ducthao
Cựu chiến binh

Bài viết: 915
|
 |
« Trả lời #352 vào lúc: 07 Tháng Tư, 2013, 11:16:09 am » |
|
ĐƯỜNG VÀO MO HƠN (TT)...
Rồi mùa mưa bắt đầu đến, xua tan đi cái nóng bỏng rát của thời tiết cuối mùa khô. Báo hiệu sự tươi xanh sẻ thay vào cho sự cằn cổi của rừng già nơi nầy vốn bị những trận cháy rừng làm cho trống khô, trống khốc. Mùa mưa sẻ mang nguồn nước đến đổ vào các ao hồ, như vậy lính ta sẻ không còn cần phải tiết kiệm, dè sẻn từng giọt nước trong sinh hoạt như hiện tại nửa. Cơn mưa đầu mùa ngoài nhiệm vụ xua tan bớt cái nóng, phủ lên các vạt rừng một màu xanh tươi của cỏ non, của chồi búp, còn làm thêm nhiệm vụ cảnh báo các nơi thấm dột trên mái nhà, vốn suốt cả mùa khô không ai quan tâm đến.
Dù cho có bao năm phải cùng đơn vị chốt giữ nơi khu vực nầy, trải qua bao mùa mưa nắng, những cơn mưa đầu mùa lúc nào cũng làm cho chúng tôi có kỷ niệm sâu đậm nhiều hơn. Cơn mưa đầu tiên của mùa mưa 1980_1981 nơi đây cũng vậy. Nó đến vào tầm khoảng 1 giờ đêm sau những ngày thời tiết nóng gắt đến dử dội. Đêm đó gần như tất cả lính ta đều cởi trần ra mơ mơ màng màng vì thời tiết trở nóng như vậy, thì đột ngột trời bổng mưa to, mà không hề có một hiện tượng dự báo. Đang oi bức nồng nồng không một ngọn gió, mưa đột ngột xuất hiện kèm theo gió giật từng cơn, tạo thành những luồng nước quật vào mái nhà nghe ràn rạt. Chỉ không đầy một phút sau, những chỗ bị dột hở đã thấy những dòng nước ri rỉ chảy xuống, sau đó thì thành dòng. Lúc nầy hầu như toàn bộ đội hình đều thức dậy, loay hoay lo chống dột nhà của mình. Tất cả những gì có thể sử dụng để ngăn dòng chảy đều được sử dụng. Từ những mảnh tôn vụn cỡ bàn tay, giẻ rách, tăng ni lon che mưa hư hỏng...qua bàn tay lính bổng trở nên hữu dụng tất cả. Cứ thế cho đến suốt mùa mưa, cứ hể trời mưa dù đêm hay ngày thì ai đang ở nhà đều phải phát hiện những điểm dột chảy mà tìm cách khắc phục. Tuy nhiên chỉ có những cây mưa đầu mùa là làm lính ta lúng túng nhiều vì bất ngờ. Còn những cây mưa trong mùa sau nầy thì tình trạng đã khá hơn.
Đối với khu vực chốt chúng tôi, mùa mưa đem đến khá nhiều thuận lợi. Như không còn nổi lo thiếu nước, tăng gia cải thiện được nên không còn sợ thiếu rau xanh, và nguồn thực phẩm cũng khá dồi dào. Nhưng nếu phải so sánh giửa thuận lợi và khó khăn, thì những cái tốt mà mùa mưa mang đến không nói lên được điều gì. Khó khăn nhất về thời tiết mùa mưa có lẻ rơi vào tầm khoảng gần cuối mùa. Khi những phần đất phía bên Thái đều ngập sâu trong nước, vốn được chặn lại bằng những con đập chạy dài suốt tuyến cận biên, như một công trình thủy lợi giữ nước mùa khô của họ. Khi những trận mưa trở nên dữ dội nơi đầu nguồn, các dòng chảy ào ạt đổ về không lối thoát, họ lập tức cho nổ mìn ở một vài khu vực được tính sẵn. Với cái thế bình độ phía Thái cao hơn, chỉ tầm vài giờ sau, xung quanh điểm tựa Mo hơn đã thành một vùng nước trắng xóa, có nơi ngập sâu ngang ngực. Cứ theo địa hình mà bao phủ, lượng nước khổng lồ do phá đập nầy cứ thế len lỏi vào những nơi chúng len lỏi được, ngày càng mỗi lúc dâng cao lên. Những nơi địa hình có nhiều cây cối và vật cản, chúng cứ vừa chảy, vừa dâng lên, mắt thường cũng thấy rỏ. Còn những nơi có địa hình thông thoáng, nhất là theo các con suối từ hướng Thái chảy qua, hoặc những nơi đồng trảng, nước cứ cuồn cuộn chảy ầm ầm, cảm giác như chúng có thể xéo phăng đi tất cả. Một vài chỗ nước trôi đi không kịp, bị phía sau dồn tới tạo thành những điểm xoáy đường kính đến 5, 6 mét, vô phúc lọt vô, chắc sẻ bị dìm sâu xuống nước không có đường lên. Lúc nầy trục đường hầu như biến mất, chỉ còn một số đoạn đê còn nhô lên. Những chỗ bị lở lại trở thành những khu vực chướng ngại vật vô cùng khó khắc phục. Chỉ tính sơ những gì còn nhớ, thì trục đường lúc nầy có hai chỗ phải vượt qua gian nan nhất là cầu 20 (nhất là sau khi bị sập) và cầu 30 trên suối Kốp. Còn lại phải vượt qua ít nhất là 4 điểm lở đê, vốn dòng nước hung hãn không kém, mặc dù bề rộng có hơi khiêm tốn hơn hai điểm cầu một chút. Thời đó chúng tôi không có khái niệm về lũ quét, lũ ống, nhưng những gì trong mỗi lần tải thương tử của anh em tiểu đoàn chúng tôi khi vượt qua được tuyến đường nầy là rất khủng khiếp. Chính gì thế, cả ta và địch hầu như rất ít hoạt động tác chiến vào thời điểm nầy. Địch thì chủ yếu dùng hỏa lực bắn phá, tiêu hao ta. Còn ta thì chủ yếu chui vào hầm ẩn núp chịu đựng.
Từng tham gia vài lần tải thương tử trong những thời điểm nầy, nhưng để nhớ lại cách khắc phục để đưa những trường hợp thương tử khác nhau của đơn vị từ Mo hơn ra trung đoàn thì thật là dài dòng, lẩn lộn, vì không trường hợp nào giống trường hợp nào. Chỉ tóm tắt một phần để mọi người cùng đọc và hiểu. Chủ yếu chúng tôi lợi dụng vào độ cao của bờ đê để vận động một phần, đến những chổ nguy hiểm hoặc anh em thông đường phát hiện ra quá nhiều mìn thì cắt cặp qua hướng nam, lợi dụng bờ đê chắn mực nước chỉ tới gối để vận động. Còn khi vượt suối thì nhờ trời, cáng thương binh, tử sĩ được buộc vào những can nhựa cho nổi lên. Vài đồng chí bơi kèm theo để vừa thả theo dòng vừa lái xéo qua bờ bên kia. Có những lúc anh em vừa đẩy ra đúng dòng chảy, cáng bị cuốn băng băng trôi đi, qua bờ được bờ bên kia phải đi ngược lại vài trăm mét mới đến điểm tập kết mà đi tiếp. Đồng chí thương binh thì nhắm nghiền mắt phó mặc, còn anh em tải thương thì thầm cầu trời cho mình đừng bị thương trong thời điểm nầy.
Nhưng xin được quay trở lại cơn mưa đầu tiên của đầu mùa mưa 1981 đã. Cơn mưa báo hiệu tiểu đoàn chúng tôi bắt đầu bước vào mùa mưa đầu tiên trên đất Mo hơn, cũng là cơn mưa dự báo khởi đầu những ngày tháng kinh hoàng nhất của sự thương vong về mìn trái mà tiểu đoàn chúng tôi phải chịu đựng trên mảnh đất nầy. Chỉ tính lớp cán bộ chiến sĩ nhập ngủ từ thời điểm 1975, năm thành lập trung đoàn, đến lớp lính 1983 đợt cuối, rồi khi tiểu đoàn bắt đầu làm nhiệm vụ chốt giữ nơi đây từ đầu năm 1981 đến tháng 10 năm 1984, con số anh em chúng tôi nằm lại hay mất một phần thân thể trên tuyến đường 12km nầy phải kể đến hàng trăm.
Điều kỳ lạ là mặc dù thời tiết khắc nghiệt là như vậy, nhưng đất Mo hơn lại tốt cực kỳ cho việc trồng trọt, nhất là các loại hoa màu. Bởi vậy, tăng gia cải thiện trong đơn vị chúng tôi cũng có được một sự ưu đãi của thiên nhiên nơi đây là rau trồng chẳng cần phân bón gì cả. Chỉ cần ít hạt giống mua từ dân về. Nếu siêng thì đánh luống cho thẳng hàng rồi cho hạt xuống, tưới ít nước cho chúng nẩy mầm lên là kể như xong. Còn lười lười hoặc địa hình không cho phép, cứ cuốc một phỉnh lớn hơn nắm tay rồi làm thao tác như trên thỉnh thoảng cũng có nồi canh rau xanh bồi dưỡng. Nếu đi từ ngoài ngã ba con voi vào, thì địa tầng đến Mo hơn thấy không đồng nhất. Chỗ thì cát trắng, chỗ cát pha thịt, chỗ thì sỏi đỏ xen vô. Riêng đất Mo hơn thì lại càng đặc biệt. Phía bên dưới khi chúng tôi đào sâu lấy đất đắp hầm thì thấy là một loại đất thịt bở pha sỏi nhỏ li ti, xen lẩn một số sợi vàng vàng như rể cây nhưng không phải. Duy lớp đất mặt mùn lại tạo thành bởi lá khô, xác thực vật lâu đời có độ dầy khoảng gần cả mét. Lớp mùn nầy mùa mưa trở nên nhão nhoét, bám dính chân người, dù đi chân không vẩn rất khó đi. Cứ từ lớp dính dần theo chân bước, đến khi nào nặng quá thì làm động tác đá mạnh về trước một phát, cả khối đất văng ra thì bước đi trở lại bình thường. Cực nhất là những khi nước ngập, đường đi lại chính của lính ta tạo thành một lớp bùn dầy, mọi sinh hoạt đi lại trên đó là rất khó khăn và dơ bẩn. Nhưng bù lại như duc thao đã đề cập, lớp mùn nầy là một nguồn phân bón hữu cơ thiên nhiên vô cùng quý giá. Ngày đó đôi lúc anh em tải thương tử ra E gặp đồng hương hay đùa:" Vào trong tao mà vô đám rau dền mắc võng ngủ". Sự thật thì không phóng đại đến mức như vậy, nhưng những cây rau dền trồng ở đơn vị chúng tôi thời điểm đó đúng là cực kỳ tốt, có cây thân có đường kính cở bắp tay người, nên chỉ vài cái lá của nó là có nồi canh cở 3 người ăn đủ. Cứ ăn hết một đợt lá, dùng dao chặt ngang gốc chừa lại 2, 30 cm tưới nước vào là nó lại nẩy chồi mọc tiếp lên.
Phía bên ngoài đội hình đất rất nhiều chỗ độ tốt không kém, nhất là số tro tàn còn lại khi rừng cháy của mùa khô. Địa hình đang rất khô khan, đất đai nứt nẻ, cây cối ủ rủ héo khô, trước mắt chỉ toàn là một gam màu tối. Nhưng bù lại tầm nhìn thì xuyên suốt, chỉ cần ngồi ở một vị trí hơi thấp, phóng tầm mắt qua những thân cây khẳng khiu thì có thể nhìn thấy thật xa vị trí ngồi. Với một khẩu AK đủ cơ số đạn, tâm lý người lính rất an tâm, tin tưởng, hầu như không cảm thấy sợ điều gì. Nhưng chỉ cần vài cây mưa xảy ra, bằng mắt thường đã cảm nhận thấy sự khác biệt. Nếu không phải trong môi trường chiến tranh thì đó chắc có lẻ là những đổi thay đem đến sự hứng khởi cho con người và muôn thú nơi rừng già biết mấy. Không khí trở nên dìu dịu, mát mẻ, Chim rừng các loại thay nhau hót lảnh lót khắp nơi vì sự thay đổi của thời tiết. Cây trên cành bắt đầu có hiện tượng muốn đâm cành, nẩy lộc...
Vượt lên tất cả có lẻ là giống cỏ tranh. Mới đầu khi mùa khô rừng cháy, cảm giác như với ngọn lửa rừng khổng lồ như vậy, chúng không còn có cơ hội nào sống sót, thậm chí ngọn lửa thiêu rụi sâu phía bên dưới lòng đất như thế, ngay cả rể chúng cũng không còn. Vậy mà những cái mầm xanh báo hiệu sự sống của chúng lại đập vào ánh mắt chúng ta đầu tiên. Gần như chỉ cần cơn mưa đầu là các chồi mầm của chúng đã bắt đầu nhú lên khỏi mặt đất. Một ngày, hai ngày...cứ thể chúng bắt đầu nhô lên cao hơn, nở ra xanh um, những đầu mầm khởi đầu như những ngọn chông nhọn, sẵn sàng xuyên thấu vào bàn chân ai vô tình đạp lên chúng. Rồi những chiếc lá hình thành, cao dần lên rất nhanh, chỉ cần độ tháng sau là chúng đã tạo thành một cánh đồng trảng tranh, nhô cao lên đến ngực. Lúc nầy cây cối xung quanh cũng bắt đầu đâm chồi nẩy lộc, kết hợp với nhiều loài cây dại phát triển lên theo, biến địa hình ngày càng trở nên rậm rạp. Đến một lúc con đường mòn trên đê ta đi thênh thang vào mùa khô bổng chốc trở nên vô cùng chật hẹp, vừa đủ bước chân người, bởi hai bên đều bị những đám cỏ tranh cao lút đầu bao phủ. Tầm nhìn bổng trở nên hạn hẹp hơn, mìn trái cũng rất khó phát hiện. Bọn địch có thể lợi dụng địa hình rậm rạp để tiếp cận ra sát đường, sát bên các tổ chốt của ta mà ta không phát hiện. Vì vậy, xác suất an toàn trên trục đường không còn cao nửa, mọi hoạt động trên đó như chùng lại. Bước chân người lính trở nên dò dẫm, chậm chạp hơn. Sự tăng cường quan sát, nghe ngóng cũng được đẩy lên chỉ số cao nhất, và độ căng thẳng thần kinh mỗi lần làm nhiệm vụ đi lại trên trục đường vì thế được tăng lên một cách khủng khiếp.
Mãi cho đến tận bây giờ, khi đã rời khỏi khu vực chiến trường nầy đã hơn 20 năm, ít ra đối với duc thao tâm lý vẩn còn ảnh hưởng về cảm nhận hai mùa những ngày đó. Mùa khô thì phấn khởi, thoải mái an tâm, làm việc gì cũng không thấy ngán ngại. Trái lại cứ vào mùa mưa thì tâm trạng tự dưng cứ thấy bất an, ngại ngùng không sôi động, nhất là mỗi khi nghe tiếng sấm cứ sợ hải y như những lần phải chứng kiến thấy anh em bị nổ mìn. Anh em, đồng đội giờ gặp lại hỏi ra cứ thấy tâm trạng rất giống nhau, đều thích mùa khô và sợ mùa mưa như ngày đó.
|