lúc: 01 Tháng Chín, 2012, 11:18:48 am »

(tiếp)

Khi xác định loại mục tiêu tại SCH trung đoàn TLPK người ta sử dụng thông tin của SCH sư đoàn PK, số liệu của bộ đội radar, báo cáo từ các tiểu đoàn TLPK và số liệu từ các trạm quan trắc bằng mắt thường.

Sau khi xác định xong loại, tọa độ và các tham số chuyển động của mục tiêu thì người ta cũng xác định được nhiệm vụ chiến đấu cho các tiểu đoàn TLPK, ấn định mức tiêu thụ đạn tên lửa, và trong một số trường hợp còn chỉ ra được cả khoảng cách (tầm) phóng.

Trong toàn trận đánh này, bộ đội tên lửa PK đã 19 lần xạ kích, tiêu thụ 35 đạn tên lửa và chỉ bắn rơi có một máy bay B-52.

Lúc khởi đầu các cuộc không kích quy mô lớn của máy bay Mỹ, các kíp chiến đấu tại SCH các sư đoàn, các trung đoàn và tiểu đoàn chưa có nhiều kinh nghiệm hoạt động chiến đấu đánh trả các cuộc không kích ồ ạt của không quân chiến lược trong hoàn cảnh phức tạp trên không và trong điều kiện có nhiễu rất nặng.

Các trắc thủ đài điều khiển tên lửa làm việc chưa chắc chắn và chính xác, họ đã phạm những sai lầm ngớ ngẩn khi bám sát mục tiêu. Họ chưa biết cách sử dụng các chế độ làm việc chủ động và thụ động của đài điều khiển tên lửa SNR.

Khoảng 70% số lần phóng đạn được thực hiện ở tầm 32 đến 40 km, khi mà việc theo dõi mục tiêu nhóm diễn ra trong điều kiện nhiễu phức tạp nhất. Kết quả là không đảm bảo được độ chính xác cần phải có trong việc dẫn đường cho đạn tên lửa.

Khi giao nhiệm vụ cho các trung đoàn, các điều kiện xạ kích và cơ số đạn trên trận địa phóng của các tiểu đoàn TLPK chưa được xem xét đầy đủ. Hầu hết các đơn vị chỉ có 7-8 đạn trên trận địa phóng, điều đó hạn chế số lần phóng đạn và số lượng đạn được phóng trong một lần xạ kích. Ba trong số 19 lần phóng được thực hiện với chỉ một đạn tên lửa, số lần phóng còn lại là phóng 2 đạn. Việc ấn định số đạn phóng, được thực hiện từ SCH trung đoàn TLPK theo quy định, điều này kìm hãm sáng kiến của các xạ thủ và làm giảm tính hiệu quả của đợt xạ kích.

Vào lúc bắt đầu trận đánh, tư lệnh sư đoàn đặt nhiệm vụ tiêu diệt mục tiêu cho một trung đoàn TLPK và chỉ khi trung đoàn đó đã tiêu thụ hết hơn 60% cơ số đạn tên lửa, khi đó trung đoàn TLPK thứ hai mới được huy động tham chiến.

Trong trận đánh này, đã có những sai lầm trong nhận dạng loại mục tiêu, kết quả là có 5 lần phóng đạn được tiến hành bên ngoài vùng đảm bảo, tên lửa PK đã phóng vào các máy bay không quân chiến thuật bị xem nhầm là các tốp B-52.

Bộ đội tên lửa PK sư đoàn PK Hà Nội đã tiến hành hoạt động tác chiến thành công hơn trong trận đánh trả các cuộc không kích quy mô lớn ngày 26 tháng 12 trong các thời điểm từ 22:15-23:24 giờ (Sơ đồ số 13).


Sơ đồ 13. Đánh trả cuộc không kích ồ ạt quy mô lớn của KQ chiến lược vào các mục tiêu trong khu vực thành phố Hà Nội ngày 26.12.1972.

Tham gia cuộc không kích nói trên vào các đối tượng nằm trong khu vực phòng thủ của cụm phòng không Hà Nội, có đến hơn 80 máy bay, trong đó có 36 máy bay B-52. Chịu đựng các cuộc oanh tạc là khu vực sân bay Gia-Lâm, các ga đường sắt Đông Anh, Yên Viên, nằm ở vùng ngoại ô phía bắc Hà Nội và các khu vực trong khoảng 8-10 km về phía nam Hà Nội. Cuộc không kích của không quân chiến lược diễn ra trên ba khu vực: từ phía tây bắc là một dải oanh tạc 10 km, từ phía tây là dải 15 km và từ phía đông nam là dải 10 km. Độ dài thời gian cuộc không kích - 24 phút, mật độ tấn công 1,5 máy bay mỗi phút.

Lúc khởi đầu cuộc không kích, hai tiểu đoàn của cụm PK Hải Phòng (các tiểu đoàn TLPK 71 và 72) đã được bố trí đến địa bàn Hà Nội và 2 tiểu đoàn TLPK này đã được đưa vào hoạt động. Như vậy, toàn bộ thành phần chiến đấu của sư đoàn PK Hà Nội bây giờ đã có 13 tiểu đoàn sẵn sàng chiến đấu (Bảng 12).

BẢNG 12


Tính đến cơ số thực tế đạn tên lửa tại trận địa xạ kích các tiểu đoàn TLPK, bộ đội phòng không Hà Nội đã có cơ hội tiêu diệt 6 máy bay, còn nếu tính đến việc nạp đạn cho các bệ phóng - 8. Trong thực tế, trong trận chiến đấu này, bộ đội TLPK đã 24 lần xạ kích, tiêu thụ 45 đạn tên lửa và tiêu diệt 6 máy bay B-52. Như vậy, khả năng hỏa lực của cụm đã thực hiện tới 75%. Hiệu suất xạ kích trung bình là 0,25, còn tiêu thụ đạn trung bình cho mỗi máy bay bị bắn rơi giảm xuống còn 7,5. Thành công này đạt được là do sự gắn kết hiệp đồng chặt chẽ hơn giữa các kíp chiến đấu tại SCH ở mọi cấp và kinh nghiệm chiến đấu của họ đã được nâng cao.

Các kíp chiến đấu SCH trung đoàn và tiểu đoàn TLPK đã tự tin hơn và quyết đoán hơn khi hành động trong trận đánh này, cách họ chọn và bắn vào mục tiêu thông minh hơn về mặt chiến thuật, họ sử dụng đầy đủ hơn mọi khả năng của đài điều khiển tên lửa SNR để phát hiện mục tiêu trên nền nhiễu, khéo léo kết hợp sự làm việc của SNR trong các chế độ chủ động và thụ động. Việc phóng đạn tên lửa đã được thực hiện ở khoảng cách (tầm) tối ưu. Ví dụ, 36 trong số 45 đạn tên lửa được phóng ở phạm vi 25-35 km. Trong 5 lần xạ kích mà đánh trúng mục tiêu, việc phóng đạn tên lửa được thực hiện ở tầm xa 28-32 km.

Đồng thời, trong trận đánh cũng còn một số sai lầm. Chẳng hạn, hai tốp máy bay B-52 được xem nhầm là các tốp F-4 và đã không bị bắn. Một số tiểu đoàn chỉ xạ kích được một lần, mặc dù điều kiện tình hình trên không và cơ số đạn tên lửa trên trận địa bệ phóng cho phép họ xạ kích ít nhất ba lần. Như trước kia, họ tiếp tục vi phạm các quy tắc trong việc ấn định số tiêu thụ đạn khi xạ kích. Ví dụ, trong 24 lần xạ kích có 4 lần chỉ phóng 1 đạn, và hai trong số đó – bắn đuổi. Chỉ có 1 lần bắn 3 đạn TLPK và các lần còn lại – 2 đạn TLPK.

Một đặc điểm có tính bản chất trong hoạt động chiến đấu của bộ đội tên lửa PK trong thời kỳ đánh trả cuộc không kích quy mô lớn của không quân chiến lược là việc bắn có tập trung hỏa lực của vài tiểu đoàn TLPK vào một mục tiêu (tốp mục tiêu). Dữ liệu tóm tắt các đợt phóng đó trình bày trong bảng số 13.

BẢNG 13


Bảng này cho thấy việc xạ kích tập trung hỏa lực vài tiểu đoàn đạt hiệu quả khá cao. Trong 23 lần xạ kích đã bắn rơi 13 máy bay B-52, tiêu thụ 98 đạn tên lửa. Và hiệu quả đạt được (0,56) cao hơn gần 2,5 lần so với hiệu suất chung của tất cả các cuộc xạ kích vào các máy bay của lực lượng không quân chiến lược, và tiêu thụ trung bình đạn tên lửa - thấp dưới mức thống kê trung bình một chút. Việc xạ kích tập trung hỏa lực của hơn 3 tiểu đoàn TLPK vào 1 mục tiêu là không kết quả do công tác chỉ huy các tiểu đoàn yếu kém.

Các trận địa chiến đấu của tiểu đoàn TLPK nhiều lần chịu những trận bom phá và bom bi và đạn chống radar "Shrike". Trong đó, chỉ có 9 trận tấn công (8 - bom phá và bom bi và 1 - đạn chống radar "Shrike") có kết quả với đối phương: tạm thời vô hiệu hóa 6 tiểu đoàn, làm hư hỏng và không phục hồi được 3 ăng-ten của radar PA-11 và PA-12, 1 PA cabin, 5 DES-75, 9 bệ phóng, 15 đạn tên lửa, một xe RPK, một xe xích kéo ATS-59, 3 tiểu đoàn bị hỏng cáp.

Việc vô hiệu hóa tiểu đoàn tên lửa PK số 73 bởi đạn chống radar "Shrike" diễn ra do kết quả của hành vi vi phạm thô bạo chế độ làm việc đài SNR: kíp chiến đấu trong vòng 80 giây tìm kiếm và phát hiện mục tiêu trong chế độ chủ động tích của đài SNR (chế độ cao áp). Đạn chống radar "Shrike" nổ khi tấn công các tiểu đoàn TLPK khác xảy ra ở khoảng cách 2-3 km cách trận địa bệ phóng.

Một trong các điều kiện để đạt khả năng sống sót đủ cao cho các tiểu đoàn TLPK khi bị tấn công bằng đạn chống radar "Shrike" là quy định nghiêm ngặt thời gian làm việc với bức xạ của đài điều khiển SNR. Kíp chiến đấu đóng điện áp cao, theo quy định, không quá 15-20 giây. Sự làm việc ngắn hạn của đài SNR trong chế độ chủ động làm gián đoạn việc tự dẫn của đạn chống radar. Để tăng độ tin cậy của việc phát hiện đạn chống radar, việc bám mục tiêu được chọn để bắn trên các màn hình đài SNR, được thực hiện bằng phương pháp RS (bám sát thủ công). Không loại trừ rằng môi trường nhiễu phức tạp được tạo ra khi các tốp B-52 tấn công đi vào khu vực hoạt động chiến đấu của bộ đội TLPK cũng là một trong những lý do gây khó khăn cho các máy bay không quân chiến thuật thực hiện phóng đạn chống radar có ngắm bám mục tiêu.
........
« Sửa lần cuối: 01 Tháng Chín, 2012, 05:03:46 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #19 vào lúc: 01 Tháng Chín, 2012, 05:45:34 pm »

(tiếp)

VẤN ĐỀ BẮN MÁY BAY KHÔNG QUÂN CHIẾN LƯỢC

Kết quả bắn máy bay không quân chiến lược (sơ đồ 14 và 15) của các trận đánh đầu tiên, chịu ảnh hưởng lớn do sự thiếu kỹ năng của các quân nhân binh chủng TLPK đối với việc tác chiến trong môi trường trên không phức tạp và có nhiễu nặng. Kinh nghiệm chiến đấu thu nhận được trong tiến trình chiến đấu vói KQ chiến thuật và KQHQ trên tàu sân bay của đối phương, cũng như với KQ chiến lược tại khu vực Quân khu 4 là không đủ.


Sơ đồ 14. Số lần bắn Nstr và số máy bay bị bắn rơi Nsb khi đánh trả các cuộc không kích quy mô lớn của KQ chiến lược.


Sơ đồ 15. Hiệu quả xạ kích E và tiêu thụ đạn trung bình cho một máy bay bị bắn rơi Nsr khi đánh trả các cuộc không kích quy mô lớn của KQ chiến lược.

Trong hai ngày đầu tiên binh chủng TLPK tham gia đánh trả 5 cuộc tấn công đường không quy mô lớn của KQ chiến lược. Trong những trận đánh này, hiệu quả của xạ kích rất thấp chỉ ở mức 0,09, và cứ mỗi 4 chiếc máy bay bị bắn rơi tiêu tốn hơn 19 đạn tên lửa.

Theo mức độ tích lũy kinh nghiệm chiến đấu và mức kỹ năng chiến đấu của các quân nhân lực lượng TLPK QĐNDVN mà hiệu quả xạ kích được tăng lên. Ví dụ trong 4 ngày chiến đấu cuối cùng, hiệu suất xạ kích trung bình tăng lên đến 0,27, và tiêu thụ đạn tên lửa trung bình cho mỗi chiếc máy bay bị bắn rơi giảm xuống còn 6,6.

Phân tích đặc điểm chung và hiệu quả xạ kích vào các máy bay của không quân chiến lược, ta cần lưu ý rằng hiệu suất xạ kích đạt được khẳng định đặc tính chiến đấu cao của tổ hợp tên lửa PK SA-75M. Việc sử dụng được đầy đủ những phẩm chất chiến đấu đó có thể đạt được chủ yếu thông qua việc cải thiện vấn đề đào tạo kỹ năng cho đội ngũ quân nhân tiến hành hoạt động chiến đấu trong một môi trường trên không phức tạp và có nhiễu nặng, cũng như bằng cách cải thiện chất lượng chuẩn bị của các đơn vị đảm bảo tình trạng vật chất kỹ thuật cho tổ hợp tên lửa PK và đạn tên lửa bước vào trận đánh.

Tất cả các cuộc xạ kích đều diễn ra trong điều kiện không quân Mỹ áp dụng kết hợp các loại nhiễu (nhiễu chủ động và thụ động). Trong 135 đợt xạ kích vào các máy bay B-52, có 117 lần tiến hành bằng phương pháp TT (ТТ), 10 lần – bằng phương pháp PS (ПС), 4 lần thực hiện với sự chuyển đổi phương pháp TT sang PS, và 4 – từ phương pháp PS sang TT (do mất  dấu mục tiêu trên nền nhiễu). So sánh đặc điểm xạ kích theo cả 2 phương pháp dẫn đường được thể hiện trên biểu đồ (sơ đồ 16).


Sơ đồ 16. So sánh đặc điểm xạ kích của bộ đội TLPK phụ thuộc phương pháp dẫn đường.

Đồ thị cho thấy tính hiệu quả xạ kích theo phương pháp dẫn PS lớn hơn 2,5 lần so với hiệu quả xạ kích theo phương pháp dẫn TT.

Trong 135 lần bắn chỉ có 79 lần các kíp chiến đấu đài điều khiển SNR-75 bật cao áp, trong đó 46 lần - ở phạm vi hơn 35-40 km, khi mà khả năng phát hiện mục tiêu trên nền nhiễu thực tế bị loại bỏ. Bốn lần bắn có tầm phát hiện dấu hiệu mục tiêu B-52 trên nền nhiễu AShP vượt quá 35 km, nhưng khả năng quan sát được dấu hiệu quá xấu, tiếp theo mục tiêu biến mất và kíp chiến đấu buộc phải chuyển từ phương pháp dẫn đường PS sang TT.

Các kíp chiến đấu của tiểu đoàn tên lửa PK, do sợ bị tấn công bằng đạn chống radar "Shrike", đã tìm cách bắn máy bay B-52 mà không bật cao áp trong suốt chu kỳ bắn. Điều này loại bỏ bất kỳ khả năng nào phát hiện dấu hiệu mục tiêu trên nền nhiễu chủ động, và do đó chuyển sang phương pháp dẫn hiệu quả hơn – phương pháp PS.

Phân tích kinh nghiệm các trận đánh đã qua cho thấy, trong điều kiện kẻ địch áp dụng nhiễu chủ động và phóng đạn chống radar "Shrike", việc bắn B-52 sẽ đạt kết quả nhất nếu họ thực hiện được sự kết hợp khéo léo các chế độ làm việc chủ động và thụ động của đài điều khiển SNR. Các tính năng của một cuộc xạ kích như vậy được cho trong hình sau (sơ đồ 17).


Sơ đồ 17. Đồ thị (thời gian cách quãng) tạm thời trong công tác chiến đấu của tiểu đoàn TLPK khi bắn máy bay B-52 trong điều kiện có nhiễu chủ động và đạn chống radar "Shrike".
Trái sang phải: Phóng giả - Phóng thật - Đạn gặp mục tiêu.


Đánh giá tình hình trên không và điều kiện nhiễu được tiến hành theo cả hình thức và tính chất của nhiễu trên màn hình hiển thị mà không bật điện áp cao máy phát. Thực hiện phóng giả ở một phạm vi từ 40-45 km đến mục tiêu cho phép xác định chủng loại mục tiêu được lựa chọn để bắn. Bật máy phát đài SNR trước khi phóng đạn tên lửa (5-7 giây) cho phép làm rõ tình hình trên không và tình hình nhiễu, và quan trọng hơn, đánh giá sự hiện diện của nhiễu thụ động trong khu vực đạn tên lửa dự kiến gặp mục tiêu. Phóng và dẫn đạn trong phân đoạn đầu bằng phương pháp TT khi tắt máy phát đài SNR đảm bảo an toàn tránh đạn chống radar kiểu "Shrike". Bật máy phát ở phân đoạn cuối dẫn bám đạn tên lửa (15-18 giây trước khi đạn gặp mục tiêu) cho phép trong trường hợp phát hiện được mục tiêu trên nền nhiễu sẽ thực hiện chuyển từ phương pháp dẫn TT sang PS và bám mục tiêu ở chế độ theo dõi PS, AS và SS ( tùy thuộc vào khả năng quan sát được dải mục tiêu trong nhiễu).

Áp dụng  phương pháp bắt bám AS trong 3 lần xạ kích đã đảm bảo tiêu diệt được 3 máy bay B-52, còn trong 7 trường hợp bám sát mục tiêu bằng phương pháp SS có 3 lần xạ kích thành công.

Ảnh hưởng lớn đến hiệu quả xạ kích đối tượng máy bay B-52 trong điều kiện nhiễu là sự lựa chọn tầm phóng đạn tên lửa. Sự phụ thuộc của hiệu quả xạ kích vào phạm vi phóng đạn tên lửa, thu được trên cơ sở phân tích kết quả các trận đánh tháng 12 được thể hiện trên sơ đồ 18.


Sơ đồ 18. Đặc điểm xạ kích vào đối tượng B-52 của bộ đội TLPK phụ thuộc tầm phóng đạn.
..........
« Sửa lần cuối: 03 Tháng Chín, 2012, 04:58:57 pm gửi bởi qtdc » Logged
Trang: « 1 2 3 4 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM