Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:19:44 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những truyện ngắn ngắn  (Đọc 22506 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
trachvandung
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 747



« vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2008, 03:06:24 pm »

Nguồn TranNhuong.com

Chuyện một người đào ngũ      
Người viết: Trần Kỳ Trung   
23/04/2008

Đôi lời của tác giả

"Sắp đến ngày 30 tháng 4 rồi! Như vậy cuộc chiến tranh khốc liệt nhất của dân tộc Việt Nam đã im tiếng súng được hơn 30 năm.
     Chúng ta hay nói với bạn bè quốc tế" Hãy quên quá khứ, hướng tới tương lai.".Đấy cũng là một cách nói để dân tộc chúng ta hoà nhập với các nước trên thế giới. Nhưng riêng với những người như chúng tôi, một thời mặc áo lính, một thời đi dọc Trường Sơn vào Nam, một thời giữa cái sống và cái chết không hề có khoảng cách... thì không thể nào quên được quá khứ! Nhắc lại những năm tháng đó để nhớ, để thương và tuyệt đối không bao giờ được quên những cái chết của những người lính. Họ chết để mong đất nước này mọi người sống nhân ái hơn.
          Ngày hôm nay cả loài người đã và  đang chứng kiến một nước Đức thống nhất theo  phương pháp không đổ máu. Một Trung Hoa hoà hợp theo kiểu " một nước, hai chế độ.".Một Bắc Triều Tiên và một Nam Triều Tiên, tuy còn những bất đồng, nhưng Một Triều Tiên thống nhất không qua con đường bạo lực là con đường mà cả dân tộc có món Kim Chi  nổi tiếng, mong muốn. Viết đến đây, tôi lại nhớ câu nói của nguyên thủ tướng Võ Văn Kiệt trong một bài viết gần đây, đại ý, cuộc chiến tranh vừa qua đã kết thúc, có một triệu người Việt Nam vui thì cũng có một triệu người Việt Nam buồn.
          Vậy,  những người chết ở Việt Nam do cuộc chiến tranh vừa qua gây nên, nếu hương hồn họ vẫn còn lẩn khuất bên cạnh chúng ta .Tôi tin họ sẽ cùng một suy nghĩ với những người đang sống trên dải đất hình chữ S này.Tất cả đều mong dân tộc ta, trong tương lai, đừng bao giờ xảy ra những cuộc chiến tranh như cuộc chiến tranh vừa rồi.
Tôi viết truyện ngắn này với suy nghĩ đó!"

 

 
  Truyện ngắn của Trần Kỳ Trung
 
    Chiều ấy, đoàn địa chất của tôi nghỉ tạm ở một buôn heo hút của người dân tộc.
    Tôi ngồi trên một tảng đá, cạnh con suối khoả nước kỳ cọ đôi chân, cốt lấy thư dãn sau một ngày trèo núi mệt nhọc.Từ bên kia có một đoàn người Thượng gùi bắp lội suối đi sang rất gần chỗ tôi ngồi, tiếng cười, tiếng nói râm ran. Bỗng !...có một người đàn ông tách khỏi đoàn người Thượng ấy, lội ào đến chỗ tôi, bất chấp nước bắn tung toé. Người đàn ông  dân tộc nhìn tôi, reo to:
       

 - Có phải anh Cường đấy không ?
    Tôi ngẩn lên nhìn người đàn ông dân tộc vừa gọi tên mình, ngỡ ngàng, chưa biết tính sao ?Tại  sao ở đây, một nơi heo hút tận cùng thế này, lại có một người dân tộc biết tên tôi? Hay là mình nghe nhầm? Nguời đàn ông dân tộc đó cứ nhìn chăm chăm vào tôi, ánh mắt lộ vẻ vui mừng, miệng không ngừng lắp bắp:
        - Đúng anh Cường rồi!  Anh có nhận ra tôi không ?
    Tôi vẫn không trả lời, nhìn người đó nghi hoặc,Tôi không quen người đàn ông dân tộc này, người ở Buôn heo hút này tôi lại càng không quen vì nơi đây là lần đầu tiên đơn vị địa chất của tôi đặt chân đến. Nhưng sao người đàn ông dân tộc này biết tên tôi? Anh ta gần như không để ý đến sự ngạc nhiên của tôi, mà cứ cầm tay tôi lắc lắc :
        - Anh không nhận ra tôi sao ? Tôi là y tá Phước, bên quân đội Việt nam Cộng Hoà, đã ra hàng bên anh ở núi Tà Lích đây.  Lúc tôi bị các anh đem đi bắn, nghe lời anh Hảo, anh không bắn tôi, cho tôi trốn cùng anh Hảo.
        -  Trời! - Tôi thốt lên một tiếng, rồi lấy tay ôm chầm người đó. Cuộc gặp gỡ thật không ngờ.Trong sâu thẳm  tâm khảm của tôi oội lên hình ảnh người anh thân thương, cho đến tận bây giờ, hơn hai chục năm tôi không biết tin, ngoài mấy chữ " Mất tích vì đào ngũ".
           Chuyện " đào ngũ " của anh Hảo còn liên quan đến ông Tư Mẹo, trung đoàn trưởng, sau đó đến Phước, người hàng binh xưa kia, hiện đang đứng trước mặt tôi.
 ...Vào B(1), "Xuống đường" (2), tôi được phân công về trung đoàn hai linh tư, trung đoàn tăng cường của Miền. Tôi làm  phòng địch vận kiêm luôn công việc ghi chép lời khai của tù, hàng binh cho Ban chỉ huy Trung đoàn. Người phụ trách tôi là anh Hảo.  Trước khi đi bộ đội, anh Hảo là giáo viên dạy văn cấp ba, còn tôi mới là sinh viên năm thứ nhất, trường Đại học Mỏ - địa chất. Vì thế, hai anh em tôi chơi với nhau rất thân, anh Hảo hay chỉ bảo cho tôi điều hơn, lẽ thiệt trong cuộc sống. Những đêm hai anh em nằm mắc võng trong rừng tâm sự. Nhớ quê hương, lớp học, nhớ những lứa học sinh đã dạy dỗ...giọng anh Hảo buồn man mác." Không biết bao giờ mới được trở lại khung cảnh ấy ?"- Anh Hảo nói với tôi như thế. Còn tôi đăm đăm một nỗi nhớ giảng đường, bạn bè, những trang giáo trình và những con đường hào chằng chịt nơi sơ tán...
        Chiến trường ngày càng lan rộng, ngày càng khốc liệt, người chết của hai bên mỗi ngày một nhiều hơn.Tù binh bên phía đối phương, kẻ ra hàng, kẻ bị chúng tôi bắt sống trong mỗi trận chiến đấu cũng thêm nhiều. Đối xử với tù binh, anh Hảo thường dùng tình người để cảm hoá. Có những lúc tôi với anh Hảo giải tù binh về trại.Trong đám tù binh có người đói, anh Hảo nhường cả nắm cơm ít ỏi của mình cho họ. Người tù binh nhận nắm cơm đó của anh Hảo, nét mặt cảm động lắm.
        Tinh cách của anh Hảo như vậy, ngược hoàn toàn với tính cách của ông Tư Mẹo, Trung đoàn trưởng.Ông Tư Meo đánh giặc đến độ gần như cộc cằn.Trong ánh mắt của ông, khi nhìn đối phương, lúc nào cũng như có lửa, đỏ ngầu. Có lần ông nói với tôi: " Tau căm thù chúng nó đến tận xương tuỷ. Không bắt được tau, bọn lính nguỵ  bắt vợ tau rồi chúng hãm hiếp cô ấy đến chết, còn con tau chúng mổ bụng lấy gan ăn...Với bọn tù binh, không cần phải nhân đạo với mấy thằng dã thú đó.".
        Một lần chúng tôi bắt sống được một tù binh, khi tra hỏi, anh ta khai cũng là một sinh viên Văn khoa. Anh ta đã rất nhiêù lần trốn lính, nhưng không thoát. Bị bắt lại, cho vào quân trường và anh ta bị đẩy ra chiến trường, đánh nhau với chúng tôi. Giữa người tù binh này với anh Hảo, điều tôi ngạc nhiên là những cuộc trò chuyện của họ, mới đầu có sự e dè, nhưng càng về sau giữa hai người, gần như có một sự đồng điệu. Té ra người tù binh vốn là sinh viên Văn khoa thuộc rất nhiều thơ, kể cả thơ của Tố Hữu, Xuân Diệu, Huy Cận...
     Qua những lần nói chuyện với nguời tù binh này, nét mặt anh Hảo hay đăm chiêu, suy nghĩ, rồi anh nằm trên võng thở dài... Những điều đó không qua được mắt ông Tư Mẹo, ông gọi tôi ra một chỗ nói nhỏ" " Dạo này tao thấy hình như tư tưởng thằng Hảo có vấn đề. Mày chú ý theo dõi, có gì báo cáo ngay cho tao biết để xử lý...".
          Một thời gian sau,Trung đoàn của chúng tôi phải tham gia vào một trận đánh lớn.Trận đánh này, phải đảm bảo bí mật tuyệt đối. Qua hai ngày hành quân rất mệt nhọc, tôi và anh Hảo cùng đơn vị được nghỉ một ngày dưới chân núi Tà Lích, để ngày mai có sức hành quân tiếp, thì ở dưới tiểu đoàn đưa lên một hàng binh. Dáng anh ta tiều tuỵ, có lẽ do trốn trong rừng đã lâu. Bộ quần áo rằn ri khoác trên người anh ta rách nát, bẩn thỉu. Người lính hàng binh đó nói với tôi và anh Hảo :
          -Em xin hàng mấy anh giải phóng Bắc Việt. Em tên là Phước, thuộc đơn vị KBC 1925, làm y tá...đánh nhau giữa hai bên thế này, em sợ quá đã đào ngũ. Mấy cấp chỉ huy cho lính lùng bắt em. Em đã trốn trong rừng gần một tuần rồi, em xin hàng các anh.
         Chuyện Phước xin hàng  với dáng người thế kia, rồi sau đó với kinh nghiệm tra hỏi tù binh của anh Hảo, chúng tôi khẳng định Phước sang bên tôi để đầu hàng không có ý định xấu. Nhưng đối với ông Tư Mẹo không thể có chuyện như vậy.Trong cuộc họp khẩn của ban chỉ huy Trung Đoàn ngay trưa hôm đó, dưới chân núi Tà Lích, ông Tư Mẹo có nhận xét :" Bây giờ bọn Nguỵ thả biệt kích, thám báo đầy rừng. Ai dám khẳng định với tôi, thằng hàng binh kia không phải là thám báo, biệt kích.?Còn chuyện này nữa, cuộc hành quân của chúng ta phải giữ bí mật tuyệt đối, chúng ta không có người áp giải tên hàng binh này về lại cứ...Chúng ta phải quyết định chuyện này ngay, không làm ảnh hưởng đến kế hoạch hành quân".
         Thế là số phận của Phước đã được định đoạn, rất nhanh, rất gọn. Người thực hiện công việc ấy, ông Tư Mẹo lại giao cho tôi. Sau cuộc họp, buổi chiều, Ông Tư Mẹo gọi riêng tôi ra, nói nhỏ:" Ban chỉ huy trung đoàn đã nhất trí,  tôi giao nhiệm vụ cho anh, anh dẫn ra tên hàng binh ra sau vách núi kia...anh xử lý ngay, phải giữ hết sức bí mật, không cho ai biết...".Tôi nghe lệnh của ông Tư Mẹo mà phát hoảng, sợ hãi thực sự.Tôi không đủ cam đảm để làm một chuyện như vậy.Cả một ngày tôi và Phước  nói chuyện, tuy chưa nhiều nhưng cũng đã hiểu được nhau. Phước còn nói với tôi" " Sau này đất nước hoà bình, không đánh nhau nữa.Em mời anh giải phóng Cường về quê em chơi. Nhà em cạnh sông Thu Bồn, cảnh đẹp lắm...". Tôi đã nhận lời. Thế mà bây giờ lại phải làm một cái việc qúa " khủng khiếp". Thà đánh nhau giữa chiến trường, mọi việc dễ giải quyết, lúc đó việc giết nhau đâu có thể tính toán.Thấy tôi có vẻ chần chừ, ông Tư Mẹo nghiêm nét mặt:" Nếu đồng chí không làm việc này, chúng tôi sẽ kỷ luật." .Tôi hiểu, đã là mệnh lệnh của Ban chỉ huy Trung đoàn, dù mình không muốn, cũng phải chấp hành.
         Tôi đến chỗ Phước ngồi mà trong đầu cố tìm ra một lối thoát cho tôi, cho Phước.Thực hiện lệnh của Ban chỉ huy Trung đoàn, tôi bí mật dẫn Phước đi ra sau một tảng đá to, cách chỗ đóng quân của đơn vị khá xa.  Cố kếo dài thời gian, tôi lục trong túi xách của mình một phong lương khô Trung Quốc.Tôi đưa phong lương khô Trung Quốc  cho Phước:
               - Anh ăn đi !
       Cầm phong lương khô Trung Quốc tôi đưa, ánh mắt Phước lộ vẻ cảm động, nói run run:
                -Em cảm ơn anh giải phóng Cường!  Em ăn xong, các anh dẫn em đi đâu ?
        Tôi không dám nhìn Phước ăn bánh lương khô mà quay mặt đi chỗ khác, nói nhỏ:
                - Ạn cứ ăn hết bánh luơng khô ấy, rồi tính sau.
        Nghe tôi nói thế, tự nhiên Phước không ăn nữa, mắt nhìn vào khẩu AK tôi đang đeo trên người đựơc hạ nấc an toàn, rồi Phước ngồi thụp xuống lạy tôi như tế sao:
                -Em lạy các anh! Các anh đừng bắn em...Em đã trốn trong rừng, nhịn đói, nhịn khát cả tuần nay rồi.Các anh cho em sống! Em van các anh.
           Tôi nhìn Phước, thấy thương anh ta vô cùng:
                - Anh bình tĩnh, tôi không bắn anh !
          Phước vẫn khóc lóc thảm thiết:
                -Các anh đưa em ra chỗ vắng như thế này là để bắn em thôi. Các anh cho em sống, em còn má và các em... Em có muốn đánh nhau đâu.
          Nước mắt ràn rụa, cả người Phước run lẩy bẩy.
          Chẳng lẽ để cho Phước chạy thoát rồi tôi bắn mấy phát súng giả như đã thực hiện xong nhiệm vụ!?? Không được, biết đâu ông Tư Mẹo cho người đi kiểm tra thì sao ? Kỷ luật chiến trường rất nghiêm khắc, chuyện ấy lộ ra, rất dễ tôi là người thế mạng...
         
« Sửa lần cuối: 29 Tháng Bảy, 2008, 03:09:48 pm gửi bởi trachvandung » Logged
trachvandung
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 747



« Trả lời #1 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2008, 03:10:00 pm »

 Đang trong tình trạng " tiến thoái, lưỡng nan ", chợt nghe thấy tiếng động mạnh ở phía sau, tôi giật mình quay lại. Anh Hảo tay lăm lăm khẩu AK, anh bí mật đi theo tôi và Phước từ lúc nào, tôi không hay. Anh Hảo đến gần, nói với tôi:
                - Anh đã biết quyết định của Ban chỉ huy Trung đoàn. Bây giờ em về lại chỗ đóng quân đi! Để anh ở lại với người hàng binh này.
                - Chẳng lẽ anh ...-Tôi ngạc nhiên, làm sao anh Hảo có thể làm việc này thay tôi.
                - Em cứ về  - Giọng anh Hảo dứt khoát -  Anh sẽ đi với người hàng binh.
                - Anh nói sao ?- Gần như tôi không tin vào tai mình. Anh Hảo có ý định đào ngũ. Tôi định nói anh Hảo không nên làm một việc như vậy thì anh đã quay hẳn khẩu AK  vào người tôi, nói rõ từng tiếng một:
               - Cường không quay về, không nghe lời tôi.Tôi bắn !
             Thấy thái độ anh Hảo như vậy, tôi sợ thực sự.Ngón trỏ của anh Hảo đã để vào cò súng. nấc an toàn đã hạ.Thái độ và giọng nói cương quyết của anh Hảo, tôi hiểu, chỉ cần tôi tiến thêm một bước, anh Hảo sẽ hành động.Tôi vội lùi lại, nhìn ra sau. Bốn bề vẫn yên tĩnh.Tôi quay lại nói vội với anh Hảo :
                -Anh với người hàng binh phải đi thật nhanh. Nhanh lên! Em sợ bên mình phát hiện, sẽ đuổi theo...
             Nghe vậy, ánh mắt anh Hảo dịu lại,  hạ khẩu súng xuống.Tôi quay người toan chạy đi thì anh Hảo gọi giật lại:
               - Em không thể trở về như thế này được đâu. Họ sẽ nghi ngờ. Phải làm thế này...
             Anh Hảo  kéo tôi vào một gốc cây, lấy một sợi dây dù anh hay mang theo, trói tôi lại. Sau đó anh lấy một chiếc khăn nhét vào miệng tôi.Anh nói giọng thương cảm:
              - Anh không muốn làm thế này với em, nhưng cũng chẳng còn cách nào khác. Em phải chịu khó chờ đợi một chút. Ông Tư Mẹo và Ban chỉ huy Trung đoàn không thấy em về sẽ cho người đi tìm.Nếu họ hỏi em, em cứ trả lời:" Anh Hảo giải thoát cho hàng binh, bắt tôi trói lại...".Họ thấy có lý, không làm gì em đâu.
            Tôi gật đầu, hiểu ý anh. Ánh mắt thương cảm của anh Hảo nhìn tôi một lúc lâu rồi anh kéo tay Phước, người hàng binh, ra hiệu cả hai cùng chạy trốn. Bóng hai người chỉ trong một chốc, đã khuất nhanh vào rừng sâu.
              Tin anh Hảo đào ngũ cùng người hàng binh quả thực lúc ấy đã gây chấn động trong Ban chỉ huy Trung đoàn. Đầu tiên là tôi bị điều ngay xuống đơn vị trực tiếp chiến đấu.Ông Tư Mẹo cùng toàn bộ Ban chỉ huy Trung Đoàn nhận kỷ luật cảnh cáo của cấp trên.
Ngay lúc đó, trung đoàn của tôi phải thay đổi hướng hành quân, phương án tác chiến cũng định thay đổi.Nhưng trái với thông lệ, cuộc hành quân của trung đoàn chúng tôi đến vị trí tập kết vẫn an toàn. Phương án tác chiến, cấp trên yêu cầu Ban chỉ huy Trung đoàn vẫn giữ phương án cũ vì chưa có dấu hiệu bị lộ.
            Như vậy anh Hảo và người hàng binh không chạy sang phía bên kia.Họ đi đâu ? Hay là cả hai người đã chết?
           Những câu hỏi cứ ám ảnh mãi trong suy nghĩ của tôi.
 
                             Sau năm một chín bảy lăm, tôi được giải ngũ, trở về với đời thường, tiếp tục học nốt chương  trình đại học đang dang dở.Những ngày sống trong không khí hoà bình, đoàn tụ với gia đình, tôi vẫn không nguôi ngoai nhớ đến anh Hảo, nhất là cuộc trốn chạy của anh với người hàng binh.
               Tôi về thăm gia đình anh ở một miền quê trung du.Căn nhà lá xiêu vẹo nằm khuất trong một xóm nhỏ.Mẹ của anh Hảo lưng đã còng bởi sức nặng của thời gian, tóc bạc trắng hết, giọng nói có phần yếu ớt. Biết tôi cùng đơn vị với anh Hảo trước đây, mẹ khóc:
             - Khổ lắm con ơi! Vì nhà có người đào ngũ theo địch nên bà con làng xóm có thương, họ cũng không dám đến thăm ban ngày, cứ lén lén, lút lút vì ai cũng sợ chính quyền nghi kỵ...Mẹ một thân, một mình, nó có thằng em lại bị chết bom ...Bây giờ không biết trông cậy vào ai...
          Nhu vậy chuyện anh Hảo " đào ngũ " rồi mất tích, tin ấy đã về tới xóm nhỏ này.Tôi chỉ biết an ủi mẹ mà không vợi đi nỗi buồn. Biếu mẹ một gói quà nhỏ, tôi chào mẹ rồi đi ra .Mẹ tiễn tôi ra tận đầu xóm.Trước lúc chia tay với tôi, mẹ nói nghẹn ngào :
            -Kể từ ngày giải phóng miền Nam đến giờ, chỉ có một mình con ở đơn vị thằng Hảo đến thăm mẹ.Thôi, phận mẹ khổ như thế này cũng cam chịu, mẹ chỉ thương cho thằng Hảo.Chẳng hiểu sao mẹ vẫn chưa tin nó chết. Đêm nào mẹ cũng mơ thấy nó về thôi. Nếu con vào được miền nam, cố tìm nó hộ mẹ...
           Tôi cầm tay mẹ, gật đầu hứa sẽ tìm anh Hảo  cho mẹ. Hứa với mẹ như thế nhưng thực tế cả đất nước rộng mênh mông đến tìm mộ liệt sỹ có khi còn khó huống hồ lại tìm một người " đào ngũ" rồi "mất tích".
            Có ai ngờ !
      ...Tối ấy, cạnh một đống lửa lớn ở nhà Rông của đồng bào dân tộc, tôi được Phước giới thiệu với mọi người, tôi là bạn cũ của anh Hảo. Nghe vậy mọi người ngồi quanh đều lộ vẻ vui mừng. Tình cảm đó làm tôi ngỡ ngàng, không hiểu sao biết tôi quen anh Hảo mọi người lại lộ vẻ cảm động như vậy? Phước đã có gia đình, vợ là người dân tộc của Buôn này. Phước cùng mọi người kể tiếp cho tôi nghe câu chuyện về anh Hảo cùng Phước trốn dạo ấy:
      "...Sau khi trói anh vào cây, anh Hảo dẫn tôi chạy.Chúng tôi chỉ lo mọi  người giải thoát cho anh rồi đuổi theo hai chúng tôi, nên hai chúng tôi cố chạy thật nhanh, chạy quên cả mệt ,cả đói. Mới đầu tôi cũng hơi nghi ngại, chẳng gì đã ra hàng các anh mà các anh vẫn  tìm cách bắn tôi. Dường như anh Hảo hiểu suy nghĩ đó của tôi: " Anh đừng sợ ! Tôi muốn cứu sống anh ...".Chạy càng xa, cũng những lúc vượt suối, lách cây, băng rừng mọi nỗi nghi ngờ trong tôi dần tan đi.Và tôi khẳng định: Anh Hảo là người tốt, muốn cứu sống tôi thật.
         Tuy nhiên, thoát khỏi các anh nhưng tôi và anh Hảo chưa biết nên về đâu? Về phía tôi thì không được, tôi đã quá sợ sự tàn ác cùa bên tôi đối xử với mấy thằng đào ngũ. Hơn nữa, anh Hảo nói với tôi:" Tôi không phải là thằng phản bội anh em mình ".
          Nói thế nhưng ai hiểu cho chúng tôi, ở bên nào cũng là " đào ngũ " cả. Chúng tôi lại tiếp tục len lỏi trong rừng, tìm hướng đi bằng những vết chân thú. Có lần qua một con suối lớn, chính anh Hảo cứu tôi khỏi chết đuối. Một lần anh Hảo bị sốt rét, tôi lại cứu anh ấy bằng lá thuốc của rừng.Chúng tôi sống khổ gần  như cuộc sống của người rừng, quần áo rách hết phải lấy vỏ cây rừng che tạm.Tình thương của hai anh em khoả lấp tất cả , lúc đó không còn phân biệt kẻ nam hay người bắc mà chỉ còn tình người. Tôi ao ước đất nước hoà bình sẽ trở về quê, đưa cả anh Hảo về, hai chúng tôi sống mãi bên nhau. Anh Hảo cũng có một ước mong như thế.
          Cứ đi trong rừng như thế chúng tôi gặp một nhóm người Thượng, họ cũng giống bọn tôi, chạy trốn bom đạn. chém giết  vào đến tận nơi heo hút này .Gần như cuộc sống của họ cách ly với cuộc sống bên ngoài.Họ nhìn chúng tôi có phần lạ lẫm, có lẽ họ đoán chúng tôi là người của một Buôn nào đó, giống như họ, chạy vào đây tránh chỗ bom rơi, đạn lạc đang ác liệt .Hôm đó hai anh em xin ngủ lại và xin cơm ăn, nước uống.Tối đó trong nhóm người Thượng này có một đứa trẻ lên cơn sốt nóng, tôi là y tá, sẵn có một chút kinh nghiệm chữa bệnh theo kiểu dân gian,  tôi cứu được đứa bé.Vì việc làm đó, tôi và anh Hảo được mọi người ở đây cảm kích, họ muốn giữ  tôi và anh Hảo ở lại. Hai anh em chúng tôi đưa mắt nhìn nhau, xung quanh là rừng núi, cây cối đan dày như không có chỗ chui ra, bom và đạn nổ  nghe ỳ ầm bốn mặt. Chẳng còn con đường nào khác, tôi với anh Hảo gật đầu, đồng ý.
        Gần như cuộc sống của nhóm người Thượng này phải tổ chức lại.Tôi làm nhiệm vụ chữa bệnh cho người già,  trẻ nhỏ, thậm chí cả việc đỡ đẻ nữa. Còn anh Hảo cùng mọi người sản xuất lương thực, làm rẫy, chống đói, chống lũ, chống thú rừng, dạy học cho các em nhỏ...Cuộc sống của chúng tôi cứ như thế gần như cách ly với xã hội bên ngoài. Chúng tôi đã xây dựng được một Buôn mới. Mọi người trong Buôn, từ em nhỏ đến  người già  đều quý mến anh Hảo. Cả Buôn coi hai anh em tôi là người của Buôn. Chúng tôi cũng tự nhận điều đó. Tôi và anh Hảo  biết với hành động trốn chạy" đào ngũ", bên nào chiến thắng cũng không chấp nhận.Tốt nhất đến đây cứ ở lại đây.Tuỳ tình hình hãy tính sau.
       Một lần anh Hảo cùng đoàn người trong Buôn đi làm rẫy, đường đi phải qua một con suối to.Đến giữa dòng suối, bất chợt có một cơn lũ nóng(3) đổ về. Tất cả đều bất ngờ, trong đoàn người ấy chỉ có một mình anh Hảo biết bơi. Anh Hảo phải chống chọi với dòng nước cuồn cuộn cứu từng người. Cứu được người cuối cùng, anh Hảo đuối sức.Dòng nứơc lũ ác nghiệt đã nhấn chìm anh. Đến khi con nước rút, không hiểu sao xác anh Hảo lại mắc vào một cành cây to, trên cao. Đối với mọi người trong Buôn, chết như vậy là thiêng lắm.Làm ma cho anh, dân trong Buôn làm to như làm ma cho già làng.Còn đối với tôi, cái chết của anh Hảo, không có từ ngữ nào diễn tả hết được sự đau đớn.
      Tôi quyết định, không về quê nữa. Anh Hảo nằm đây,  tôi phải ở lại...".
 
      Phước ngừng kể, lấy tay lau nước mắt.
      Xung quanh tôi, mọi người im lặng.
      Ngọn lửa giữa nhà Rông về đêm hình như nó cháy to hơn, ấm hơn.
 
                             
                                                    HẾT
 
--------------
(1) Đi B - Từ thường dùng để chỉ bộ đội Miền bắc vào Miền nam chiến đấu
(2) Xuống đường - Từ của bộ đội Miền Đông nam Bộ để chỉ việc xuống chiến trường trực tiếp chiến đấu
(3) Lũ nóng -  những cơn mưa lớn bất chợt ở thượng nguồn gây nên những cơn lũ này. Nước những con suối dâng lên rất nhanh mà rút xuống cũng rất nhanh.
             
Logged
trachvandung
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 747



« Trả lời #2 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2008, 03:37:59 pm »

Tiếng khóc     
Người viết: Nguyễn Văn Thọ   
15/04/2008

"Ngày 30-4 đã cận kề. Nhà văn Nguyễn Văn Thọ xưa kia là lính chiến. Bây giờ ông làm ăn tại Liên bang Đức. Xin giới thiệu cùng các bạn truyện ngắn "Tiếng khóc"."                 
                                       

 TIẾNG KHÓC

  Truyện ngắn của Nguyễn Văn Thọ

                                                                             Đêm không thể buồn đen được nữa
                                                                             Những bánh xe nặng nhọc chìm dần
                                                                             Vào đất tối. Không thể nào khác được...
                                                                                             Thơ Nguyễn Việt Chiến


Căn hầm ven bờ sông. Hầm trong vườn chuối nhà Thắm, đầy những lá khô từ năm cũ. Nắp hầm kín đáo. Làm từ thời Pháp, khi còn chở che cho du kích, bộ đội - Đơn vị mật tập sân bay Gia Lâm cũng từng nằm ở đó. Cái nắp tốt. Khung gỗ lim. Nghe nói, gia chủ tháo cả xà ngang nhà thờ họ để tạo nên nắp hầm này. Chẳng thế mà hơn chục năm, sau 1954, hầm hoang phế, nóc hầm cỏ dại ken nhau mọc xanh um, nắp hầm vẫn khít ôm chặt khung, bất chấp thời gian, mưa gió.
Trong hầm, rễ cỏ xuyên xuống rủ trắng, như những chùm râu bạc. Đêm hầm chập choạng dầu đèn, y như có vài bô lão đứng quanh. Vách hầm toàn tre đực, chắc đã ngâm bùn, gia cố dày như nêm. Hầm có cái lỗ thông hơi đâm ngang ra hướng bờ sông, tuy bị vạt cỏ che đi, nhưng người bên trong vẫn quan sát được mặt sông Hồng. Góc nhìn đủ rộng, thấy cả mặt nước phù sa như pha máu lênh loang mùa hạ, trong lợ lại khi thu về. Cũng ở cái cửa sổ duy nhất ấy, nhìn rõ máy bay sát mặt nước. Nước cuộn lên trắng xoá. Có dăm lần, trong hai tháng, anh nom rõ chiếc máy bay F. 4.H, đầu nhọn hoắt, cánh đầy gai, loang lổ, vằn vện màu cứt ngựa, to hơn cánh buồm, trườn chệnh choạng giữa sông, phun khói đen sì. Một lần, anh còn nhìn rõ chiếc đò ngang, xoay như chong chóng và, hút chìm ngỉm khi chiếc máy bay trắng toát, rõ dòng chữ NAVY-U.S.ARMY(1) đen sì trên thân bất ngờ sạt qua, rít chói tai.
Anh quan sát cảnh trí ấy bàng quan.
Sông thì quen thuộc từ thơ ấu. Máy bay thì lạ một lúc. Và, cái chính là khi anh tự tách khỏi cộng đồng, rơi thỏm vào trạng thái bàng quan.
Hai tháng trốn hầm, anh ngày ngủ, đêm thức.
Nhưng ngày ngủ mãi được à? Thế là, khi tự tách biệt với làng, với xóm quen thuộc, trốn bỏ nó, lúc quá yên tĩnh, anh lại quay ra day dứt, nôn nao nhớ làng, nhớ tiếng chó, gà, nhớ mùi phân trâu và cả bụi tre sau nhà, cũng như nhớ bố mẹ và cô em gái út bé bỏng. Nhưng cồn cào nhất, vẫn là nhớ Thắm. Dù ngày nào cô cũng rời làng, tới căn hầm, khi đêm đêm, chập choạng.
Anh trốn nghĩa vụ, chỉ vì anh đang say đắm Thắm. Không muốn xa nhau mà liều thân trốn phứa. Đúng ra, anh cũng không muốn như vậy. Anh chưa hề là kẻ hèn nhát, sợ khổ hay sợ chết. Bằng chứng là ở lò vật cụ Nguyện, anh được đánh giá là môn sinh lì đòn nhất. Còn việc đồng áng giúp cha mẹ, từ xưa chẳng một ai chê anh. Đơn giản, anh không muốn xa người yêu. Ở Làng, chỉ có hai người biết anh trốn ở đây, Thắm và mẹ anh. Bố anh mà biết, chắc chắn ông tìm tới, lật hầm, lôi anh về, như lôi một con chó chạy rông, lấy bắp cày nện cho chí tử! “Đánh chết thì chôn!”
Mỹ đánh phá khắp nơi. Ngày nào Hà Nội cũng sôi lên, vọng về tiếng đạn, bom, khỏi lửa ngun ngún, cuồn cuộn. Bầu trời đầy chớp nhằng vạch tên lửa. Có ngày đánh rơi tới bẩy chiếc máy bay. Cả nước đánh Mỹ mà con ông lại trốn đánh Mỹ. Có cái nhục nào bằng nỗi nhục con ông.
Khổ, đã ba tháng, ông ru rú trong nhà, không dám đi đâu, gặp ai. Việc đồng áng phải làm thin thít. Câm họng mà đi. Có làm ruộng Hợp tác xã  cũng chọn chỗ khuẩt hẻo, một mình. Mẹ anh không nói gì, dù anh biết, từ ngày anh của anh biệt mất ở chiến trường, mẹ thực lòng chẳng muốn con trai út đi...
Chín giờ tối ruột đã cồn cào lắm. Bật nắp hầm lên. Tiếng côn trùng cứ râm ran buồn, đâm nhói vào lòng. Tai hóng như tai chó vểnh lên, đón tiếng lá khô lay động quen thuộc. Bước chân của Thắm? Mười giờ đêm. Sương xuống ướt, những tàu chuối lấp lánh. Đợi mãi, mới nghe tiếng lá lay rổn rảng. Thắm hiện ra giữa hai bụi chuối.
“Em đấy à?”  Lần nào cũng vậy, sau câu chào ấy, anh nhao tới, ôm ghì lấy người yêu. “Gượm nào! Mẹ lo lắm đấy !” “Nói gì? Mẹ lo gì? ” Anh gặng. “Trốn mãi được thế à? Mấy hôm nay có nghe thấy tiếng bom không? Long Biên sập ba nhịp rồi. Trạm tên lửa bên làng Hữu Giang, chiều qua phụt lên bốn quả, bọn em ở khu Đồng Nóc cứ bắn bừa lên. Súng làng mình nhỏ quá, như gãi ghẻ con trâu mộng.” Thắm nhỏ nhẹ kể . “Sao em ra muộn thế?- Anh ngồi bệt xuống nóc hầm, cầm miếng cơm nắm Thắm đưa, nhai trệu trạo. “Muối vừng này! Ruốc mẹ làm sớm nay đấy. Mẹ anh không dám giã, sợ làng xóm biết, chỉ xước nhỏ thịt, rang khô…Sao ăn cơm không thế?” Cô nhúm cho anh một ít ruốc thịt, đưa vào miệng anh. “Mẹ em cũng biết rồi đấy. Cứ thì thụt thế này!” Anh nuốt vội miếng cơm. Xoa tay vào quần. Kéo thắm ngồi xuống. Quay mặt sát mặt Thắm.
-Anh nhớ em lắm!
-Nhớ thế nào?
-Nằm đây nhiều thời gian. Nhớ đủ thứ. Cả khi còn bé. Nhớ khi em dỗi. Nhớ cả thời tụi mình tắm trên sông con. Và anh đỡ em tập bơi thế nào...
-Thế á?
-Đêm qua anh còn mơ, thấy anh gội đầu cho em và tắm với em trên sông con như thủa còn bé.
-Thế cơ á! Mơ nhiều thế, lâu không?
-lâu. Anh cứ tiếc mãi , đang mơ tắm cho em thì tỉnh dậy!
-Ừ, giá không có đánh nhau. Vài năm nữa, mình sẽ cưới. Là vợ chồng rồi, anh còn gội đầu, còn muốn tắm cho em không?
-Có
-Thật không?
-Thật chứ! Anh có bao giờ nói dối em đâu!
-Ừ, em biết mà- Thắm ngước lên nhìn anh. Đôi mắt cô ánh lên niềm hạnh phúc ngắn ngủi của một ngày biết bao nhiêu bận rộn và mệt mỏi.
Giọng cô nhỏ, đủ cho anh nghe: “Em rất yêu anh! Chỉ yêu anh“
Trăng chênh chếch mé trời. Trăng mặt sông loang loáng chấp chới. Khuôn mặt Thắm ngời lên, đầy trăng. Đôi mắt yêu quá! “Ừ, có khi phải về làng. Nhưng có lẽ anh không chịu được. Anh xa em là chết!” Anh ngả Thắm vào lòng.  Cúi xuống hôn rối rít, như chim gõ kiến mổ kiến, y như là họ phải sắp biệt li. Bao nhiêu đêm như vậy rồi! Cô gái nhắm mắt, đê mê trong anh. Anh giật cúc áo Thắm. Lộ ra đôi vú thanh tân, cương lên mây mẩy, trắng ngần trong trăng. Úp mặt vào đấy, hít cuống quýt, tựa con chó con khát sữa sục ti mẹ. Anh lần nào cũng hừng hực lửa đốt. Lát sau, luồn tay xuống dưới. “Đừng anh! Khi nào đi em cho.”  Anh van vỉ: “Anh không chịu được. Anh yêu em lắm!”  “Em đã bảo, nói mãi. Bao giờ trước khi anh đi, em cho. Nhịn mấy năm rồi còn được. Anh!” Anh đẩy Thắm ra, mắt anh tha thiết. Nhìn vào mắt ấy, Thắm cảm giác vừa lửa, vừa nước: “Anh ở đây thêm tuần nữa với em, rồi anh đi!” Cô gái ôm đầu anh áp vào ngực: “Khổ, em thương anh. Thôi!..Em...” Anh ngửng mặt lên, trong ánh đêm, khuôn mặt bệch bạc: “Em nói gì? Thôi, là thế nào?” “Mai em cho, hôm nay em mệt. Chiều ở trận địa 37 ly. Khuân đạn. Đắp cỏ công sự, tới giờ em vẫn đau rã cả vai và tay. Anh ở hầm hết tuần này thôi, rồi lên đường nhé. Trốn mãi được sao?” Thắm nhỏm dậy, ngồi vào lòng anh. “Tay nào đau?” “Cả hai!” “Đưa tay đây!” Anh níu tay Thắm vào lòng, bóp cánh tay, bả vai cho người yêu.
Tay Thắm rất nhỏ. Cổ tay không đeo được đồng hồ Liên Xô hôm nào anh tặng. Cỡ giây nhỏ nhất vẫn cứ lỏng hoét, trôi ra. Anh bóp tay cho cô mà nước mắt cũng trôi ra. Tay mềm thế và bao vết sẹo đồng áng còn đây. Người khoẻ, trai làng đi hết. Làng màu, lúa và nhãn, giờ đây con gái đi cầy , bừa, gặt… đến  vụ thu hoạch nhãn, cũng leo trèo như khỉ. Anh nghĩ.
Bàn tay anh lần sờ tới đâu, không cần nhìn, hình dung ra từng chỗ. Anh thuộc từng vết sẹo nhỏ trên tay Thắm. Cha Thắm, du kích trong chống Pháp đào hầm này, hy sinh trước hoà bình 1954 có dăm ngày. Nhà Thắm có ba chị em. Hai chị đi lấy chồng cả. Anh biết mọi điều đó, cả căn hầm do Thắm chỉ cho, khi cùng chơi trò trốn bắt, từ ngày hai đứa còn học từ trường làng, tồng ngồng tắm với nhau ở bãi sông con. Có lẽ không thể để cô lo lắng mãi. Mà cứ trốn lủi, bố anh buồn chết mất thôi. Nhưng anh yêu, yêu lắm. Anh nói: “Em!” “Gì cơ?” “Mai cho anh nhé. Anh mà về là bố giải ngay lên huyện đấy. Chẳng có thể yêu em, hoặc lại biền biệt như ông anh.”
Thắm ngửa mắt nhìn lên đôi mắt thiết tha, chân thành của người yêu và cô bất thần ghì đầu anh, hôn nhẹ vào môi anh. Rồi cũng không kìm được, cô mút chặt môi anh như sợ anh biến đi. Anh vừa hạnh phúc vừa buồn. Cứ nấn ná yêu nhau như vậy bao đêm rồi.
Phải đến hai giờ sáng Thắm mới về làng.
Sợ giờ phút chia tay, nhưng không thể để Thắm ở lại nữa. Đàn ông đàn ang trong làng đi hết, nhìn đâu cũng toàn người già và đám choai choai. Thanh nữ như Thắm, trăm công ngàn việc, cầy bừa thay lũ đàn ông, sao nỡ để em không được ngủ ba bốn tiếng một ngày?

                                                                      ***
Sáng từ lúc nào không rõ. Anh giật mình, bừng mắt. Bật dậy, lao tới cửa sổ thông hơi. Tiếng máy bay ầm ầm xé tai ngay ở đâu. Rất gần. Hình như trên đầu, lại cả dưới mạn sông vọng lên. Những chiếc siêu thanh Mỹ bay với tốc độ tiếng động, như muốn phá vỡ không gian một vùng đất toàn lúa là lúa, chẳng một nhà máy ống khói nhô lên. Chói và gắt, tiếng rú gào lướt cả gió, ào ào như muốn xô ngã vạn vật.
Anh đẩy nắp hầm trồi lên. Ngay sau đó, nghe rõ tiếng bom, tiếng vỡ đanh, tiếng súng liên thanh rất gần. Ngẳng mặt, trời đầy bông trắng, lục bục nổ. Đạn cao xạ! Nền trời xanh, khói trắng tên lửa run rảy, như những con rồng lượn, nhằng nhịt. Phía Hà Nội, đạn bay lên dầy đặc. Chằng chịt các vệt lửa. Nom xa, hệt cảnh tàn lửa bay lên trong hỏa lò, khi dụi một thanh củi dầu đang hừng hực cháy. Dăm cột khói đen, trắng lơ lửng như hình nấm.
Không gian cứ rộn lên một chặp như vậy rồi lại yên ắng, rồi lại sôi ào ào trở lại, với tiếng động xé gió. Cuộc đọ sức giữa mặt đất và bầu trời quyết liệt hơn.
Đánh nhau to rồi! Anh tụt xuống hầm.
Lát sau yên tĩnh như chưa xảy ra điều gì. Phải ngủ một lát cho quên thời gian đi. Anh tự nhủ. Không ngủ được! Anh lo âu và nóng lòng chờ thời gian trôi nhanh để đêm nay gặp Thắm. Từ sớm tới trưa, bẩy tám lần anh bật dậy lao ra cái lỗ thông hơi. Tới quá trưa, yên ắng trở lại. Dưới sông nước đẫm phù sa như máu vẫn lênh loang.
Mệt mỏi. Nửa giờ  sau, anh chìm vào giấc ngủ vì căng thẳng. Suy tính và lo nghĩ.
                                                                    * *
Anh bật dậy. Có tiếng ầm ầm, mơ hay tỉnh? Giấc mơ với Thắm đang đẹp quá bị phá vỡ. Mồ hôi vẫn còn đầm đìa trên thân xác. Nếu mặt đất không rung lên tiếp nữa và anh không nhìn thấy bụi bay lả tả từ những chùm rễ cỏ rủ trắng tựa râu bô lão, có lẽ anh tưởng đang mơ.
Bom đánh đâu gần? Lại im ngay. Không nghe thấy tiếng máy bay. Rõ ràng, bom đánh quá gần. Thúc nắp hầm, anh nhoi lên.
Trời đang sập chiều. Sông miên man hồng, vẫn cứ trôi, lặng chẩy. Mặt trời to bằng cái  nong lớn, đỏ bầm như chậu tiết khổng lồ chìm dần ở chân trời. Quay phắt lại phía làng. Trước mắt anh, bùng lên góc sáng, ánh lửa chập chờn qua rặng cây trước mắt. Quầng bụi đỏ ôi ối bốc cao dần, loang ra, trong chùm nắng sập soạng. Anh thoẳng thốt. Làng bị ném bom! Chạy. Chạy như điên, về phía làng, nơi bắt đầu rộ lên tiếng thanh la, mõ và tiếng trống ngũ liên, tù và; những ứng hiệu mỗi khi vùng quê có biến. Cổ tục từ ngàn năm giặc giã, dồn dập vang lên từ làng này lan ra làng khác.
Nhẩy đại qua con mương, qua cây cối ngổn ngang đổ. Mùi lá hăng hắc dập nát lẫn mùi phân trâu, lợn, gà quen thuộc. Xác chó gà, vịt khắp nơi. Và, dăm ngôi nhà sát xóm Chùa bốc lên đầy khói. Thi thoảng lửa đỏ phừng phực bùng lên như tưới dầu. Đến cả dãy tre xanh trái đường tươi thế, cháy hừng hực như có ai đang quạt lửa, thốc tro rát cả mặt mà anh vẫn lao qua, vọt tới vườn chè nhà. Vệ ao,ven lối cỏ đầy xác xúc vật chết. Có con trâu mộng bị thương, máu đỏ lòm ròng ròng chảy đầy thân, cứ dúi mãi đầu xuống khoảnh muống nước sâm sấp, thở phì phì, rãy rụa.
Logged
trachvandung
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 747



« Trả lời #3 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2008, 03:38:09 pm »

Khựng lại. Trời ơi. Nhà anh đâu rồi? Anh không tin ở mắt mình. Con đường lát gách nghiêng, cong lên như miếng bánh đa, đứt gãy, cụt ngắt ở đoạn chẽ vào nhà anh. Bốn hố bom lớn, sâu hoắm, mùi khét lẹt và những sợi khói từ đáy hố vẫn đang ngun ngún bốc lên. Xen nhau, các vòng bom vạch dài, khoét đất từ nhà anh tới ba ngôi nhà kế nữa. Anh nhận ra vị trí cũ bởi cây nhãn cổ thụ của nhà anh bị bom phạt gãy gục.
Đứng bên hố bom. Giờ này là giờ mọi nhà đều đã từ đồng trở về làng.  Anh gọi em gái, gọi bố và mẹ lạc giọng. Anh cào cấu mặt đất, đấm ngực. Anh như thằng điên quanh quẩn chạy bên miệng hố bom. Chân trần trên đất gạch  lổn nhổn, mà không hề thấy đau.  Tịnh không có ai thưa và, giá mà anh khóc được. Bỗng nhiên, anh sực nhớ ra điều gì và đứng dậy.
Làng bắt đầu rộn lên. Người các làng bên kéo sang. Nhớn nhác, tiếng chân thình thịch. Vài chiếc cáng tre, cáng người bị thương thoáng qua rặng râm bụt. Nhãn rụng nâu cả đường làng. Có ai đó, hình như đứa bạn xóm Thượng gọi: “An, mày trốn ở đâu về đấy?” Không trả lời, anh không còn tâm trí trả lời. Đau thắt lòng, vọt qua mấy nơi cây đổ. Chi chít các hố bom bi. Sặc mùi thuốc nổ bom. Anh chỉ còn ý nghĩ: “Thắm, em có sao không?“ Ngược chiều anh chạy, năm sáu người tất tưởi đi. Họ kêu lên, nói gì, anh không nghe rõ. Hình như có ai đó nhổ thẳng nước miếng vào mặt anh. Nước miếng thối và hôi. Mặc, anh quyệt tay chùi vào áo và chạy.
Anh bàng hoàng. Trên nền ngôi nhà Thắm, một hố bom sâu hoắm. Bom liếm mất nửa nhà, nửa còn lại đổ nát, toang hoang, đang cháy nham nhở. Những mảnh lá gồi bén lửa bị khí nóng hút, tung tàn lên cao.
Thắm! Thắm! Anh gào lên lạc giọng. Lại chạy quanh hố bom. Bên góc vườn, nơi trồng đám rau đay, mùng tơi, có mảnh áo màu hoa lí quen thuộc phật phờ bay. Anh chạy lại, nhặt mảnh vải tơ tướp. Áo Thắm! Anh tìm quanh. Những gốc cau đầy rêu xanh mát. Bể nước, nơi bao nhiêu lần, Thắm múc nước mưa cho anh, mỗi khi họ giữa trưa hè đi học về, có quầy tắm tan hoang. Giữa quầy tắm dựng bằng bốn cây tre, đã tung đâu mái che, Thắm trần truồng nằm.
Anh quỳ xuống.
Thân hình thanh xuân lõa lồ, trắng xanh nằm nghiêng trên đất lạnh. Mớ tóc đen như mun đổ xoãi trên mặt đất. Đôi mắt em trân trân nhìn vào vô định. Trái bom dội xuống, phát nổ và thổi bay hết áo quần trên dây phơi. Tay em còn cầm chặt chiếc chặt gáo dừa. Máu đỏ tươi bắn đầy trên thành chum nước tắm. Từ đỉnh đầu, máu chảy đỏ lòm qua chỗ hõm bầu vú. Đôi vú xuân thì, xưa luôn căng mẩy. Núm vú hồng giờ thâm lại. Vệt máu chảy xuống bụng, nhuộm đỏ đôi chân. Anh nhìn rõ, dóng tre cột  nhà tắm, vệt tay máu còn kia. Thắm ơi! Em ơi! Anh gọi thầm, Sau này nhớ lại, trong đầu hiện ra cảnh Thắm của anh chới với và đổ gục xuống đất làng, để lại dưới chân em máu đọng thành vũng trên nền si măng chám trắng.
Em ơi! Trời ơi! Thắm! Anh cúi xuống, xốc em lên. Ngẳng mặt nhìn trời, thét lên. Tiếng anh vỡ vào hư không!
Người ta, có ai kể lại, thấy trong chập choạng đêm, khi trăng mười Tư mọc ngang ngọn tre phật phờ, chiếu ánh sáng lạnh trên sông, ruộng và làng, một người trai trẻ không khóc, gương mặt như thép nguội, bế xác người con gái lõa lồ, nhuộm đỏ toàn thân chính bằng máu của em. Anh ta đi dọc con đường làng nhỏ, lát gạch nghiêng, giữa ngổn ngang cây đổ, giữa tan hoang làng đất bãi. Làng trù phú, vùng lúa nhãn Vân Giang, nơi nửa tiếng trước, vừa bị tám chiếc máy bay siêu thanh, hiện đại nhất thế giới thập kỉ bẩy mươi. Máy bay có dòng chữ U.S.A, kẻ đen sẫm, nét đanh, ngang sườn, dội xuống tám đợt bom và rốc két. Mười  sáu quả bom 500 Bảng, mười sáu quả bom bi mẹ với bốn ngàn tám trăm quả bi con, giết trong tích tắc, hơn một trăm sinh mạng nông dân, trẻ con, người già và, thiếu nữ.

                                                                 ***
Anh bế Thắm từng bước nặng về phía bờ sông. Tai anh văng vẳng lời Thắm đêm qua: “Là vợ chồng rồi, anh còn gội đầu, còn muốn tắm cho em không?” Anh bước đi như mê sảng. Thắm ơi. Bây giờ anh tắm cho em lần đầu và lần cuối đây!
Đồng bãi ngô có trăm ngàn hàng lính xanh, vạn gươm xanh múa ánh trăng đêm.
Rẽ ngô, anh bế Thắm bước trên cát mịn, lội dần ra vùng nước ngập tới nửa thân người. Đây nguyên xưa, sông mẹ chảy qua, sâu lắm. Rồi đổi dòng, bồi lên bãi, đã bao năm thành bãi và còn nhánh sông con. Bãi thoai thoải. Nơi đây bao năm là nơi tắm, vui chơi của  đám trẻ. Anh thả em xuống nước. Nước duềnh lên đón Thắm. Và, trong ánh trăng vằng vặc lạnh, nhìn rõ vệt sậm của máu Thắm loang trong nước, tan hoà với sa bồi. Nước vốn đã sắc hồng, thêm sậm, trôi đi.
Anh không khóc. Bàn tay lướt trên thân thể trắng, mịn, mát như thạch của em giữa nước. Sông bao nhiêu năm bồi đắp nên bãi mầu tươi tốt làng anh.  Tóc Thắm đen tuyền, dài như dải lụa, trôi chập chờn theo dòng nước. Tóc này, bao lần anh dội nước, gội đầu cho em. Anh đau. Sự đau đớn của một đàn ông, của một con người, sinh ra ở đất bãi, yêu một thiếu nữ đất bãi, chung bao nhiêu kỉ niệm, từ khi họ còn tắm truồng ở bãi này. Người đất bãi vốn hiền lành và mịn màng như đất bãi phù xa, giờ đây mặt nguội đanh, sắt lại.
Sống ý nghĩa gì nữa?
Anh còn ai để mà yêu và thương anh?
An đưa trở lại gian hầm nơi anh đã trốn. “Nơi anh hai tháng qua yêu em và, chờ đêm nay, em sẽ cho anh tất cả, trước khi lên đường. Không còn gì nữa. Cả nhà anh, nhà em và, Thắm ơi! Anh sẽ chết nơi đây với em!” Anh suy nghĩ miên man.
Đặt em lên cái chõng tre đã nằm bao đêm chờ em. Anh lấy chiếc chăn chiên cũ phủ lên nàng Ngồi bên như tượng đá trong đêm tối. Hai chiếc đèn dầu, tự tạo bằng cóng sữa bò, thắp hai bên. Gió sông qua cửa hầm, lỗ thông khí, làm lửa đèn đong đưa.
Những chùm rễ cỏ trắng, bao năm rủ xuống âm thầm lòng đất, kết trên nóc hầm. Đêm đêm trước, nom như râu bạc bô lão. Trong ánh đèn chập chờn đêm nay, nom tựa những khăn xô, bóng rung rinh qua lại trên vách hầm, quanh xác cô.
Đêm khuya. Anh cứ ngồi yên lặng. An bỗng nghe từ đâu vọng về âm i tiếng khóc. Lắng tai nữa. Tiếng khóc suốt đêm dài vọng tới anh. Ai oán, não nùng giữa hầm lắng, im, nơi chỉ có anh và xác người yêu.
Đêm sau nữa, anh gục xuống. Tỉnh dậy, lại nghe tiếng khóc quái đản từ đâu vọng về. Anh nhớ khuôn mặt mẹ anh, cha anh và em gái anh, rồi mẹ Thắm.
Đêm thứ ba tiếp tục hoá đá, mệt lả gục xuống thiếp đi bao lần và, tỉnh dậy, vẫn có tiếng khóc như từ lòng đất dội lên.
Anh lảo đảo đứng dậy leo ra khỏi hầm.
Trên cao, trong gió lắng nghe. Anh nghe rõ ràng tiếng khóc, tiếng gào khê, khàn, tiếng kêu cha, gọi mẹ, tiếng gọi tên người thân của rất nhiều người từ phía làng anh nương gió tới. Như có một ma lực xui khiến, anh đóng cửa hầm, ấn mạnh nắp và chệnh choạng về làng. Tới đầu làng trước mắt anh: Một rừng hương nghi ngún cháy đỏ khắp làng đất bãi và, tiếng khóc...
Suốt đêm An âm thầm hất đất, đắp cỏ lên nóc căn hầm, biến nơi anh đã từng lẩn trốn thành  mộ phần Thắm. Anh cố gắng xoá hết mọi dấu vết cửa hầm với một tâm niệm đầy đau khổ và cay đắng.
Trời chợt sáng, cũng là khi mọi công việc hoàn tất. Những chùm sáng tươi vàng đầu tiên của một ngày chiếu lên mái đầu còn rất xanh của An. Anh đốt hương, quỳ xuống, trầm lặng. Không khóc! Môi anh run run, mím lại. Gió vẫn đưa về ai oán của cả làng hơn trăm sinh linh giỗ cùng giờ và ngày. Tiếng khóc...

                                                                       ***
Mùa hè năm ấy, Đại đội bộ binh X, sư đoàn 320, tiếp nhận một chiến sĩ tình nguyện trẻ. Đó là anh.
Ai trong đại đội cũng công nhận An ít nói, hiền, có tật hay mím môi, nhưng rất chăm chỉ rèn luyện, không bao giờ kêu ca trong cả quá trình ba tháng huấn luyện đầy gian khổ. Đại đội trưởng sau hai tháng theo dõi luyện quân, lấy An làm liên lạc.
Ba tháng sau, cuối mùa mưa, An nhận súng, nhận đạn và cùng đoàn lên đường.
Đường Trường Sơn cuối mùa mưa, còn có những trận mưa dai dẳng. Không thể tưởng tượng là anh lại có thể theo kịp bước chân những người lính cựu. Không có kinh nghiệm, mưa, đất nhoét và dính, anh để dép dâu tụt hết quai trong đêm. Chân trần theo đơn vị trên đường núi lẫn đá tai mèo. Máu đầy chân, An vẫn nghiến răng. Ba lô nặng, đung đưa, cọ vào lưng cứ mỗi khi lên lên, xuống xuống. Hai tuần, có vết toét bằng bàn tay, đỏ hỏn ngang lưng. Ngủ phải nằm con tôm sấp trên võng. Đại đội trưởng thương thằng nhóc gan, không kêu ca, tụt tạt, lấy lá đắp, đỡ cho bao gạo. Vết toét mãi ba tuần sau thành sẹo.
Đại đội trưởng cũng lạ, vì thấy anh luôn tò mò hỏi bao chuyện, khi biết ông đã đánh nhau qua vài chiến dịch, mà vẫn nguyên lành. Xem ra, anh có vẻ rất có chí tiến thủ? Ông ta nghĩ, thằng bé này chưa bò duới đạn nên chưa biết sợ. Không biết cu cậu có đái ra quần không? Cái vẻ mặt đôi khi trầm tư của An, một thanh niên tóc rất xanh, làm ông  nhớ thời trai của mình và thương An thêm. Chính vì điều đó, An được ông dạy dỗ và kể nhiều kinh nghiệm cho cu cậu, hình dung là ra trận, phải tường tận những ngõ ngách của trận mạc và muốn giữ được cái mạng mình phải như thế nào. Ông chỉ cho anh cách tìm củi nào tươi, săng lẻ, có thể tước ra, nấu cơm được ngay dưới trời mưa, ẩm vẫn cháy. Cách đặt câu đêm, ở những con suối cạn nào? Suối đất hay cát, hoặc đá? Những con suối chỉ gang nước, ban ngày không hề trông thấy cá, nhưng đêm tối, phải hiểu  chúng từ hốc đất và dưới đám lá mục chòi lên đi kiếm ăn. Ông dạy cho anh, kinh nghiệm tìm hướng ở rừng bằng. Những mẹo vặt để tồn tại khi lạc rừng; tỉ như việc lấy lửa bằng cách gõ nhẹ cát-tút cho đầu đạn long ra. Bít giấy viên đạn không đầu, chỉ còn ít thuốc cháy, bắn vào những sơ cây đã sước, dập nhỏ như sợi bông, khi rắc lên số thuốc trong viên đạn v.v...Tất nhiên, cả những kinh nghiệm như cách đón gió, đánh hơi mùi lạ; nghe tiếng chim liếu điếu, quạ, ngói bay lên, bổng thấp thế nào, mà có thể đoán, cảm thấy nguy hiểm, có phục kích. Đại loại, những kĩ năng mà người lính cần hiểu sâu sắc, để tồn tại, để đánh nhau với một kẻ thù mạnh hơn nhiều lần. Có một lần ông nói đại ý, người lính đứng trước đối phương, chỉ run sợ tích tắc là mạng sống có thể đi tiêu luôn.. An thấy có lí cũng nhớ lại, thầy dậy vật anh từng nói, trước kình địch mà cảm thấy run sợ, tức là đã nắm chín chục phần thua, còn khi dù nó to hơn, mà ta quyết đấu, làm nó run sợ thì ta đã nắm tới chín phần thắng, chỉ mưu trí là thắng trọn nó rồi.
Anh lắng nghe ông, không chỉ là tò mò và khâm phục. Mãi về sau này, anh cảm thấy đó là may mắn. Anh cũng lơ mơ cho là, anh có linh hồn Thắm đưa đường chỉ lối.
Nhưng một điều quan trọng là, nhiều đêm, thiếp đi trên võng, đôi khi anh vẫn mơ. Giấc mơ dẫn anh về căn hầm và làng với tiếng khóc văng vẳng! Những khi vậy, anh không sao ngủ tiếp. Anh nhỏm dậy trong đêm, nghiến răng, nắm tay chặt như muốn vỡ ra.
Cứ như vậy tám năm chiến tranh trôi qua.
1975, tháng tư. Đại đội do An chỉ huy đánh Đồng Dù, Củ Chi. Cứ điểm gồm một sư đoàn trấn cửa ngõ Sài Gòn. Ngày ba mươi chiến cuộc chấm dứt.
Hơn tháng trời liên miên hành quân. Những người lính, sau ngày cuối cùng của chiến tranh, mê mệt ngủ bù trong cách rừng cao su, gần nơi đêm trước trận cận chiến. Không hiểu sao, An lại buồn. Chiến tranh thực sự chấm dứt rồi. Anh uống say và bây giờ lại là lúc An ngồi nhớ đất bãi làng anh. Anh nhớ Thắm. Mười giờ đêm, anh gục xuống chìm vào giấc ngủ.
Quá nửa đêm, trăng mười chín khuyết, long lanh lên sáng góc rừng. Anh choàng tỉnh. Có tiếng khóc nức nở, ai oán văng vẳng của làng đất bãi năm xưa. Tiếng khóc, suốt tám năm qua, anh vẫn chỉ nghe thấy trong các giấc mơ, trước những trận chiến khốc liệt một mất một còn! Anh dụi mắt, bứt tai. Không, anh đã tỉnh.
Vô lí! Chưa bao giờ tiếng khóc vọng về khi anh tỉnh. Hay mình đang mơ? Anh lại bứt tai. Rõ ràng là anh tỉnh. Không tỉnh, sao anh nhìn rõ người lính gác đi lại bên kia rặng cây. Dậy! Anh lay tay lính liên lạc trẻ. “Em, có nghe thấy gì không?” Người lính liên lạc ngơ ngác ngồi dậy. Anh nhắc lại câu hỏi: “Em có nghe thấy gì không?”  “Không! Em không nghe thấy gì!” Chiến sĩ liên lạc lại đổ vật xuống lớp lá trải võng trên nền đất. Lập tức ngáy.
Quái nhỉ, hay là anh mơ. Nhưng rõ ràng, vẫn có tiếng ai oán âm i tới tai anh. Anh tự véo đùi lần nữa và cầm lấy khẩu súng ngắn đứng dậy.
Theo gió, hướng tiếng khóc. Anh qua khoảnh rừng non. Qua mảnh trống, đầy vết xích, bãi tập xe tăng. Tiếng khóc rõ ràng hơn và rất gần. Anh vượt qua hơn trăm mét đường tuần tra quanh căn cứ và dừng lại.
An nhận ra, khu rừng đã diễn ra trận huyết chiến đêm trước, đêm cuối cùng căn cứ Đồng Dù. Đêm ấy, tại nơi đây, đại đội lính rằn ri biệt động đã đánh tập hậu đơn vị cối của sư đoàn. Và đại đội An chỉ huy được lệnh xuất kích, giải cứu cho đơn vị cối. Họ cận chiến giữa rừng cao su với lê , dao găm và bắn  gần. Trong vòng hơn hai chục phút, tiêu diệt hoàn toàn đơn vị địch.
Trăng mười chín đủ sáng để anh nhìn thấy hàng trăm chiếc xe Honda Sài Gòn đậu khắp nơi, ở mép rừng và bên đường. Một rừng hương như đêm nào ở làng anh và, tiếng khóc của những người  miền Nam dâm dứt khắp mảnh rừng cách đây không lâu, nơi có bao người lính đối phương  mù quáng tuân lệnh cấp trên, đã trở thành kẻ xấu số cuối cùng của chiến tranh.
Anh lặng người. Buồn vô hạn!  Tiếng khóc rõ ràng hơn.
Trời ơi! Chiến tranh thì bên thua bên thắng. An đi dọc suốt bao năm rửa hờn cho Thắm cho tiếng khóc làng anh. Điều đó anh chẳng bao giờ ân hận.
Nhưng Tiếng khóc của con người đêm nay anh nhận ra thì ở đâu cũng thương đau, giống nhau tới thế. An suy nghĩ miên man.
An quay về. Mắt đập vào tấm biển cũ chềnh ềnh cắm bên mé con đường tuần quanh căn cứ.
Trăng lạnh và bềnh bệch soi tấm biển. Tấm biển báo hiệu khu quân sự cấm thường dân của lực lượng Anh cả đỏ, Sư đoàn cũ của quân lực Hoa Kỳ đã nhường cứ điểm này lại cho những người lính đối phương cuối cùng của chiến cuộc, hoang phí tuổi xanh nằm kia.
U.S. Army.
Dòng chữ trên tấm biển rất đen và nét đanh, y như dòng chữ ngang thân máy bay năm xưa anh đã nhìn rất rõ, khi anh nằm ở gian hầm bí mật đã quàn Thắm, bên con sông quê hương đẫm đỏ lênh loang phù sa mùa hạ…An nắm chặt bàn tay.Môi anh mím lại. Còn bao nhiêu việc nữa cho ngày mai. Ngày mai của anh?
Thế mà đã tám năm! Tám năm, bao nhiêu là bao nhiêu cơn ác mộng của một đời người là anh!
                                                          Nước Đức, 4-2008-Tháng bao thương nhớ và yêu thương
                                                                                        N.V.T
1-Máy bay hải quân Hợp chủng quốc Hoa Kỳ
Logged
trachvandung
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 747



« Trả lời #4 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2008, 04:52:25 pm »

Kẻ chuyên lỡ chuyến 
   
Người viết: Nguyễn Văn Thọ   
28/03/2008


                                         Truyện ngắn của Nguyễn văn Thọ


Kết thúc cuộc chiến, hắn trở về nguyên vẹn.
Mười hai năm cuộc chiến, như một giấc mộng dài, biến hắn từ một cậu học trò tơ non, thành một cựu chiến binh, dầy dạn kinh nghiệm chiến tranh, thiện chiến. Hắn chợt nhận ra ngay, ở ngày hòa bình đầu tiên, tất cả những sự tích tụ giúp hắn tồn tại, vượt qua cái chết, vụt hoá thành vô dụng trong tích tắc đầu tiên của ngày hoà bình. Hắn, kể từ phút đó, với thời bình, là một tay ngốc ngếch. Một kẻ chỉ biết tuân lệnh và ra lệnh, phải bắt đầu từ con số không, làm quen với tất cả đời sống bình thường của con người. Đúng là khó khăn!

Hắn tự an ủi, trong những ngày đầu ở Hà Nội, khi trở về không một xu dính túi: "Thôi! Ta còn sống để trở về ngôi nhà nhỏ thân thuộc. Bao bạn ta mãi mãi chẳng trở về!" Nghĩ vậy mà vẫn ứa nứớc mắt! Trở về Ngôi nhà ấy, nay đã vắng bóng người mẹ của hắn, người mà có thể chở che và đùm bọc hắn với tấm lòng bao la, yêu thương nhất. Hắn thất nghiệp, lang thang trong thành phố đi xin việc hàng ngày. Và, buổi tối trèo lên gác thượng, gẩy cây đàn ghi ta rè cũ, hát những bài ca cũ. Đôi khí hắn đọc thơ cho cô cháu gái nghe. Cực hình nhất, là khi cô cháu lại thích bài Đợi anh về của lão Simonop với cái giọng chùng buồn ấm áp của hắn. Sau này, có lần hắn nói với cháu: Này, bài đó đọc trong rừng thấy ấm áp. Đọc khi trở về chẳng có người yêu chán và lạnh. Hắn vẫn giữ tính chân thành và thật như đếm.

 

Nơi hắn ở, gọi là phố mà như xóm, như làng. Đối diện nhà hắn, cách con phố ngang năm mét, có nếp nhà dựng lên trong khi hắn còn ở rừng. Lưng dãy phố tạm ấy, dựa vào khu tường nghĩa địa Tây. Nghe nói dãy dài nhà đối diện, là cửa hàng mậu dịch bán rau và thịt. Chái bán rau, được chia cho một gia đình cán bộ tập kết dọn tới trước khi chiến tranh kết thúc. Bà má của gia đình ở đó, nói giọng miền trung ấm áp. Bà có nụ cười rất tươi, mắt nhân hậu. Có một lần, bà nói với hắn bùi ngùi: "Mẹ cậu là một người rất tốt bụng. Hồi bà còn, cô vẫn hay sang chơi." Qua cô cháu gái, hắn biết được, ngôi nhà ấy có một cô gái bằng tuổi cháu hắn. "Nó mê tiếng hát của cậu lắm. Những tối cậu hát, nó chạy hẳn sang nhà, rủ cháu lên cầu thang nghe trộm". Hắn cười.

Cuộc sống thời bình thật khốn nạn với một kẻ lương thiện, đã hai ba tháng lang thang vẫn không thể tìm một công việc ở Hà Nội, khi mà đi xin việc, đâu cũng nhan nhản lính trở về.
Một buổi sáng đầu hè oi, nóng, hắn cởi trần, bổ củi trên vỉa hè, chợt bắt gặp ánh mắt của cô gái bên kia đường nhìn sang.
Cô gái thật đẹp. Cái vẻ đẹp của một thiếu nữ vừa lớn làm hắn sững sờ vài giây. Mơn mởn như đoá hồng vừa hé nụ vào một sớm xuân. Hắn hơi ngượng, quay vào nhà mặc áo may ô. Tối đó hắn buột miệng kể lại với cô cháu gái. Cô cháu bảo: "Cậu ngượng gì, nó là Hương bạn cháu."

Một tuần sau, những buổi tối mát trời, hắn và cô gái tên Hương ấy, cùng cô cháu gái trèo lên sân thượng. Trên gác có giàn nho xanh mướt phủ rộng tầng thượng chống nóng. Chớm hè, nho bắt đầu có những trái non, vùn vụt sinh ra từng chùm lúc lỉu xanh trong như ngọc, rồi thoắt căng nõn trái. Hắn hái nho chấm muối ớt, cùng cô gái trẻ nhăn mặt. Cô gái ngồi bên hắn. Tóc xõa bờ vai, nắng chiều soi lên mái tóc đen như mun, sóng sánh như lụa và xông lên mùi con gái. Đôi mắt đen thăm thẳm. Cái miệng luôn tươi với đôi môi mọng như trái nhót, hồng thắm trong ráng chiều. Lần đầu tiên, ở chiều ấy, khi cô bứt một trái nho đưa lên miệng hắn, hắn chợt thấy cô hàng xóm rất đẹp. Thực ra có sức mạnh nào đó xui bẩy hắn làm điều gì đó, nhưng hắn chần chừ. "Nho còn xanh quá!" Hắn bất giác nói!

Cô gái rất nhanh thân thiết thân với hắn. Nhiều tối hè, mạnh bạo đề nghị hắn đàn, hát những bài ca cũ, mà hôm nào cô nghe lén ở bên kia đường. Mắt cô mở to, nhìn hắn đăm đắm, nghe hắn kể về các câu chuyện của chiến tranh đằng đẵng mà hắn trải qua. Một tối, cô cháu bắt hắn đọc lại bài thơ của gã Simonop. Hắn đọc, tự dưng lâu lắm lại xúc động trào lên. Cảm giác hình như đôi mắt của cô rơm rớm trong đêm tối nhập nhoè. Sao lại khóc? Đâu, em chả khóc, có anh khóc! Cô gái bướng bỉnh!

Chuyện của hắn vẫn tiếp tục vào những đêm rảnh rang. Miên man các trận đánh. Không có một mối tình nào trong suốt cả mười một năm hắn sống còn với chiến tranh. Thế giới của hắn toàn đàn ông và bắn giết, đâm, chém, đồng đội hy sinh, những trận chiến thua, thắng. Phục kích, mật tập, đánh mìn và đạn, bom. Hắn thật lắm chuyện. Hắn kể rất sinh động, tỉ mỉ cho cô về cánh rừng khooc, lá giòn, rộng nổ lộp bộp dưới chân. Ở Hà Nội, có giầu tưởng tượng thế nào cũng không thể hình dung được. Hắn nói về con sông ào ào, hun hút chảy giữa lòng núi đá trên đỉnh Trường Sơn và những đêm săn bắn, bẫy tất cả các loại thú, khi cơn đói thắt ruột hành hạ. Những đêm mưa triền miên, nằm trong hang lạnh, nhóm lửa bằng zippo, châm thẳng vào mảnh thuốc bom, rồi nghe lửa phì phì reo, cồn cào bụng rỗng hoang, nhớ về Hà Nội v.v...Cũng đôi khi, trong câu chuyện liên miên, có một bóng hồng lướt qua, nhưng chỉ là tiếng hát của đám thanh niên xung phong vọng lên, rồi mất hút cuối con đường đi qua; đó là các cô gái Lào, Thượng, Pacô lưng đeo gùi, miệng tươi như hoa, tay cầm dao phăm phăm đi trước đoàn quân. Một cô gái lưng trần, rám nắng đã cho hắn và bạn hắn dăm bắp ngô nếp dẻo, cứu hắn qua cơn đói lả xuýt toi mạng, trong một lần lạc rừng. Những câu chuyện chẳng đầu đuôi lạ hoắc với hai đứa con gái liên miên không dứt tới hai mùa trăng.
Cô gái cũng kể chuyện khi hắn hỏi vọc vạch. Theo hắn, những câu chuyện của cô kể, toàn chuyện trẻ con. Nhưng hắn vẫn lắng nghe và đôi khi tủm tỉm cười.
Hắn bắt đầu thỉnh thoảng sang nhà cô chơi.

Gian nhà hai chục mét vuông cho năm mạng người. Không có cả toa let. Góc nhà quây thành nơi nấu nướng, cạnh đó có một cái lỗ đậy hờ bằng một cái nắp chĩnh cũ. Hôm đầu tiên ngồi đối diện với cô chủ nhà, hắn nhận ra ngay, thoang thoáng mùi khó chịu. Mùi khai nồng, thu thủm, hôi rình như xông lên từ phía có cái lỗ đậy hờ kia. Cô gái cũng thật thà kể, nơi đây xưa kia là chỗ rửa ráy của quầy bán rau. Người ta đục nó thông thẳng vào cống thành phố, nên những ngày nóng, cả nhà em khó ngủ, vì mùi hôi nồng nặc. Nhưng không có nó thì thoát nước thải vào đâu? Hắn định bảo, ừ đêm đêm buồn đái, thì đái vào đấy cũng tiện, nhưng hắn không nói ra câu nói ấy.

Ngôi nhà như thế! Sự mong muốn gặp nhau bắt đầu nhen lên ngày một nhiều hơn và đã xoá đi sự khó chịu khi ngồi trong cái mùi chẳng thơm tho tí nào. Cô gái cũng biết ý, mỗi khi hắn sang, chèn chặt nắp cống lại bằng một miếng giẻ cũ. Có lần cô còn dội một thùng nước ào ào vào cái lỗ quỷ quái ấy.

Hắn có những khi chán mà không thể chia xẻ với cô. Tỉ như, trong chiến tranh ao ước trở về, khi trở về quả là chẳng dễ dàng với một kẻ không tiền, không việc làm. Cũng đôi khi hắn phụ giúp ai đó, không nề hà công việc gì, như dọn gạch vỡ, quét vôi nhà, phá một bức tường sắp đổ, phụ thợ nề v.v...toàn các công việc cơ bắp và nhận được vài đồng tiêu vặt. Nhưng không phải lúc nào cũng có công việc mà hắn lại nghiện thuốc nặng. Hắn bắt đầu bán đi những kỉ vật chiến tranh và tất cả cái gì gọi là gia tài của một người lính.

Đi bán đồ của chính mình mà như bán đồ ăn cắp. Hắn ngượng. Chỉ sợ, ai quen hắn, bắt gặp. Hắn bán vật đầu tiên là cái tăng mới tinh còn phấn trắng. Rồi bán chiếc áo mưa sĩ quan cũng mới. Vài chục dụng cụ điện tử hắn tháo trên một chiếc xe M113 bị hỏng máy trong căn cứ chiếm được. Cả mấy cái công tắc điện đẹp lắm, hắn định khi nào rảnh thay thế những công tắc sứ cũ mòn, chập chờn ở sân nhà. Ngày bán cái võng là hắn đắn đo mãi. Cái võng cũ, có dăm vết thủng lỗ chỗ. Đó là vệt bom bi xuyên qua, trong trận đánh Boloven năm nào. Trận ấy, người bạn thân nhất của hắn, cùng tiểu đội, đã chết. Hắn may mắn thoát hiểm, nhờ cái ba lô bên cạnh, nhờ thân thể người bạn che cho những viên bi, những mũi tên thép nhỏ xíu, cứng, sắc ghê người, có thể xuyên qua bất kì vật gì. Nhưng vẫn phải bán sạch. Đói và thèm thuốc. Sau vài lần bán đồ, hắn không ngượng nữa khi gặp mấy bà chè chai đồng nát, kể cả lần hắn bán con dao găm Mỹ có rãnh thoát máu sâu hoắm và đen sì, khắc chìm dòng chữ U. S. A- Army. Dao găm này, hơn tám năm vẫn là vật bất li thân trong rừng. Bán! Rồi cũng chẳng còn gì để bán nữa, lại đúng vào tuần Hà Nội mưa. Đói, lại thèm thuốc cồn cào. Nằm khèo trên gác xép, nhìn ra trời miên man mưa trắng xoá. Cay đắng cười!

Buổi sớm sau, hắn dậy thật sớm, ra đầu phố, tới tất cả các nơi ban ngày là quán nước. Len lén nhặt ở đó những đầu mẩu thuốc lá.
Logged
trachvandung
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 747



« Trả lời #5 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2008, 04:53:18 pm »

Sớm đó mưa ngừng và nhạt nắng. Hắn leo lên sân thượng, dưới những đám quả nho xanh như ngọc. Cẩn thận rũ sợi thuốc vụn từ những đầu mẩu cong queo, hôi hám, dính cả cát và đất. Rồi cũng quấn được hơn chục điếu sâu kèn cho bớt cơn nghiền. Sớm hôm sau nữa, đúng vào lúc hắn đang chế tác thuốc lá như vậy, cô cháu gái và cô bạn gái hàng xóm xuất hiện sau lưng khi nào chẳng rõ. Cô cháu hỏi: “Cậu đang làm cái gì đấy?“ Hắn ngẩng mặt lên. Bàn tay hôi, khai nồng mùi thuốc cháy dở gặp ẩm. Hắn chạm ngay ánh mắt của cô gái nhìn không chớp. Hắn muốn chui vào lỗ nẻ. Đứng dậy, đá phăng dúm thuốc đi. Mặc hai cô gái sững sờ, không hiểu điều gì làm hắn tức giận? Hắn chạy xuống gác như ma làm.
Ba ngày, hắn tránh mặt cô. Ba ngày, hắn lang thang khắp nơi và đau khổ nhận ra, sự tìm việc ngày càng khó khăn hơn, khi tới đâu cũng thấy áo Tô Châu và dép đúc. Hắn có thể đầy khả năng, sức khỏe để làm rất tốt vai trò gác cổng ở bất kì nhà máy nào! Không có cái chân ấy cho hắn! Một lần hắn thất vọng ê chề khi một lão thương binh nói, nhà tao, năm thằng vào mặt trận. Ba đứa trở về toàn ăn bám mẹ. Nghe nói, số bộ đội giải ngũ ở thành phố hơn ba vạn nữa! Hắn nhớ mẹ ghê gớm, suýt bật khóc trong đêm ấy!

Một tối mệt mỏi trở về, hắn hơi bất ngờ nghe cô cháu bảo, cái Hương nó gửi cho cậu gói gì ở đầu giường ấy! Trên táp-đờ-luy của hắn, gói giấy bọc ba gói thuốc Trường Sơn. Hắn bàng hoàng. Bên trong, có tờ giấy học trò, dòng chữ nắn nót mềm: “Anh bộ đội hút ít thôi. Hại lắm đấy nhé! Rồi lại thi thoảng ho sù sụ như ba em đấy!”

Hắn lên sân thượng. Bóc gói thuốc và rít thật mạnh hơi thuốc vào lồng ngực. Lòng hắn thực khó tả. Vui, buồn, hạnh phúc và cay đắng.
Vài hôm sau, cô gái từ bên kia đường chạy sang khi thấy bóng hắn vừa đi về: “Anh rảnh không? Hộ em bài hình không gian khó quá!“ Hắn nhận lời ngay. Cô hàng xóm cười, khoe cái răng khểnh ánh lên. Má lúm đồng tiền.
Họ ngồi bên nhau ngay sau cửa sổ sát tường nom ra đường. Cô gái lấy vở có bài tập đưa cho hắn. Một bài tập không khó quá, dù đã bỏ hơn mười năm học tập. Chỉ dăm phút sau hắn đã có lời giải. Cô gái ngồi sát lại. Hắn cảm thấy hơi nóng của da thịt. Mùi tóc. Hơi thở. Hắn quay sang. Đôi mắt cô gái trong. Mi dài đen, thăm thẳm nhìn lên. Trong người hắn bỗng có một sức mạnh ghê gớm thúc dục. Hắn nắm vội lấy bàn tay cô đang cầm bút. Tay trái quàng lấy eo cô. Rất nhẹ! “Kìa anh!“ Cô gái nói ấp úng, nhưng bàn tay cầm bút vẫn trong tay hắn. Im lặng quá. Hắn run lên. Cô gái chợt nói lí nhí: “Kìa anh bộ đội!” Thế thôi mà hắn sợ. Hắn buông tay cô ra. Khi đó, hắn mới thấy khuôn mặt cô chợt hồng rực. Không thể ngờ, một thằng đàn ông như hắn, vượt qua bao nhiêu lần trước gian nguy và cái chết lại hèn nhát như thế, tim đập loạn và rất sợ ai nhìn thấy hắn và cô trong trạng thái như vậy.
-Anh về đây.- Hắn bước vội về nhà, không ngoái đầu trở lại.

Tối đó hắn lên dàn nho. Đàn ghi ta cũ, rè rè lại cất lên những nhịp chậm. Ngôi sao nhớ ai mà sao lấp lánh. Soi sáng đường chiến sĩ dưới ngàn cây….Giọng hắn ấm, nên càng buồn. Hắn suy nghĩ miên man. Em mới 16 tuổi. Sao hắn làm như vậy. Hắn yêu cô ư? Nhớ cô ư? Hắn đã bao giờ yêu, hoàn toàn không biết tình yêu là cái gì. Hắn không được phép như vậy. Không việc làm, không tiền, không tương lai. Còn cô gái tốt bụng, đẹp, trẻ, trong văn vắt ấy! Tất cả ở phía trước. Tháng tới cô sẽ thi. Nếu có việc gì xảy ra, cô gái trượt. Không, không nên thế! Dù là nhắm mắt lại, hình ảnh khuôn mặt cô đỏ lựng, môi mọng như trái nhót, cứ chói chang hiện lên.
Hắn tránh mặt cô gái.

Ba ngày sau, hắn vô cùng vui mừng kiếm được một công việc rất tầm thường ở một công ty buôn bán ngoại thành. Việc ấy do chị hắn cậy cục, nhờ vả năm sáu người mới xong. Phải sống đã! Hắn nhận đi làm ngay, lầm lũi tới cơ quan nọ, chạy giấy, đun nuớc cho công nhân và dọn ba cái hố xí không cửa đầy giấy báo bay tứ tán mỗi khi con gió thốc thổi.

Ngày đầu tiên có lương, hắn mua dăm thứ lặt vặt cho hắn. Một gói ô mai. Bọc ổi thơm nức, tươi roi rói. Một cái cặp nhựa Sài gòn trông như ngọc bích. Gọi là lời cám ơn hôm nào và cũng báo cho cô hàng xóm biết, hắn đã có việc làm. “Em sắp tạm biệt anh!“ Cô gái cười cười nói khi hắn sang, ngồi chưa ấm chỗ! “Đi đâu?“ Hắn hơi bất ngờ. “Cả nhà em vào Đà Nẵng. Ba em nhận công tác trong đó. Chủ nhật này, em đi“. Hắn muốn nắm lấy tay cô, nhưng má cô gái xuất hiện. Bà tươi cười nói, khi nào cháu vào trong nớ, tới nhà cô nhé! “Dạ.“ Bà má quay ra cửa. Em nhìn vào mắt hắn. Hình như em chờ hắn một câu gì đó mà hắn không sao nói được. Hắn và cô im lặng tới cả chục phút. Buồn thế! Hắn về.
Đó là một đêm hắn trằn trọc. Hắn dự tính, tuần này sẽ đi mua cái gì đó có giá trị và thứ Tư tới sẽ nghỉ việc tiễn cô đi.

Thứ hai đi làm, hắn đột ngột được lệnh phải xuống ngay Hải Phòng, xung vào đội tiếp nhận chuyến tầu biển, nhập hàng Hải sản cấp cứu cho thị trường Hà Nội từ phía Nam ra. Mới đi làm, không thể từ chối công việc đột xuất. Hắn về nhà vơ vội ba lô, chạy sang nhà cô gái mà chẳng thấy ai có nhà. Hắn lên tầu xuôi Hải Phòng, lần đầu trong đời hắn thấy buồn thậm tệ, vô cớ.
Cuối tuần hắn trở về. Ngôi nhà bên, hắn thấy cửa được khoá ngoài. Và, chỉ dăm hôm sau đã có chủ mới. Hắn như kẻ ngơ ngẩn mới mất một vật gì rất quý giá. Mỗi khi lên sân thượng, hay khi nhìn sang bên kia đường, hắn vẫn thấy hình ảnh cô bé tên Hương hiện ra chấp chới, như ảo như thật, cười và phô cái răng khểnh duyên dáng làm sao.

Suốt cả thời gian dài sau đó, hắn không hề có thông tin cô gái. Hắn thường tự an ủi là cô đang bận học thi. Cũng có khi hắn nghi ngờ, hay chính hắn cũng chẳng có một sức mạnh để tìm cách liên lạc với cô.
Nhưng mãi sau này nghĩ lại, hắn cho rằng, khi người ta bị sự thúc ép bởi đời sống cần tồn tại thì nó sẽ đè bẹp cả nỗi nhớ váng vất trong hắn, làm hắn tự nhiên dần sao nhãng bóng hình cô.
Một năm sau, không chịu nổi cảnh ăn cơm tập thể với những miếng thịt mỏng như tờ giấy và bát canh cá tanh lợm trong các bữa cơm tập thể, dành cho kẻ độc thân, hắn quyết định phải có gia đình. Hắn lấy vợ. Vợ hắn là người thiếu nữ cùng cơ quan. Cứ cặp kè với nhau ngày này sang ngày khác, lại nấu cơm rất ngon, làm hắn như cây bị đốn ngã. Hắn bảo với thiếu nữ, trợn trạo và thẳng tuột: “Này, em lấy anh nhé!“ Cô gái đồng ý. Khốn nạn, họ, chưa một lần nói được câu: Anh yêu em và ngược lại dù trong thăm thẳm ánh mắt.

Hôm đón dâu, chiếc xe Hải Âu vòng qua phố, chuẩn bị đỗ trước nhà. Hắn bỗng nóng gáy. Linh cảm mách, có ai đó đang nhìn hắn chăm chú. Hắn ngoảnh lại. Hắn gật thót người, nhận ra cô đứng ngay ở bên đường. Áo em trắng tinh. Tay em cầm túi xách mầu đỏ. Mắt em nhìn không chớp vào mắt hắn. Em không cười như bao lần xưa cười với hắn.

Bao nhiêu năm, hắn không bao giờ quên được cái nhìn ấy. Cái nhìn như đầy ăm ắp lời trách móc, như vấn hỏi con người anh. Đâu rồi mắt ánh nét cười, đôi mắt tinh nghịch, biết nói khi cầm từng quả nho…Ôi tình, kẻ bạc bẽo là hắn. Mắt em nhìn anh và hỏi: “Sao anh không yêu em mà vội vã đi lấy ai?“ Không còn là đôi mắt tươi rói xanh chấm muối, nhét thêm mẩu ớt, đưa lên tận miệng hắn. Lần đầu tiên hắn nhận ra, hắn chẳng phải là hắn nữa.

Sau này nghĩ lại hắn mới hiểu ra sự thúc ép của đời sống vật chất tầm thường, cơm, áo, gạo, tiền, đôi khi lại mạnh hơn, làm lu mờ cả những ước mơ tốt đẹp, đáng yêu và có khi rất thiêng liêng. Khốn nạn nhất là khi hắn nhận ra cái nhìn ấy thì đã muộn, bởi vì sau này nhớ lại, chính gây khắc ấy hắn biết hắn yêu ai. Không yêu, thực dụng, đó là một sai lầm khởi đầu của thời bình, không bao giờ hắn tự tha thứ.

Ba ngày sau, qua cô cháu, hắn mới biết, cô hàng xóm ở Hà Nội một ngày rồi trở về Đà Nẵng ngay. “Nó bảo dự định ra đây chơi hai tuần. Định rủ cậu cháu mình đi Đồ Sơn như năm nào mong muốn tắm biển một lần... thế mà nó lại trở vào ngay!“ Cô cháu kể. Hắn im lặng. Thì ra cô hàng xóm đã đỗ vào Trường đại học khoa văn. Như vậy, đường cô đã tới đích đầu tiên, đúng như dự kiến mà cô từng nói với hắn. Chỉ có bây giờ, hắn đã xa cô quá rồi!

* * *


Sáu năm sau, hắn cũng học xong một khoá kinh tế và dần thăng tiến. Duy có đời sống vợ chồng của hắn, chẳng ra gì, rạn vỡ chỉ vì những lí do cũng chả ra gì. Cái đời sống vợ chồng sau chiến cuộc, khi khởi nguồn từ cơm áo, lại bị chính sự vật vã của áo cơm, nhất là với hạng người chỉ quen với chiến cuộc, hoàn toàn thiếu kĩ năng sống bình thường, đã giết mòn con người hắn. Và điều đó làm hắn bế tắc, đau khổ.
Nhiều khi hắn chán ở nhà, muốn đi thật xa, tới một nơi nào đó để chạy trốn sự bất lực, yếu kém, dù hắn tự hiểu, chính hắn chứ không ai khác phải tự chịu trách nhiệm với những đổ vỡ.

Hắn buồn và tập tọng làm thơ, viết truyện, cho quên đi những nỗi niềm mà chỉ mình hắn biết. Thơ và truyện hắn đều tầm tầm. Tuy nhiên, dù còn vụng dại về ngôn từ, nhưng khi những điều hắn viết cất lên từ tấm lòng chân thật, báo chí cũng đón nhận và việc ấy giúp hắn ít nhiều vợi đi phiền muộn.
Tháng hè năm đó, cơ quan hắn có vài chiếc xe tải mới được phân cấp, lại ở tận thương cảng Đã Nẵng. Giám đốc quyết định, hắn sẽ đi vào đó, thay mặt cơ quan đưa lái xe vào tiếp nhận những chiếc xe ấy.

Đứa cháu gái thấy cậu vào Đà Nẵng đã viết thư cho cô gái và gửi chút quà Hà Nội. Hắn mỉm cười và thoáng nhớ lại những ngày đầu trở về “Ừ cậu sẽ tìm tới tận nơi!“ Hắn ra phố, mua ít mứt sen, bánh đậu, cân chè Thái Nguyên dậy mùi thơm ngậy. Một vài túi ô mai và bánh cốm. Hắn mỉm cười khi xếp tất cả vào chiếc cặp da đen to.

Không khó lắm khi tìm ra nhà của cô. Cô không có nhà. Má cô mời hắn ở lại “cho có dịp gặp cả nhà vào bữa tối“. Bà kể, em nó đi dạy. Tối mới về. Hắn được má cô dẫn đi xem ngôi nhà rộng rãi. Hắn chợt nhớ lại chái nhà xưa và tự nhiên bao nhiêu hình ảnh cũ rõ mồn một ập về khi nhìn thấy chiếc ảnh, em cười tươi vô cùng, treo bên trên chiếc bàn đầy sách vở. Hắn nhìn thấy dăm tờ báo Văn Nghệ đã đăng truyện của hắn. Cái tên tác giả được gạch bút chì đỏ và một dấu hỏi khá đậm bên cạnh? Có lẽ nào, cô đã nhận ra đó là hắn? Lòng hắn trào lên nhói đau vừa thấy khuôn mặt với bàn tay cầm bút năm nào như trong tay hắn. Hắn mong cô bạn trở về nôn nao. Nhẩm tính sẽ cùng em đi dạo và nắm lấy đôi bàn tay năm xưa! Không mình sẽ hôn em! Nhất định đêm nay phải hôn em!Hắn nghĩ.
Hai tiếng chờ đợi trôi qua. Rồi cô gái trở về. Em lại đẹp rực rỡ hơn cả ngày xưa. Cái vẻ đẹp của tuổi mười sáu giờ đây được thay thế, tràn đầy, bởi sự mãn khai, như một đoá hồng nhung nở đúng vào mùa xuân sắc. Cô cũng bất ngờ, mắt ánh lên niềm vui gặp lại.
Bữa cơm tôi thật vui. Bao nhiêu câu chuyện về cái phố của hắn và gia đình ba má cô, được râm ran tái dựng lại trong bữa cơm.
Bẩy giờ tối. Hắn xin phép má cô để hai anh em ra sông Hàn đi dạo.

Cô gái cất lời trước. Hỏi hắn bao chuyện. Cô bầy tỏ ái ngại khi thấy hắn có vẻ hơi gầy. Giọng cô trùng xuống “Em nhớ anh, khi đó vẫn bổ củi bên đường. Nom rắn chắc, không như hôm nay. Anh có ăn được nhiều không? Anh lại hút thuốc? Anh bỏ thuốc đi!“. Lòng hắn càng vui khi được biết rằng, cô nhận ra hắn ngay khi đọc xong truyện ngắn đầu tay hắn viết. “Em không thể quên những câu chuyện anh đã kể cho em trên sân thượng. Chỉ có thể là anh mới viết và suy nghĩ như thế!“ Cô khẳng định. “Thế còn giàn nho không hả anh?“ Cô gái chợt hỏi. “Giàn nho không còn nữa!“ “Tiếc nhỉ. Cái dạo ấy, bao nhiêu là nho“. “Ừ, giàn nho xanh!“ Hắn vô tư nói không ẩn ý. Cô gái im lặng. Họ không nói, tận tới khi gửi xe và đi dạo bên bờ sông Hàn. Hắn im lặng nghĩ: “Phải hôn em. Nhất định phải hôn em!“
Bờ sông đầy gió. Mênh mang nước rào rào chảy. Sóng đánh oàm oạp vào vách bờ xi măng. Họ dừng lại và hắn nhìn sang cô. Trong ánh đèn phản lên từ mặt nước, mắt cô gái như có trăm ngàn ánh sao. “Anh nói gì đi chứ!“ Cô nhìn hắn. Hắn nhắc lại ngôi nhà có mùi cống. Cái lỗ bí mật. Sân thượng. Những đêm trăng và những quả nho, cái bàn học. Cả gói thuốc. Hắn kể, cái bức chân dung của cô gái treo trên phòng tranh năm nào cha hắn họa, vẫn treo trên tường. Hắn vẫn lên đó khi buồn và hỏi tranh: giờ cô sống thế nào. Cô gái im lặng nghe. Mắt cô xa xăm và hắn nôn nao. Có một dòng điện bất thần xung mãn chạy trong hắn, làm bàn tay hắn run lên, khi muốn ôm lấy bờ vai cô và muốn hôn cô như đã định từ chiều.
Không biết ma xui quỷ hờn thế nào tự dưng hắn lại bật ra câu hỏi: “Em có người yêu chưa?“ Cô gái cười: “Em có rồi!“ Hắn nhìn vào mắt cô: “Anh ấy ở đâu, làm gì?“

Cô gái nói, giọng rất tự nhiên: “Anh ấy cũng bộ đội như anh, nhưng không khoẻ mạnh như anh. Anh ấy bên Campuchia” “Sao mà không khoẻ mạnh?“ “Anh ấy hay sốt rét. Cũng đang đau dạ dầy!“
Hắn chợt buông thõng hai tay xuống. Đôi bàn tay ấm rời bỏ bờ vai cô. Trong lòng hắn thoáng thấy cảnh hành quân vội vã của chính hắn. Những trận sốt miên man, người đau như có trăm ngàn kim chích, đã từng kể với cô năm nào. Hành tá tràng quặn lên khi quá đói. Cả tuần toàn húp cháo sắn. Nam Lào năm ấy chớp hiện lên. Tự dưng hắn chẳng có một ham muốn nào nữa và thấy buồn vô cùng. Thôi ta về đi, kẻo má em mong. Muộn rồi! Hắn nói. Thực ra khi đó mới chín giờ đêm. Trăng chênh chếch lên. Ánh trăng đôi khi buồn tênh, y như người đầy tâm sự muốn say rượu làm quên; tỉnh rượu, bỗng gặp trăng lên sáng trưng góc rừng quạnh, khi không một ai bên mình.
Họ thong thả đi về nhà. Hắn im lặng nghe cô kể về học đường, về nhiều chuyện khác của thành phố, mà tai cứ ong ong, chẳng thể biết cô đang nói gì với hắn.
Hôm sau hắn trở về Hà Nội. Thành phố xa dần, xa dần. Hắn không tự lí giải được thành phố chẳng quen thuộc gì mà sao hắn chợt thấy lòng tê tái khi con tầu chui vào đường hầm và thành phố mất hẳn!
***
Logged
trachvandung
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 747



« Trả lời #6 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2008, 04:53:28 pm »

Tình yêu là gì? Nó sinh ra từ đâu? Đã bao lần hắn tự hỏi mà không có câu trả lời, dù hắn cứ cố trồi lên khỏi dòng chảy đời sống mà vẫn bị cuốn trôi đi. Năm bốn mươi tuổi, hắn rơi vào dòng thác của cơn lũ xuất khẩu lao động. Và cơn lũ cuối cùng này, phá vỡ cái gia đình nhỏ bé của hắn, trong xa cách và bởi nhịp sống có những khác biệt không thể hàn vá những vết nứt.
Hắn có gần hai chục năm lang bạt nhiều nơi trên thế giới, trải thêm biết bao biến động thế giới và của cả cá nhân hắn. Khi lên voi, lúc xuống chó, chỉ để có tiền mà tiền quan trọng thế nhưng không làm cho hắn thấy hạnh phúc. Bởi sự khốn nạn nhất là hắn chưa bao giờ thoát khỏi cảm giác ở trọ, ngay cả trong ngôi nhà đầy tiện nghi sang trọng của hản nơi nước người. Cả khi, hắn tới những nơi tuyệt đẹp, trong lòng hắn lại nhớ về ngôi nhà cũ có giàn nho và những mảnh trần lở lói, về cái lỗ khỉ gió đầy mùi thối của nhà em.

Mùa xuân, khi qua cái tuổi tri thiên mệnh đã nửa thập kỉ, hắn com cóp ít tiền, mua một mảnh đất và xây một ngôi nhà nhỏ. Hắn nghĩ, rồi người ta cũng sẽ phải trở về với những điều quen thuộc của máu thịt; người như hắn thường phải ăn cơm và nhớ rau muống; hắn không thể quen với ngày tết noel, và phải nghỉ năm mới theo Tết âm lịch.
Một buổi sớm Hà Nội, hắn nhận được tin nhắn. Hắn bàng hoàng nhận ra cái tên quen thuộc hiện ra trong dòng tin:
-Em ra Hà Nội một tuần. Sẽ tới thăm anh. Hàng xóm- Hương!
Quá khứ dội về như một đợt sóng. Hắn gọi điện. Nhắn tin và ba ngày sau tới khách sạn gặp lại em.

Nhân viên khách sạn nói với hắn rằng, đoàn khách đi ăn sáng ở đâu đó bên kia đường. Hắn đoán vị trí nơi bên kia đường rồi vòng xe lên quán Bát Đàn. Từ quán ca-fê, hắn nhìn sang

Gần hai mươi năm. Thế mà hắn vẫn nhận ra cô ngồi bên chiếc bàn giữa những người đồng hành của cô. Thời gian chẳng thể níu lại những nét xuân phơi phới của một ai. Cô đã sấp sỉ tuổi bốn mươi, trở thành người đàn bà. Nhưng, đúng là cô chứ không thể ai khác với khuôn mặt, nụ cười, chiếc răng khểnh, đôi lúm đồng tiền ấy, đôi môi ấy và, cái cử chỉ kia... Hắn châm một điếu thuốc và chờ đợi.
Hắn chờ cho đoàn khách ăn xong và đứng dậy. Khi cô bước ra vỉa hè, hắn chạy vội sang rồi tiến tới. “Hương! Xin lỗi. Có phải là Hương không?“ Cô gái quay lại. Mắt cô gái mở to, thoảng thốt giây khắc và bừng lên ánh mắt, nụ cười tinh nghịch tươi rói năm nào.

Họ ngồi bên quán cà-fê ngay xế bên kia quán ăn. Quán cà-fê sớm còn vắng khách. Nghe rõ tiếng nước lóc róc ở quầy bar.
Những người đàn bà, dù trượt qua thời xuân sắc, vẫn giữ được thân hình thon thả, dường như lại có sức quyến rũ đàn ông hơn cả thời thiếu nữ. Trong mắt hắn. Rõ ràng là Hương là típ người đàn bà như vậy, nhất là khi cô yên lặng, đôi mắt đen thăm thẳm cứ tươi mãi nhìn hắn. Hắn nói gấp gáp rằng nếu không nhớ nơi đây là Việt Nam, hắn đã ôm chầm lấy cô giữa phố.
Họ đi về ngôi nhà của hắn. Hắn đưa cô thăm nhà, cho cô xem mảnh vườn nhỏ. Xem bức tranh chân dung cô, chất liệu lụa, của cha hắn để lại cho, treo trong phòng khách.
Họ lên sân thượng nhìn ra bốn phía Hà Nội.

-Ở đây sao anh không trồng một giàn nho nhỉ? Cô nói. Trồng nho bây giờ còn ai lên hái nho nữa! “Em! Bây giờ có nho em sẽ hái” Em quay sang cười. Mắt em sáng lên, tinh nghịch. Hắn nôn nao và đặt tay lên vai em. Em nhìn xuống. Hắn kéo nhẹ em vào sát người hắn. Và bắt đầu thấy râm ran. “Đừng anh. Em không muốn!” Cô vẫn mềm người không chống lại vòng ôm của hắn. Cái ôm xiết nhẹ đủ cho hắn cảm giác ngực em sát vào ngực hắn. Hắn ngửi thấy hương của tóc đàn bà, hương của miệng có đôi môi thắm đỏ xưa giờ tuy đã phai mầu son, nhưng vẫn mọng làm sao. Và, đặc biệt hắn nhận ra hơi thở không bình thường phả lên đê mê. Không, anh không thể. Anh phải hôn em. “Đừng anh!” Em nói rất bé. “Ngày ấy nhẽ ra anh phải nói. Anh chưa khi nào quên em. Anh nhớ em. Luôn nhớ. Đôi khi gặp ở trong giấc mơ. Em có tin không?“ Hắn nói gấp gáp. “Em tin!“ Giọng cô như chìm trong hơi thở. Hắn cúi xuống, chỉ tích tắc sẽ là môi chạm môi, và ở cái khoảng khắc ấy, không hiểu vì sao hắn lại chợt nghĩ tới bên bờ sống Hàn năm ấy. Mắt hắn hơi nhoè đi, khi gần cận vào đôi mắt có đôi hàng mi rất đen. Có thể hắn ghen và, yêu. Hắn đột ngột hỏi: “Anh ấy vẫn là anh bộ đội năm xưa?“

Em như tỉnh giấc. Ngửa mặt lên, không đẩy hắn ra, mở to mắt:
-Anh bộ đội nào?
-Anh bộ đội ở Campuchia hay sốt rét và đau dạ dầy em kể với anh bên sông Hàn ấy?
Cô gái hiếng mắt sang bên rất nhanh ngạc nhiên và vài gây sau chợt nhớ ra chuyện xưa, tủm tỉm cười. Em nhìn vào mắt hắn. Mắt dịu dàng:
-Trời ơi! Anh vẫn thật ngốc nghếch. Làm gì có anh bộ đội nào. ….
***
Hắn choáng váng. Tự buông em ra.
Thì ra ngày ấy cô chưa hề yêu ai. Thì ra cái anh bộ đội Campuchia ấy sót rét và đau dạ dầy là hình ảnh của hắn mà hắn ấu trì không nhận ra. Hắn là kẻ nhỡ tầu vì quen một nếp nghĩ của thời chiến tranh trận mạc. Trời ơi! Gần ba mươi năm trôi qua…mang tiếng trải đời tới thế mà hắn không hề biết ngõ ngách của tình yêu. Con người như hắn rõ ràng là ngớ ngẩn, khờ khạo.
Tự đâu, tràn ngập nỗi buồn mà không thể kìm lại, dù cô đang trước mắt hắn. Cô, một con người cụ thể bằng da thịt. Bao nhiêu năm gặp lại, trải qua bao biến động, tới cái tuổi hai bên không còn son trẻ nữa, hắn mới chợt nhận ra, đây chính là người đàn bà đẹp, theo đúng quan niệm của hắn, cái đẹp chính là cái làm hắn xúc động. Nhưng hắn là kẻ chuyên nhỡ chuyến, đã để truột mất những giây khắc mà nếu hắn tinh tế và có vốn sống để nhận ra, hắn có thể định nghĩa đầy đủ rằng, tình yêu là cái gì và nó như thế nào…

Hôm sau, tiễn cô quay về Đà Nẵng. Khi tầu vừa chuyển bánh. Hắn thấy nhạc ngắn reo báo có tin. Bật. Có dòng chữ đen vẻn vẹn:

Em thương anh!

Nước Đức-2008
Logged
trachvandung
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 747



« Trả lời #7 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2008, 01:39:23 pm »

Tôi với ông có họ mà !
   
Người viết: Nghiêm Lương Thành   
19/03/2008
Truyện ngắn của Nghiêm Lương Thành

 Phúc Cụt. Bạn bè vẫn gọi hắn như vậy.
 Cái tên, đơn giản, được được đặt ra để phân biệt người này với người kia, tiện cho việc giao tiếp và thông tin trong quan hệ cộng đồng. Cái tên của một người, nhiều khi, cũng phản ảnh một hy vọng tốt đẹp nào đó mà những bậc cha mẹ muốn gửi gắm vào đứa con của mình.
 Trong cái tên Phúc Cụt: Phúc là tên cúng cơm, là một trong những chữ có ý nghĩa tốt đẹp nhất mà người phương Đông đã từng nghĩ ra; Cụt là biệt hiệu mà bạn bè, đồng đội đặt cho hắn. Cụt, đối với Phúc, nghĩa là chẳng còn cái chân nào. Thoạt nghe, thấy cách gọi ấy ác quá, thậm chí là độc ác. Nhưng thế đấy. Ngẩng mặt lên cành mít, cái ta nom thấy là quả chứ không phải là múi.

*

Chiến tranh đã kéo Phúc vào vòng xoắy khốc liệt và vô tình của nó khi hắn đang học năm thứ ba bậc đại học. Và, cũng chính chiến tranh, đã dửng dưng lấy mất của hắn đôi chân; một đôi chân bình thường như muôn vàn những đôi chân khác; nghĩa là chúng có thể giúp hắn đem lại hạnh phúc cho những người thân yêu và chính mình, bình dị và tự nhiên như mỗi buổi sớm ta thức dậy giữa muôn vàn tiếng chim hót bên ngoài cửa sổ. Tuy vậy, sau khi chữa trị vết thương, với đôi chân gỗ có những chiếc nẹp sắt, Phúc quay trở lại học tiếp và, không cần phải cố gắng gì nhiều, hắn đã lấy được tấm bằng cử nhân như mong muốn. Khi nhận việc tại một sở của nhà nước, hắn đã tự hứa và hạ quyết tâm với chính mình là phải làm việc thật tốt, phải vẫn là người hữu dụng như bất cứ một người bình thường nào.
Thời gian ở chiến trường và sau đó là những năm chữa trị và học tập, xã hội đã có nhiều biến đổi; có nhiều cái không giống như những gì hắn đã từng biết, cũng có nhiều cái lạ lùng trái khoắy hắn không hề thấy trước đấy. Mặc, Phúc vẫn hăm hở lao vào công việc, cặm cụi học thêm ngoại ngữ, tranh thủ thời gian đọc thêm để nâng cao kiến thức chuyên môn và sống thật chan hoà, thành thực với các đồng nghiệp. Nhưng, thật oái oăm, mọi cố gắng suy nghĩ phát hiện, phân tích và đề xuất trong công việc hầu như đều không được đón nhận; khi thì từ phía các phòng chức năng, lúc thì từ phía đảng uỷ, lần khác lại từ phía ban giám đốc. Tuy không nói thẳng ra, nhưng khá nhiều những cặp mắt - những cái cửa sổ tâm hồn - cho thấy họ đã, không hẹn mà gặp, không bàn bạc mà đã khá nhất trí với nhau rằng tất cả những cố gắng, nỗ lực của Phúc đều bắt nguồn từ một động cơ không trong sáng. Một lần, một đồng nghiệp vui tính vỗ vai hắn, bảo: “Này anh bạn, cống-hiến ư ? Mỏi lắm ! Phải tách từ đó ra làm đôi và chọn lấy một chữ hợp với giới tính thì mới có cơ khá được”.
Trong một thời gian dài, cảm thấy bị xúc phạm, lại thấy nhân tình ngày càng thiếu ngay ngắn; người người nói dối như cuội, ngành ngành nói dối như ranh; cộng với cuộc sống mà đồng lương không đủ ăn của những năm tám mươi đã đẩy hắn đến bước phải lắc đầu cay đắng, làm đơn xin thôi việc. Bà giám đốc xinh đẹp có đôi mắt ướt và cặp má nóng hầm hập ấy, tay cầm tờ đơn của Phúc, miệng thỏn thẻn:
- Đồng chí nà người có đào tạo, nà thương binh ở chiến trường ra, tôi yêu cầu đồng chí nên cân nhắc kỹ về việc lày.
- Đồng chí … ?
Hắn trố mắt, phô ra một cái cười ngô nghê của kẻ thiểu trí, không nói gì và uể oải xoay người đi ra. Được mấy bước, không hiểu thế nào, hắn dừng chân, quay lại, thủng thẳng và bình thản:
- Còn điều này, nói để chị yên tâm: Tôi chưa bao giờ là đồng chí của những người như chị ! Và, nếu đời tôi có một cái gì đấy, rất nhỏ mọn, nhưng có thể tạm coi là đáng tự hào, thì chính là điều đó.
Sau việc này, trong lúc trà dư tửu hậu, trong sở có người nói: “Ôi dào ! Tính tình thế nào thì số phận bày ra thế ấy ! Ngẫm mà xem, cái tên thường cứ ngược lại với cuộc đời thực của con người ta. Chẳng trách, các cụ trước thường tìm những chữ không hay đặt tên cho con cháu của mình. Ngày xưa, kẻ vô phúc là kẻ không có gang có thép trong mồm; ngày nay được hiểu là kẻ không tiến bộ. Hai chữ tiến bộ này, dĩ nhiên, không hề chứa đựng chút nghĩa lý triết học nào, nhưng bây giờ nghe nó cứ … tùng tục thế nào ấy !”. Nhưng những người bà con cư trú ở cùng xóm với Phúc lại không cho là như vậy.

*

Một người không còn cái chân nào thì cũng kể như là phế nhân. Phế nhân thì tất sống theo cuộc đời của phế nhân và, đương nhiên, đấy không phải là nơi để các cô gái chín chắn có thể gửi gắm cả cái cuộc đời quý giá và dài dằng dặc của mình vào đó. Ấy là cái lý của đời sống. Nhưng trong muôn vàn những cái lý, vẫn có một cái lý nữa là Nồi nào vung ấy. Vậy thì tất phải có một cô gái đã phải lòng hắn. Cô gái đó chính là người bán sách ở hiệu sách Nhân Dân của thị xã. Nhưng tại sao lại phải lòng thì, chính Liên (tên của cô gái) cũng không biết được. Đơn giản, chẳng hiểu sao, cô chỉ muốn được gần gũi hắn, về ở hẳn với hắn, chăm sóc hắn, chăm sóc cả cây ghi ta cũ kỹ đã sờn nước véc ni của hắn; chăm sóc luôn cái tủ sách có những cuốn đã nhầu nhĩ, vàng ố mà hắn đã mua ở cửa hàng nơi cô bán và kỳ cục tích cóp giữ gìn trong nhiều năm cùng với những vật dụng trong nhà có cho cũng không ai muốn lấy; và cuối cùng, chiều chiều được ngồi trên bãi cát, cùng nhìn ra vịnh, lắng nghe tiếng đàn của hắn trong lao xao sóng biển, trong mênh mông vời vợi của hoàng hôn dịu lành, thảnh thơi và yên ả.
Cuối cùng, cô gái đó đã được toại nguyện. Và, dưới cái mái căn nhà cấp bốn thấp tè, trông ra một mảnh vườn ấy, đã có thêm một quả tim vừa vẩn vơ, vừa thiếu ý chí vươn lên.
Để có thể sống, dù là trái tim vàng hay không vàng, đều cần phải có thực phẩm. Thực phẩm giúp cho sự sống của hai quả tim to và, đến lượt chúng, nuôi dưỡng và phát triển những quả tim bé bỏng - thế hệ tiếp theo - của chúng. Nghe theo lời khuyên của một người bạn bên Hòn Gai và với sự hỗ trợ đắc lực của anh cùng những người bạn đã đặt cho hắn cái tên Phúc Cụt, vợ chồng hắn đã chính thức nhập nghệ trồng hoa. Người ta bảo hoa là tinh tuý của thảo mộc, là hồn vía của tự nhiên; chẳng biết có đúng không, nhưng, cái tạng hắn xem ra hợp với giống này. Cứ xem cái cung cách của hắn: trên đôi chân gỗ, suốt ngày lọc cọc di chuyển ngoài vườn, mê mải vun sới, tưới tắm, chăm bẵm, nâng niu từng nụ hoa thì thấy. Các tay chơi hoa, một khi đã trông thấy giàn phong lan của hắn, không ai không sinh lòng quyến luyến, chẳng người nào muốn về nữa.
Tuy không thể trở nên giàu có, nhưng cuộc sống của gia đình hắn cũng có thể nói là được đảm bảo và ổn định. Hai quả tim bé bỏng ngày trước nay đã trở thành hai quả tim nhỡ và, bằng cái lối thi cử nghênh ngang đáng ghét (Đúng là bố nào con ấy), chúng đều đã vào được đại học. Riêng thằng em, chơi ghi ta còn tuyệt hơn cả bố, vừa tốt nghiệp đại học và được giữ lại làm giảng viên của trường.
Hai con đều ở xa, nhà chỉ còn lại hai kẻ “son rỗi”. Ngày ngày, Phúc đảm nhiệm phần vườn tược, cây trồng. Còn Liên, chở hoa ra chợ, thực hiện khâu cuối cùng của quá trình sản xuất.

*

Liên là người mau miệng. Chiều nào ở chợ về cô cũng kể cho hắn nghe một chuyện nào đó. Hắn thường lắng nghe và thỉnh thoảng lại mỉm cười. Hắn nghe cốt để Liên vui, cũng để biết thêm được cái xã hội ngoài kia nó đang chuyển động thế nào. Một buổi chiều, vừa về đến nhà, Liên đã thông báo:
- Mình này, chúng mình vất vả đã đành, nhưng cũng còn có chỗ chui ra chui vào, còn có mảnh vườn mà bới lấy cái ăn; thế mà vẫn còn có những người ... đúng là vô sản. Sao lại khổ đến thế cơ chứ, khổ quá chừng cơ !
- Khổ thế nào ?
- Chân đi khập khiễng, người ngợm hom hem, áo quần tiều tuỵ, lang thang kiếm sống, không vợ không con, không nhà không cửa …
- Chuyện đó có gì mới !
- Nhưng mà ở tít tận những miền nam lang bạt ra đây cơ ...
- Sao mình biết ?
- Em nghe giọng nói mà.
- Người đó làm nghề gì ?
- Em không biết … chỉ thấy ai thuê gì, làm nấy. Lúc có người thuê đã đành, lúc không có việc … chắc là đói lắm. Tối ngủ trong lều chợ, trên mình có độc manh áo cũ, trời thì rét căm căm thế này …
Phúc khẽ thở dài, ngoảnh nhìn ra vườn. Lúc sau bảo vợ:
- Ngày mai mình lấy cái chăn chiên, cái áo khoác với mấy bộ quần áo cũ của tôi, đem đỡ cho người ta. Nhớ đem thêm cả đồ ăn nữa …
Liên bật cười. Hắn cau mặt:
- Mình cười cái gì ?
- Lắm lúc trông mình cũng hổ phù hổ pháp ra phết, em cũng thấy sợ sợ là. Thế mà … không ngờ mình cũng dễ … cảm động nhỉ !
Phúc trợn mắt, vớ lấy cái chổi phất trần, dướn thẳng lưng, đập đánh đét xuống mặt bàn, lập nghiêm:
- Cảm cảm cái gì ? Có đi nấu cơm không thì bảo !
Liên, miệng vẫn cười, né mình và bước vội xuống bếp. Lát sau, lẫn với tiếng bát đĩa xoong nồi va vào nhau, Phúc nghe bập bõm tiếng vợ khe khẽ hát: Tôi vui chơi giữa đời ối a biết đâu nguồn cội …; giọng hát không đẹp nhưng các bạn hắn vẫn khen là có tình.

*

Những kẻ lang thang cơ nhỡ, những hạt bụi dân sinh lớn bé, đủ màu, đủ vẻ, phiêu bạt trong giang hồ, đời nào mà chẳng có; chuyện này vẫn thế và Phúc đâu có lạ. Điều khiến hắn băn khoăn là không hiểu vì đâu, họ luôn như một thứ người thiên cổ, luôn hiện hữu sống động giữa cuộc đời nhưng cũng luôn, dứt khoát, được quy là tàn tích của chế độ cũ. Cái anh chàng người phương nam sống vất vưởng ngoài chợ ấy, Phúc đâu có biết mồm ngang mũi dọc thế nào; vậy mà hình ảnh một người đàn ông hom hem, tiều tuỵ, buồn thảm, chân đi khập khễnh cứ vương vất, ám ảnh hắn mãi từ cái buổi chiều hôm ấy. Nhận thấy điều ấy, có lúc hắn bật cười tự giễu: Hẳn đây là mối “tương liên” của những kẻ “đồng bệnh” ?
Độ này, trong những mẩu đối thoại buổi chiều với Liên, không giống trước đây, hắn luôn là người bắt đầu: “Này mình, cái anh chàng ngoài chợ hôm nay có việc làm không ?” hoặc: “Những người ngoài chợ họ đối xử với anh chàng ấy thế nào ?” hay: “Đêm qua chắc hắn rét lắm nhỉ ?” …
Một lần, thấy Liên ngồi tước chuối xanh ở đầu hè, hắn hỏi:
- Chiều nay nhà mình ăn món ốc nấu om hả mình ?
- Vâng, mình không thích à ?
 - Thích, nhưng … nấu kha khá vào; ngày mai mang ra cho cậu chàng một ít. Chậc, vô gia cư thì có bao giờ được ăn miếng ngon.
 Liên dừng tay, nhìn chồng:
 - Này mình, hôm nay em hỏi quê quán ở đâu, anh ta ngần ngừ một lúc rồi bảo: Sài Gòn. Dân Sài Gòn sao lại ra nông nỗi thế cơ chứ ! Nhìn anh ta ngơ ngác trông theo những cành đào trên tay những người đi sắm tết, em đoán chắc anh ta buồn và nhớ nhà lắm, nhưng chắc không có tiền về. Tiện có tiền bán hàng, cộng với một ít có sẵn trong người, em đưa cả cho anh ta, bảo tết nhất đến nơi rồi, anh cầm lấy mà về quê.
 - Ôi ! – Phúc nhìn Liên, đôi mắt mở to, thán phục rồi cứ thế ôm chầm lấy vợ mà hét lên – Vợ tôi muôn năm !
 - Nhẹ thôi – Liên khẽ nhắc – gớm, làm em nghẹt cả thở. Nhưng anh ta đâu có chịu nhận. Anh ta nhìn em chăm chăm, lắc đầu, chắp tay cảm ơn rồi vội bỏ đi; hai con mắt nom thảm lắm. Mà xem cái cách cảm ơn, em cảm thấy anh ta là người đã từng được giáo dục cẩn thận. Lạ thật đấy, không thể hiểu được !
Mấy hôm sau, Phúc có việc sang Hòn Gai, vừa thăm bạn vừa muốn thỉnh giáo người ấy về kỹ thuật trồng một loài hoa mới nhập nội. Tối mịt hắn mới về đến nhà.
Cửa nhà mở toang; ánh đèn hắt ra ngoài làm thành một vệt sáng đến tận cuối vườn, nhìn rõ cả những bông hoa trắng muốt đang khẽ xao nhẹ trong thoang thoảng mặn chát của hơi gió biển. Mới được gặp bạn, trong tâm trạng phấn khích vui vẻ, vừa vào đến sân hắn đã gọi: “Mình ơi, anh về rồi !”.
Không thấy Liên chạy ra như mọi lần. Bước vào nhà, hắn thấy có người đang nằm trên chiếc giường kê ở góc buồng ngoài; chiếc giường này vẫn dùng cho bạn bè ở xa đến chơi. Hắn mừng rỡ, tiến lại gần giường, toan lật chăn, nhưng … không phải là một người bạn như hắn nghĩ; đó là một người đàn ông lạ hoắc với khuôn mặt hốc hác, nước da xạm  tái của người bị sốt rét rừng và đôi chỗ bị bầm dập, xước sát do va vập hoặc một tai nạn gì đó. Người ấy đang thiêm thiếp, đầu hơi nghiêng ra phía ngoài. Nhìn kỹ … khuôn mặt hơi vuông, cặp lông mày rậm như hai con tằm nằm vắt ngang trán, vuông góc với cái sống mũi thẳng, thanh tú … Lập tức, trong vô thức, có cái gì đấy, mơ hồ, rất lạ đang kéo về khiến Phúc lặng người. Cái đó, không gọi ra được, đang rần rần lan toả trong người hắn, vừa hư vừa thực, vừa gần vừa xa … quả đạn cối, tảng đá … cái nòng súng đen ngòm …
Logged
trachvandung
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 747



« Trả lời #8 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2008, 01:41:08 pm »

Không có nhẽ ... là người ấy ? Cặp lông mày chữ nhất ấy, cái sống mũi thẳng thanh tú ấy. Phát đạn oan nghiệt … anh ta gục xuống … bên một gốc cây trơ cành trụi lá … ngoái lại, cái nhìn oán hận … đã chết rồi mà ! Hồi ức từ ba mươi năm trước thức dậy, ùa về, bùng lên trong tâm khảm hắn như một thứ hoà khí trong buồng nén gặp tia lửa điện, mọi cái hiển hiện rõ ràng như có thể đưa tay ra là sờ thấy được …
Trận đánh trên điểm 613 ấy đã diễn ra thật tàn khốc. Cả hai bên đều thiệt hại nặng. Phúc lồm cồm bò dậy, nhưng không sao gượng được, lại đổ xuống, cặp đùi nhũn nhẽo và đau buốt kinh khủng; cái buốt ấy như một luồng điện, truyền và xoắy đến tận óc. Hắn đưa tay lần xuống chỗ đau, chạm phải cái gì nhơn nhớt, lành lạnh. Đưa lên xem, thấy bàn tay nhầy nhụa máu tươi … Trông xuống sườn đồi, qua làn khói đạn cối vẫn chưa tan hẳn, đó đây ngổn ngang thây xác; những cái xác mặc đồ rằn ri và những cái xác mặc đồ xanh lá cây nằm ngồi đủ kiểu. Một cái bi đông rách toác, thớ nhôm bị xé, hắt ra cái ánh kim trắng nhợt đến quái gở. Một khẩu AR15 ngoẹo nòng, nằm gếch lên một hòn đá. Một mảng thịt đỏ thẫm như thịt trâu, còn dính một mẩu vải, đè vắt lên một nhành mua vàng úa. Ngay bên hắn, trên mặt đất héo rụi nồng nặc mùi thuốc súng, nằm chếch một tấm ảnh thiếu nữ chụp nghiêng đang mỉm cười e thẹn. Cô là ai ? Người Sài Gòn, Quảng Đà … ? hay Hà Nội, Thái Bình … ? Chắc giờ này cô đang tựa cửa ngóng trông một người anh hoặc một anh chàng điển trai nào đó. Rất có thể anh ta đang nằm đâu đó, trên cái sườn đồi nhầy khét này. Có cánh tay ai đó giơ lên phía sau bụi cây, rồi sau tiếng gọi chới với “Mẹ ơi !”, cánh tay đó đổ vật xuống … Phúc gắng lết người, dựa lưng vào một tảng đá độc loang lổ địa y và cảm thấy trời đất bỗng nhiên đổi sang một màu tía sẫm và độ sẫm ấy cứ tăng dần, tăng dần đến đen kịt; hắn lịm đi. Không biết khoảng thời gian ấy là bao lâu, chỉ biết lúc thần kinh đã làm việc trở lại thì hắn nghe có tiếng chân người lạo xạo trên mặt đất. Cứu thương đến rồi ! Được cứu rồi ! Phúc thầm reo lên và cố mở mắt, nhưng … trước mặt hắn là một thằng sỹ quan trẻ măng để ria con kiến, mặc bộ quân trang loang lổ những mảng nâu và xanh. Nhận ra Phúc còn sống, thằng đó, nhanh như cắt, quay phắt cái nòng súng ngắn về phía Phúc. Gần như đồng thời, Phúc cũng đưa nòng khẩu AK về phía nó. Bốn mắt nhìn nhau chằm chặp; hai ngón tay trỏ đều đã kéo hết nấc thứ nhất; cả hai đều như bị đông cứng lại; cả hai đều nhận ra mình đang đứng ở làn ranh giữa cái sống và cái chết và chưa biết mình sẽ thoát khỏi cái tình cảnh oái oăm ây như thế nào. Khoảnh khắc định mệnh ấy đã diễn ra thật lạ: Thằng râu con kiến từ từ hạ súng xuống và liệng khẩu súng sang bên, nói như thì thào:
- Bắn tao đi ! Trước sau gì rồi cũng chết. Tao ngán lắm rồi !…
Phúc, đầu óc trống rỗng, cũng hạ nòng súng của mình xuống … Thằng đó ngớ mặt, đứng đực ra hồi lâu. Dường như, có điều gì đó, thậm vô lý và không sao hiểu được, đang diễn ra trong cái đầu rối bù vương dính mấy mảnh lá khô và những hạt đất đỏ của hắn. Lúc sau, khẽ giơ bàn tay, một cử chỉ như chào, hắn quay người, thất thểu bước về phía chân đồi. Phúc thở phào. Nhưng, đột nhiên, thằng đó quay lại. Phúc lại giương nòng súng lên.
- Mèn đét ơi ! Mày sợ cả cái thằng đã hạ súng trước và bây giờ không có lấy một tấc sắt trong tay sao ?
Phúc phì cười, hạ súng xuống.
- Ờ - Thằng “ria con kiến” mỉm cười, cái đầu gật gật - Chơi vậy mới ngon chớ !
- Mày quay lại làm gì ?
- Mày bị thương nặng rồi. Tao thấy máu chảy ướt sũng cả hai cái ống quần kia.
Dứt lời, thằng đó cởi phăng cái áo ngoài, cởi tiếp cái áo lót, xé chiếc áo lót đó ra thành nhiều dải nhỏ rồi, mình trần trùng trục, cầm mớ vải đó tiến lại bên Phúc.
- Đứng im. Lại gần tao bắn ! – Phúc quát, tay lăm lăm khẩu súng.
“Ria con kiến” dừng lại, đắn đo rồi bảo:
- Tao muốn cầm máu cho mày. Mày đề phòng vậy cũng có lý. Thôi, để đôi bên thoải mái, tao đề nghị: Trong khi tao cầm máu cho mày, mày cứ việc gí nòng súng vào mạng sườn tao. OK ?
Phúc, mất quá nhiều máu, đau đến lả người, không thể không đề phòng một thằng trước đấy nửa giờ đã xả đạn vào đồng đội của m ình từ bên kia chiến tuyến.
“Ria con kiến” ngồi thụp xuống, đưa tay sờ mó, nắp bóp tìm vị trí đặt ga rô. Đoạn, hắn lượm một mảnh đạn pháo lam nham như lưỡi dao mẻ nằm gần đó, cứa cứa vào quần của Phúc, xé cụt phăng cả hai ống và bắt đầu băng bó. Máu đã cầm, băng bó đã xong. Thằng đó ngồi phệt xuống đất, đối diện với Phúc, mặt mũi bơ phờ:
- Tao hỏi thiệt nè, trả lời cho lương thiện nghen: Nếu đổi mày làm tao, mày có quay trở lại không ?
Phúc cảm thấy lúng túng. Đang chưa biết thoát ra khỏi cái mớ đang bùng nhùng trong đầu bằng cách nào thì thằng đó phá lên cười:
- Mày đúng là một thằng lương thiện thứ thiệt đó !
- Tao đã trả lời đâu ?
- Khỏi ! Coi cái bộ lúng túng của mày, tao chắc mày là thằng ngon lành, nhưng …, cha nội ơi, nói thế nào nhỉ - hắn đưa tay lên đầu, nhăn mặt gãi gãi - trong cái đầu của mày vẫn còn  mắc mớ ba cái thứ hệ luỵ nhăng nhít nào đó.
Phúc nhăn mặt, dồn lại:
- Hệ luỵ gì ? … Mày đã thoát được khỏi cái vòng đó rồi sao ?
Môi mím chặt, “ria con kiến” cúi xuống, rầu rĩ. Lát sau, ngẩng lên nhìn Phúc, lắc đầu:
- Không … không đâu ! Cái đó đâu có dễ ... ngay cả khi đã xuống tóc vào chùa rồi,  cũng hiếm người thoát được.
Im lặng.
- Mà cái con người ta kể ra cũng nhảm nhí thật - Đột nhiên, chẳng hiểu thế nào, “ria con kiến” hăng lên như kẻ nhập đồng, vào mạch - tự mình bày đặt, tự tác ra hông biết bao nhiêu thứ, rồi lại tự mình nhốt chặt cái thằng mình vào trong đó. Có những thứ sằng bậy như phù thuỷ ma vương, cũng có những thứ cao cả bác ái như tôn giáo; nhưng rồi chính sự tối tăm ngu muội đã dựa trên những cái cao cả đó, tạo ra những cuộc thánh chiến, lấy đi, chẳng chút thương tiếc, không biết bao nhiêu những sinh mạng của những thằng ngon lành như mày và tao. Có lẽ … cái ngu dại nhất của người đời là choảng nhau. Má ơi ! Đúng ra, tao với mày phải gặp nhau bên bàn nhậu chớ ! Rồi, biết đâu, mày lại phải kêu tao là anh nhạc nữa cũng nên ! Mà nè, tửu lượng của mày có khá hông ?
Hai cái đùi bị dập nát của Phúc đang tấy lên rần rần, đỉnh đầu buốt tái, cặp môi khô khát. Phúc gắng cười, lắc đầu:
- Tao không biết uống rượu. Nhưng bây giờ, thú thật, tao đang khát nước lắm.
Nhìn đôi môi nhợt nhạt, héo quắt của Phúc, “Ria con kiến” đứng dậy, nhặt cái bi đông rách toác lên, bảo:
- Rồi ! Chờ chút, tao đi kiếm thử. Nhưng bị thương mà uống nhiều thì coi chừng thấy cụ nội năm đời đó nghe.
Trời đã về cuối chiều. Mấy con chim ăn đêm đã bắt đầu rời tổ, đập cánh lạch phạch, bay qua khu chiến địa vẫn còn sặc mùi tử thần. Đầu nóng hầm hập, hai hàm răng đã bắt đầu gõ vào nhau cầm cập, Phúc vẫn ngồi dựa lưng vào tảng đá, mắt dõi theo cái lưng trẻ trung của thằng “ria con kiến” kia mà lòng vẫn chưa hết băn khoăn, xao động.
“Ria con kiến” thận trọng dò dẫm, tìm đường xuống chân đồi, nơi có con suối nhỏ đã gần như cạn mặc dù lúc ấy mới chỉ đầu mùa khô. Đi qua một cây xăng lẻ trụi lá nữa là hắn đến bờ suối. Đúng lúc đó, đột nhiên, hai phát AK chắc đanh từ một góc nào đó dội lên và, trời ơi … “Ria con kiến” bỗng xững lại, người hơi dướn lên, dáng chừng đang gắng xoay người về phía Phúc. Phúc thấy “Ria con kiến” nhìn mình, một cánh tay giơ lên … rồi ngã nhào xuống đất, tay vẫn nắm khư khư cái bi đông rách toác. Toàn bộ cảnh đó đã diễn ra trước mặt Phúc. Cùng lúc ấy, rất nhanh, Phúc thấy mặt mày xây xẩm, đầu óc quay đảo và không biết gì nữa.

*

   Người đàn ông khẽ cựa mình, mở mắt. Bốn mắt gặp nhau. Người ấy lộ vẻ bồn chồn, thảng thốt làm một động tác như muốn ngồi dậy. Phúc vội đưa tay ra đỡ và nhẹ nhàng đặt anh ta nằm lại gường. Có lẽ đúng ! Trong cái khoảnh khắc giữa cái sống cái chết khi đó, đôi mắt đen này, đôi mày này, cái sống mũi này, đã khắc đậm vào tâm trí hắn.
- Ông tha lỗi, tôi bị chúng nó đánh té xỉu, chị Liên và mấy người đưa tôi về đây.
- Làm sao chúng nó đánh ông ?
- Chúng rạch túi của người đi chợ. Tôi cản. Chúng không lấy được gì, tức giận, hè nhau quây vào đánh tôi.
- Bây giờ ông thấy trong người thế nào ?
- Dạ, tốt. Chỉ còn ê ẩm chút xíu à.
- Thế thì được. Mà … ông là người Sài Gòn ? - Phúc hấp tấp hỏi.
- Dạ, phải. Sao ông biết ?
- Thời gian gần đây, bà xã tôi hay nói chuyện về ông mỗi khi ở chợ về. Còn điều này, hy vọng là tôi không nhầm: Ông là một sỹ quan quân đội Sài Gòn, đã đánh nhau với chúng tôi trên điểm 631 thuộc địa phận Kon Tum ?
- Dạ, phải. Trận giáp lá cà đó đại đội tôi chỉ huy coi như bị xoá sổ. Tôi cũng nhận ngay ra ông từ hồi nãy, lúc ông đứng bên giường.
- Tôi cũng vậy. Nhân tiện nói luôn: Tôi tên là Phúc, Phạm Phúc, biệt hiệu là Phúc cụt.
- Cảm ơn, tôi tên Thiện, Nguyễn Duy Thiện, biệt hiệu là Thiện cà nhắc.
- Vậy mà tôi cứ ngỡ ông đã chết bên gốc cây xăng rồi. Sau hai phát súng, tôi đã thấy tất cả. Hình như ông vẫn oán tôi ?
- Dạ, đâu có ! Tôi biết hai tiếng nổ đó phát ra từ hướng nào chớ ! Có điều, tôi bị dính một phát vào chân và không còn cách nào khác, buộc phải vờ chết. Cái người đã bắn tôi, sau đó đã tìm thấy ông và cõng đi.
- Cảm ơn, không có ông cầm máu cho thì tôi cũng đứt rồi.
- Khỏi cần nhắc lại. Chúng ta đã hiểu nhau trước khi tôi đi kiếm nước cho ông rồi mà. Ông không nhớ ông đã lúng túng thế nào khi tôi hỏi sao ?
- Nhớ, nhớ …Ấn tượng lắm, quên sao được.
Vừa lúc ấy, Liên bước vào nhà, một tay xách con cá thu, tay kia là nắm lá láng mới hái. Thoáng nhận ra thái độ thân thiết giữa hai người đàn ông, cô đùa:
- Này, hai người biết nhau từ trước rồi à ?
Phúc quay lại, miệng cười rộng ngoác:
- Phải, đây chính là anh chàng sỹ quan Việt Nam Cộng Hoà trên điểm 631 tôi đã kể cho mình nghe từ hồi chúng mình còn chưa cưới đấy.
- Trời ! – Liên ngẩn ra, kinh ngạc - Cuộc đời đến là hay. Trời xui đất khiến đấy. Em sẽ làm món gì đấy để hai cố nhân uống với nhau một chút chứ nhỉ ?
Dứt lời, Liên quầy quà bước ra. Phúc ngăn lại và đem hai chiếc ghế nhựa lại bên giường:
- Mình ngồi xuống đây với anh em tôi. Lát nữa cũng được.
Rồi anh quay sang phía Thiện:
- Còn điều này, tôi hỏi, nhưng ông không trả lời cũng được: Làm sao mà ông ra nông nỗi này ?
Thiện nhìn Phúc hồi lâu, rồi chậm rãi:
- Sau trận đó, tôi được người ta đưa về chữa trị và được đánh giá là mất khả năng chiến đấu. Tôi trở vô Sài Gòn với cái chân đi cà nhắc. Rồi hoà bình vãn hồi, người ta đưa tôi đi học tập cải tạo một thời gian. Tuy vậy, mấy năm sau tôi cũng lấy được vợ. Vợ tôi sinh con cho tôi được hai lần, nhưng chẳng đậu được đứa nào. Có thể tôi cũng đã bị nhiễm cái chất dioxin oan nghiệt ấy. Đường con cái thì như vầy. Thêm nữa, điều này quá nặng nề với vợ chồng tôi, đi đâu cũng thấy người ta xầm xì: Thẳng trước là sỹ quan Nguỵ quyền đó ! Vợ tôi bả cũng bị cực lây, vợ Nguỵ mà. Thú thực, chân cẳng tôi như vầy, lại thêm cái nhãn mác cắc cớ đó trên người, nên hổng có xin được việc ở đâu; nói cho đúng: chỗ phù hợp với sức lực thì người ta không nhận, chỗ thông cảm nhận cho thì sức mình không kham nổi. Ở nhà cũng hổng làm được gì nhiều. Bả còn trẻ, nhỏ hơn tôi cả chục tuổi, đẹp người, tên là Sứ mà tánh nết cũng thiệt hiền như bông sứ vậy thôi.
- Còn họ hàng thân thích ?
Thiện thở dài, lắc đầu:
- Họ cũng vậy thôi, ở bầu mà. Còn vợ tôi, ngày ngày lụi cụi với gánh hủ tíu, kiếm ăn, thuốc thang cho chồng … Thương bả quá, chịu không nổi, tôi biểu ly dị để giải phóng cho bả, nhưng bả hổng có chịu, cứ khóc hoài à. Nói nhẹ hổng được, nói khùng cũng hổng nghe, tôi để lại đơn ly dị và lời nhắn rằng tôi không muốn sống nữa, đừng tìm mất công, rồi trốn bả, lang thang ra Bắc … không ngờ lại còn cuộc tái ngộ hôm nay.

*

Sớm hôm sau, khi trời hãy còn chưa sáng hẳn, Phúc lôi Thiện dậy, bảo:
- Vợ chồng tôi đã quyết rồi, dứt khoát là mời ông ở lại hẳn đây. Các con tôi chúng sẽ rất mừng. Tôi còn mảnh vườn này, chúng ta sẽ sống ngon lành. Rồi tôi gọi đám bạn lính tới. Họ sẽ xây cho ông một căn nhà nhỏ - Phúc trỏ tay về mé vườn đối diện - ở chỗ kia. Sau tết, tôi sẽ vào Sài Gòn; nếu bà ấy vẫn còn đợi ông, tôi đón luôn ra.
Thiện ngẩn mặt. Lát sau mới nói được:
- Sao ông lại tốt với tôi đến vậy ?
- Đừng nói thế … tôi không chịu nổi.
- Thôi, ông để tôi đi.
Thiện lảo đảo, đứng dậy. Phúc đặt tay lên đôi vai gầy guộc của Thiện, nghiêm mặt:
- Một cách lương thiện, trả lời tôi đi: Vua Hùng là gì với ông ?
Thiện há hốc mồm …
- Là gì nào ? – Phúc gặng.
- Cụ Tổ … chớ sao ?!
Phúc cả cười:
- Đấy, tôi với ông có họ mà !

Tháng 12 năm 2007
Logged
trachvandung
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 747



« Trả lời #9 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2008, 02:16:09 pm »

Chuyện tình ngày ấy


truyện ngắn của Trần Nhương

 

1
      Đêm. Mùa đông. Con đường vắng hoe vào lúc 3 giờ sáng. Một chiếc xe ô tô tải lầm lũi đi. Hình như nó đã vượt một cung đường rất dài. Xe phủ bạt. Người lái xe rất trẻ, đôi mắt thâm quầng vì mất ngủ. Anh đã về gần Hà Nội. Anh đang vui vì sau mấy năm vào chiến trường bây giờ được gặp thành phố nơi anh sinh ra.
      Xe qua Ngọc Hồi rồi vào thị trấn Văn Điển. Phố nghèo lại chiến tranh nên trông tiều tụy, xộc xệch như một phố đồng rừng. Người lái xe cho xe chạy chậm để có dịp quan sát dễ hơn. Bỗng phía trước có một bóng người chạy vụt từ phía đường rẽ vào nghĩa trang Văn Điển qua đường tàu sang bên phải đường. Hình như là một cô gái. Đang chiến tranh lại mùa đông sao cô mặc đồ trắng như một nữ sinh Hà Nội ngày xưa. Cô vẫy, có ý xin đi nhờ xe. Chàng lái xe đạp phanh. Chà chà về đến thành phố rồi mà được gặp một cô gái thì thật tuyệt. Mấy năm ở chiến trường anh khao khát nhìn thấy một dáng hồng Hà Nội.
      - Em về đâu?
      - Cho em về Hà Nội.
      - Lên xe đi – Anh lái xe ngả người sang bên phải mở cánh cửa.
      Cô gái nhẹ nhàng bước lên, một bàn tay giơ cao có ý nhờ anh lái xe kéo hộ. Bàn tay họ trong nhau. Người lái xe như có một luồng điện chạy rân rân trong người. Cái cảm giác mà từ khi lớn lên anh chưa hề gặp. Nó như bị đoản mạch, nó như nam châm hút kim loại. Người nóng ran hưng phấn đến tột độ.
      Xe chạy chậm. Cô gái thẹn thùng nhìn người lái xe. Thi thoảng ánh mắt họ gặp nhau. Rồi cô gái rét run lên. Anh lái xe ép xe vào vệ đường. Anh cởi áo trấn thủ của mình đưa cho cô gái.
      - Sao mùa đông mà em ăn mặc thế?
      - Em đi vội quá không kịp lấy áo rét.
      Hai người trẻ tuổi phút chốc trở nên thân mật. Chàng lái xe trong tâm trạng ngây ngất. Một mùi hương thơm kỳ lạ, vừa nồng nã vừa thanh khiết như vây lấy anh. Hình như anh chưa gặp cái mùi hương kỳ lạ ấy bao giờ.
      - Nhà em ở phố nào? À mà em tên gì nhỉ?
      - Em tên Trang, ở Khâm Thiên, còn anh?
      - Anh ở Yên Phụ gần hàng cây cơm nguội, em biết không?
      -  Bọn bạn hay lên bơi hồ Quảng Bá qua đấy luôn.
      - Mà em ở số mấy Khâm Thiên?
      - 300G
      - Sao lại 300G? Nhiều số 300 thế kia à?
      - Vâng, vốn là một cái nhà rồi chia ra nhiều gian mà anh.
      - Hôm nào anh xong việc đến thăm em được không?
      - Nhưng chỉ sợ lại vào ngày em đi học.
      - Em đang học phổ thông à?
      - Em trẻ con lắm hay sao. Em học năm thứ nhất đại học Y.
      - Bác sỹ kia đấy. Ở chiến trường khó kiếm được bác sỹ lắm. Em mà ở đơn vị anh thì thành bà hoàng.
      - Học xong em xin vào đơn vị anh...
      Con đường như ngắn hơn quãng đường nó có. Công viên Thống Nhất đã hiện ra. Chàng trai nuối tiếc càng cho xe chạy chậm lại.
      Đến ngã tư Nam Bộ (nay là đường Lê Duẩn) - Khâm Thiên, cô gái xin xuống.
      - Anh đưa em đến tận nhà cho đỡ đi bộ.
      - Cám ơn anh, em còn có việc phải đến nhà bạn.
      Nói rồi cô gái nhảy xuống xe biến vào đường phố. Lúc này trời đã sáng, Hà Nội tấp nập dòng người vội vã...

      2
      Một tuần trôi đi. Chàng lái xe đã nhận đủ hàng. Anh được nghỉ một ngày để ngày mai trở lại chiến trường. Như lời hẹn anh đạp xe xuống Khâm Thiên, tìm đến số nhà 300G.
      Hai ông bà già khoảng ngoài 60 tuổi ngỡ ngàng đón anh vào nhà:
      - Anh bộ đội hỏi ai nhỉ?
      Chàng lái xe lúng túng một chút:
      - Cháu hỏi em Trang ạ.
      Hai ông bà già sững người, lặng đi:
      - Trang nào hay cháu nhầm.
      - Không nhầm được, số nhà này mà, em Trang đang học đại học Y.
      Im lặng hồi lâu.  Bà già bỗng đi vào nhà trong. Ông già hỏi:
      - Anh quen Trang lâu chưa?
      - Mới tuần trước bác ạ. Trang đi nhờ xe cháu từ Văn Điển về...
      Ông già ngân ngấn nước mắt, gặng hỏi:
      - Không thể như thế được. Hay anh nhớ nhầm Trang nào.
      Chàng trai quả quyết:
      - Không thể nhầm được. Em rét quá cháu còn cởi áo trấn thủ cho em mặc kia mà..
      Giọng ông già nghèn nghẹn:
      - Trang nhà bác chết hai năm nay rồi. Bị bom B52 hồi nó đánh Khâm Thiên.
      Đến lượt chàng lái xe bối rối. Anh ngồi như chết lặng. Chả nhẽ hôm đó là ma hiện hình. Cô gái xinh đẹp, vui vẻ thế sao có thể là ma? Chàng lái xe không còn tin vào tai mình nữa, anh cũng không tin cả ông già đang ngồi trước mặt.
      - Hay là bác không muốn cho cháu gặp Trang. Chúng cháu vừa quen nhau, là bạn bè thôi mà bác.
      Ông già nhìn chàng trai vẻ ái ngại, thông cảm. Khi nghe chàng trai nói thế ông sợ anh lính này nghĩ xấu về gia đình. Ông dẫn chàng trai vào gian trong. Đến trước bàn thờ, trên đó có tấm ảnh một cô gái đang mỉm cười có miếng băng đen dán chéo.
      - Có phải Trang này không cháu?
      Anh lính suýt nữa thì đổ gục xuống. Đúng là em đây rồi. Trang hiện hình lên ư? Sao em lại nỡ trêu anh như thế. Biết rõ sự việc rồi chàng thắp ba nén hương lên bàn thờ Trang và òa khóc. Ông già cũng khóc. Bà già trong bếp cũng khóc.
      Trở ra bàn uống nước, chàng trai nói:
      - Hai bác cho cháu được đi thăm mộ Trang.
      - Để em ở Văn Điển. Thôi bác cho con em gái nó đưa anh đi.
      Tiếng khóc thảm thiết của bà già trong bếp vọng ra: “Con ơi, có điều gì con chưa nói với mẹ thì con cho mẹ biết đi. Con có thiếu thốn gì không? Con đừng trêu ghẹo người trần nữa nhé. Con có thương bố mẹ không con???”.

      3
      Cô em gái của Trang tên Nhã. Cô gái vừa 18 tuổi, đẹp không kém Trang nhưng vẻ đẹp chất phác hơn. Có thể lấy hình ảnh nàng Kiều, nàng Vân để liên hệ đến chị em Trang. Chàng lính trẻ đèo Nhã xuống Văn Điển. Cũng không biết vì sao tình cảm của anh đã coi nhà Trang như gia đình mình. Anh tự nhiên như một anh trai của Nhã. Khi qua chợ Văn Điển, chàng lính trẻ rẽ vào mua chín bông hồng trắng.
      Nghĩa trang Văn Điển với đường ngang lối dọc. Hàng ngàn ngôi mộ xếp hàng theo lô. Đất mới đất cũ xen nhau. Một không khí lành lạnh ớn người. Chàng lính đã từng dạn dĩ bom đạn mà bây giờ cũng thấy gai người. Lòng vòng qua nhiều ngã tư, Nhã hướng dẫn chàng lính đến khu mộ của Trang. Mùa khô, cỏ trên mộ áy đỏ, xác xơ. Mộ của Trang nằm lọt vào giữa dãy. Hai anh em dựng xe bên lối đi. Vừa bước đến, chàng lính chết lặng, đánh rơi bó hoa xuống đất. Nhã thấy vậy vội vàng cúi xuống nhặt hoa. Cô lại nắm tay anh lắc lắc có ý cho anh tỉnh lại.
      - Nhã ơi, em nhìn trên mộ kìa. Tấm áo trấn thủ của anh, hôm nọ Trang rét quá nên anh cởi cho Trang mặc.
      Nhã kêu lên một tiếng gì không rõ. Chàng lính đặt bó hoa trắng xuống, thắp hương và lầm rầm khấn vái... Rồi chàng cầm tấm áo trấn thủ nhìn lại xem có đúng tấm áo của mình không. Chàng ôm ghì lấy tấm áo. Áo vẫn còn hơi ấm. Hương thơm thanh khiết và nồng nàn tỏa ra vây cuốn lấy anh... Đúng là Trang hiện hình lên đi cùng anh một quãng đường rồi quay về mộ phần và để lại chiếc áo trên mộ. Sao em lại không mang đi? Hay là em trả lại anh? Và em đoan chắc thế nào anh cũng đến đây?.
      Chàng lính trẻ băn khoăn không biết có nên mang tấm áo này vào chiến trường hay không. Tấm áo đã ướp hương da thịt của nàng, ta mang theo kỷ vật này sẽ luôn luôn có nàng bên cạnh. Nhưng như thế ta lại nhận lại tấm áo để nàng chịu lạnh hay sao. Cuối cùng thì chàng quyết định hóa tấm áo gửi cho Trang. Nhã không biết nên khuyên anh lính thế nào. Cô đứng bên anh và bất ngờ nắm chặt bàn tay người lính trẻ. Hình như có thêm một sức mạnh nào đó, chàng lính bật lửa. Tấm áo trấn thủ ẩm sương đêm, lại đắp trên mộ không biết từ khi nào nên rất khó bắt lửa. Chàng lính đi vơ một số lá cây quanh đó nhóm lửa. Ngọn lửa lém dần tấm áo và trong phút chốc chiếc áo cháy đùng đùng. Chàng lính trẻ nhìn ngọn lửa và thật kỳ lạ ở nơi ấy khuôn mặt Trang rờ rỡ hiện lên. Nàng tươi cười nhìn chàng và nhìn Nhã. Anh nói khe khẽ: “Em Trang ơi, hôm nay anh đến đây, anh gửi em tấm áo của anh để em đỡ lạnh. Em nhận lấy tấm lòng chân thành của anh. Giá như em không bị bom thì anh...”. Giữa lúc đó thì chín bông hoa hồng trắng trên nấm mộ cũng bốc cháy mà không cần có lửa. Chàng lính trẻ và Nhã lạnh toát người. Thế là Trang đã nhận áo và cả hoa nữa. Một làn khói xanh lơ uốn lượn, nhảy múa trước mắt hai người. Chàng lính nhìn vào đó lại thấy khuôn mặt Trang cười mỉm nhìn anh.
      - Nhã có nhìn thấy chị Trang không?
      - Em sợ quá. Em không nhìn thấy gì. Chị ơi, chị phù hộ cho bố mẹ và em nhé.
      Hai người ngôi bên nấm mộ cho đến khi đám tro nguội lạnh. Trời hoàng hôn, ráng đỏ rực. Những hàng mộ như viền bằng mầu đỏ lớp nọ sát lớp kia. Ngôi mộ của Trang trông xa như đang bốc cháy...

      4
      Một mình một xe ngày này qua ngày khác, chàng lái xe rong ruổi trở lại chiến trường. Hơn một tuần ở Hà Nội để lại lòng chàng nặng trĩu ưu tư. Chàng không thể lý giải được vì sao lại có cuộc gặp gỡ hồn ma kỳ lạ giữa những ngày chiến tranh như thế. Có một cõi âm thật không. Chắc mọi người khi nghe chuyện này đều cho rằng anh bịa ra. Làm gì có ma, chúng ta theo chủ nghĩa duy vật kia mà!
      Khi xe anh sắp vào cầu phao Đò Lèn thì bỗng dưng chết máy. Hết xăng ư, không; mất điện, không. Chàng nhảy xuống mở nắp cabô xem bộ chế hoà khí, bộ chia điện. Tất cả đều tốt. Vừa lúc ấy thi cầu phao bị đứt. Mấy chiếc xà lan rời nhau ra trôi về phía hạ lưu. Một chiếc ô tô đang trên cầu phao kịp thời lùi lại. Rất may không có xe nào bị rơi xuống sông. Hú vía. Bộ phận quản lý giao thông kịp thời chỉ đường cho các xe đi lối vòng qua sông. Kỳ lạ khi anh vừa nhấn nút đề thì xe nổ máy giòn tan.
      Khi xe anh vào gần đến đập tràn Khe Ve thì trời mưa như trút nước. Những cơn mưa vùng núi dữ dằn và táo tợn. Nước chảy như xé đất, đỏ ngầu, gầm lên như thác réo. Chiếc xe lại đột ngột chết máy. Chàng lính trẻ lại kiểm tra, mở đi mở lại khóa điện, lại đề mà chiếc xe vẫn im lặng. Nhìn xuống ngầm Khe Ve nước đã tràn trắng xóa, dâng cao. Một chiếc xe đi trước đã bị nước cuốn. Rất may phía dưới có một cây to nên chiếc xe mắc lại. Một lúc người lái xe từ trong buồng lái chui ra. Anh em cùng đoàn đã kịp ném dây để người lái xe lên bờ.
      Chàng lái xe trẻ đành đóng kín buồng lái và ngả lưng ngủ thiếp. Anh mơ mơ màng màng và Trang hiện ra. Nàng vẫn mặc quần áo trắng, bên ngoài mặc chiếc áo trấn thủ của anh đã hóa hôm nào. Nàng ve vuốt anh, nằm sát bên anh, nàng hôn lên môi anh. Rồi đến một lúc anh thấy mình ôm ghì một người con gái nuột nà, da dẻ trắng hồng. Cặp vú của nàng nây nây ấm rực trong tay. Chàng đặt môi trên núm vú. Một mùi thơm thanh cao và ngây ngây tỏa ra. Nàng đưa bàn tay mịn màng suốt tấm lưng cường tráng của anh. Và cứ thế sự tinh khôn truyền kiếp của giống nòi đã mách bảo anh khám phá điều kỳ diệu nhất của tình yêu. Họ cuốn lấy nhau, vồ vập, đam mê. Như một cơn hồng thủy dâng cao, như một đỉnh núi vun vút lên trời, chàng lính trẻ phiêu diêu lên miền cực lạc. Lần đầu tiên anh biết thế nào là hạnh phúc, là ân ái. Anh không biết mệt, anh muốn siết chặt để thịt da thơm tho của nàng tan biến trong anh. Và đỉnh cao vờâi vợi của đam mê đã đến. Anh kêu to không rõ tiếng gì, một luồng điện lan tỏa toàn thân. Tiếng anh nhòe vào màn mưa giữa núi. Rùng mình dữ dội. Một hơi thở bật ra thật sảng khoái. Chàng bừng tỉnh. Anh ngơ ngác quan sát, thì ra anh vẫn nằm trong cabin ô tô, ngoài trời vẫn mưa như trút nước. Một bóng người trăng trắng vút bay qua cửa kính.
      Chàng lính trẻ định thần. Anh vừa có một cơn mơ sung sướng nhất trần đời. Sao lại là mơ nhỉ. Sao không là sự thật...
      Cho đến tận bây giờ không ai biết chàng lính trẻ hồi ấy ra sao. Người ta chỉ truyền nhau bao nhiêu chuyện huyền diệu về chàng. Rằng chàng có một người con gái vô hình đã hộ mệnh nên chàng thoát chết hàng trăm lần. Chàng có trở về sau ngày chiến thắng hay không? Chàng có cùng ai gắn bó hay chỉ sống với kỷ niệm, sống với bóng dáng kiều diễm của Trang...
Logged
Trang: 1 2 3 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM