Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 03:26:54 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Khí tài ra đa  (Đọc 49691 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #40 vào lúc: 12 Tháng Hai, 2013, 12:27:16 am »

Khu vực quan sát của các kênh đo xa trong tổ hợp trong giới hạn từ 0,5 đến 45 độ được hình thành bởi các đồ thị bực xạ của các ăng ten trên hai khí tài đo xa, hoạt động đồng thời. Để làm được nhiệm vụ này, có hai buồng khí tài đo xa quay cùng pha và đồng bộ với tốc độ 6 vòng/phút hoặc 3 vòng/phút. Bối cánh trên không từ 4 kênh được thể hiện trên 2 màn hình nhìn vòng giống nhau. Phạm vi của màn hình nhìn vòng là 200, 300 hoặc 400 kilomet. Trên các màn hình tiếp nhận các ống điện – tia đường kính lớn (450mm), cho phép quan sát bối cảnh trên không trong phạm vi mở rộng.

Đồng thời bố cảnh trên không được thể hiện trên các màn hình “phương vị - tầm xa” của các đài đo cao.

Các khí tài đo cao vô tuyến sử dụng để xác định tầm bay cao của mục tiêu trên không trong phạm vi góc tà 0,5 độ đến 30 độ trên tầm cao 34 kilomet. Mỗi khí tài đo xa có thể hoạt động trong chế độ nhìn vòng theo góc phương vị (phạm vi 150, 750, 1650), trong chế độ nhìn vòng với tốc độ quay ăng ten 67,5 vòng/phút hoặc trong chế độ bám bắt bằng tay. Tần số lắc của lưới ăng ten trong mặt phẳng góc tầm được hình thành phụ thuộc vào điều kiện hoạt động.

Ăng ten quay theo góc phương vị được thực hiện từ xa theo hai khả năng: trắc thủ điều khiển bằng tay, sử dụng bộ dẫn động bằng tay, quay buồng đo cao tới góc phương vị được chỉ thị và tính toán độ cao mục tiêu theo lưới độ cao tỷ lệ lưới điên; quay ăng ten đo cáo tới góc phương vị mục tiêu khi hoạt động trong phạm quy quy định với màn hình “phương vị - độ cao” được tiến hành bởi trắc thủ theo hướng kết hợp mốc với dấu hiệu mục tiêu.

Độ cao mục tiêu được tính toán một cách tương đối theo trung điểm dấu hiệu hoặc trực tiếp theo thang chia độ, hoặc theo thang chia độ khối điều khiển của mốc độ cao khi hợp mốc với trung điểm dấu hiệu từ mục tiêu.

Nếu máy đo cao hoạt động trong hệ thống “Vozdukh-1” thì máy đo cao quay theo góc phương vị mục tiêu cần theo dõi được thực hiện bởi trắc thủ khí tài “Kaskad” hoặc trắc thủ màn hình nối cao (IPN-1) của khí tài “Pautina”.

Trong giai đoạn đầu chế tạo hệ thống “Vozdukh-1” để điều khiển tự động dẫn đường cho máy bay tiêm kích Không quân, năm 1955, viện đã thực hiện nghiên cứu và chế tạo mẫu thí nghiệm khí tài “Pautina”. Khí tài này sử dụng để bảo đảm xác định tọa độ mục tiêu bán tự động bởi các trắc thủ, đồng thời phát, thu và mô tả thông tin về bối cảnh trên không chung và riêng trong mắt xích: trạm vô tuyến – trạm dẫn đường – trạm chỉ huy trung đoàn máy bay tiêm kích thuộc Không quân – trạm phục vụ Quân chủng giám sát, thông tin và liên lạc cấp trung đoàn – trạm chỉ huy sư đoàn máy bay tiêm kích thuộc Không quân.

Công việc về hệ thống “Pautina” được tiến hành dưới sự chỉ đạo của tổng công trình sư nghiên cứu Shorin G.K, tập thể công trình sư: Gakha V.G, Berga V.P, A.A. Dmitriev, I.O.Matvei, V.A.Zadvin, P.P.Petrova, B.P.Tikhomirova, B.G.Sarkisyana. Công việc này hoàn thành ở Viện nghiên cứu khoa học số 101 - vào năm 1956 đã được bàn giao hoàn toàn cho phòng tương ứng thuộc Viện.

Sự xuất hiện của màn hình “phương vị - tầm xa” và màn hình nhìn cao cho phép xác định ba tọa độ của mọi loại mục tiêu nằm trong phạm vi hoạt động và bảo đảm sự thuận lợi lớn trong sục sạo mục tiêu trên khí tài đo cao. Số lượng khí tài đo cao hoạt động có thể thay đổi từ 1 đến 4.

Trong tổ hợp ra đa vô tuyến “Altai” có thiết bị và các khí tài chống các loại nhiễu chủ động và thụ động.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #41 vào lúc: 12 Tháng Hai, 2013, 12:27:29 am »

Bộ phận đo xa của tổ hợp hoạt động trên dải tần số mới. Sự chỉnh tần tối đa theo các kênh là 490MHz. Khi một trong số các kênh bị gây nhiễu không hoạt động, với sự hỗ trợ điều khiển từ xa, nó có thể thay thế bằng kênh dự bị.

Trong các khí tài đo xa đã tiếp nhận hệ thống điều hưởng tần số hoạt động điện cơ từ xa theo bất kỳ chương trình được lập ra trươc đó, trải rộng trên dải tần số 130MHz.

Để bảo vệ các kênh bộ phận đo xa khỏi các loại nhiễu đáp xung, tiếp nhận hệ thống áp chế riêng, trên cơ sở sự phản xạ điện khác nhau của tín hiệu – tiếng dội và tín hiệu nhiễu đáp trong hướng đến của các tín hiệu này. Các kênh thu riêng với khí tài ăng ten được tính toán sử dụng cho mục đích này.

Để chống nhiễu xung không đồng bộ, bộ phận đo xa được tiếp nhận khí tài sử dụng phép trừ một lần trên các thế điện nghiệm.

Để chống lại nhiễu thụ động trong các kênh đo xa và đo cao của đài ra đa vô tuyến đã tiếp nhận khí tài xung – kết hợp (hệ thống chọn lọc mục tiêu di động) với sự định pha hoặc thăm dò các xung (bằng máy phát) hoặc bằng tín hiệu – tiếng dội (bởi nhiễu) khi trừ hai lần trên thế điện nghiệm LN-10 và phép cộng vuông góc (квадратурном сложении).

Để tăng cường hiệu quả hoạt động của hệ thống chọn lọc các mục tiêu đang di chuyển, tính toán thay đổi tần số mở máy.

Trong tổ hợp lắp các máy hỏi hệ thống nhận dạng “Kremni-2” và các khí tài thu của hệ thống đáp chủ động “Globus-2”, các ăng ten hợp với các ăng ten góc tà cao của các máy đo xa. Các kênh phận biệt bạn – thù và đáp chủ động được bảo vệ khỏi các loại nhiễu không đồng bộ.

Để dẫn đường cho các máy bay tiêm kích, đồng thời để cung cấp các thông tin bối cảnh trên không, tổ hợp ra đa vô tuyến “Altai” được đồng chỉnh với khí tài hệ thống “Vozdukh-1” khi xuất hiện trong nó các khí tài bổ sung.

Tháng 8 năm 1961, mẫu thí nghiệm đài ra đa vô tuyến “Altai” đã được bắt đầu đưa vào thí nghiệm cấp nhà nước. Các thí nghiệm kết thúc mùng 10 tháng 6 năm 1961. “Altai” trải qua các thí nghiệm cấp nhà nước thành công. Ủy ban nhà nước đã quyết định chấp nhận tiếp nhận đài ra đa vào biên chế. Trong biến thể (ký hiệu 1RL-118), “Altai” được tiếp nhận vào trang bị anwm 1962 dưới mã số P-80 và sản xuất hàng loạt năm 1964 ở xưởng điện cơ Balakhninsk.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #42 vào lúc: 17 Tháng Hai, 2013, 01:02:02 am »

Nâng cấp

Trong giai đoạn 1962-1964, Viện đã tiến hành nâng cấp tổ hợp ra đa vô tuyến “Altai” theo các hướng: đối với các kênh đo xa đã chế tạo các buồng thu phát mới với sức tải lớn và các thông số tăng cường cùng với các khí tài trụ - quay mới mạnh hơn; thiết bị dẫn động điện động lực của các buồng thu – phát cho các máy đo xa được thay bằng thiết bị dẫn động thủy lực với công suất tăng cường, các tính năng mạnh hơn và sai số động lực học thấp hơn; tiếp nhận công suất dẫn động thủy lực nghiêng ăng ten mạnh hơn; các hệ thống làm mát magnetron và thông gió hiện đại hơn; nâng cấp thiết kế màn hình nhìn vòng; chế tạo hệ thống nguồn điện mới hiện đại hơn.

Tổ hợp được nâng cấp được tiếp nhận vào trang bị năm 1964 (số hiệu 1RL-118M2) và được sản xuất hàng loạt năm 1964-1965.

Phương án nâng cấp tổ hợp ra đa “Altai” thứ hai hướng vào các bộ phận đo xa, đo cao của tổ hợp.

Năm 1964, trong các thí nghiệm cấp nhà nước đã giới thiệu bộ phận máy phát tầm trung “Mezha” của ra đa vô tuyến, được sử dụng để xây dựng mắt xích ra đa thống nhất thuộc quân chủng Phòng không và hoạt động độc lập.

Sự nghiên cứu này dựa trên cơ sở tổ hợp “Altai”, được Viện hoàn thiện đặc biện cho mục đích này. Trong tổ hợp “Altai” có khí tài kênh tìm phương (trên cơ sở nghiên cứu “Altai-E”), chọn lọc sơ bộ các tín hiệu – tiếng dội và chống lại nhiễu không đồng bộ ảnh hướng theo búp sóng bên.

Ngoài ra, đã chế tạo và lắp trên trạm chỉ huy bộ phận khí tài đồng bộ hóa đối với toàn bộ các khí tài ra đa vô tuyến. Trên trạm chỉ huy, khí tài được lắp dưới dạng bán tự động (khi bối cánh trên không phức tạp và xuất hiện nhiễu) và tự động (khi bối cảnh trên không kém phức tạp hơn) truyền tải thông tin về tọa độ các mục tiêu, được tổ hợp ra đa phát hiện tới máy tính điện tử để xử lý các thông tin này.

Các thông tin tìm phương máy bay gây nhiễu được phát hiện với sự hỗ trợ của các kênh tìm phương của tổ hợp “Altai”, truyền tự động tới máy tính điện tử từ các khí tài này và các khí tài khác để xác định tọa độ thiết bị gẫy nhiễu bằng phương pháp đo đạc tam giác. Đồng thời, áp dụng chế độ hoạt động phát hiện mục tiêu tầm thấp. Tổ hợp nâng cấp được tiếp nhận vào trang bị năm 1965 (số hiệu 1RL-118M) và sản xuất hàng loạt trong những năm 1965-1966.

Năm 1964-1965, Viện đã tiến hành nghiên cứu phiên bản tổ hợp ra đa “Altai” cố định trên cơ sở biến thể 1RL-118M. Phiên bản cố định được tiếp nhận vào trang bị năm 1965 (số hiệu 1RL-118MS) và được sản xuất song song với biến thể 1RL-118M trong thời gian 1965-1966.

Kinh nghiệm khai thác sử dụng tổ hợp ra đa vô tuyến “Altai” trong hệ thống S-200 đã chỉ ra không đạt được khả năng phát hiện mục tiêu tầm thấp trên giới hạn cao. Đồng thời đã xuất hiện sự cần thiết phải chế tạo tổ hợp đồng nhất, có khả năng phối hợp với toàn bộ các hệ thống điều khiển tự động hóa đang có.

Các chuyên gia Phòng thiết kế xưởng Balakhninsk (hiện nay là xưởng khí tài chuyển tiếp vô tuyến điện Pravdinsk) cùng với các nhà khoa học của Viện đã chế tạo biến thể của tổ hợp, được tiếp nhận vào trang bị năm 1966 dưới mã số P-80A.

Tổ hợp P-80A được sử dụng để hoạt động độc lập và hoạt động trong các hệ thống tự động “Vozdukh-1P”, “Vozdukh-1M”, “ASURK-1M”, “Luch-1”, đồng thời các hệ thống điều khiển cố định S-25 và S-100. Tổ hợp P-80A (số hiệu 1RL-118M3) được sản xuất số lượng lớn trong thời gian 1966-1972. Trong tổ hợp ra đa vô tuyến P-80A đã tăng trần phát hiện từ 34 lên 45 kilomet, theo tầm xa, áp dụng chế độ phát hiện mục tiêu bay tầm thấp (NLTs) và mục tiêu bay tầm cao (VLTs).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #43 vào lúc: 17 Tháng Hai, 2013, 01:02:19 am »

Trong tổ hợp tiếp nhận các thước ngắm mới, tăng cường các thông số khai thác sử dụng, máy hỏi trên mặt đất lắp chìm “Kvant” với sự chỉnh lưu mã số từ xa (cho hệ thống phân biệt bạn thù “Kremni-2” và “Kremni-2M) được chế tạo bởi Viện nghiên cứu khoa học Novosibirsk số 208.

Ngày 20 tháng 4 năm 1962, Ủy ban Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô về các vấn đề công nghiệp quốc phòng đã ký quyết định về điều chỉnh các công việc theo dự án và thí nghiệm về xây dựng hệ thống ngụy trang vô tuyến cho các đài ra đa vô tuyến trên bộ.

Trên cơ sở quyết định này, viện đã tiến thành nghiên cứu hệ thống nguy trang vô tuyến đối với các buồng thu phát của tổ hợp ra đa “Altai” (mã số nghiên cứu “Shalash-A”), được sử dụng để bảo vệ các khí tài quay của ăng ten khoi tác động của gió, mưa, bão cát, đồng thời để ngụy trang các buồng thu phát không bị phát hiện bằng mắt thường.

Hệ thống ngụy trang được giới thiệu là đám mây thấm không khí nhẹ từ vải cao su capron. Trong tư thế hoạt động, đám mây được làm đầy bằng không khí trong áp suất dư không lớn và có dạng bán cầu đường kính 26 mét. Đám mây được treo trên trụ chống đặc biệt và có thể phủ trực tiếp trên mặt đất hoặc trên cầu bằng kim loại. Để duy trì áp suất dư của không khi, bên trong đám mây, trong các giới hạn yêu cầu, trong thành phần sản phẩm có thiết bị thổi không khí và các thiết bị tự động.

Trong nghiên cứu chế tạo hệ thống ngụy trang bô tuyến “Shalash-A” có tiếp nhận tham gia” Viện nghiên cứu khoa học công nghiệp cao su – chế tạo bộ phận mây; đơn vị quân đội số 14262 – bộ phận trang bị trụ chống và thiết bị thổi không khí; Phòng thiết kế dự án số 12 – bộ phận thiết bị tự động hóa và Viện nghiên cứu “Promstalkonstruktsia” – bộ phận thiết kế lắp đặt hệ thống ngụy trang.

Theo các kết quả thí nghiệm của mẫu thử hệ thống ngụy trang “Shalash-A”, bằng lệnh mệnh của Bộ công nghiệp vô tuyến ngày 26 tháng 11 năm 1969, đã xác định tổ chức sản xuất lô hệ thống ngụy trang vô tuyến mang số hiệu 5U91. Việc sản xuất hệ thống này được thực hiện ở xưởng điện cơ Balankhnisk.

Hệ thống ngụy trang vô tuyến trong suốt “Shalash-A” do Viện chế tạo không chỉ sử dụng cho các tổ hợp ra đa “Altai”, mà đồng thời để bảo vệ các đài ra đa vô tuyến P-35 và các đài khác, có kích thước khí tài ăng ten cho phép bố trí dưới hệ thống ngụy trang này.

Công việc nghiên cứu – thiết kế “Shalash-A” được thực hiện dưới sự dự chỉ đạo của Tổng công trình sư A.S.Matveev (cấp phó E.I.Blokh và E.L.Ivanov).

Sự nâng cấp sâu đầu tiên cho tổ hợp được tiến hành bởi các chuyên gia Phòng thiết kế thí nghiệm của xưởng điện cơ Balakhninsk cùng sự tham gia của các cộng tác viên hàng đầu của viện (sản phẩm 5N87) vào đầu những năm 1970.

Tổ hợp “Altai” và các biến thể sau của nó là thành tựu lớn trong lĩnh vực kỹ thuật vô tuyến.

Tầm phát hiện máy bay tiêm kích Mig-17 của tổ hợp “Altai” và các biến thể đầu tiên của nó là 250-300 kilomet, còn tầm cao tối đa (trần) theo cùng kiểu máy bay là 34 kilomet. Trong biến thể của tổ hợp 1RL-118M3, tầm phát hiện mục tiêu là 300-350 kilomet, trần – 45 kilomet. Trên sản phẩm 5N87, tầm xa – 350 kilomet, trần – 55-60 kilomet.

Chế tạo tổ hợp và các biến thể của nó là nỗ lực lớn của tập thể các công trình sư của Viện. Tổng công trình sư chế tạo trong năm 1956-1957 là V.A.Sivtsov. Sau đó, Tổng công trình sư là S.A.Smirnov (cấp phó – G.V.Kirillov, V.F.Khotenko, V.A.Sivtsov, S.S.Andrievsky, O.A.Kuzmin, Yu.N.Barưshev, I.G.Gritskevich và D.S.Baev).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #44 vào lúc: 17 Tháng Hai, 2013, 01:07:26 am »

Đài ra đa đo cao PRV-9 “Naklon-2” (РАДДИОВЫСОТОМЕР ПРВ-9 "НАКЛОН-2")

Lịch sử chế tạo

Rada đo cao PRV-9 trong tư thế chiến đấ
u

Liên quan với vấn đề rằng các đài đo ca vô tuyến PRV-10/11 không đáp ứng hoàn toàn các yêu cầu của quân chủng, đặc biệt là Phòng không Lục quân về khả năng cơ động (số lượng lớn các phương tiện vận tải cùng thời gian triển khai/thu gọn lớn), đã tiếp nhận quyết định về nghiên cứu đài đo cao vô tuyến hiện đại hơn – PRV-9 (Naklon-2, 1RL19).

Việc nghiên cứu được bắt đầu ở Phòng thiết kế số 588 năm 1958. Năm 1960, đài đo cao vô tuyến PRV-9 đã trải qua các thí nghiệm cấp nhà trước trên bãi tập của Cục pháo binh – tên lửa và sau đó được tiếp nhận vào trang bị.

Toàn bộ khí tài và tổ hợp cung cấp năng lượng cho khí tài đo xa được lắp trên hai phương tiện vận tải – rơ moóc. PRV-9 bảo đảm phát hiện máy bay tiêm kích trên tầm xa 115-160 kilomet trên độ cao tương ứng 1-12 kilomet. Sai số đo tọa độ mục tiêu:

+ tầm xa: 700 mét

+ góc phương vị: 1,6 độ

+ tầm cao: 100-130 mét

+ công suất bức xa xung – 0,8MW

+ độ nhạy máy thu – 5x10E14W.

+ độ rộng đồ thị hướng ăng ten (DNA) theo góc phương vị: 2,5 độ; theo góc tà: 1,1 độ

+ thời gian triển khai: 45 phút.

Trong đài ra đa đo cao PRV-9 có hệ thống chống nhiễu tích cực và thụ động. Đài đo cao có thể phối hợp với toàn bộ các đài ra đa vô tuyến nhìn vòng.

Năm 1960, Phòng thiết kế số 588 cùng với viện nghiên cứu khoa học số 208 đã bắt đầu nghiên cứu phiên bản cơ động của đài ra đa đo cao – PRV-9A (Tổng công trình sư L.I.Shulman) cũng như thành phần bộ phận đài ra đa cảnh giới cơ động (đo xa) “Bronia” – P-40D, 1RL128D. PRV-9A khác với PRV-9 ở nguồn điện chung (tổ hợp năng lượng tuabin khí của máy đo xa). Đài đo cao vô tuyến PRV-9A (“Naklon-2B”) có khả năng phối hợp với các đài ra đa nhìn vòng khác. Đài đo cao vô tuyến PRV-9A năm 1962 đã trải qua các thí nghiệm cấp nhà nước trong thành phần đài ra đa vô tuyến “Bronia” ở bãi tập Donguzsk và được tiếp nhận vào trang bị.

Rada đo cao PRV-9 trong tư thế hành quân
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #45 vào lúc: 17 Tháng Hai, 2013, 01:09:30 am »

Đài đo cao vô tuyến PRV-11 “Vershina” (РАДИОВЫСОТОМЕР ПРВ-11 "ВЕРШИНА")

Lịch sử chế tạo


Từ năm 1953, Viện nghiên cứu số 244 Bộ vũ trang đã bắt đầu chế tạo đài đo cao chống nhiễu PRV-11 “Vershina”.

Mẫu thí nghiệm được chế tạo ở xưởng số 588 thuộc Bộ vũ trang (Tổng công trình sư V.A.Sivtsov) đã trải qua các thí nghiệm cấp nhà nước năm 1961 ở trường bắn (bãi tập) Donguzsk. Đài đo cao đã được tiếp nhận vào trang bị.

Toàn bộ khí tài của đài đo cao PRV-11 được lắp trên ba rơ moóc.

Đài đo cao bảo đảm phát hiện máy bay tiêm kích ở tầm xa 230 kilomet – trên tầm trung và tầm cao (34 kilomet) và 60 kilomet – tầm thấp (0,5 kilomet) trong phạm vi góc tà từ 0,5 đến 30 độ. Khi đó, sai số đo xa khoảng 1000 mét, độ cao – 200-500 mét trên tầm xa 200-230 kilomet.

Công suất xung – 1,2 MW

Độ nhạy máy thu – 3,5x10’14W

Độ rộng đồ thị hướng ăng ten theo góc phương vị - 2,6 độ, theo góc tà – 1,1 độ

Thời gian triển khai – 3 giờ.

PVR-11 có thể phối hợp với thực tế với toàn bộ các đài ra đa nhìn vòng (đo xa). Đài đo cao được bảo vệ khỏi các loại nhiễu tích cực bằng sự điều biến một trong 5 tần số hoạt động cố định bất kỳ.

Để chống nhiễu thụ động, có hệ thống chọn lọc mục tiêu đang di chuyển kiểu điều chỉnh – kết hợp.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #46 vào lúc: 17 Tháng Hai, 2013, 01:11:37 am »

Đài ra đa đo cao PRV-13 “Nadezhnost” (РАДИОВЫСОТОМЕР ПРВ-13 "НАДЕЖНОСТЬ")

Lịch sử chế tạo


Đài ra đa đo cao PRV-13 được chế tạo ở Viện nghiên cứu khoa học số 244 trên cơ sở đài đo cao PRV-11 “Vershina” với mục đích tăng cường độ tin cậy, chống nhiễu, bảo đảm chống lại tên lửa chống tên lửa và tăng cường khu vực hoạt động hiệu quả của đài đo cao PRV-11.

Trong đài đo cao mới, được sản xuất bởi xưởng số 588, đã áp dụng các chế độ hoạt động kênh tìm phương lập trình và ba tọa độ. Bảo đảm khả năng xác định tầm xa, góc phương vị và tầm cao mục tiêu bay thấp (từ trên 100 mét) trong chế độ hoạt động độc lập và theo sự chỉ thị mục tiêu bên ngoài từ các đài ra đa nhìn vòng phối hợp trong mắt xích, cung cấp tới đài ra đa vô tuyến này các góc phương vị của máy bay gây nhiễu, đồng thời dẫn đường máy bay tiêm kích đánh chặn và phối hợp với các trạm điều khiển thuộc binh chủng tên lửa phòng không cùng máy bay tiêm kích thuộc Không quân trong tầm hỏa lực hiệu quả.

Khí tài PRV-13 được lắp trên ba rơ moóc. Thùng thiết bị và máy phát điện diezel được bố trí trên hai rơ moóc hai trục loại nhỏ, trạm ăng ten và bệ quay bố trí trên xe kéo pháo KZU-16.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #47 vào lúc: 19 Tháng Hai, 2013, 12:16:27 am »

Đài ra đa vô tuyến PRV-16 “Nadezhnost” (РЛС ПРВ-16 "НАДЕЖНОСТЬ")

Lịch sử chế tạo


Đài ra đa đo cao PVR-16 trong tư thế chiến đấu

Cuối những năm 60 (thế kỷ XX) với mục đích tăng cường độ tin cậy trong chống nhiễu, bảo đảm chống lại tên lửa chống ra đa cũng như tăng tầm phát hiện mục tiêu của ra đa đo cao PRV-9 và PRV-9A đã tiến hành các công việc hiện đại hóa các đài đo xa này, đã hoàn thành chế tạo trên cơ sở đài ra đa đo cao PRV-9 mẫu thí nghiệm ra đa đo cao cơ động mới PRV-16 (“Nadezhnost” – 1RL132). Tổng công trình sư công việc này là V.A.Kravchuk. Năm 1970, PRV-16 được đưa vào thí nghiệm cấp nhà nước và sau đó được tiếp nhận vào biên chế. Khác với các đài đo cao PRV-9 và PRV-9A, đài đo cao này có khí tài chống lại tên lửa chống ra đa, khí tài tìm phương một máy bay gây nhiễu tông, sửa tín hiệu lỗi của khí tài đo cao, bảo đảm hoạt động trong góc tà âm (tới -1,5 độ).

Việc sản xuất PRV-16 cũng như các đài đo cao dòng PRV-9 được thực hiện ở xưởng điện cơ Lianozovsk tại Moskva.

Nguyên tắc hoạt động


Đài PVR-16 trong tư thế hành quân

Đài đo cao là ra đa vô tuyến cơ động chống nhiễu xung bước sóng centimet, đặc biệt sử dụng để đo tầm cao mục tiêu bay, bị ra đa đo xa phối hợp với nó phát hiện.

Hệ thống chủ động của ra đa đo cao đảm bảo hình thành cách thong số không gian hướng ăng ten trong dạng hẹp trong mặt phẳng góc tầm (1 độ) và rộng hơn (3 độ) trong mặt phẳng góc hướng của tia. Sự hình thành thông số này của hướng ăng ten được bảo đảm bằng sự phản xạ theo hình parabol mà trung điểm của nó là khí tài chiếu ống loa.

Để quan sát không gian bằng tia hẹp này, ăng ten có khả năng di chuyển theo hai góc tọa độ - góc tà và góc phương vị.

Sự đo tầm xa nghiêng tới mục tiêu tự động được bảo đảm bằng sự tiếp nhận phương pháp xung vô tuyến.

Sự di chuyển của ăng ten theo góc tà được thực hiện bằng sự lắc cơ học lưới ăng ten cùng với khí tài chiếu. Khi đó, thông số hướng ăng ten dao động trong mặt phẳng góc hướng trong giới hạn được quy định, mang tới khả năng thực hiện tìm phương mục tiêu theo góc tà. Sự triển khai tia trong ống điện tia được hình thành đồng bộ trên màn hình cùng sự lắc (quay) của ăng ten. Để nhận được sự triển khai thẳng tới màn hình, có dòng điện một chiều, tỷ lệ với góc (nghiêng) sin của ăng ten. Dòng điện này được tạo thành trong máy cảm biến điện thế góc tà, mà trục của nó kết nối chặt chẽ với trục quay của ăng ten. Bằng cách này, mỗi vị trí của ăng ten tương ứng với vị trí triển khai được xác định trên màn hình.

Sự biểu thị toán học liên quan tới độ cao mục tiêu trên chỗ đứng của đài đo cao với tầm nghiêng xa và góc tà mục tiêu, với tính toán độ cong của mặt đất và sự hiệu chỉnh khúc xạ được giải quyết bằng hệ thống (sơ đồ) điện của màn hình đo cao. Trên màn hình sẽ chiếu sáng theo giai đoạn tuyến các độ cao khác nhau và dấu hiệu di chuyển độ cao. Độ cao mục tiêu được xác định hoặc theo vị trí trung điểm dấu hiệu từ mục tiêu một cách tương đối theo các tuyến chiều cao bằng nhau, hoặc bằng sự dẫn dấu hiệu dịch chuyển độ cao tới trung điểm dấu hiệu từ mục tiêu. Trong trường hợp thứ hai, độ cao được xác định theo thang chia độ khối khởi động (phóng) và các dấu hiệu từ xa N-301M và cung cấp sự đồng chỉnh với khí tài đo cao tới thiết bị trong dạng góc quay trục xenxin cảm biến hoặc trong dạng dòng điện một chiều khi ấn công tắc.

Sự dịch chuyển ăng ten theo góc phương vị để quan sát và đo cao mục tiêu xác định được thực hiện bằng hệ thống dẫn động phương vị bằng cách quay theo góc phương vị xung quanh trục đứng, theo toàn bộ cột ăng ten cùng với ăng ten. Sự quay ăng ten theo góc phương vị và sự dừng của nó trên góc phương vị quy định có thể thực hiện trong các chế độ khác nhau như bởi trắc thủ khí tài đo cao hoặc theo lệnh chỉ thị mục tiêu từ máy đo xa.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #48 vào lúc: 19 Tháng Hai, 2013, 12:17:56 am »

Ra đa đo cao PRV-17 (ПРВ -17 "Линейка" (1РЛ141) (1РЛ - 141))


PRV-17 là đài ra đa đo cao cơ động, được sử dụng để xác định tầm bay cao của mục tiêu. PRV-17 có thể phối hợp hoạt động trong tổ hợp với toàn bộ các đài ra đa vô tuyến nhìn vòng hai tọa độ và trong hệ thống điều khiển tự động thuộc Phòng không và Không quân.

Tổng quan kỹ thuật

Thành phần

+ rơ moóc Ts-01 – buồng thu – phát

+ rơ moóc Ts-02 – buồng với khí tài điều biến các hệ thống thu – phát

+ rơ moóc Ts-03 – buồng màn hình

+ rơ moóc Ts-40 – buồng máy điện – diezel 5E95 (2 tổ hợp máy phát điện diezel theo 100 kW)

+ bốn xe vận tải KraZ

Thông số kỹ chiến thuật

Bước sóng: centimet

Tầm phát hiện mục tiêu, km

+ theo độ cao mục tiêu

100 mét – 45

500 mét – 95

1000 mét – 310

Tầm cao phát hiện mục tiêu, km: 85

Sai số đo tọa độ

+ theo góc phương vị: 2,0 độ

+ tầm xa: 1000 mét

+ độ cao: 300 mét

Quan sát bằng khí tài quang học

+ theo góc phương vị: 3,0 độ

+ theo tầm xa: 1500 mét

+ theo độ cao: 1,0 mét

Khả năng chống nhiễu

+ chủ động, w/MHz: 8,0

+ thụ động, túi/100 mét: 1,0

+ nhiễu tự nhiên, dB: 30

Thời gian mở máy: 5 phút

Thời gian triển khai, 4,5 giờ

Kíp chiến đấu: 4 người.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #49 vào lúc: 24 Tháng Hai, 2013, 12:13:57 am »

Đài ra đa vô tuyến 59N6-E “Protivnik-GE” (РЛС 59Н6-Е "Противник-ГЕ")


Tóm tắt tổng quan

Đài ra đa vô tuyến ba tọa độ cơ động đa chức năng thế hệ thứ năm “Protivnik-GE” (59N5-E) sử dụng để phát hiện và cung cấp các tọa độ (tầm xa, góc phương vụ, tầm cao) mục tiêu trên không khi hoạt động trong hệ thống tự động thuộc quân chủng phòng không và hệ thống điều khiển di chuyển đường không (UVD). Đài nghiên cứu chế tạo ở Viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật vô tuyến ở Nhizhegorod (NNIIRT).

Toàn bộ khí tài của ra đa được bố trí trên hai xe vận tải. Tính cơ động cao của đài ra đa (tầm hoạt động) – 600 kilomet, đã được khẳng định khi di chuyển từ Nhizhni Novgorod tới Zhucovsky trong triển lãm MAKS-97.

“Protivnik-GE” có khả năng cung cấp thông tin đồng thời để dẫn đường cho máy bay tiêm kích và chỉ thị mục tiêu cho các tiểu đoàn tên lửa phòng không trong điều kiện bị gây nhiễu nặng mà không cần xác định bổ sung.

Tầm nhìn (quan sát) cao không trung – gần 200 kilomet. Đài ra đa có khả năng phát hiện vệ tinh quỹ đạo thấp gần vũ trụ.

Lưới ăng ten mảng pha của ăng ten tạo thành biểu đồ hướng trong phạm vi 0-45 độ và do tính toán mức độ tự động búp sóng bên siêu cao, bảo đảm chống nhiễu tông cho đài ra đa.

Đài ra đa có khả năng đo tọa độ chính xác cao nhờ hình thành lưới ăng ten mảng pha đồng nhất với sự xử lý tín hiệu không gian – thời gian số hóa.

“Protivnik-GE” ngoài ba tọa độ, xác định tham số thứ 4 – tốc độ cơ bản. Việc này cho phép phân loại mục tiêu bẫy. Tổng cộng, đài ra đa bám bắt tới 150 mục tiêu trên không. Đài ra đa vô tuyến có thể phát hiện các máy bay thế hệ thứ năm.

Ăng ten đài ra đa xác dịnh hiệu quả của ra đa vô tuyến và cho phép lắp nó trên một phương tiện vận tải. Kích thước ăng ten – 5,5x8,5 mét, tốc độ quay – 6 hoặc 12 vòng/phút. Việc này đáp ứng thời gian cung cấp thông tin tương ứng sau 10 và 5 phút, đủ hoạt động theo các mục tiêu tốc độ và cơ động cao. Đài ra đa phát hiện các máy bay được chế tạo theo công nghệ “Stels” với tiết diện phản xạ hiệu quả dưới 0,1m2 ở tầm xa 200 kilomet.

Ăng ten của đài tạo thành 10 khối với 20 tia giống nhau. Trong đài ra đa vô tuyến có tính toán điều chỉnh tự động tình trạng đài ra đa: nếu một khối không làm việc, các hệ số sẽ được thay đổi – các tia được mở rộng không lớn, và góc 45 độ không gian có 18 tia, không phải 20. Toàn bộ khu vực quan sát được duy trì, nhưng khi đó khả năng đo tọa độ mục tiêu chính xác giảm và búp sóng bên tăng cường trong giới hạn cho phép. Hoạt động chiến đấu được tiếp tục.

Việc thiết kế đài ra đa vô tuyến thống nhất trong hai dải tần số giảm sự tiêu thụ phụ tùng và vật liệu chất đốt.

Nguyên tắc thiết kế đài ra đa cho phép nâng cấp đài ra đa vô tuyến cơ sở trong các bước sóng khác nhau, tăng cường các thông số. “Pritivnik-GE” là ra đa có tiềm năng cao. Trong đài sử dụng dải tần số quốc tế 23 centimet. Trong đài ra đa vô tuyến tích hợp đài vô tuyến thứ cấp, bảo đảm kiểm soát sự di chuyển trên không với các khả năng nhận thông tin cao. Đây không chỉ là hệ thống phân biệt “bạn – thù” cho Phòng không, ra đa thứ cấp còn thông tin về dự trữ nhiên liệu, báo tín hiệu tai nạn và các thông tin khác. Nó có thể hiệu quả trong sử dụng đối với Không quân, Phòng không và phòng thủ tên lửa trong Lục quân, các lực lượng phản ứng nhanh và cơ quan hàng không Liên bang.

“Protivnik-GE” về các thông số kỹ chiến thuật vượt trội các đài ra đa đồng dạng của nước ngoài như S.753 – Anh, VLS-2 – Trung Quốc và FPS-117(V) – Mỹ.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM