Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:46:24 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Tiểu đoàn Bộ binh 1 anh hùng - (R20 - Quảng Đà)  (Đọc 75570 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
fantomasft
Thành viên
*
Bài viết: 468


Con nhà lính... Tính nhà binh...


« Trả lời #30 vào lúc: 29 Tháng Giêng, 2013, 03:17:15 pm »


   Trong 25 ngày đêm chiến đấu, riêng tiểu đoàn bộ binh R20 đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 200 tên địch, bắt sống 25 tên, thu 180 súng các loại, 3 máy PRC25. Thắng lợi của Tiểu đoàn bộ binh R20 trong đánh bại chiến dịch Tám thơm của địch, thể hiện sự trưởng thành của cán bộ, chiến sĩ trong vận dụng chiến, kỹ thuật, trình độ tổ chức chỉ huy hợp đồng tác chiến với lực lượng địa phương, hỗ trợ đắc lực cho nhân dân đấu tranh chống địch càn quét, cướp lúa. Nhiều tấm gương chiến đấu dũng cảm, kiên cường như tổ chiến đấu của đồng chí Mai Xuân Hồng, tả xung, hữu đột, tung hoành giữa trận địa, từ đầu đến khi kết thúc trận đánh diệt hàng chục tên địch, bắt 17 tù binh, thu 68 súng, cuối cùng các đồng chí hy sinh anh dũng, đồng chí Hồng được truy tặng Huân chương chiến công hạng nhất.

   Chiến dịch “Tám thơm ly thị” vừa kết thúc, quân Mỹ từ Đà Nẵng bắt đầu càn quét, đánh phá các địa bàn ranh giới giữa Điện Bàn – Hòa Vang. Ở phía Đông, 1 đại đội lính thủy đánh bộ Mỹ và 1 chi đội xe bọc thép M113 càn quét vào xã Điện Bình (nay là xã Điện Ngọc). Bộ binh và xe bọc thép M113 lội băng qua đồng lúa của dân, lập tức đội quân tóc dài của xã do mẹ Bưng dẫn đầu kéo xe ra chặn đầu xe tăng, đấu tranh buộc chúng quay đầu lại. Đây là lần đầu tiên lực lượng chính trị quần chúng đấu tranh trực diện với quân Mỹ và giành thắng lợi trên chiến trường Quảng Đà.

   Ở phía Tây, trong lúc Đại đội 1 trú quân tại Điện Tiến, lợi dụng địa hình, địa thế để bố trí trận địa sắn sàng đánh địch, thì sáng ngày 08.10.1965, quân Mỹ sử dụng 1 đại đội lính thủy đánh bộ có xe tăng, phi pháo chi viện, từ Hòa Lương (Hòa Vang) càn quét, đánh phá thôn Xuân Diệm (Điện Tiến). Để tăng cường chỉ huy đơn vị đánh bại cuộc càn quét của quân Mỹ, trưa ngày 08.10, đồng chí Nguyễn Chí Sa – Tham mưu trưởng tiểu đoàn từ Hạ Nông – Điện Phước lên Điện Tiến cùng BCH Đại đội 1 lập kế hoạch chiến đấu, 14 giờ ngày 08.10 đội hình địch băng qua cánh đồng trống, một mũi tiến vào trận địa của Trung đội 3 và nổ súng làm bị thương 5 chiến sĩ, đồng chí Kim – chính trị viên đại đội đến ngay trận địa để ổn định tình hình tư tưởng vả tổ chức, cùng lúc Trung đội 1 của đồng chí Huỳnh Dạng nổ súng diệt một số tên trước công sự. Không để địch làm chủ tình hình, đại đội trưởng Lại Nam Dương ra lệnh cho Trung đội 2 của đồng chí Cường vận động đánh thọc sườn rồi xông vào giữa đội hình địch, bị đánh bất ngờ quân Mỹ bắt đầu lúng túng kêu la, xe M113 ở hướng bờ sông cũng phải dừng lại. Lúc này máy bay trực thăng, pháo cối cũng bắn phá vào trận địa, đổ thêm quân xuống Xuân Diệm, nhưng không dám phát triển, trận đánh diễn ra quyết liệt, Trung đội 1 có nhiều đồng chí có kinh nghiệm đánh Mỹ nên vẫn bình tĩnh theo dõi hành động của từng mũi tiến quân của lính Mỹ, sử dụng từng tổ vận động ra chặn đánh quân Mỹ, làm cho chúng không tiến lên được, mà co cụm lại tạo điều kiện cho đơn vị diệt từng tốp địch, bắn cháy nhiều máy bay.

   Sau 2 giờ chiến đấu quyết liệt với 2 đại đội lính thủy đánh bộ Mỹ, Đại đội 1 đã loại khỏi vòng chiến đấu 85 tên Mỹ, thu 14 súng, trong đó có 2 đại liên M60, 2 máy PRC 25, bắn cháy 6 máy bay lên thẳng, hư hỏng 2 xe M113. Đây là trận đánh Mỹ giữa ban ngày, diệt nhiều sinh lực và phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của quân Mỹ, bổ sung thêm kinh nghiệm đánh Mỹ càn quét, dã ngoại.
Logged

Cây sinh ngàn nhánh do từ gốc
Nước chảy muôn nơi bởi có nguồn.
fantomasft
Thành viên
*
Bài viết: 468


Con nhà lính... Tính nhà binh...


« Trả lời #31 vào lúc: 29 Tháng Giêng, 2013, 03:37:48 pm »

   Mùa mưa đã đến, nhưng diễn biến chiến sự trên chiến trường Quảng Đà nói chung, vành đai diệt Mỹ Đà Nẵng – Hòa Vang nói riêng vẫn sôi động, Mỹ - Ngụy ra sức càn quét, lấn chiếm, mở rộng địa bàn kiểm soát, tạo vành đai an toàn cho căn cứ Đà Nẵng, tiếp tục gây tổn thất về tài sản và tính mạng của nhân dân. Bên trong tăng cường bộ máy tay sai phản động để tìm diệt cơ sở cách mạng, đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân. Trong sách “Ngập ngừng giữa bùn lầy” xuất bản ở Mỹ năm 1967, Đa – vít – an – bớt – tơn viết: “Chúng ta (Mỹ) đến đây (Đà Nẵng) là để dạy cho họ giết cộng sản, họ giết chưa đủ, ta phải dạy cho họ giết nhiều hơn nữa”, còn sách “Tổ hợp công nghiệp quân sự Mỹ” thì viết: Tướng Poston – Tư lệnh Đệ tam Hải – Lục – Không quân Mỹ ở Đà Nẵng ra lệnh cho binh lính thuộc quyền “Tìm cho ra những kẻ chống lại và biến họ thành những xác chết”.

   Tuy nhiên, âm mưu, thủ đoạn của Mỹ - Ngụy không ngăn chặn được sức tiến công của các đơn vị, địa phương, không phá được thế trận chiến tranh du kích, vẫn bị động lúng túng. Bộ đội, du kích trên vành đai diệt Mỹ vẫn trụ bám làm chủ địa bàn, sử dụng lực lượng tiến công tiêu diệt địch cả ngoài công sự và trong công sự. Nổi bật nhất là đêm 26 rạng ngày 27.10.1965, Đại đội 1 và Đại đội 2 Đặc công Đà Nẵng tập kích sân bay Nước Mặn – Quận Ba Đà Nẵng phá hủy hơn 100 máy bay trực thăng, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 100 tên Mỹ.

   Phối hợp với các đơn vị địa phương, Tiểu đoàn bộ binh R20 được tăng cường Đại đội 1 bộ đội địa phương Điện Bàn tập kích tiêu diệt cứ điểm Gò Hà (còn gọi là Gò Rộng), nằm trên đường 14, cách Đà Nẵng 15 km về phía Tây, đây là điểm cao có giá trị về chiến thuật quân sự, khống chế khu Tây Hòa Vang và Tây – Bắc Điện Bàn. Lực lượng chiếm đóng gồm 1 đại đội lính thủy đánh bộ Mỹ, được tăng cường 4 xe bọc thép M113, cấu trúc bên trong có hàng chục lô cốt, hàng trăm công sự chiến đấu, giao thông hào, trận địa hỏa lực. Bên ngoài có 2 lớp rào và bố trí nhiều lựu đạn, mìn các loại. Chung quanh có nhiều cứ điểm liên quan: Miếu Trắng, Gò Cà, ba ra An Trạch, Túy Loan nằm trong tầm chi viện hiệu quả của các trận địa hỏa lực chung quanh và nhiều trận địa pháo cối, xe cơ giới, sẵn sàng chi viện khi bị tiến công. Trong đợt hoạt động Đông – Xuân 1965 – 1966, BCH Tỉnh đội giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn bộ binh R20 tiêu diệt cứ điểm Gò Hà. Nhận nhiệm vụ cấp trên giao, BCH tiểu đoàn phân công cán bộ, trinh sát đi chuẩn bị chiến trường. Với yêu cầu “Tai nghe, mắt thấy, tay sờ”, được sự giúp đỡ của cán bộ, du kích địa phương, các đồng chí vận dụng nhiều phương pháp để điều tra, nắm địch, xây dựng kế hoạch, phương án tiến công, ban ngày cải trang tiếp cận chốt điểm (cách 300 m) để quan sát nắm cấu trúc chốt điểm, hành động của quân Mỹ, ban đêm tổ chức đột nhập vào bên trong đếm từng lô cốt, công sự, trận địa hỏa lực. Sau 10 ngày điều tra, nghiên cứu, Đảng ủy – BCH Tiểu đoàn xây dựng phương án chiến đấu, bằng hình thức tập kích xung hỏa lực kết hợp. Trên cơ sở đó, giao nhiệm vụ cho các đại đội đắp sa bàn tập luyện theo phương án đã được xác định. Đại đội 1 (R20) được tăng cường Đại đội 1 Điện Bàn (thiếu 1 trung đội) đảm nhiệm tiến công trên hướng chủ yếu từ phía Đông Nam lên, còn 1 trung đội của Đại đội 1 Điện Bàn đảm nhiệm tập kích, tiêu diệt cứ điểm Miếu Trắng. Đại đội 2 đảm nhiệm tiến công trên hướng thứ yếu từ phía Tây xuống. Đại đội 3 sử dụng 1 trung đội làm dự bị, còn 2 trung đội đảm nhiệm tập kích tiêu diệt cứ điểm Ba ra An Trạch – cách Gò Hà 500 m về hướng Đông Nam. Đại đội 4 sử dụng hỏa lực chi viện cho các đại đội và bắn phá kìm chế các cứ điểm chung quanh. BCH Tỉnh đội phân công đồng chí Lê Tự Cả - Tham mưu trưởng làm phái viên của tỉnh tham gia chỉ huy trận đánh và chỉ đạo các xã: Điện Tiến, Điện Hòa (Điện Bàn) và Hòa Tiến, Hòa Khương (Hòa Vang) huy động 500 dân công phục vụ chiến đấu. Vị trí chỉ huy nằm phía sau đội hình Đại đội 1.
Logged

Cây sinh ngàn nhánh do từ gốc
Nước chảy muôn nơi bởi có nguồn.
fantomasft
Thành viên
*
Bài viết: 468


Con nhà lính... Tính nhà binh...


« Trả lời #32 vào lúc: 29 Tháng Giêng, 2013, 04:07:50 pm »

   Sau khi hoàn thành công tác chuẩn bị, đơn vị làm lễ xuất quân. Trước toàn thể cán bộ chỉ huy các cấp của đơn vị và phái viên tỉnh đội, Đảng ủy – BCH Tiểu đoàn: Hạ quyết tâm chiến đấu, giao nhiệm vụ cho các đại đội. Sau đó các đơn vị về vị trí trú quân, khẩn trương thực hiện công tác chuẩn bị mọi mặt, ngày 26.10.1965, từ hậu cứ Vùng B Đại Lộc, tiểu đoàn hành quân đến địa điểm trú quân (Điện Tiến), nhưng trên đường cơ động tiểu đoàn nhận nhiệm vụ bố trí trận địa vận động phục kích tiêu diệt tiểu đoàn chủ lực Ngụy đang hành quân, đánh phá trên đoạn đường từ Phong Thử (Điện Thọ) lên Ái Nghĩa. Qua một ngày đêm chờ đợi căng thẳng, đơn vị không đánh được địch, vì đội hình càn quét của địch đi theo hướng khác, đến 18 giờ các đại đội thu quân, nhận lĩnh lương thực do dân công các xã Điện Thọ, Điện Hòa, Điện An mang đến. Sau đó, tiểu đoàn hành quân ra thôn Châu Sơn (Điện Tiến). Căn cứ vào chủ trương, mệnh lệnh cấp trên, 14 giờ ngày 28.10.1965, tại thông Châu Sơn, ngoài trang bị súng đạn, mỗi đồng chí còn buộc 1 mảnh vải đỏ ở tay, vừa thể hiện tinh thần quyết tâm chiến đấu, vừa để cho đồng đội hoặc dân công dễ nhìn nhận khi chiến đấu hy sinh, bị thương. Hành quân trong đêm trời mưa, đường trơn, ruộng nước, sông rộng, pháo cối địch bắn cầm canh vào vùng giải phóng, đơn vị phải khắc phục nhiều khó khăn để đưa đội hình đến trú quân bí mật tại thôn Châu Sơn (Điện Tiến).

   Đêm 29 rạng ngày 30.10.1965, từ khu vực trú quân (thôn Châu Sơn – Điện Tiến), các đại đội hành quân chiếm lĩnh trận địa xuất phát tiến công. Trong đội hình chiến đấu có đầy đủ các đồng chí trong Đảng ủy – BCH Tiểu đoàn: Lê Lan Chi: Tiểu đoàn trưởng, Nguyễn Xuân Khoa: Chính trị viên, Võ Xuân Lâm: Tiểu đoàn phó, Lê Tự Cả: Phái viên Tỉnh đội đều bám sát các mũi và chỉ cách mục tiêu 40 – 50 mét, đồng chí Nguyễn Chí Sa – Tham mưu trưởng đi cùng Đại đội 3, đồng chí Mai Văn Giáp – chính trị viên phó chỉ huy trạm phẫu và lực lượng dân công. Ở hướng tiến công chủ yếu, Đại đội 1 tiểu đoàn và Đại đội 1 Điện Bàn tiến hành khắc phục vật cản, mở 2 cửa, đến 22 giờ đã cắt xong 3 lớp rào, tổ đánh chiếm đầu cầu chỉ còn cách lô cốt đầu cầu 4m. Ở mũi thứ yếu của Đại đội 2 do đi lạc, nên tiếp cận mục tiêu chậm hơn và gặp địch bắn cầm canh, lại phải dừng lại để theo dõi, biết không bị lộ, các tổ tiếp tục mở cửa. Còn ở hướng Đại đội 3, đến 23 giờ 30 phút, đã tiêu diệt quân địch ở ba ra An Trạch.

   Tại vị trí chỉ huy, các đồng chí chỉ huy tiểu đoàn và phái viên BCH Tỉnh đội theo dõi tin tức các đại đội báo cáo tình hình khắc phục vật cản, đội hình mũi chủ yếu của Đại đội 1 nằm giữa đồi đất sỏi trống trải, còn mũi thứ yếu của Đại đội 2 vẫn chưa tiếp cận mục tiêu, trinh sát Tiểu đoàn phải đi tìm rồi đưa vào vị trí mở cửa, đồng chí Lại Nam Dương – Đại đội 1 báo cáo tình hình rất căng thẳng, chỉ huy tiểu đoàn động viên các mũi bí mật chờ đợi lệnh nổ súng thực hiện theo kế hoạch hợp đồng.

   Hai giờ ngày 30.10, đồng chí Võ Xuân Lâm – Tiểu đoàn phó ra lệnh cắt dây điện thoại liên lạc giữa quân Mỹ ở Gò Hà với các cứ điểm chung quanh, đồng thời ra lệnh nổ súng. Một loạt tiểu liên phát hỏa, lập tức tổ xung kích Huỳnh Dạng mũi chủ yếu xông lên diệt lô cốt đầu cầu, rồi thọc sâu vào chốt điểm đánh sập lô cốt chỉ huy, thông tin liên lạc. Đại đội trưởng Lại Nam Dương dẫn đầu các tổ chiến đấu xông vào trận địa lần lượt tiêu diệt các mục tiêu. Ở hướng Đại đội 2, khi nghe lệnh nổ súng, Đại đội trưởng Nguyễn Xuân Mua dẫn đầu các tổ vượt qua lớp rào cuối cùng đánh chiếm các mục tiêu. Sau 30 phút nổ súng chiến đấu, các mũi đã tiêu diệt phần lớn các mục tiêu chủ yếu, quân Mỹ lúc đầu bị bất ngờ và mất sức chiến đấu, nhưng còn một số hỏa điểm chưa bị diệt, ngoan cố dùng đại liên 12,7 ly và M60 bắn chặn các tổ chiến đấu của Đại đội 1, máy bay HU1A, CH47 từ Đà Nẵng lên thả đèn sáng, pháo cối cũng bắn vào chung quanh chốt điểm, một quả rơi vào vị trí chỉ huy, làm bị thương đồng chí Lê Tự Cả, trận đánh trở nên quyết liệt. Quyết tâm tiêu diệt các hỏa điểm của địch, tổ chiến đấu thọc sâu (Tư, Miền, Thanh) lao lên diệt từng tên Mỹ, dồn chúng về hướng Đông, địch dùng 12,7 ly bắn chặn, lập tức đồng chí Tư bắn 1 quả AT diệt khẩu đại liên, đồng chí Thanh bật dậy dùng lựu đạn đánh tiếp, bất ngờ bị 1 tên Mỹ bắn ngã. Máy bay trực thăng không liên lạc được với bọn Mỹ dưới mặt đất, nên dùng rốc – két bắn vào trận địa, làm cho bọn Mỹ còn sống sót chạy ra ngoài, gặp tổ truy kích của Huỳnh Dạng, chúng nổ súng, đồng chí Dạng hy sinh. Quyết trả thù cho đồng đội, Tiểu đội 3 do đồng chí Chính chỉ huy xông lên diệt bọn Mỹ còn lại và bắn cháy 1 xe M113, làm chủ trận địa và nhanh chóng thu chiến lợi phẩm, giải quyết thương binh, tử sĩ. Dân công hỏa tuyến vượt qua làn đạn từ máy bay địch bắn xuống để xông vào trận địa đưa thương binh ra. Còn cán bộ, chiến sĩ tập trung thu vũ khí, đồng chí Nguyễn Xuân Khoa – chính trị viên tiểu đoàn thu 3 súng, khi rút ra ngoài bị đại liên địch từ máy bay bắn bị thương gãy tay.



   Ở ba ra An Trạch, khi nghe lệnh nổ súng, các mũi đồng loạt nổ súng tiến công tiêu diệt phần lớn quân địch ngay từ đầu, sau 30 phút chiến đấu, Đại đội 3 đã làm chủ trận địa, còn Trung đội 3 – Đại đội 1 Điện Bàn đã diệt gọn 1 trung đội lính thủy đánh bộ Mỹ ở Miếu Trắng, thu toàn bộ vũ khí.

   Kết quả Tiểu đoàn bộ binh R20 đã tiêu diệt 1 đại đội lính thủy đánh bộ Mỹ, loại khỏi vòng chiến đấu 180 tên, thu 150 súng các loại, trong đó có 2 súng Ba – dô – ca 90 ly, bắn cháy 4 xe bọc thép M113.

   Trận tiến công cứ điểm Gò Hà là trận đánh xuất sắc, đánh dấu sự trưởng thành của Tiểu đoàn bộ binh R20. Đây là lần đầu tiên trên chiến trường Quảng Đà, cũng như Khu 5, lực lượng vũ trang địa phương tiêu diệt 1 đại đội lính thủy đánh bộ Mỹ trong công sự tương đối vững chắc, có trang bị vũ khí hiện đại. Trận đánh thể hiện tinh thần quyết tâm chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ, nhất là khi trận đánh diễn ra ác liệt, cấp ủy, chỉ huy tiểu đoàn đã bình tĩnh, phát huy trí tuệ tập thể, kết luật tình hình một cách chính xác, đề ra những biện pháp xử lý tình huống căng thẳng, phức tạp, không thay đổi phương án chiến đấu, mà kiên trì bám trận địa, động viên cán bộ, chiến sĩ giữ vững quyết tâm chiến đấu, đây là quyết định mang tính lích sử tạo điều kiện cho các mũi, tổ chiến đấu tiêu diệt địch, hoàn thành nhiệm vụ cấp trên giao phó. Tuy nhiên, quá trình chiến đấu đơn vị cũng gặp tổn thất lớn, gần 100 cán bộ, chiến sĩ hy sinh và bị thương, trong đó có đồng chí Huỳnh Dạng – Trung đội trưởng, một dũng sĩ diệt Mỹ xuất sắc của tiểu đoàn, đồng chí Thân Đức Liên – Chính trị viên Đại đội 1 – bộ đội địa phương Điện Bàn.

   Sau trận đánh, đơn vị hành quân về thôn Lệ Bắc của xã Xuyên Lộc (Duy Xuyên) làm lễ truy điệu các đồng chí đã hy sinh và trưng bày vũ khí, đạn dược thu được trong trận đánh, sau hậu cứ vùng B Đại Lộc cán bộ, nhân dân địa phương đến dự đều cảm động, thương tiếc các đồng chí vì sự nghiệp cách mạng, vì nhân dân mà chiến đấu hy sinh anh dũng.

   Cũng sau trận đánh Mỹ ở Gò Hà, một đoàn nhà báo của Cu Ba, Trung Quốc và phóng viên các báo của ta đến thăm hậu cứ tiểu đoàn, tìm hiểu về chiến công của tiểu đoàn và cách đánh thắng Mỹ của cán bộ, chiến sĩ đơn vị. Lãnh đạo, chỉ huy đã tiếp đón và báo cáo kinh nghiệm, đồng thời trao tặng cho đoàn Cu Ba và Trung Quốc mỗi đoàn 1 khẩu cối cá nhân M79 thu được của Mỹ ở trận Gò Hà.

*
*   *
Logged

Cây sinh ngàn nhánh do từ gốc
Nước chảy muôn nơi bởi có nguồn.
fantomasft
Thành viên
*
Bài viết: 468


Con nhà lính... Tính nhà binh...


« Trả lời #33 vào lúc: 30 Tháng Giêng, 2013, 08:56:12 am »

LIÊN TỤC CƠ ĐỘNG CHIẾN ĐẤU, GÓP PHẦN
ĐÁNH BẠI 2 CUỘC PHẢN CÔNG CHIẾN LƯỢC
MÙA KHÔ CỦA MỸ - NGỤY
(1965 – 1966, 1966 – 1967)


   Cuối năm 1965, đầu năm 1966, sau khi hoàn thành việc triển khai lực lượng, bố trí thiết bị chiến trường, Mỹ - Ngụy tập trung lực lượng, phương tiện chiến tranh mở cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ nhất (1965 – 1966) đánh vào miền Đông Nam bộ, Tây Nguyên và Bắc Bình Định. Tỉnh Quảng Đà không nằm trong những hướng tiến công chủ yếu, nhưng đây là địa bàn chiến lược rất quan trọng, nơi có căn cứ liên hợp quân sự lớn nhất ở miền Trung, lực lượng tập trung tương đối đông, do đó, trong những tháng cuối năm 1965, Mỹ - Ngụy tăng cường phi pháo đánh phá vùng Gò Nổi (Điện Bàn), Vùng B (Đại Lộc), tăng thêm hỏa lực cho các trận địa pháo Thượng Đức, Ái Nghía, An Hòa – Đức Dục, Hòn Non Trượt, Vĩnh Điện để bắn phá chung quanh, gây nhiều khó khăn cho sản xuất, sinh hoạt của nhân dân. Đầu năm 1966, các trung đoàn thuộc Sư đoàn 1 (15), Sư đoàn 3 thủy quân lục chiến Mỹ, Liên đoàn 11 biệt động quân, Trung đoàn 51 Ngụy bắt đầu mở các cuộc hành quân tìm diệt đánh phá vùng giải phóng phía Nam và phía Tây căn cứ Đà Nẵng, hỗ trợ cho lực lượng địa phương dồn dân, bình định.

   Trước những âm mưu, thủ đoạn của Mỹ - Ngụy, tháng 12.1965, BCHTƯ Đảng (khóa III) tiến hành hội nghị lần thứ 12 đề ra nghị quyết lãnh đạo cuộc kháng chiến. Nghị quyết nhấn mạnh: “ Chúng ta phải động viên lực lượng cả nước, kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trong bất cứ tình huống nào, để bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân trong cả nước, tiến tới thực hiện hòa bình, thống nhất đất nước”.

   Quán triệt nghị quyết 12 của Trung ương Đảng, Khu ủy – BTL Quân khu 5 đề ra phương hướng, nhiệm vụ cho lực lượng vũ trang Quân khu là: “Ra sức tiến công và phản công địch, kiên quyết tiêu diệt quân Mỹ và Ngụy, đánh bại kế hoạch phản công chiến lược mùa khô của chúng, giữ vững và mở rộng căn cứ miền núi và vùng giải phóng đồng bằng, phát triển lực lượng cách mạng” (16).

   Trên cơ sở nghị quyết, nhiệm vụ cấp trên giao, Thường vụ Tỉnh ủy – BCH tỉnh đội Quảng Đà đề ra chủ trương tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo các đơn vị, địa phương tích cực đánh địch càn quét, lấn chiếm, đồng thời xây dựng, phát triển lực lượng và thế trận, nhằm đáp ứng yêu cầu đánh Mỹ trong không gian, thời gian lớn hơn.

   Thực hiện chủ trương đó: từ tháng 8 đến tháng 11.1965, BCH Tỉnh đội Quảng Đà quyết định điều động lực lượng, trong đó có ½ cán bộ, chiến sĩ nòng cốt của Tiểu đoàn bộ binh R20 để thành lập Tiểu đoàn bộ binh 2 (mật danh V25), tiểu đoàn đặc công hậu cứ Đà Nẵng (mật danh 489) và một số đại đội binh chủng: Công binh, thông tin, trinh sát. Ở các huyện, thị, thành cũng tăng thêm 1 – 2 đại đội bộ đội địa phương. Kết hợp xây dựng lực lượng, các đơn vị, địa phương còn huy động lực lượng xây dựng trận địa làng, xã chiến đấu, mở rộng vành đai diệt Mỹ, phát triển phong trào nhân dân du kích chiến tranh.

   Tiểu đoàn bộ binh R20, sau các trận đánh Mỹ, đơn vị rút về hậu cứ củng cố tổ chức (17), bổ sung quân số, trang bị, tiến hành sinh hoạt, học tập, huấn luyện, đồng thời cùng nhân dân xây dựng trận địa sẵn sàng đánh địch. Đêm 14.01.1966, chấp hành mệnh lệnh cấp trên, tiểu đoàn cơ động xuống vùng B Điện Bàn, tập kích đánh thiệt hại Tiểu đoàn 37 (Liên đoàn 11 biệt động quân Ngụy) đang đóng quân dã ngoại tại thôn Bồ Mưng – Điện Thắng, thu 20 súng, 2 máy PRC 25, bắt sống 3 tên.

   Sau trận đánh này, tiểu đoàn hành quân về đứng chân tại Điện Văn (nay là xã Điện Hồng) để cùng bà con nhân dân ở đây đón tết âm lịch Bính Ngọ (1966), tết cổ truyền của dân tộc. Nhân dịp này, cấp ủy, mặt trận, đoàn thể của xã, cấp ủy, chỉ huy tiểu đoàn chủ trương đẩy mạnh đấu tranh binh vận đối với bọn lính ở đồn Trường Giảng, bằng biện pháp: Lợi dụng thời gian những bắn trong dịp tết, mặt trận, đoàn thể địa phương tổ chức một đoàn đại diện vào đồn chúc tết, tặng quà cho binh lính địch, rồi mời chúng giao hữu bóng chuyền với quân giải phóng, qua đó, vận động binh lính địch đào rã ngũ.

   Thực hiện kế hoạch trên, 09 giờ ngày 01.01  âm lịch, các đại biểu đoàn thể mang quà vào đồn. Lúc đầu bọn lính gác không cho vào đồn, nhưng trước yêu cầu chính đáng của bà con, nên chúng cho vào gặp tên Toàn – Trung úy đồn trưởng. Sau khi chào hỏi, tặng quà xong, ta đề nghị giao hữu bóng chuyền, lúc đầu chúng cũng từ chối, nhưng sau lại nhận lời. Trận giao hữu bóng chuyền giữa binh lính đồn Trường Giảng và cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn bộ binh R20 diễn ra lúc 14 giờ 30 phút ngày 1 âm lịch, ở gần đồn Trường Giảng, nhân dân đến xem rất đông. Kết quả, lính đồn Trường Giảng thắng 2 – 1, cán bộ binh vận và bà con ta tranh thủ vận động tuyên truyền binh lính về chính sách của Mặt trận dân tộc giải phóng, nên sau tết có nhiều binh lính ở đồn Trường Giảng đào ngũ.

___________________

15. Sư đoàn 1 Lính thủy đánh bộ Mỹ thành lập năm 1774 đây là đơn vị kỳ cựu, tinh nhuệ nhất của Mỹ, chiến tranh thế giới lần thứ 2 đổ bộ vào Phi Líp Pin, Nhật, Triều Tiên. Sư đoàn có 4 trung đoàn (1 + 5 + 7 + 27) 1 tiểu đoàn xe tăng M48, 1 tiểu đoàn pháo chống tăng tự hành, 6 tiểu đoàn pháo mặt đất, 1 tiểu đoàn trinh sát, 1 đại đội xe lội nước. Tháng 8.1965 bắt đầu đổ vào Đà Nẵng, đến tháng 1.1966 toàn bộ sư đoàn có mặt ở Quảng Đà. Sau xuân Mậu Thân 68 được điều động ra chiến trường Huế - Quảng Trị. Cuối năm 1969 tham gia các chiến dịch bình định nông thôn ở vùng 1 chiến thuật. Sư đoàn bị tổn thất nặng nề nhất ở Chu Lai, Vạn Tường, Khe Sanh, đường 9. Ngày 30.4.1975 rút về nước.

16. Dẫn theo: “Quân khu 5 – Thắng lợi và những bài học kinh nghiệm trong cuộc KCCM cứu nước”, Nxb QĐND – năm 1981, tập 1  - trang 80.

17. Đồng chí Dương Văn Cứ làm chính trị viên tiểu đoàn thay cho đồng chí Nguyễn Xuân Khoa bị thương đi điều trị.




Logged

Cây sinh ngàn nhánh do từ gốc
Nước chảy muôn nơi bởi có nguồn.
fantomasft
Thành viên
*
Bài viết: 468


Con nhà lính... Tính nhà binh...


« Trả lời #34 vào lúc: 30 Tháng Giêng, 2013, 09:11:30 am »

   Trở lại vùng B (Đại Lộc) – tiểu đoàn nhận nhiệm vụ triển khai kế hoạch chiến đấu đánh Mỹ càn quét: Xây dựng công sự, trận địa phục kích kết hợp vận động tiến công, bố trí lực lượng thành thế trận liên hoàn, vững chắc.

   - Đại đội 1 bố trí trận địa ở thôn Phú An.

   - Đại đội 2 bố trí trận địa ở thôn Phú Long.

   - Đại đội 3 bố trí trận địa ở Quảng Đại.

   - Đại đội 4 và BCH Tiểu đoàn đứng ở Quảng Đại.
   
   - Đồng chí Võ Xuân Lâm – Tiểu đoàn phó trực tiếp chỉ huy. Sáng ngày 28.01.1966, sau nhiều ngày sử dụng phi pháo đánh phá, chọn khu vực đổ bộ đường không, quân Mỹ sử dụng hơn 200 lần chiếc trực thăng đổ bộ hơn 1000 quân thuộc Sư đoàn 3 lính thủy đánh bộ Mỹ xuống càn quét, đánh phá các xã vùng B Đại Lộc. Đây là lần đầu tiên quân chiến đấu Mỹ đặt chân đến vùng giải phóng Đại Lộc.

   Cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn bộ binh R20 đã có một số kinh nghiệm đánh Mỹ hành quân dã ngoại, nên khi quân Mỹ đổ xuống, triển khai đội hình càn quét, thì vẫn bình tĩnh, bí mật, bám chắc công sự, trận địa, chờ địch tiến sát mới nổ súng, thực hiện khẩu hiểu “mỗi viên đạn 1 tên Mỹ”, đó là cách đánh thích hợp, linh hoạt, hạn chế được thương vong do hỏa lực địch, nhất là bom, pháo gây ra.

   Tại trận địa Đại đội 1, khi đội hình địch tiến đến cách công sự 15 m, đại đội trưởng ra lệnh nổ súng, lập tức khẩu đại liên do đồng chí Kéo xạ thủ rung lên tiêu diệt những tên Mỹ trong tốp đi đầu, bọn sống sót nằm lăn xuống ruộng lúa rồi bò lùi lại, một tên Mỹ kéo đại liên M60 định bắn, nhưng cũng bị diệt. Sau loạt đạn đại liên nổ, các loại súng ở khắp trận địa nổ dồn dập, diệt từng tên Mỹ, bị đánh bất ngờ, bọn Mỹ, lùi lại tổ chức gọi phi pháo đánh trả, trên không máy bay trinh sát L19, OV10, HU1A, F4, F100 gầm rú bắn rốc - két, ném bom xuống đồng lúa thôn Phú Bình. Sau đó quân bộ Mỹ tổ chức xung phong. Cuộc chiến đấu diễn ra ngày càng quyết liệt từ 09 giờ đến 11 giờ, quân Mỹ tổ chức 7 đợt xung phong vào trận địa đại đội 1 nhưng đều thất bại, phải lui ra xa củng cố đội hình. Máy bay, pháo cối của địch tiếp tục bắn phá. Lợi dụng tình hình trên, các đại đội vừa theo dõi hành động của địch, vừa tranh thủ củng cố công sự, hầm trú ẩn và ăn vội mấy nắm cơm của nuôi quân và chị em địa phương đưa đến. Đến chiều, quân Mỹ lại tiếp tục tiến công, tổ chức nhiều đợt xung phong vào trận địa Đại đội 1, nhưng đều bị đánh bật ra, đến đợt xung p hong cuối cùng, chúng tập trung gần 100 tên xông vào chọc thủng trận địa đơn vị, khẩu đại liên của đồng chí Kéo ở trường tiểu học Phú An chiến đấu đên viên đạn cuối cùng, đồng chí phá súng, rồi dùng lựu đạn diệt nhiều tên Mỹ và hy sinh anh dũng. Để bảo toàn lực lượng, tiểu đoàn ra lệnh cho Đại đội 1 rút về Phú Bình Tây.

   Tại trận địa của Đại đội 2 ở thôn Phú Long, các tổ chiến đấu bám chắc công sự đánh bại các đợt xung phong của địch, không cho chúng lọt vào trận địa, đến tối cùng với lực lượng ở Phú An rút về co cụm ở Giảng Hòa.

   Ngày 29.01, quân Mỹ từ Giảng Hòa chia làm nhiều mũi càn quét, đánh phá các thông Quảng Đợi, Phú Long, Phú An. Trước tình hình đó, BCH tiểu đoàn ra lệnh cho các đại đội bám chắc trận địa, đánh bại các mũi tiến quân của chúng, Đại đội 4 hỏa lực sử dụng cối 81 ly, ĐKZ tập kích vào đội hình địch, đồng thời sử dụng trung liên, đại liên bắn rơi 4 máy bay trực thăng, không thực hiện được ý định, đến tối quân Mỹ lại rút về co cụm ở Giảng Hòa.

Logged

Cây sinh ngàn nhánh do từ gốc
Nước chảy muôn nơi bởi có nguồn.
fantomasft
Thành viên
*
Bài viết: 468


Con nhà lính... Tính nhà binh...


« Trả lời #35 vào lúc: 02 Tháng Hai, 2013, 08:41:11 am »

   Diễn biến chiến sự trên vùng B Đại Lộc và khu Tây Duy Xuyên diễn ra ngày càng quyết liệt, Trung đoàn 4 (Sư đoàn 3 lính thủy đánh bộ Mỹ) được phi pháo chi viện đắc lực, liên tục càn quét, đánh phá các thôn xóm.

   Quyết tâm đánh bại các cuộc càn quét của quân Mỹ, Tiểu đoàn bộ binh R20 đã phối hợp chặt chẽ với lực lượng địa phương, vận dụng linh hoạt các hình thức chiến thuật: Tập kích, phục kích, vận dụng tiến công, bắn bia, bắn tỉa, kết hợp chiến đấu phân tán với chiến đấu tập trung, đánh địch cả ban ngày và ban đêm, chiến đấu với tinh thần bám thắt lưng địch mà đánh, nhiều trận chiến đấu quyết liệt diễn ra tại khu vực cầu ông Nở (giữa thôn Long An và Phú Bình) tiểu đoàn đánh thiệt hại 2 đại đội lính thủy đánh bộ Mỹ, diệt hàng trăm tên Mỹ tại đây, Chiến công đó được cán bộ, nhân dân địa phương ca ngợi bằng câu ca:

                                                                Lấy xác Mỹ xây cầu ông Nở
                                                                Cho Long An nối lại Phú Bình

   Sau gần 1 tháng chiến đấu, tiểu đoàn đã đánh 54 trận lớn nhỏ, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 300 tên Mỹ, bắn rơi 6 máy bay, thu 17 súng. Ngày 25.02.1966, quân Mỹ phải rút khỏi vùng B Đại Lộc.

   Những trận chiến đấu của Tiểu đoàn bộ binh R20 đánh quân Mỹ càn quét vùng B Đại Lộc (tháng 02.1966) có ý nghĩa lịch sử rất lớn: Tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận sinh lực sừng sỏ, thiện chiến của lính thủy đánh bộ Mỹ. Mặc dù tính chất, cường độ các trận đánh diễn ra ngày càng quyết liệt, căng thẳng, quân Mỹ đông, trang bị hiện đại, hỏa lực chi viện tối đa, quyết tìm diệt cho được Tiểu đoàn bộ binh R20, thế nhưng ngược lại diễn biến không theo ý định chiến dịch, chiến thuật của quân Mỹ, cán bộ, chiến sĩ với tinh thần quyết tâm chiến đấu cao, bản lĩnh vững vàng, trình độ kỹ, chiến thuật tinh nhuệ, thông thuộc địa hình, được cán bộ, nhân dân nuôi dưỡng, nên Tiểu đoàn đã trụ bám kiên cường, dựa vào trận địa, làng xã chiến đấu, vận dụng mọi hình thức chiến thuật, cách đánh, trang bị vũ khí để quần lộn, bám thắt lưng địch mà đánh, đánh trong mọi thời gian, không gian, lập được nhiều chiến công xuất sắc, cuối cùng quân Mỹ phải rút về căn cứ, còn đơn vị vẫn trụ bám làm chủ địa bàn. Từ thực tế những trận chiến đấu này, tiểu đoàn rút ra nhiều kinh nghiệm trong đánh Mỹ, thắng Mỹ hành quân dã ngoại.

   Chiến công đánh Mỹ của Tiểu đoàn bộ binh R20, cũng như của quân dân tỉnh Quảng Đà cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh chính trị của các tầng lớp nhân dân, làm cho nội bộ Mỹ - Ngụy ở Quân đoàn 1 Ngụy mâu thuẫn, cấu xé lẫn nhau dẫn đến sự kiện lực lượng ly khai Quân đoàn 1 và các tầng lớp nhân dân Đà Nẵng và các đô thị đấu tranh đòi lật đổ Thiệu – Kỳ, đòi Mỹ rút quân về nước, làm chủ thành phố 76 ngày đêm (10-03 đến 24-05-1966).

   Bị thất bại nặng nề trên các mặt quân sự, chính trị, Mỹ - Ngụy phải kết thúc cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ nhất vào cuối tháng 04.1966 (trước 1 tháng theo dự kiến) để chuẩn bị mở cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai (1966 – 1967). Trên chiến trường Quảng Đà, Mỹ - Ngụy tăng cường thêm lực lượng, phương tiện chiến tranh, liên tục mở các cuộc hành quân đánh phá vùng giải phóng Điện Bàn, Đại Lộc, Duy Xuyên. Tăng cường củng cố, mở rộng các căn cứ chi khu quận lỵ An Hòa – Đức Dục, Nông Sơn – Thượng Đức – Ái Nghĩa – Núi Lỡ, hình thành hệ thống phòng thủ từ xa của căn cứ Đà Nẵng. Cường độ, quy mô, tính chất ác liệt, càn quét đến đâu, Mỹ - Ngụy ra sức đốt nhà, cày ủi nhà cửa, hầm trú ẩn, bắt giết hàng ngàn dân vô tội ở vùng A, B, Gò Nổi (Điện Bàn). Vùng A, B (Đại Lộc), khu Trung, khu Tây (Duy Xuyên), điển hình nhất là các vụ tàn sát hàng loạt dân ở Thủy Bồ - La Thọ - Điện Quang (Điện Bàn). Trước hành động đánh phá tàn bạo của Mỹ - Ngụy, một số nhân dân ở vùng giải phóng phải rời bỏ nhà cửa, làng xóm, sơ tán đi nơi khác, sống cảnh màn trời, chiếu đất, nhiều làng xã ở vùng giải phóng bắt đầu thưa dân, trắng đất.

   Trước tình hình diễn biến căng thẳng, phức tạp, Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Đà họp nhận định: “Địch đã bị thất bại nặng nề trong mùa khô lần thứ nhất, nhưng bản chất hiếu chiến xâm lược của chúng chưa bị đánh bại, khả năng của chúng còn”. Hội nghị quyết định “Kiên quyết trụ bám đánh địch, giành, giữ dân với khẩu hiệu: “Đảng bám dân, dân bám đất, bộ đội, du kích bám đánh địch”, gọi tắt là “Ba bám”, đây là phương châm đúng đắn, kịp thời của lãnh đạo, chỉ huy các cấp nhằm giữ vững thế làm chủ chiến trường, thế cách mạng tiến công.

   Quán triệt chủ trương của Thường vụ Tỉnh ủy, các đơn vị, địa phương triển khai thực hiện bằng nhiều biện pháp cụ thể, nhất là các đơn vị hoạt động tác chiến trên vành đai diệt Mỹ Đà Nẵng – Hòa Vang, vẫn bám chắc vành đai, chiến đấu giữ chân địch, đồng thời thọc sâu vào bên trong tiến công các mục tiêu quan trọng.

   Tiểu đoàn bộ binh R20 sau trận chống càn quét ở vùng B, vẫn đứng chân ở tại đây củng cố, sẵn sàng cơ động chiến đấu, bảo vệ nhân dân, làng xã.
Logged

Cây sinh ngàn nhánh do từ gốc
Nước chảy muôn nơi bởi có nguồn.
fantomasft
Thành viên
*
Bài viết: 468


Con nhà lính... Tính nhà binh...


« Trả lời #36 vào lúc: 02 Tháng Hai, 2013, 08:53:05 am »

   Ngày 15.03.1966, Mỹ - Ngụy sử dụng 1 tiểu đoàn lính thủy đánh bộ càn quét, đánh phá đốt nhà, bắn giết hàng chục người dân vô tội xã Điện Hồng (nay là xã Điện Quang – Điện Bàn), quyết tâm trả thù cho đồng bào vô tội bị chúng giết hại, Tiểu đoàn bộ binh R20 sử dụng Đại đội 2 và 3 do đồng chí Võ Xuân Lâm chỉ huy từ hậu cứ hành quân xuống đánh địch càn quét ở Điện Hồng. Căn cứ kế hoạch, phương án chiến đấu, các đại đội đã xây dựng trận địa phục kích kết hợp với trận địa tiến công, bố trí lực lượng quần lộn chiến đấu với quân Mỹ, bẻ gãy 27 đợt xung phong của địch, đánh thiệt hại nặng 1 đại đội lính Mỹ, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 100 tên, bắn rơi 1 máy bay trực thăng.

   Trong chiến dịch Hè 1966 của Quân khu, tiểu đoàn nhận lệnh cơ động ra đứng chân ở vùng B Điện Bàn tham gia trận đánh công đồn, diệt viện ở xã Điện Phước. Tham gia trận tiến công này có: Tiểu đoàn bộ binh 2 (V25) đảm nhận tiến công tiêu diệt đồn Bình Long. Tiểu đoàn 70 (Trung đoàn 1 Sư đoàn 2 Quân khu 5) tăng cường bố trí trận địa đánh địch phản kích ở Nhị Dinh, Hạ Nông (Điện Phước), chủ yếu đánh địch cơ động trên đường 100, Tiểu đoàn bộ binh R20 làm nhiệm vụ dự bị, bố trí trận địa ở La Thọ (Điện An), sẵn sàng đánh địch từ quốc lộ 1 cơ động lên hướng này.

   Trận đánh do đồng chí Nguyễn Hoán – Tham mưu trưởng tỉnh Quảng Đà và đồng chí Đỗ Châu Sa – Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 70 chỉ huy.

   Đêm 24.04.1966, Tiểu đoàn bộ binh 2 tiến công tiêu diệt 1 đại đội địa phương quân ở đồn Bình Long, thu toàn bộ vũ khí. Rạng sáng ngày 25.04.1966, Mỹ - Ngụy huy động 3 tiểu đoàn lính chủ lực, 2 đại đội địa phương quân, 2 chi đoàn xe tăng M113 mở cuộc hành quân giải tỏa, lực lượng xe tăng chủ yếu tiến theo đường 100 rơi vào trận địa phục kích của Tiểu đoàn 70, nên ở đây diễn ra nhiều trận đánh ác liệt. Đến chiều tối, địch chiếm lại Bình Long, các đơn vị tham gia trận đánh đều rút về hậu cứ, Tiểu đoàn bộ binh R20 và bộ binh 2 rút về Gò Nổi tiếp tục đánh địch càn quét.

   Bước vào những ngày đầu tháng 5 lịch sử, Tiểu đoàn bộ binh R20 cơ động về vùng B Đại Lộc, chuẩn bị đánh quân Mỹ càn quét trở lại đây. Trong không khí thi đua lập thành tích chào mừng kỷ niệm ngày sinh của Hồ Chủ Tịch và 1 năm thành lập Tiểu đoàn, tiểu đoàn hăng hái chuẩn bị công sự, trận địa, bỏ sung vũ khí, đạn dược.

   Lúc này, theo tin Quân báo – trinh sát cấp trên thông báo Trung đoàn 5 (Sư đoàn 1 lính thủy đánh bộ Mỹ) đang đứng tại An Hòa – Đức Dục sẽ sử dụng lực lượng càn quét trở lại vùng B Đại Lộc. Nhận được mệnh lệnh của BCH Tỉnh đội, Đảng ủy – BCH Tiểu đoàn họp xác định phương án chiến đấu, sau đó phân công chỉ huy tiểu đoàn đến ngay các đại đội để triển khai đội hình sẵn sàng chiến đấu đánh Mỹ từ An Hòa vượt sông Thu Bồn sang càn quét đánh phá vùng B Đại Lộc.
Logged

Cây sinh ngàn nhánh do từ gốc
Nước chảy muôn nơi bởi có nguồn.
fantomasft
Thành viên
*
Bài viết: 468


Con nhà lính... Tính nhà binh...


« Trả lời #37 vào lúc: 02 Tháng Hai, 2013, 09:59:07 am »

   Đúng như dự đoán của ta, sáng ngày 16.05.1966, 1 tiểu đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ và 1 chi đoàn xe bọc thép M113, M48, từ phía Nam sông Thu Bồn, chia làm nhiều mũi vượt sông Thu Bồn rồi tiến vào thôn Phú Long, đội hình tiến quân của địch đi thận trọng. Nhân dân đi lao động hái dâu, trồng khoai ở bãi cát Giảng Hòa đều phải quay về nhà.

   Trận địa các đại đội nhận lệnh sẵn sàng chiến đấu.

   Đồng chí Nguyễn Văn Trí – Đại đội phó Đại đội 1, đang ở trận địa Trung đội 2 theo dõi hành động của quân Mỹ và động viên anh em: Đừng bắn xa uổng đạn, đợi nó đến gần mới đồng loạt nổ súng thì mới đạt hiệu quả, chính xác hơn.

   Phía trước trận địa, hơn 10 chiếc xe tăng, dẫn đầu lính bộ binh tiến vào làng, ĐKZ57, súng phóng lựu AT, đại liên và các loại súng đều sẵn sàng.

   Khi chiếc xe bọc thép M113 đi đầu cách công sự 150 mét, chỉ huy ra lệnh chiến đấu, lập tức cả trận địa nổ súng, khẩu ĐKZ do đồng chí Mạnh làm khẩu đội trưởng bắn diệt chiếc xe đi đầu, tiếp đến đồng chí Huỳnh Bá Bửu bắn 5 quả diệt thêm 4 xe, đồng chí Sơn bắn 3 quả phóng lựu AT, diệt 2 xe tăng, những chiếc còn lại lui ra xa, dùng hỏa lực bắn vào trận địa ta, bọn lính bộ binh số chết, bị thương nằm trước trận địa, số còn lại bám vào xe tăng để chống cự.

   Quan sát thấy quân địch dừng lại co cụm, chỉ huy tiểu đoàn lệnh cho các khẩu đội cối 60, 82 ly, từ thôn Phú Ninh vận động đến phía sau trận địa Đại đội 1 bắn dồn dập vào đội hình địch ở bãi cát Giảng Hòa, làm 1 xe M48 bốc cháy, còn 2 chiếc khác bị thương, quân địch hốt hoảng lui ra mép sông chấn chỉnh đội hình và gọi pháo binh, không quân đánh phá thôn Phú Long. Trong đợt phản kích đầu tiên, Đại đội 1 và Đại đội 4 hỏa lực Tiểu đoàn bộ binh R20 đã đánh thiệt hại 1 đại đội lính thủy đánh bộ Mỹ, bắn cháy và bị thương nhiều xe tăng, xe bọc thép.

   Sau 1 giờ sử dụng phi pháo đánh phá, xe tăng, bộ binh Mỹ lại xung phong vào trận địa.

   Không để cho quân Mỹ tiến vào, chỉ huy tiểu đoàn ra lệnh cho Đại đội 3 ở Quảng Đợi sử dụng đại liên vận động đến Gò Dẹt bắn ra bãi dâu, chia cắt đội hình địch, đồng chí Trần Huỳnh – khẩu đội trưởng mưu trí, bình tĩnh phát huy tính năng, tác dụng của đại liên, bắn từng loạt, chính xác, gim đầu quân Mỹ xuống bãi cát, diệt hàng chục tên, bọn sống sót bỏ chạy về phía sau, sau nhiều đợt xung phong bị thất bại, chúng lùi lại để củng cố đội hình, sử dụng phi pháo đánh phá, ác liệt vào trận địa, rồi xe tăng, bộ binh mới dám xung phong vào.

   Diễn biến đến 14 giờ, quân Mỹ tiến hành hàng chục đợt xung phong, nhưng đều bị bẻ gãy, 1 đại đội nữa bị thiệt hại nặng, 8 xe tăng bị bắn cháy và bị thương. Tổn thất nặng nề lại bị bọn chỉ huy thúc dục, quân Mỹ sử dụng 1 đại đội và 4 xe tăng đột thẳng vào trận địa của Trung đội 3, một mũi khác và 3 xe tăng đột vào Quảng Đợi, các loại hỏa lực trên xe bắn liên tục vào các trận địa của ta, nhà cửa, cây lá, bụi tre, bờ làng đã bị phi pháo đánh nát, nay càng bị tơi tả thêm. Lúc này ở trận địa Đại đội 1, các tổ chiến đấu đã bắn hết đạn, sức chiến đấu sau gần 1 ngày quyết liệt cũng đã giảm sút, khẩu ĐKZ cũng hư hỏng kính ngắm, đồng chí Mạnh và đồng chí Bửu – Khẩu đội trưởng bị thương nặng. Trước tình hình đó, chỉ huy tiểu đoàn lệnh cho Đại đội 1 rút về thôn Phú Ninh, củng cố đội hình, quân Mỹ tiến vào thôn Phú Long, đến tối chúng rút về trú quân ở bãi cát Giảng Hòa.
Logged

Cây sinh ngàn nhánh do từ gốc
Nước chảy muôn nơi bởi có nguồn.
fantomasft
Thành viên
*
Bài viết: 468


Con nhà lính... Tính nhà binh...


« Trả lời #38 vào lúc: 02 Tháng Hai, 2013, 09:59:36 am »

   Sau những ngày quần lộn, chiến đấu quyết liệt với quân Mỹ ở vùng B, Tiểu đoàn bộ binh R20 cơ động toàn bộ lực lượng xuống dừng chân ở các xã phía Tây Gò Nổi và khu Tây – Duy Xuyên nhằm phối hợp với lực lượng địa phương đánh địch càn quét ở vùng này, tạo điều kiện nâng cao trình độ chiến đấu, rèn luyện tác phong chiến đấu, thích hợp với phương thức, phương châm tiến hành chiến tranh nhân dân địa phương, chiến tranh du kích chống chiến tranh hiện địa của Mỹ - Ngụy. Mặc dù diễn biến tình hình ở đây cũng căng thẳng, Mỹ - Ngụy sử dụng phi pháo đánh phá liên tục, Gò Nổi là nơi có nhiều truyền thống đấu tranh cách mạng, nơi có nhiều cơ quan, đơn vị của tỉnh, của huyện trú quân và là hành lang cơ động từ hậu cứ xuống đồng bằng, do đó nhân dân Gò Nổi rất gần gũi gắn bó các cơ quan, đơn vị bộ đội đứng chân tại đây, trong đó có cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn bộ binh R20, coi đây là tình cảm, trách nhiệm của mỗi người dân, mỗi gia đình của mảnh đất Gò Nổi. Sống, chiến đấu trong tình thương yêu, đùm bọc của nhân dân, cán bộ, chiến sĩ càng phấn đấu vượt qua mọi khó khăn, thử thách để chiến đấu, chiến thắng quân xâm lược và tay sai.

   Trong lúc đơn vị đang hoạt động tác chiến ở Gò Nổi (Điện Bàn) và khu Tây Duy Xuyên, thì ở Đại Lộc, quân Mỹ và tay sai tập trung càn quét, đánh phá các xã chung quanh thị trấn Ái Nghĩa, trong đó có xã Lộc Hưng, chúng bắt dân vào khu dồn, tra tấn đánh đập những người dân vô tội, dân quân, du kích địa phương không đủ sức tiêu diệt bọn này, nhân dân ở đây tâm sự: “Không biết Tiểu đoàn bộ binh R20 đánh Mỹ ở đâu, mà chẳng thấy về đây đánh bọn Mỹ - Ngụy, để cho bà con đỡ khổ hơn một chút”. Trước yêu cầu bức thiết của nhân dân, Đảng ủy – BCH Tiểu đoàn phân công một cán bộ và trinh sát đến ngay xã Lộc Hưng để nắm tình hình, xây dựng kế hoạch, chiến đấu đánh Mỹ càn quét. Đêm 15.06.1966, tiểu đoàn bí mật vượt sông Thu Bồn cơ động đến bố trí trận địa chiến đấu ở xã Lộc Hưng. Căn cứ vào phương án chiến đấu đã chọn:

   - Đại đội 2 triển khai bố trí trận địa ở Bàn Thạch, Hòa Thạch, chặn đánh địch từ cây Da Lý, đình Không Chái tiến vào.

   - Đại đội 1, đơn vị chủ động đảm nhiệm bố trí trận địa ở Thạch Bồ, sẵn sàng cơ động tiến công vào bên sườn đội hình quân Mỹ.

   - Đại đội 4 hỏa lực bố trí trận địa ở thôn Lộc Bình, sẵn sàng chi viện cho các đại đội.

   - Đại đội 3 làm lực lượng dự bị.

   - Sáng ngày 16.06.1966, 1 đại đội lính thủy đánh bộ Mỹ từ thị trấn Ái Nghĩa tiến xuống đình Không Chái rồi chia làm 2 mũi. Một mũi thọc vào chợ Quảng Huế, một mũi tiến đến cây Da Lý, rồi vào thôn Hòa Thạch. Quân Mỹ hùng hổ chủ quan xông tới như đi vào chỗ không người.

   Tiểu đoàn trưởng Lê Lan Chi trực tiếp chỉ huy trận đánh. Quan sát quân Mỹ khi đã lội qua hết cánh đồng trước trận địa, đồng chí ra lệnh cho Đại đội 2 nổ súng. Khẩu đại liện của Trung đội 2 rung lên diệt tốp Mỹ đi đầu, tiếp đến các loại súng của trung đội bắn vào đội hình địch. Nghe súng nổ, quân Mỹ từ đình Không Chái tiến thẳng vào trận địa của Trung đội 3. Trung đội trưởng bình tĩnh ra lệnh cho các tổ phải để địch đến gần mới được nổ súng, do đó mũi tiến công của Mỹ vào trận địa Trung đội 3 đã bị tổn thất ngay từ đầu, buộc phải dạt ra bãi dâu trước chợ Quảng Huế để củng cố và cho quân tiếp viện. Một mũi tiến vào trận địa Trung đội 1 cũng bị đánh bại. Đội hình địch bị đánh phía trước và cả hai bên sườn, rơi vào tình thế tiến thoái, lưỡng nan, phải gọi phi pháo chi viện, các trận địa pháo Bồ Bồ, Ái Nghĩa, Thượng Đức, An Hòa bắn cấp tập vào trận địa. Lợi dụng thời cơ quân bộ binh ngừng tiến công, tiểu đoàn phó Võ Xuân Lâm ra lệnh cho Đại đội 4 sử dụng 06 khẩu cối 81 ly và cối 60 ly bắn dồn dập vào khu vực cây Da Lý và phía sau đội hình địch, không để chúng rút chạy về địa điểm xuất phát. Tiểu đoàn trưởng ra lệnh 2 khẩu súng cao xạ 12,7 ly và đại liên của các đại đội tiêu diệt máy bay, bảo vệ đội hình bộ binh chuẩn bị xung phong.
Logged

Cây sinh ngàn nhánh do từ gốc
Nước chảy muôn nơi bởi có nguồn.
fantomasft
Thành viên
*
Bài viết: 468


Con nhà lính... Tính nhà binh...


« Trả lời #39 vào lúc: 02 Tháng Hai, 2013, 10:13:02 am »

   Sau khi hỏa lực của tiểu đoàn bắn áp chế đội hình địch trong 15 phút, cán bộ, chiến sĩ các đại đội vẫn bám sát đội hình địch, sẵn sàng nổ súng tiêu diệt bọn Mỹ tiến vào lấy xác. Trên không hết máy bay phản lực, đến trực thăng vũ trang quần lượn ném bom, bắn rốc – két, đại liên và khắp trận địa. Các khẩu đại liên của tiểu đoàn tập trung bắn vào bọn giặc trời, buộc chúng vọt lên cao. Để chuẩn bị xung phong đánh thẳng vào đội hình địch, tiêu diệt bọn Mỹ còn lại, tiểu đoàn phó Võ Xuân Lâm ra lệnh các Đại đội sử dụng lực lượng chờ lệnh tiếp. Khi hỏa lực của tiểu đoàn vừa kết thúc, 2 đại liên của đồng chí Nhất và đồng chí Trưởng nâng cao tầm bắn, khống chế quân Mỹ, chỉ huy trận đánh ra lệnh xung phong, các mũi tiến công của Đại đội 1 và 2 đồng loạt xung phong vào đội hình địch. Tiếng hô xung phong và tiếng súng vang lên khắp trận địa, bị tiến công mãnh liệt, quân Mỹ hoàn toàn bị tê liệt, phần lớn bị chết, bị thương, một số sống sót tìm cách tháo chạy, đồng chí Thông – chính trị viên Đại đội 1 vượt lên đuổi theo 1 tên Mỹ, quên mất đội hình đơn vị đang rút về trận địa, một tên Mỹ khác bắn đồng chí bị thương, đồng chí Ngô Minh Hoàng nhìn thấy thấy, lập tức ra lệnh cho Trung đội 3 quay lại truy kích diệt những tên Mỹ và đưa đồng chí Thông về sau để cứu chữa. Trận địa lúc này chỉ còn tiếng pháo nổ, bom đạn từ máy bay bắn xuống, để cho 2 chiếc trực thăng hạ xuống lấy xác và bọn lính bị thương. Chớp thời cơ, tiểu đoàn phó Lâm ra lệnh cho ĐKZ bắn cháy 2 chiếc trực thăng, thiêu cháy hàng chục tên Mỹ.

   Diễn biến chiến đấu kéo dài đến 15 giờ kết thúc, quân Mỹ sợ quân ta đánh tiếp, chưa dám điều động lực lượng đến cứu viện, giải quyết hậu quả ngay. Theo dõi phán đoán tình hình địch, tiểu đoàn trưởng ra lệnh thu dọn chiến trường, củng cố trận địa, sẵn sàng chiến đấu, chờ quân Mỹ đến là tiêu diệt, đến tối tiểu đoàn cơ động về hậu cứ, để lại 1 trung đội cùng du kích địa phương phục kích đánh bọn trực thăng đến lấy xác.

   Trận chiến đấu vận động phục kích của Tiểu đoàn bộ binh R20 ở cây Da Lý (Lộc Hưng – Đại Lộc) là một chiến công xuất sắc, một trận đánh hay, đạt hiệu suất chiến đấu cao. Tiểu đoàn đã tiêu diệt 1 đại đội lính thủy đánh bộ Mỹ, thu gần 100 súng các loại, bắn rơi 7 máy bay trực thăng, bắn bị thương 1 máy bay F105. Trận đánh diễn ra sát chi khu quận lỵ Đại Lộc làm cho bọn Mỹ - Ngụy hết sức hoang mang. Cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn bộ binh R20 càng chiến đấu càng trưởng thành, thực tế từ trận đánh Mỹ càn quét đầu tiên ở Xuân Diệm (Điện Tiến) đến cây Da Lý (Lộc Hưng), Tiểu đoàn bộ binh R20 đã đọ sức quyết liệt với nhiều đơn vị, lực lượng sừng sỏ của Mỹ - Ngụy, trang bị những vũ khí hiện đại, được huấn luyện kỹ càng những chiến thuật tác chiến của chiến tranh chính quy, hiện đại. Tác chiến phòng ngự hoặc hành quân dã ngoại đều được xe tăng, phi pháo chi viện đánh phá mang tính chất hủy diệt. Mỹ - Ngụy lầm tưởng sẽ nghiền nát tất cả sự chống chả của quân và dân ta, nhưng ngược lại quân và dân ta, trong đó có cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn bộ binh R20 với tinh thần yêu nước nồng nàn, căm thù sâu sắc bọn xâm lược và tay sai, chiến đấu vì mục tiêu độc lập, tự do của Tổ quốc, tạo nên sức mạnh chiến đấu không có gì ngăn nổi.
Logged

Cây sinh ngàn nhánh do từ gốc
Nước chảy muôn nơi bởi có nguồn.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM