NGÀY NÀY 40 NĂM VỀ TRƯỚC
Vào lửa và nỗi đau (tiếp)
Trời tối hẳn, tôi trườn về phía trước nơi mấy tên địch nằm gần nhất, chính thằng này khi trúng đạn rên la gọi bạn rất to. Nó nằm ngửa, mũ sắt lật sang bên, áo giáp của nó phanh ra, tôi kéo cái ba-lô ra khỏi người nó, trong ba-lô ngoài bộ quần áo rằn ri hôi rình tôi tìm thấy vài ba thứ lặt vặt như mấy bao thuốc Bastos Quân tiếp vụ, dao cạo râu cụp xòe, mũ nồi, mấy túi cơm sấy, thịt hộp...những thứ mà lính ta đều cần. Thằng bên cạnh không có ba-lô nhưng túi ngực của nó có một cái bật lửa Zippo và một cuốn sổ tay bìa ni-lon. Tôi nhét bật lửa và cuốn sổ vào túi áo ngực thì Phồm đi hội ý về cho biết ông Nghĩ c trưởng bị thương ngay từ sáng, một số hy sinh, cả đại đội còn chục tay súng đợi đêm xuống sẽ rút ra.
Ba anh em ngồi dựa vào nhau nhai trệu trạo cơm sấy trộn nước hố bom với thịt hộp vừa kiếm được, hít hà hơi thuốc lá một cách khoan khoái, Lào vẫn còn rên khe khẽ nó chẳng ăn được gì chỉ uống nước. Phồm phân công tôi khi rút sẽ mang Lào theo.
Phía bên kia sông địch bắn pháo sáng rực trời kèm đủ các loại pháo hiệu xanh đỏ, sao chúng bắn lắm thế. Sau này tôi mới biết địch ăn mừng vì đã chiếm được Thành Cổ -
đấy là đêm 16/9/1972.Xốc Lào lên lưng, chúng tôi lui lại phía lớp học. Gặp Chiến, nó không bị sao, mừng quá. Chỉ huy đại đội và trung đội không còn ai, chỉ còn lại mấy tiểu đội trưởng sẽ chỉ huy anh em tìm đường rút ra. Liệt sĩ sẽ để lại để dẫn trinh sát vào mang ra.
Tiếng địch nói chuyện với nhau rất gần, chúng tôi sẽ từ khu trường học lách qua những căn nhà đổ rồi xuống đường tăng. Tôi cõng Lào trên lưng trườn qua gần hết đường tăng thì tốp đi trước dừng lại. Địch ở bên kia con đường trong các dãy nhà đổ ven đường. Quyết định phải phá vây mà ra. Tôi đặt Lào vào một cái hố pháo trên đường tăng, vơ vội ít cỏ rác phủ lên cho nó ghé vào tai nó thì thào:
“Nằm yên ở đây, chúng tao phải phá vây rồi sẽ đưa mày ra”. Dường như nó không muốn rời tôi, bàn tay nó bấu vào cánh tay tôi như muốn nói:
“Đừng bỏ em lại...”. Cái cảm giác bàn tay nó bấu vào tay tôi cứ tuột dần, tuột dần ám ảnh tôi cho đến tận bây giờ. Không mang được nó ra, tôi ân hận lắm nhưng liền sau đó tôi cũng bị thương. Khu vực nầy là khu vực tranh chấp của hai bên và sau Hiệp định Paris 1973 do địch kiểm soát. Không hiểu trong số những ngôi mộ chưa biết tên của NTLS xã Triệu Thành có mộ của Lào và của anh Tạo không ? Lần nào đi Quảng Trị và trở lại nơi anh Tạo và Lào hy sinh giờ là trường tiểu học Triệu Thành, tôi không khỏi nghẹn ngào nhớ tới trận đánh đầu tiên đó với những người đồng đội đã hy sinh mà mình không thể mang họ ra được. Cầu mong các anh sống khôn chết thiêng, ở nơi xa các anh hãy phù hộ độ trì cho gia đình, người thân có một cuộc sống an lành, phù hộ cho quốc thái dân an và đừng bao giờ để những thảm cảnh do chiến tranh gây ra như thế nữa...
Lên khỏi đường tăng, trong ánh sáng mờ ảo của hỏa châu, tôi phát hiện mấy đốm đỏ của thuốc lá cách không xa liền sau đó một tiếng la:
“Ai ! Đ. má...”. Phía trước tôi là Chiến, nó bật dậy phóng luôn một quả B40 vào chỗ đó, luồng lửa quả đạn sẹt ngang qua người tôi làm tôi tối tăm mặt mũi, một chớp đạn nổ cách tôi không xa khiến tôi tê dại hết cả người và sau đấy không biết gì hết.
Tôi mở mắt, định thần một lúc nhớ lại những gì đã xảy ra. Xung quanh tôi không còn ai cả, đồng đội đâu hết cả rồi, có ai làm sao không, sau khi thằng Chiến bắn quả B40, địch bắn một loạt M79 vào chỗ chúng tôi và tôi hứng trọn một quả. Tay phải tôi tê cứng, ngón cái đẫm máu, chỗ nào cũng đau và thấy máu. Chân trái cũng bị nên cử động rất khó khăn. Hướng nào là hướng ta, hướng nào là hướng địch, tôi cũng không rõ nữa. Dần dần tôi cũng định được hướng: phía bên trái nơi các loại pháo sáng, pháo hiệu bắn lên rực trời, chính diện là con đường chạy từ cầu xuống và đi chếch về phía phải - nơi đó chắc chắn sẽ có quân ta vì từ sáng địch tập trung đánh nhiều về phía đó, cũng từ phía đó tôi cũng đã nghe thấy tiếng nổ rất đặc trưng của đạn AK.
Tay phải bị thương không thể dùng súng được nữa, tay trái cầm súng, tôi dùng chân phải đẩy toàn thân xoay chếch về bên phải trườn đi. Cứ thế tôi lết dọc theo đường tăng được một quãng, từ những ụ nhà đổ quanh đấy vọng ra tiếng nói cười của địch chợt làm tôi thót tim lại: địch phát hiện ra thì làm sao đây, toàn thân bị thương, bàn tay phải cầm súng cũng bị thương, cánh tay trái cũng bị nốt. Địch mà túm được mình thì làm sao đây ? Lính mới tò te biết gì mà khai ! Đòn thì mình làm sao mà chịu được, khai thì biết khai cái gì ! Chỉ có chọn cái chết khi lọt vào tay chúng mà thôi ! Tôi cắn răng chịu đau dùng tay trái lần tìm lựu đạn, sờ thấy còn 2 quả lựu đạn, tôi lấy ra một quả, quả lựu đạn này chính là quả được trang bị khi ở Bắc Thái. Bóp chặt mỏ vịt của nó trong tay tôi đưa răng cắn vào vòng chốt an toàn định rút ra rồi lại thôi vì thấy chưa cần thiết. Tôi cuốn 2 vòng quai khẩu AK vào cánh tay phải, bốn ngón tay còn lành nắm chặt lấy đầu ngắm. Chọn cho mình được cách giải quyết phù hợp khi tình thế xấu nhất xảy ra, tôi đạp mạnh chân phải đẩy toàn thân tiếp tục lết dọc theo con đường tăng, nhiều lúc các vết thương đau qúa lại thêm sức lực phải dốc ra khiến tôi mệt quá lịm đi. Hình như đường tăng bắt vào con lộ vì tôi không cảm thấy đất bùn nữa mà lại lổn nhổn đá củ đậu, dưới ánh sáng của hỏa châu tôi phát hiện bên trái không xa quãng ba chục mét những đốm đỏ lập lòe của thuốc lá, mấy thằng lính địch đang túm tụm với nhau sau bức tường đổ của một căn nhà ven đường. Đợi cho đến khi ánh sáng hỏa châu của địch bớt đi tôi lết tiếp về hướng phải con đường, một hố bom lớn đào giữa đường tôi chúi mình xuống hố bom trườn sang bên kia đường nơi thấp thoáng những cây cối bị bom đạn phạt trụi. Sang đến bên này đường tôi đến một khu đất nhấp nhô những mô đất to nhỏ xen lẫn những bụi cây xơ xác. Một tiếng bụp ngay gần đấy ánh sáng quả hỏa châu địch bắn ngay gần chỗ tôi sáng rực như ban ngày, tiếng húng hắng vọng ra đâu đó cách tôi không xa, chết rồi mình nằm sát địch quá. Bất chợt từ chỗ đó và những vị trí xung quanh đấy địch phóng liên tiếp nhiều quả M79 về phía nơi tôi dự đoán có quân ta, nhìn điểm nổ chỉ cách đó khoảng hơn trăm mét. Tôi quan sát lại nơi tôi đang nằm giữa những mô đất mà hầm của địch lại xung quanh, chỉ còn cách lách vào giữa chúng mà đi. Qua khỏi đám gò đất bất chợt tôi nín thở khi ngay trước mắt tôi một cái bóng sừng sững với cái đầu khum khum như đội mũ sắt chập chờn dưới ánh hỏa châu lấp ló sau một bụi cây. Thế là hết, tôi ghé răng rút mạnh chốt quả lựu đạn và giữ chặt mỏ vịt. Chỉ cần buông tay là sau 3 giây quả lựu đạn sẽ nổ tung và...Tôi nằm im nín thở nhìn về phía bóng tên địch nhưng mãi không thấy nó cựa quậy, mà cảnh giới kiểu đó thì nghe chừng dễ bị ăn đạn. Tôi tạt sang phải trườn dần tránh xa chỗ tên lính đứng gác. Báng súng của tôi chạm vào một vật cứng kêu đánh cộp, tôi thót cả người nhưng bóng tên lính vẫn bất di bất dịch, tôi thở phào vì phát hiện ngay cạnh tôi là một tấm bia mộ khá lớn đổ nghiêng mà báng súng của tôi đã va phải. Tấm bia người ta đúc bằng bê tông, đầu bia khum khum giống hình mũ sắt. Chính cái bóng như người đứng lấp ló trong bụi cây cũng là một tấm bia mộ. Tôi trườn sát dưới chân tấm bia len giữa bụi cây thấp thì phát hiện một mảnh giấy gói lương khô trăng trắng của quân ta bỏ lại. Giấy bọc lương khô vẫn kêu rọt...rẹt chưa bị ướt sương đêm chứng tỏ quân ta cũng vừa ở đây hoặc còn ở quanh đây. Ý nghĩ đó làm tôi phấn chấn hẳn lên nhưng vẫn không quên trong tay mình còn quả lựu đạn đã rút chốt. Lết qua một bãi trống xâm xấp nước, tôi gục mặt vào vũng nước để cho tỉnh táo và tiếp tục lết về phía trước. Một tiếng gằn giọng ngay trước mặt:
“Ai ?”. Nhận ra tiếng nói giọng Bắc tôi vội trả lời:
“Tôi ! c3 Trà Châu đây”. Sức mạnh ở đâu đến với tôi lúc đó, tay phải chống khẩu AK tôi đẩy người lao vào phía trước và lăn xuống một con hào. Hai người lính giữ chặt tôi vặn hỏi Trà Châu là thế nào. Thì ra khi chúng tôi vào trận trung đoàn đã đổi phiên hiệu từ Bắc Bình sang Trà Châu, anh em trong chốt vẫn dùng phiên hiệu cũ là Bắc Bình. Chợt một cậu lật mũ tôi ra và hét:
“Thám báo ! Chỉ có thám báo mới đeo kính” và một cậu cứ báng AK thúc vào ngực, vào bụng tôi, một cậu lột hết các thứ trên người tôi ra, thấy tôi bàn tay trái nắm chặt quả lựu đạn, cậu ta nói:
“Buông tay ra, cái gì thế ?”- Lựu đạn đã rút chốt rồi, cẩn thận đấy. Tôi trả lời.
Anh ta một tay bóp chặt bàn tay trái nắm quả lựu đạn của tôi và tay kia bóp lấy mỏ vịt của quả lựu đạn và hét:
“Bỏ tay ra !”. Quả lựu đạn được anh ta ném ra ngoài đã nổ tung.
Một người nữa từ ngách hầm xuất hiện. Cậu lính đang thúc báng súng vào người tôi nói:
“Anh Hồng ! Có một người của c3 nhưng lại đeo kính, tôi nghi là thám báo địch vì anh ta dùng mật danh không đúng”. Người tên là Hồng hỏi tôi:
“c trưởng c3 tên là gì ?”.
“Tên là Nghĩ !”. Ngay lúc đó một giọng nói ồm ồm quen quen hét lên:
“Thám báo hả ? Khử bỏ mẹ nó đi !”. Tôi gọi:
“Anh Nghĩ ơi ! Tường đây...!” Ông Nghĩ từ một ngách hầm nhô ra:
“ Tường hả ! Anh em đâu hết cả rồi...”..-
Lúc rút ra đụng địch, tan tác cả, tôi bị thương...họ bảo tôi là thám báo...
-
Hồng ơi ! Thằng này là lính của tao, nó bị cận phải đeo kính...Người lính thúc báng súng vào tôi đưa tôi vào hầm, băng bó các vết thương và đưa cho tôi một nắm cơm với ruốc. Người tôi đau nhức, bải hoải hết cả người, lúc này mới biết mình còn sống. Cậu lính cho biết đây là chốt của c6, người tên là Hồng là c trưởng và ông Nghĩ trước khi về c3 của tôi là c phó của c6, ông Nghĩ bị thương gẫy chân từ sáng, bò ra đến đây. Cậu ta có vẻ ân hận khi thúc báng súng vào người tôi:
“Lính địch ra trận cũng có thằng đeo kính, nhưng lính mình đeo kính thì ông là người tôi gặp đầu tiên...”Đau đớn, mệt mỏi, tôi thiếp đi không biết gì nữa...
(Trích Ngược dòng ký ức)http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php/topic,17230.160.htmlhttp://www.vnmilitaryhistory.net/index.php/topic,17230.170.html
Những người lính c3/d1/e101 tại cầu Chợ Sãi 4/2001, phía sau lưng là khu trường học nơi trận chiến ngày 16/9/1972Những đồng đội cùng tiểu đội 3 với tôi cách đây vừa tròn 40 năm: 
Lương Thanh Phồm (phải), a trưởng của tôi tại quê nhà Nhật Tân, Tiên Lữ, Hưng Yên

Cùng với gia đình Vũ Xuân Bình tại quê nhà Sơn Hải, Quỳnh Lưu, Nghệ An

Đây là nơi tôi buộc phải để Lào lại để phá vây, liền sau đó tôi bị thương...

Di ảnh của Phạm Văn Lào tại quê nhà Sơn Hải, Quỳnh Lưu, Nghệ An

Bên mộ của Trần Văn Bắc trong sân nhà tại xã Sơn Hải, Quỳnh Lưu, Nghệ An