xuanxoan
Thành viên

Bài viết: 954
|
 |
« Trả lời #356 vào lúc: 19 Tháng Mười Hai, 2012, 06:54:20 pm » |
|
Đi ngược về lối xưa, với hình ảnh mới (tiếp)
Tâm trạng người lính 968 Quân tình nguyện Việt Nam…về quê tuy không có bánh đa, bánh đúc; không được úp mặt vào con sông quê, không có cánh diều tuổi thơ chỉ có màu xanh bất ngát của những cánh rừng già nhưng 2 chữ “về quê” cứ nao nao, háo hức trong người khó tả. khái niệm quê của chúng tôi là đất nước Việt Nam, không bó gọn trong khái niệm cục bộ địa phương - làng xã, huyện, tỉnh hay người vùng miền . Chúng tôi hành quân vào đúng thời điểm thời tiết rất đẹp cho người lính bộ binh - chuyển từ mùa mưa sang mùa khô, nên đường ô tô không còn nhiều sình lấy và không có bụi mù trời như mùa khô. Cây cối tươi xanh mình cảm thấy thật hạnh phúc và mãn nguyện khi còn sống về với đất Mẹ Việt Nam.
Về Quê, ai chẳng bồi hồi xúc động, trong đoàn quân về quê này có rất nhiều người đã viết hồi ký và sau này là hồi tưởng…nhưng ở đây tôi giới thiệu bài viết của Bùi Thượng Toản - lính 4971, nguyên lính đại đội 7 Tiểu đoàn 5 trung đoàn 19 Sư đoàn 968 đã viết tâm trạng ngày về Tổ quốc và bài thơ cảm nhận không khí mùa Xuân 1974 -1975.
(trích dẫn trong Nam Lào một thời để nhớ): Cuối năm 1974, Sư đoàn 968 Quân tình nguyện Việt Nam chuyển hướng từ chiến trường Lào sang chiến trường Tây nguyên, chuẩn bị tham gia chiến dịch giải phóng Tây nguyên. Sau những năm tháng sống và chiến đấu trên đất bạn, nay được trở về Tổ quốc, lòng ai cũng bồi hồi. Tôi còn nhớ như in mấy câu thơ đầy cảm xúc của người lính xa quê hương, đất nước lâu ngày, nay được trở về chiến đấu trên đất mẹ: “Vẹn tròn tình quốc tế sáng trong/ Hôm nay tôi trở về Tổ quốc/ Đêm biên cương sao đầy trời xanh biếc/ Đường tôi về dọc biên giới quanh co”.
Đơn vị chúng tôi (C7D5E19) nhận nhiệm vụ đứng chân tại khu vực phía Nam đường 19, cách thị xã Pleiku theo đường chim bay không xa, chốt giữ các điểm A4, A5, A7, Mắt ngỗng, Củ khoai…Có chỗ ta và địch cách nhau một vườn chuối, có thể nghe được tiếng ho của nhau hoặc tiếng loạt soạt đạp lá chuối khô của đối phương. Những ngày như thế căng thẳng chờ thời cơ.
Thế rồi năm đến tết đến. Mùa xuân đến gợi cho những người lính nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương, nhớ về những kỷ niệm của một thời yêu dấu. Địch cũng lợi dụng thời điểm này để đẩy mạnh chiến tranh tân lý. Năm nào vào dịp này chúng cũng thả truyền đơn hòng lung lạc lòng người. Chúng gợi đến nỗi nhớ nhà bằng khung cảnh gia đình đầm ấm trong ngày tết. “Tiếng pháo nổ, rồi từng tràng pháo nổ/ trên bàn thờ mâm cỗ đã bầy xong/ mẹ tôi đang thắp dở nén hương vòng/ Anh tôi cắt khoanh giò đang bóc lá…”, rồi nỗi nhớ quê hương: “ Những chiều Trường Sơn núi rừng cô quạnh/mẹ hiền ơi con chợt nhớ quê nhà/ khói lam chiều giàn mướp lá lên xanh/ Con bướm nhỏ, mái đình xưa nhớ quá”. Chúng dùng lời lẽ của kẻ chiêu hồi tác động vào lòng ham sống sợ chết…” Anh giải phóng quân ơi, Xuân về tôi nhớ lắm/ Nhớ những khi còn sống bên nhau/ Đêm ba mươi đi đặt trái phá cầu/ Sáng mồng một ta mà đi thu xác/ Anh có biết đêm nay ai ca hát/ Một mình anh ôm súng đếm sao rơi”…Truyền đơn chúng rải lả tả dọc đường hành quân hoặc vương vãi trên trận địa, anh em đọc vì tò mò và cũng để giải trí. Trong lòng ai mà chẳng có một nỗi niềm, nhưng trò tam lý chiến đó đối với quân ta thực chẳng mùi mẽ gì.
Chỉ có thể nhận biết xuân bằng phép tính của thời gian, chứ ở vùng này trời vẫn nắng gió khô khốc, cây cối trơ cành, trụi lá, cở dai xơ xác, héo hon…Chẳng có tí gì gợi nên cảnh sắc mùa xuân. Năm ấy, do đơn vị vừa đặt chân đến địa bàn mới lại phân tán trên chốt nên chẳng tăng gia trồng trọt được gì, chẳng có nguồn chất tươi nào để cải thiện. Tết chỉ có cơm với canh củ sắn, nộm củ chuối và đồ hộp. Dù vậy, cũng có tiêu chuẩn chè thuốc, bánh kẹo của trên gửi về, tuy đã có mùi ẩm mốc nhưng vẫn truyền đến chiến sĩ hương vị của ngày xuân. Một số anh em chúng tôi là những người con của Thủ đô, nhập ngũ tháng 9 – 1971, đến mùa xuân này là 4 tết xa nhà. Giữa chiến trường ngày giáp tết, tôi bâng khuâng làm bài thơ ? nhắn xuân”, gửi gắm tình cảm về Hà Nội thân yêu.
Tết năm ấy là tròn 2 năm sau ngày ký hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, nhưng non sông vẫn chưa thu về một mối. ngày 6- - 1 – 1975, tin đơn vị giải phóng Phước Long khiến mọi người rộn lên một không khí chiến đấu. 16 giờ ngày 1 -3- 1975 ( tức ngày 19 tháng giêng năm Ất Mão) từ các điểm chốt, Tiểu đoàn 5 trong đội hình của Trung đoàn đã nổ súng tấn công tuyến phòng thủ của địch tại Tây nam thị xa pleycu, tham gia đánh chiếm căn cứ Đồn Tầm, Chốt Mỹ, điểm cao 545, sở chỉ huy nhẹ D67…của địch, thực hiện nhiệm vụ nghi binh để cánh quân lớn của ta bất ngờ thọc sâu, giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột, mở màn chiến dịch Tây Nguyên. Sau gần 20 ngày đêm chiến đấu, Sư đoàn 968 cùng các lực lượng ở Bắc Tây nguyên đã giải phóng các thị xã Pleycu và Kontum, rồi phát triển xuống đồng bằng đánh chiếm sân bay Phù Cát, quân cảng Cam ranh…tiến dần về phía Nam, góp phần vào Đại thắng Mùa xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn đất nước.
Bùi Thượng Toản - lính 4971
|