Việc súng cướp cò hồi ở trg y tá Tân biên cũng có,mang tiếng là lính chiến đấu ra mà cuối tuần lau súng Cường con cũng làm cả đám xanh
măt,cũng may khg ai sao cả ( cường sau hy sinh do đánh với pa ra khi địch vào chiếm hầm ) nhg hy sinh đầu tiên là Trường bị địch phục băn chết ,đó là số a e cùng khóa đc biết sau này gặp thì 1 số là TB còn 1 ít thì bỏ nghề làm pháo thủ,cán bộ C,cả khóa giờ chỉ còn Phụng C9D2 là còn theo nghề (BS bv nhiệt đới ),đời anh y tá cũng te tua lắm .An lính 76 anh của Trình bạn cùng khóa y tá D23 chuyển thg xe bị cán mìn hy sinh,ngoài ra cũng khg có anh nào thọ cả,bản thân sau khi ra trg về đv củ từ thg9/78 theo các trận đánh từ ngã 3 snoul đến thg2/79 thì bị thg ở ngả 3 con voi nên chưa tưng vào ca mê lai.
VIẾT THEO CÂU CHUYỆN CỦA CHỊ HƯƠNG RỪNG VÀ ANH D32 F5.
Để tiếp câu chuyện của chị Hương Rừng, và đoạn cuối của anh d32f5 ( có lộn không, d23f5 mới đúng chứ), duc thao xin tham gia vài dòng về con đường dẩn từ ngã ba con voi vào cao điểm Cao mê lai cho rõ hơn một chút.
Quãng thời gian trước đó, khi ta mới vừa giải phóng đến các khu vực cận biên Thái_Cam xong, các đơn vị được chia địa bàn để chốt giữ, truy quét, ngăn chặn địch quay trở lại chống phá ta và bạn. Hướng sư 5 cũng vậy, trong đó có khu vực gọi là cao điểm Cao mê lai, một vị trí giáp Thái, một cao điểm cao 322m so với mực nước biển, tên quân sự còn gọi là cao điểm X12, lính khu vực quen gọi tắt là Mê lai cho dễ. Lúc nầy xung quanh khu vực cao điểm là rừng nguyên sinh nhiều tầng, rừng rất rậm và khí hậu khá khắc nghiệt.
Thời điểm 1979 đến 1980, chỉ ngay tại ngã ba con voi,ở Ni mit là có dân cư sinh sống , còn từ đó đi vào Cao mê lai, khoảng 30km là một con đường rừng, càng đi sâu vào càng rậm rạp. Đầu tiên xuất phát từ Ni mit , con đường chạy dài theo hai bên trảng trống, có lẻ là ruộng lúa của dân ngày xưa, nay không còn canh tác, nên thay vào đó là các đám cỏ tranh chạy dài đến phum Kôp (lớn) khoảng 4km. Phum Kôp vốn là một vườn cây ăn trái khá lớn, có nhiều cây xoài, cam, táo...cổ thụ, được lấy nước bởi một con suối khá sâu, đầu nguồn có lẻ từ mỏ vẹt (cứ pot bên Thái) chảy qua, rồi xuôi về hướng Tà'kông K'rao... Con suối nầy có nhiều đoạn khá sâu, quanh năm có nước. Nước dưới suối lạnh lắm, và đặc biệt là cá rất nhiều, có những con thác lác nặng đến hơn 20 ký. Tại con suối nầy, thói quen đánh cá bằng chất nổ cũng làm mất đi của tiểu đoàn chúng tôi mấy tay súng, cả thương lẩn tử, khi tiểu đoàn chúng tôi nhận chốt vào khoảng năm 1983. Nói chung từ ngã ba con voi vào khu vực Kôp thời đó địa hình khá trống trải, an toàn.
Bắt đầu qua cầu Kôp, một cây cầu cây do công binh ta xây dựng, tiểu đoàn chúng tôi quen gọi theo địa danh quân sự là cầu 30, địa hình bắt đầu rậm hơn. Tuy nhiên chỉ là rừng dầu thưa xen kẻ trảng tranh, thỉnh thoảng có các gò cao trên mọc các giống cây tạp, và ụ mối lúp xúp. Con đường bắt đầu từ đây vào Cao mê lai là một con đê chắn lũ, không biết đào đắp từ lúc nào, nhưng khá kiên cố và chắc chắn, có nơi cao cách phía dưới chân khoảng 3m, và mặt đê cũng dầy tầm cở độ cao nầy, nên xe cơ giới chạy trên mặt đê cũng dể dàng. Tuy nhiên, có nhiều đoạn không biết do thiên nhiên hay con người tác động, con đê bị đứt quảng, chứ không liên tục, nhất là đoạn vào tới cầu 20. Đoạn đường nầy mùa khô thì dể đi, nhưng mùa mưa nước lớn, cộng thêm phía Thái xả đập, nước tràn ngập lên tới ngực, chảy xiết rất khó di chuyển, nhất là khi làm nhiệm vụ tải tử và thương. Về tác chiến thì sợ nhất là vừa chớm đầu mùa khô, khi nước vừa rút, cỏ tranh lên rậm rạp che phủ đường đi, rất dể bị vướng mìn và bị địch phục kích gài giật.
Đi tầm 4km thì vào tới cầu 20, một vị trí chiến lược để vào căn cứ phòng ngự Mo hơn. Vị trí cầu nầy được đánh dấu bởi trục giao nhau giữa hai con đê chắn lũ. Một trục từ Kốp vào Mo hơn và một trục từ điểm giao nhau chạy dài về hướng mỏ vẹt. Địa hình khu vực nầy có rậm hơn một chút nhưng cơ bản hai bên đường vẩn là trảng tranh xen kẻ rừng dầu. Một số nơi gần sát đường có các bụi trâm bầu khá lớn. Do nằm trên độ cao, nên tầm quan sát từ cầu 20 ra xung quanh là khá rộng, nhất là về hướng chủ yếu địch hay vào tập kích, hướng bắc. Bên nam cầu có một hồ nước khá lớn gần bao hết địa hình nên chốt cầu không sợ địch tiếp cận về hướng nầy. Nhưng nếu địch bao vây đánh mạnh ép ta về hướng nầy, ta sẻ gặp khó khăn vì khó có đường rút. Còn lại hai trục đường đê thì có chính diện hẹp, nên địch cũng khó triển khai đội hình đánh vào. Khi mới rút bỏ Cao mê lai lùi về Mo hơn, mặc dù trước đó công binh trung đoàn chốt giữ bị pot từ mỏ vẹt đưa lực lượng qua đánh bức, nhưng tiểu đoàn chúng tôi cũng chỉ đưa ra chốt cầu nầy có 7 tay súng, vì thực tình mặt đê cầu khá hẹp, không có chổ để triển khai. Sau nầy trước sức ép của địch từ hướng mỏ vẹt ngày càng mạnh, cao điểm có lúc ta đóng chốt nơi nầy đến hơn 20 tay súng, tăng cường cả đại liên, cối 60 và máy thông tin PRC mà vẩn bị địch dùng lực lượng lớn đánh bứt một bên cầu (hướng Kốp vô), gây cho ta thương vong cũng đáng kể dù bọn chúng cũng trả giá đắt.
Lại đi tiếp từ cầu 20 về hướng Mo hơn, theo trục đê 2 km thì bờ đê chấm dứt. Đoạn nầy ta đi ở trên cao, địa hình hai bên khá thấp, nên tầm nhìn cũng thoáng. Nhưng sau nầy rất nhiều anh em lính ta đã hy sinh ngay cái đoạn được cho là trống trải nầy, kể cả D2 của duc thao lẩn c 19 của E. Đoạn đứt ngang về Mo hơn 2 km nửa chúng tôi quen gọi là dốc. Địa hình lúc nầy do xuống thấp rồi nên bắt đầu rậm rạp đến rợn người vào mùa mưa. Bên hướng bắc đường có một bụi trâm bầu khá lớn, nơi mà sau nầy ròng rã suốt nhiều tháng trời, tiểu đoàn phải cử ra một bộ phận chốt đường gồm 2 tổ 6 tay súng. Có lúc hết người cũng phải 1 tổ 3 tay súng, để chống địch ra gài mìn, phục kích, nổ mìn phá đường chặn viện để bao vây ta.
Vào đến căn cứ Mo hơn, thời gian đầu đây gần như là nơi trung chuyển, tiếp liệu cho cao điểm Cao mê lai. Có thể có rất nhiều đơn vị đã đi qua, nghĩ ngơi hoặc hoạt động tại khu vực nầy. Có thể lúc đó nơi đây chưa gọi là Mo hơn hay nhiều anh em không quan tâm đến tên gọi của nó nên không nhớ. Chẳng có đặc điểm địa hình gì nổi trội, chỉ là bên phải đường cận mí rừng nên tương đối rậm rạp. Bên trái thì thoáng hơn bởi những vạt cỏ tranh. Quan trọng nhất có lẻ là cái hồ nước có sẵn của nó. Nằm ở khoảng 1/3 địa hình vào bên phải đường, hồ nước đào nầy dè sẻn có thể cung cấp tối thiểu để sinh hoạt cho một D thiếu. Ngoài ra còn có một số hồ nước nhỏ một mùa xen kẻ xung quanh. Tầm giữa và cuối năm 1980, trung đoàn 2 CAVT (688BP) chúng tôi được điều về đây thay chân E4 chuyển qua hướng khác, thì Mo hơn là nơi E bộ đứng chân cùng D3 chuẩn bị vào Cao mê lai thay cho D2 rút ra cũng cố để nằm lại chốt giữ Mo hơn lâu dài theo kế hoạch. Riêng D1 thì được bố trí tại rừng tre, cách Mo hơn về hướng Cao mê lai gần 10km, để bảo vệ trục đường. Đây cũng là đoạn trục đường mà các đơn vị đã từng hoạt động gọi là đại lộ kinh hoàng ngày đó. Lúc nầy cơ giới không vào tiếp tế được nữa, do địch hoạt động khống chế con đường rất mạnh, bằng cả chiến thuật gài mìn lẩn phục kích. Địa hình thì quá rậm, mìn trái giăng đầy, địch thì tăng cường phục kích, trong khi ta thì bị động quá nhiều, không đủ lực lượng để vừa bảo vệ đường, vừa hoạt động đánh trả.
Khó khăn lớn nhất của sư đoàn lúc đó chắc có lẻ là 2 khẩu pháo bị kẹt lại khu cầu cháy và 1 tiểu đoàn của Q 16 ở lại bảo vệ. Rồi D2 E 2 đang nằm chốt trên cao điểm với điều kiện tiếp liệu, chi viện vô cùng khó khăn. Đường bộ thì bị cắt từ cầu cháy ra D1, vì có những đoạn pot ở bên Thái đặt ống nhòm quan sát được ta đang di chuyển liền kêu pháo bắn chặn, còn nếu không, các tổ phục kích dầy đặc của chúng bố trí cũng không cho ta cơ hội tải thương tử bằng đường bộ ra ngoài. Có trường hợp ta tải thương ra bị phục kích giật mìn đến 3 lần, thương vong lớn, phải quay trở vô. Sự đối phó lúc nầy của những đơn vị kẹt lại là vô cùng căng thẳng, nhưng nếu ta bung ra hoạt động không khéo sẻ vướng mìn thương vong nhiều hơn.
Gần như ngày nào cũng có thương tử vì mìn. Tiểu đoàn chúng tôi cứ ba chuyến tải bộ tiếp tế cho bộ phận chốt trên cao điểm, thì có đến hai chuyến bị vướng mìn rồi, nhiều khi chỉ bước lạc có vài bước chân. Mà đường mòn khúc gần cao điểm thì như mạng nhện, cứ ta đông tây, pot bắc nam xen kẻ, mỗi ô chừng vài mét, nằm trong rừng dây leo cây lúp xúp chằng chịt. Nhiều khi cứ bước đại mà đi chứ không có thời gian dò dẩm, phát hiện mìn nửa. Cứ như thế, các đơn vị chúng tôi cứ xoay vòng chống tập kích, trinh sát đội hình, tiền tiêu xa gần, cáng thương tử, thông đường tải đạn nước cho cao điểm và chờ đợi những tình huống xấu nhất có thể xảy ra, khi pot có quyết tâm đánh lớn.