Hồ sơ tư liệu"GIÁO ÁN" DỤNG BINH CỦA QUÂN ĐỘI SÀI GÒN
QĐND - Thứ Tư, 12/09/2012, 16:5 (GMT+7)QĐND-Ngay trong những năm diễn ra cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, các cán bộ binh-địch vận của ta đã đi sâu khai thác, tìm hiểu về đội ngũ sĩ quan Quân đội Sài Gòn thông qua các tù, hàng binh và những tài liệu thu được của đối phương. Sau độ lùi nhất định của thời gian, việc tiếp cận nguồn tư liệu này sẽ giúp độc giả có thêm một góc nhìn về thân phận của những sĩ quan từng có nhiều năm phục vụ trong chính thể “Việt Nam Cộng hòa”.
Gạn lọc để quan thầy “bổ túc”Sau khi thế chân Pháp vào xâm lược miền Nam nước ta, Mỹ chủ trương dựa vào một số sĩ quan bản địa (từng được Pháp đào tạo) làm nòng cốt rồi phát triển thành đội ngũ sĩ quan đông đảo nhằm “đủ sức đối phó với cộng sản trong mọi tình huống, kể cả các đợt hành quân “Bắc tiến” hoặc sang Cam-pu-chia, Lào…”. Chính quyền Ngô Đình Diệm đã lựa chọn số sĩ quan do chính quyền thực dân để lại (kể cả số sĩ quan thuộc các giáo phái) để sàng lọc những thành phần có thể tin dùng. Lúc đầu, vì nhu cầu bành trướng quân đội nên cả số sĩ quan chưa có điều kiện “bộc lộ tài năng” trên chiến trường cũng vẫn được Ngô Đình Diệm đề bạt giữ các chức vụ quan trọng và một số lớn sĩ quan đã được đưa đi bổ túc tại các trường quân sự nhằm lĩnh hội kiến thức theo phương pháp của quan thầy Mỹ. Những lớp bổ túc cho bộ binh được tổ chức sớm và đầy đủ hơn. Riêng số sĩ quan chỉ huy tham mưu các cấp và sĩ quan thuộc các quân, binh chủng kỹ thuật được đưa đi huấn luyện tại Mỹ, số này phải trải qua kỳ thi tiếng Anh và khóa học 6 tháng ngoại ngữ.
Trong giai đoạn 1955-1960, do chưa có đầy đủ trường lớp, giáo viên, phương tiện giảng dạy nên Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt đã đưa toàn bộ học viên các khóa 12-13 đi đào tạo tại Mỹ. Các năm 1968-1970, thực hiện kế hoạch “Việt Nam hóa chiến tranh”, các quân, binh chủng cũng gấp rút lựa chọn học viên đưa sang Mỹ bổ túc. Riêng lực lượng hải quân, quan thầy Mỹ nhận đào tạo cho Quân đội Sài Gòn toàn bộ số học viên từ vị trí hạm đội trưởng cho tới các thủy thủ…
Về lý thuyết, việc lựa chọn học viên đi đào tạo cả trong lẫn ngoài nước luôn theo một tiêu chuẩn khắt khe do chính quyền Sài Gòn đề ra, nhưng thực tế do ảnh hưởng các phe phái nên nhiều trường hợp được đi học do người chỉ huy “ưu ái”; có trường hợp do chỉ huy đơn vị không ưa, đẩy đi; lại có người học xong nhưng không được bố trí công việc mà chỉ “ngồi chơi xơi nước”…
Sĩ quan Quân đội Sài Gòn trình diện Ban quân quản sau ngày 30-4-1975. Ảnh tư liệu.
Kể từ năm 1954 cho tới khi Mỹ chủ trương tiến hành “Việt Nam hóa chiến tranh” (1969-1972), đội ngũ sĩ quan Quân đội Sài Gòn đã được nâng cao trình độ một cách bài bản theo “giáo án” của Mỹ. Điểm đáng chú ý là trong việc đào tạo sĩ quan trẻ, hầu hết đều có trình độ văn hóa từ tú tài 1 trở lên. Mỹ và chính quyền Sài Gòn cũng luôn ưu tiên tuyển chọn những thanh niên xuất thân từ thành phần tư sản rồi sau đó mới tuyển lựa những người thuộc các thành phần khác (thường là thành phần trung gian) nhằm mục đích tận dụng và xây dựng quan điểm “chống Cộng” ngay từ trước khi số thanh niên này trở thành học viên trong các trường quân sự.
Khống chế, thanh trừng và mua chuộcThời Diệm nắm quyền (1955-1963), chính quyền Sài Gòn thực hiện chính sách “chính trị nằm trong quân sự” và thường nắm sĩ quan thông qua hai hệ thống: Hệ thống chỉ huy đơn vị và hệ thống an ninh, đảng phái. Trong việc giao nhiệm vụ và thăng cấp, nhất là số sĩ quan giữ chức từ Tiểu đoàn trưởng trở lên, chính quyền Diệm dựa theo thâm niên, trình độ, tác phong… nên các sĩ quan đều có phần hăng hái, tích cực chống Cộng. Tới thời Thiệu, việc thăng cấp sĩ quan chủ yếu là dùng thủ đoạn để lôi kéo, mua chuộc và dựa vào phe cánh nhiều hơn thực tài. Khi Nguyễn Văn Thiệu lập Mặt trận 6 đảng phái, nhiều sĩ quan đã tìm cách nhảy vào các đảng phái của Thiệu để được tiến thân và ở mỗi vị trí chỉ huy từ cấp Sư đoàn trở lên đều có một loạt đàn em cấp dưới làm hậu thuẫn.
Để nắm và sử dụng đội ngũ sĩ quan quân đội, chính quyền Sài Gòn thường áp dụng 3 biện pháp chính là: Khống chế, thanh trừng và mua chuộc. Để khống chế, lực lượng CIA (Mỹ) và cơ quan an ninh Quân đội Sài Gòn thường xuyên theo dõi sĩ quan thông qua việc lập hồ sơ, lý lịch, tìm hiểu thành phần, cá nhân để nắm mọi mối liên hệ của sĩ quan, nhất là tìm hiểu xem gia đình họ có theo cộng sản hoặc trú quán ở những vùng cộng sản hoạt động mạnh như: Quảng Ngãi, Bình Định, Quảng Nam, Bình Dương… Khi Diệm làm Tổng thống, Quân đội Sài Gòn có chủ trương hoán đổi sĩ quan đi các vùng chiến thuật để tránh bị đối phương móc nối. Tới thời Thiệu lại thực hiện chủ trương “địa phương hóa” sĩ quan, nhất là số sĩ quan người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên và gốc Khơ-me. Trong phiếu an ninh, đội ngũ mật vụ của chính quyền Sài Gòn thường ghi tất cả những bằng chứng, hình ảnh, tài liệu và thậm chí cả những hành vi tham nhũng, làm giàu… để có căn cứ khống chế sĩ quan.
Chính quyền Sài Gòn còn sử dụng nhiều biện pháp để thanh trừng số sĩ quan thuộc thành phần chống đối và đã có những sĩ quan bị đưa đi giam lỏng như tướng Nguyễn Ngọc Lễ, Đại tá Trương Văn Xương… Một số viên tướng bị cho “ngồi chơi xơi nước” như Dương Văn Đức được đưa sang Pháp, Nguyễn Giác Ngộ, Nguyễn Thành Phương được giao cho ngồi nghiên cứu “đề tài” về “du kích và phản du kích”. Tới khi lên nắm quyền, Nguyễn Văn Thiệu còn tìm cách gạt dần những sĩ quan không ăn cánh với mình thông qua việc kiếm cớ họ dính líu tham nhũng hoặc cho rằng số này năng lực chỉ huy kém. Để xử lý những sĩ quan thuộc phe cánh của Nguyễn Cao Kỳ, Thiệu đã từng đưa Bộ trưởng Thông tin-chiêu hồi Nguyễn Bảo Trị xuống làm Chỉ huy trưởng Trường Sĩ quan Tham mưu; “bớt” chức Tư lệnh Quân đoàn 3 của Lê Nguyên Khang thành Tư lệnh Sư đoàn thủy quân lục chiến, rồi sau đó đưa Khang về làm Phụ tá Tổng Tham mưu trưởng – một vị trí cao hơn nhưng không có thực quyền. Những sĩ quan cao cấp không thuộc phe cánh nhưng do quá trình hoạt động lâu năm, có uy tín với quân đội, được đảng phái và tôn giáo làm hậu thuẫn… thì Thiệu tìm cách đẩy ra khỏi ngành hoặc đưa sang làm những công việc khác mà vẫn giữ được quyền lợi, địa vị. Trong các năm từ 1964-1972, Nguyễn Văn Thiệu đã đưa một loạt tướng, tá như: Trần Văn Đôn, Tôn Thất Đính, Voòng A Sáng, Hồng Sơn Đông vào ngồi ghế dân biểu; đưa tướng Lê Văn Kim về làm Giám đốc Ngân hàng Quân đội. Một số sĩ quan được đưa vào các cơ quan chính phủ, số khác được bổ nhiệm chức Thanh tra Sư đoàn – một vị trí “có cũng như không” ở các đơn vị chủ lực. Ngược lại, số sĩ quan là tay chân đắc lực của Nguyễn Văn Thiệu mặc dù bị áp lực của Mỹ buộc phải thuyên chuyển đi nơi khác nhưng Thiệu vẫn tìm cách để số này tiếp tục nắm giữ những chức vụ quan trọng, như trường hợp Đại tá Trần Văn Cẩm - Tham mưu trưởng Sư đoàn 1 - từng bị cáo buộc tham nhũng và có âm mưu thủ tiêu một sĩ quan có dính líu để bịt đầu mối nên bị cách chức, nhưng sau đó viên sĩ quan này lại được cử giữ chức Tư lệnh Sư đoàn 23. Còn Đại tá Lê Đức Đạt bị tố giác tham nhũng, bị cách chức tỉnh trưởng và đưa về làm Phó tư lệnh Sư đoàn 22, ít lâu sau Đạt lại được bổ nhiệm làm Tư lệnh Sư đoàn. Trường hợp của tướng Nguyễn Văn Toàn còn “khó coi” hơn. Toàn vừa dính tham nhũng, vừa bị điều tra tội dâm ô và mất chức Tư lệnh Sư đoàn 2, nhưng Thiệu lại đưa Toàn về làm Phó tư lệnh Quân đoàn 2, rồi không lâu sau trở thành Tư lệnh Quân đoàn 2…
Tinh vi hơn, sau này, Nguyễn Văn Thiệu còn thực hiện nhiều biện pháp mua chuộc sĩ quan bằng cách cho họ nắm giữ những chức vụ trong chính quyền như: Tỉnh trưởng, quận trưởng, giám đốc các nha, sở hoặc giám đốc các thương cảng; nắm những chức vụ trong ngành thuế, ngành giao thông… Từ những vị trí béo bở này, đội ngũ sĩ quan dần bước vào thương trường, nắm quyền kiểm soát, buôn bán cả hợp pháp lẫn bất hợp pháp nhằm làm giàu cho bản thân và các “ông lớn” trong chính quyền. Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu còn mua chuộc những sĩ quan giáo phái từng bị Diệm đàn áp, khinh rẻ bằng việc cho các sĩ quan thuộc tín đồ Hòa Hảo, Cao Đài giữ những chức vụ quan trọng ở vùng có nhiều đồng bào theo đạo và thực hiện chương trình “Hữu sản hóa quân nhân” thông qua việc bán nhà, xe hơi… cho sĩ quan, thực chất là việc bán của công với giá rẻ nhằm mua chuộc. Mặc dù không để xảy ra sự phân biệt giữa số sĩ quan thuộc các tôn giáo và đảng phái, nhưng thực tế chính quyền Sài Gòn luôn coi số sĩ quan người Công giáo gốc Bắc di cư vào Nam là những người chống Cộng mạnh mẽ nhất và luôn yêu cầu các đơn vị phải chú trọng “nâng đỡ” họ…
Nhờ có những sự “ưu ái” dành cho phe cánh của mình nên số đông sĩ quan Quân đội Sài Gòn ngày càng “gắn bó” với người đứng đầu của chính thể “Việt Nam Cộng hòa”. Tuy nhiên, vẫn có những viên tướng tranh thủ tình trạng phe nhóm để tiến thân, như trường hợp của tướng Phạm Quốc Thuần. Vốn là thuộc hạ số một của Nguyễn Văn Thiệu nhưng vào các năm 1966-1967, khi lực lượng của Nguyễn Cao Kỳ gồm: Lê Nguyên Khang, Nguyễn Bảo Trị, Nguyễn Đức Thắng… còn khá mạnh, Thuần đã lợi dụng “đi đêm” với cả hai phe. Thông qua Lê Nguyên Khang, Thuần được lòng Kỳ, nhưng rồi chính Thuần lại ngầm mật báo với Thiệu về nội tình của phe đối lập…
*
Thông qua các thủ đoạn nắm và sử dụng sĩ quan quân đội, Mỹ và chính quyền Sài Gòn luôn tùy theo thời cuộc mà có những “giáo án” dụng binh cho phù hợp với thực tế. Song, do mang nặng tư tưởng hưởng thụ nên trong nội bộ sĩ quan Quân đội Sài Gòn luôn xảy ra tình trạng mâu thuẫn, tranh giành quyền lợi, địa vị, khiến cho tinh thần chiến đấu của đội ngũ này ngày càng sa sút, trái ngược với “giáo án” và mong muốn của quan thầy Mỹ.
Bùi Quang Huy
http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-VN/89/70/84/84/84/206374/Default.aspx