Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:08:59 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Tiểu đoàn Bộ binh 1 anh hùng - (R20 - Quảng Đà)  (Đọc 75585 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
fantomasft
Thành viên
*
Bài viết: 468


Con nhà lính... Tính nhà binh...


« Trả lời #70 vào lúc: 16 Tháng Hai, 2013, 02:03:42 pm »


   Ngày 05.04.1973, chấp hành mệnh lệnh cấp trên, BCH tiểu đoàn ra lệnh cho các phân đội từ Điện Quang vận động sang tiến công quân địch ở Xuyên Thanh. Cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt suốt 4 ngày. Tiểu đoàn đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 100 tên, đánh bại cuộc càn của địch, chúng phải rút lui, không cắm được một cây cờ nào. Trong những trận chiến đấu này, đã xuất hiện những tấm gương chiến đấu kiên cường, đồng chí Ba là một tân binh, nhưng cùng đồng đội quyết tâm chiến đấu giữ đất, giữ dân, thực hiện ý chí của Đảng và nhân dân: “Một tấc giang sơn, một dòng máu đỏ”, một mình đồng chí diệt 9 tên địch, đồng chí Bốn nuôi quân, suốt 3 ngày lăn lộn giữa trận địa, vượt qua bom đạn của địch để mang cơm, nước đến từng công sự cho cán bộ, chiến sĩ. Sau trận chiến đấu cả 2 đồng chí được tặng Huân chương chiến công.

   Cuộc chiến đấu chống lấn chiếm, giữ đất, giành dân diễn ra ngày càng quyết liệt, chỉ trong 5 tháng (từ tháng 02 đến tháng 07.1973), quân Ngụy đã lấn chiếm hầu hết các vùng căn cữ lõm, căn cứ bàn đạp chung quanh Đà Nẵng và một số địa bàn ở Điện Bàn, Duy Xuyên, Đại Lộc. Tình hình trên gây cho ta một số khó khăn. Mặc dù cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang đã chiến đấu ngoan cường, giữ từng tấc đất, từng người dân, nhưng chiến đấu dài ngày, ác liệt, sức lực giảm sút, chưa bổ sung kịp thời, bên cạnh đó còn bị ảnh hưởng tư tưởng hòa bình chủ nghĩa, lãnh đạo, chỉ huy chưa nhận rõ âm mưu, thủ đoạn của Mỹ - Ngụy để giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ. Do đó, chiến đấu đạt hiệu suất thấp, để mất đất, mất dân, thực tế trên đây còn diễn ra nhiều nơi trên địa bàn Khu 5.

   Trước tình hình Mỹ - Ngụy ra sức phá hoại hiệp định Paris, tháng 7.1973 – BCHTW Đảng (khóa III) họp hội nghị lần thứ 21 ra nghị quyết khẳng định: “con đường cách mạng miền Nam vẫn là con đường bạo lực cách mạng, bất kể trong tình hình nào, cũng phải nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối, chiến lược tiến công” (33).

   Xuất phát từ diễn biến tình hình trên chiến trường và tư tưởng chỉ đạo của Trung ương Đảng. Khu ủy Khu 5 mở hội nghị xác định nhiệm vụ trung tâm của quân và dân Khu 5 lúc này là: “Ra sức đánh bại lấn chiếm, bình định của địch, giành giữ dân, mở rộng quyền làm chủ, phát triển lực lượng ta”. Tiếp đến Bộ tư lệnh Quân khu 5 phát động cuộc vận động “Nâng cao chất lượng và trình độ chiến đấu của các lực lượng vũ trang”.

   Quán triệt nghị quyết và chủ trương của cấp trên, cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang Quảng Đà nói chung, Tiểu đoàn bộ binh R20 nói riêng đều sinh hoạt, học tập, nâng cao nhận thức tư tưởng, xác định đúng đắn bản chất của kẻ thù và con đường đấu tranh để giành thắng lợi chỉ có bạo lực cách mạng mới có khả năng đánh đổ lực lượng phản cách mạng. Trên cơ sở nhận thức tư tưởng, lãnh đạo, chỉ huy tiểu đoàn ngày đêm chăm lo xây dựng củng cố đơn vị vững mạnh mọi mặt.

_____________________

33. “Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954 – 1975; Những sự kiện quân sự” Nxb QĐND, Hà Nội năm 1980, trang 170.
Logged

Cây sinh ngàn nhánh do từ gốc
Nước chảy muôn nơi bởi có nguồn.
fantomasft
Thành viên
*
Bài viết: 468


Con nhà lính... Tính nhà binh...


« Trả lời #71 vào lúc: 16 Tháng Hai, 2013, 04:19:44 pm »

   Mặc dù địch ra sức đánh phá, vi phạm hiệp định Paris, nhưng cuộc kháng chiến chống Mỹ của quân và dân ta lúc này đã có nhiều thuận lợi, đó là nguồn chi viện nhân tài, vật lực từ hậu phương miền Bắc, ngày càng dồi dào, hệ thống giao thông vận chuyển cơ giới từ Tây Trường Sơn phát triển xuống đến vùng giáp ranh, các cơ quan, đơn vị ở hậu cứ miền núi cũng đã tăng gia, sản xuất, chăn nuôi, góp phần cải thiện đời sống, sinh hoạt của cán bộ, chiến sĩ nhờ đó khi bước vào Đông – Xuân 1973 – 1974 lực lượng vũ trang Quảng Đà tăng nhanh về số lượng, chất lượng.34 Sau khi ổn định một bước tình hình tổ chức, trang bị, các đơn vị, địa phương nhanh chóng ra quân chiến đấu, phục vụ chiến đấu. Tiểu đoàn bộ binh R20 nhận nhiệm vụ đánh địch ở khu Tây Duy Xuyên và vùng B Đại Lộc. Từ tháng 10 đến tháng 12.1973, tiến công tiêu diệt các chốt điểm Đồi 30 (Phú Phong), Lộc Thành, mở toang căn cứ, bàn đạp ở Tây Nam căn cứ Đà Nẵng, đưa hàng ngàn dân trở về trụ bám làng cũ.

   Trong những ngày cuối năm 1973, diễn biến chiến sự trên các chiến trường miền Nam diễn ra sôi động và quân dân ta giành nhiều thắng lợi, thì một tin vui đến với cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn bộ binh R20 được Đảng, Nhà nước tuyên dương danh hiệu đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, một phần thưởng cao quý mà các thế hệ cán bộ, chiến sĩ đã phấn đấu liên tục trong 8 năm (1965 – 1973). Phấn khởi, tự hào với vinh dự đó, cán bộ, chiến sĩ càng ra sức thi đua chiến đấu lập công xuất sắc nhiều hơn nữa.

   Đầu năm 1974, Bộ tư lệnh Quân khu chủ trương mở đợt hoạt động tác chiến tiêu diệt, bứt rút, phá vỡ hệ thống chốt điểm của địch. Thực hiện chủ trương cấp trên, đầu tháng 03.1974, Tiểu đoàn bộ binh R20 ra quân tham gia chiến đấu, đồng chí Lê Ngọc Bảy được bổ nhiệm làm tiểu đoàn trưởng, đồng chí Lê Thượng Hải làm chính trị viên. Đêm 10.03.1974, tiểu đoàn sử dụng lực lượng tiến công tiêu diệt đồn Đá Đen (xã Xuyên Trà, nay là xã Duy Trung) bằng hình thức chiến thuật hợp đồng binh chủng, tiêu diệt 1 đại đội biệt lập, sau đó chốt lại Đá Đen để đánh địch phản kích, diệt 1 đại đội (thuộc Tiểu đoàn 113 địa phương quân). Sau đợt hoạt động tác chiến này, tiểu đoàn rút về củng cố, chuẩn bị tham gia chiến dịch sắp đến.

   Phát huy thắng lợi của đợt hoạt động Hè, Bộ tư lệnh Quân khu quyết định mở chiến dịch Thu 1974, tiến công tiêu diệt một số căn cứ, chi khu quận lỵ, đánh vỡ từng mảng hệ thống phòng ngự cơ bản của địch ở vùng giáp ranh, đồng bằng. Trên chiến trường Quảng Nam, Quảng Đà, Quân khu mở 3 khu chiến: Nông Sơn – Trung Phước, Thượng Đức và Tây Quế Sơn. Tại mặt trận Thượng Đức, Tiểu đoàn bộ binh R20 và Tiểu đoàn 10 được Bộ Tư lệnh Mặt trận điều động tham gia mặt trận Thượng Đức làm nhiệm vụ tiến công tiêu diệt các chốt điểm vòng ngoài của chi khu quận lỵ Thượng Đức.


________________________

34. 6 Tiểu đoàn bộ binh (1, 2, 3, 8, 10, 76), 2 Tiểu đoàn pháo binh (575, 577), 2 Tiểu đoàn đặc công (489, 491), 8 Đại đội độc lập.
Logged

Cây sinh ngàn nhánh do từ gốc
Nước chảy muôn nơi bởi có nguồn.
fantomasft
Thành viên
*
Bài viết: 468


Con nhà lính... Tính nhà binh...


« Trả lời #72 vào lúc: 16 Tháng Hai, 2013, 04:20:09 pm »


   Chi khu quận lỵ Thượng Đức là một căn cứ quân sự mạnh, án ngữ phía Tây Đà Nẵng, Mỹ - Ngụy xây dựng từ thời Ngô Đình Diệm, nằm ở ngã ba sông Cái và sông Côn, cách Đà Nẵng 40 km, có hệ thống lô cốt, công sự, hầm ngầm kiên cố. Lực lượng chiếm đóng khoảng 1600 tên, do Nguyễn Quốc Hùng – Thiếu tá quận trưởng chỉ huy.

   Ngày 29.07.1974, Sư đoàn 304 chủ lực của Bộ nổ súng, tiến công quận lỵ Thượng Đức. Phối hợp các mũi tiến công của chủ lực, Tiểu đoàn bộ binh R20 sử dụng lực lượng tiến công, tiêu diệt các tiền đồn của địch ở đồi Mồ Côi, Lục Nam (thuộc xã Đại Hồng ngày nay) sau đó chuyển sang phòng ngự ở phía Tây sông Vu Gia, chặn đánh địch ở Thượng Đức chạy sang, bắt sống 6 tên, trong đó có Vũ Trung Tín – Đại úy chỉ huy phó chi khu Thượng Đức.

   Mất Nông Sơn – Trung Phước – Thượng Đức, cánh cửa phòng thủ mạnh nhất ở phía Tây – Nam và Tây căn cứ Đà Nẵng bị mở toang. Lực lượng Quân đoàn 1 Ngụy không đủ sức phản kích lấy lại Thượng Đức, Nguyễn Văn Thiệu – Tổng thống Ngụy; Cao Văn Viên – Bộ trưởng Quốc phòng từ Sài Gòn ra Đà Nẵng để nghiên cứu tình hình, quyết định đưa lực lượng tổng dự bị chiến lược ra phản kích, tái chiếm Thượng Đức.

   Từ ngày 10 đến ngày 19.08.1974, hai Lữ đoàn dù từ Sài Gòn ra Đà Nẵng, ngày 20.08 chúng triển khai đội hình hành quân giải tỏa. Tướng Dư Quốc Đống – Tư lệnh Sư đoàn dù tuyên bố: “Nếu không lên được Thượng Đức thì xin giải tán binh chủng dù”, sau đó chúng còn điều động thêm Lữ đoàn 2 dù từ Trị - Thiên về tăng cường cho mặt trận Thượng Đức.

   Quyết tâm trừng trị hành động phản kích của quân Ngụy, sau 2 tháng chiến đấu phòng ngự. Sư đoàn chủ lực 304 và lực lượng vũ trang địa phương đã đánh quỵ Sư đoàn dù, không tái chiếm được Thượng Đức, mà còn bị thiệt hại nặng nề. Tiểu đoàn bộ binh R20 cũng sử dụng lực lượng quần lộn chiến đấu, tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, tiêu biểu nhất lúc 09 giờ ngày 15.9.1974, tiểu đoàn vận động phục kích đánh thiệt hại nặng 1 đại đội lính dù, bắt sống 4 tên, thu 1 súng M79, 1 AR15, 1 máy PRC25.

   Sư đoàn dù bị bại trận, quân Ngụy phải đưa Sư đoàn Thủy quân lục chiến (lực lượng tổng dự bị chiến lược) ra thay thế, nhưng cũng không làm gì được, mà còn bị tổn thất.

   Như vậy, trong chiến dịch Thu 1974, Mỹ - Ngụy đã huy động một lực lượng chủ lực tương đối lớn, trong đó có hai sư đoàn thuộc lực lượng tổng dự bị chiến lược đến càn quét, phản kích lấy lại Nông Sơn – Thượng Đức, nhưng đã bị thất bại thảm hại.
Logged

Cây sinh ngàn nhánh do từ gốc
Nước chảy muôn nơi bởi có nguồn.
fantomasft
Thành viên
*
Bài viết: 468


Con nhà lính... Tính nhà binh...


« Trả lời #73 vào lúc: 16 Tháng Hai, 2013, 04:21:08 pm »

   Đây là thắng lợi to lớn của quân và dân ta, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của lực lượng vũ trang nhân dân, tạo ra tiền đề để đánh bại hoàn toàn quân Ngụy.

   Trong lúc đó, tình hình nước Mỹ lâm vào khủng hoảng trầm trọng, Nich – Xơn từ chức, phó Tổng thống Giê – Rôn – Pho lên thay thế, nội bộ nước Mỹ bị phân hóa, Quốc hội bác bỏ kế hoạch viện trợ cho Ngụy quyền Sài Gòn, làm cho quân Ngụy lâm vào tình trạng khốn đốn, Nguyễn Văn Thiệu phải đề ra chủ trương “đánh giặc theo kiểu con nhà nghèo”, điều mà một quân đội được trang bị đến tận răng mà bây giờ phải thực hiện như thế thật là ảo tưởng.

   Theo dõi, nắm chắc diễn biến tình hình trên các chiến trường, cuối năm 1974, Bộ Chính trị Ban chấp hành trung ương Đảng mở nhiều cuộc hội nghị hạ quyết tâm: “ Động viên nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ở cả hai miền trong thời gian 2 năm (1975 – 1976), tiến hành tổng công kích, tổng khởi nghĩa, tiêu diệt và làm tan rã quân Ngụy, đánh đổ Ngụy quyền từ Trung ương đến địa phương, giành quyền về tay nhân dân, giải phóng miền Nam Việt Nam” (35).

   Tại Hội nghị Bộ chính trị tháng 12.1974, đồng chí Lê Duẩn – Bí thư thứ nhất BCHTW Đảng (khóa III) kết luận: “Chúng ta đang đứng trước thời cơ chiến lược lớn, chưa bao giờ ta có điều kiện đầy đủ về quân sự, chính trị như hiện nay, có thời cơ chiến lược to lớn như hiện nay để hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân ở miền Nam để tiến tới hòa bình, thống nhất Tổ quốc” (36).

   Ngoài ra, Bộ chính trị còn chuẩn bị một kế hoạch khác, mà theo đó, “Nếu thời cơ đến vào đầu năm hoặc cuối năm 1975, thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975”.

   Mặt trận Quảng Đà là một trong những hướng tiến công chủ yếu của các binh đoàn chủ lực.

________________________


35. Dẫn theo: Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954 – 1975 – Những sự kiện quân sự, Sđđ trang 251.

36. Dẫn theo: Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “ Tổng hành dinh trong mùa xuân đại thắng 1975” Nxb Chính trị Quốc gia – Hà Nội năm 2000, trang 169.
Logged

Cây sinh ngàn nhánh do từ gốc
Nước chảy muôn nơi bởi có nguồn.
fantomasft
Thành viên
*
Bài viết: 468


Con nhà lính... Tính nhà binh...


« Trả lời #74 vào lúc: 16 Tháng Hai, 2013, 04:23:03 pm »


   Thực hiện quyết tâm chiến lược của Bộ chính trị và kế hoạch tác chiến của Bộ Tổng tham mưu, Khu ủy – BTL Quân khu 5 xây dựng kế hoạch tác chiến năm 1975.

   Chấp hành tư tưởng chỉ đạo của Trung ương Đảng và BTL Quân khu, Đặc khu ủy và BTL Mặt trận Quảng Đà đề ra chủ trương, biện pháp nhanh chóng động viên mọi lực lượng, phương tiện, vũ khí, trang bị chuẩn bị bước vào thực hiện nhiệm vụ lịch sử. Tháng 01.1975, BTL Mặt trận Quảng Đà quyết định thành lập Trung đoàn 96 (gồm 3 tiểu đoàn bộ binh 1, 2, 76 và một số đại đội, trung đội binh chủng), đồng chí Lại Nam Dương làm Trung đoàn trưởng, đồng chí Nguyễn Võ làm chính ủy, các đơn vị, địa phương khẩn trương điều động lực lượng và vận động thanh niên tham gia bộ đội, du kích.

   Trong khí thế sôi động đang diễn ra khắp các chiến trường, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn bộ binh R20 cũng hăng hái ra quân chuẩn bị mọi mặt để phối hợp cùng các đơn vị trong Trung đoàn tiến công tiêu diệt hệ thống chốt điểm vòng ngoài của căn cứ Đà Nẵng và các chi khu quận lỵ.

   Lúc này lực lượng địch trên chiến trường Quảng Đà còn tương đối đông, khoảng 46.500 tên, do Ngô Quang Trưởng – Trung tướng Tư lệnh, Nguyễn Duy Hinh – Thiếu tướng Sư đoàn trưởng Sư đoàn 3, Nguyễn Đức Khánh – Chuẩn tướng Sư đoàn trưởng Sư đoàn không quân, chiếm đóng trên 332 căn cứ, chốt điểm, 153 khu dồn, trại tập trung, trang bị 373 máy bay, 176 xe tăng, 250 xe quân sự, 25 tàu chiến, 114 khẩu pháo. Mặc dù quân đông, trang bị mạnh nhưng tinh thần chiến đấu của quân Ngụy đã giảm sút nhiều, nhất là sau thất bại ở Nông Sơn – Thượng Đức, rồi đến sự kiện Phước Long diễn ra trong 20 ngày (12.12.1974 đến 06.01.1975) quân và dân miền Đông Nam Bộ tiến công, nổi dậy giải phóng hoàn toàn tỉnh Phước Long, tiếp đến đánh chiếm núi Bà Đen (Tây Ninh), quân Ngụy huy động lực lượng phản kích, nhưng đều thất bại. Mỹ báo động khẩn cấp 3 sư đoàn và lực lượng không quân, hải quân hăm dọa sẵn sàng can thiệp, nhưng cũng chỉ gây áp lực từ xa. Tại Sài Gòn, đại sứ Mỹ nói với Nguyễn Văn Thiệu: “Việc yểm trợ bằng máy bay lúc này chưa được phép”. Tiếp đến, Tổng thống Pho tuyên bố: “Không có hành động nào khác, ngoài việc viện trợ bổ sung cho Sài Gòn”. Thực tế trên đây, một lần nữa khẳng định quân chủ lực Ngụy không đủ sức đương đầu với chủ lực ta.

   Trong lúc quân và dân ta tích cực chuẩn bị chiến trường, thì địch lại ra sức phán đoán hướng tiến công của ta, Thiệu điều động sư đoàn dù về phòng thủ Sài Gòn, điều sư đoàn thủy quân lục chiến vào thay thế, Ngô Quang Trưởng đưa Liên đoàn 12 biệt động quân vào Tuần Dưỡng, tăng cường cho Quảng Nam, còn Sư đoàn 2 thì bị ghìm chân ở Quảng Ngãi, Sư đoàn 3 thì lo càn quét, giải tỏa ở vùng B Đại Lộc, vùng A, B Điện Bàn.
Logged

Cây sinh ngàn nhánh do từ gốc
Nước chảy muôn nơi bởi có nguồn.
fantomasft
Thành viên
*
Bài viết: 468


Con nhà lính... Tính nhà binh...


« Trả lời #75 vào lúc: 16 Tháng Hai, 2013, 04:23:31 pm »


   Ngày 10.03.1975, chiến dịch Tây Nguyên mở màn bằng đòn tiến công chiến lược giải phóng Buôn Mê Thuột, địch hoàn toàn bất ngờ về cả chiến lược và chiến dịch. Sư đoàn 23 (Quân đoàn 2 Ngụy) đến phản kích, nhưng đã bị tiêu diệt. Ngày 14.03.1975, Thiệu ra lệnh rút khỏi Tây Nguyên, thừa thắng xông lên, quân và dân ta tiếp tục tiến công, truy kích địch, đến ngày 21.03.1975, giải phóng hoàn toàn Tây Nguyên. Đây là đòn tiến công chiến lược thứ nhất trong tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975.

   Phối hợp với chiến trường chung, Sư đoàn 2 chủ lực Quân khu 5 cùng quân và dân Quảng Nam tiến công giải phóng Tiên Phước – Phước Lâm, đánh địch phản kích ở Tây Tam Kỳ, uy hiếp tỉnh đường Quảng Tín.

   Trên chiến trường Quảng Đà, đêm 16.03, Tiểu đoàn 3 (thiếu) tiến công khu dồn Điện Tân, Điện Nhơn, nhưng không thành công, các tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 96 bố trí trận địa đánh địch phản kích ở Gò Nổi, sau 2 ngày địch không ra phản kích, các đơn vị nhận lệnh rút về tập trung đánh địch ở khu Trung Duy Xuyên.

   Tình hình chiến sự diễn biến hết sức thuận lợi cho ta, Bộ chính trị, Quân ủy Trung ương khẳng định thời cơ lớn đã đến và hạ quyết tâm giải phóng hoàn toàn miền Nam trong năm 1975.

   Thưc hiện chủ trương của Trung ương, quân và dân ta tiếp tục đẩy mạnh tiến công địch, nhanh chóng tiêu diệt lực lượng Quân đoàn 1 Ngụy, không cho chúng co cụm chiến lược ở Đà Nẵng hoặc rút chạy về Sài Gòn. Ở phía Bắc, Quân đoàn 2 và Quân khu Trị - Thiên nhanh chóng cơ động lực lượng xuống cắt đứt đường số 1, hình thành thế bao vây thành phố Huế. Ở phía Nam, quân và dân ta đã vây chặt địch ở thị xã Tam Kỳ và các căn cứ lớn: Tuần Dưỡng, Chu Lai.

   Ngày 23.03.1975, Thường vụ Khu ủy và BTL Quân khu 5 họp và ra quyết định: “Nắm chắc thời cơ, phấn đầu trong một thời gian ngắn giải phóng hoàn toàn các địa bàn của Quân khu”. Chấp hành mệnh lệnh cấp trên, các đơn vị chủ lực và bộ đội địa phương đồng loạt tiến công giải phóng thị xã Tam Kỳ, tỉnh lỵ Quảng Tín của Ngụy quyền vào trưa ngày 24.03.1975. Hợp đồng chiến đấu với chiến trường chung, từ ngày 20 đến ngày 22.03.1975, Tiểu đoàn bộ binh R20 đã sử dụng lực lượng bao vây, tiến công tiêu diệt 1 đại đội lính Ngụy. Ngày 23 và 24.03.1975 tiểu đoàn bao vây, tiến công đồi Đá Đen (lần thứ hai), chốt điểm Gò Phan (ở Xuyên Hòa), sau đó chốt giữ đánh địch phản kích. Như vậy, chỉ trong mấy ngày, mặc dù thiếu cán bộ chỉ huy, đồng chí Phạm Xuân Quý – chính trị viên tiểu đoàn bị thương trong trận đánh đồi Đá Đen, đồng chí Lê Ngọc Bảy – tiểu đoàn trưởng phải kiêm cả chính trị viên, nhưng tiểu đoàn đã thực hiện hoàn thành ý định cấp trên là tiến công, tiêu diệt một loạt chốt điểm ở khu Trung Duy Xuyên, mở rộng căn cứ, bàn đạp, hành lang cơ động của ta ở hướng Tây Nam – Đà Nẵng trong quá trình chiến đấu.
Logged

Cây sinh ngàn nhánh do từ gốc
Nước chảy muôn nơi bởi có nguồn.
fantomasft
Thành viên
*
Bài viết: 468


Con nhà lính... Tính nhà binh...


« Trả lời #76 vào lúc: 16 Tháng Hai, 2013, 04:23:57 pm »


   Ngày 24.03.1975, trên đà thắng lợi, Bộ chính trị quyết định thành lập Bộ chỉ huy chiến dịch giải phóng Huế - Đà Nẵng do đồng chí Lê Trọng Tấn – Trung tướng – Phó Tổng tham mưu trưởng làm Tư lệnh, đồng chí Chu Huy Mân – Thượng tướng – Tư lệnh Quân khu 5 làm Chính ủy, đây là chiến dịch tiến công chiến lược thứ hai, do đó Bộ chính trị, Quân ủy Trung ương đề ra tư tưởng chỉ đạo là “Kịp thời nhất, nhanh chóng nhất, táo báo nhất, bất ngờ nhất và chắc thắng”.

   Ngày 25.03.1975, Đặc khu ủy Quảng Đà họp thông qua kế hoạch tác chiến, tiến công giải phóng Đà Nẵng do Bộ tư lệnh Mặt trận 44 đề xuất. Cũng trong ngày 25.03, thành phố Huế được giải phóng, tàn quân địch không thể rút chạy về Đà Nẵng, mà bị tiêu diệt và tan rã tại chỗ. Tuy nhiên tại Đà Nẵng, lực lượng địch cũng tăng hơn 10 vạn tên.

   Mất Thừa Thiên – Huế và tỉnh Quảng Tín, vòng vây Đà Nẵng ngày càng siết chặt, tình hình an ninh, trật tự ở Đà Nẵng trở lên hỗn loạn, tàn quân địch lợi dụng cướp bóc, chém giết lẫn nhau. Ngô Quang Trưởng ra sức hò hét: “Lập lại trật tự”, “Tử thủ Đà Nẵng”, trong cảnh hỗn quan, hỗn lính, Mỹ phải lập cầu hàng không di tản cố vấn, nhân viên kỹ thuật Mỹ và sĩ quan, ác ôn Ngụy, dòng người di tản phần lớn gia đình Ngụy quân, Ngụy quyền kéo đến sân bay, bến cảng ngày càng đông.

   Ngày 27.03.1975, tình hình chiến sự diễn ra quyết liệt, khẩn trương, các đơn vị, địa phương thực hiện phương án “Huyện giải phóng huyện, xã giải phóng xã”. Hàng loạt chốt điểm, khu dồn ở Duy Xuyên, Đại Lộc, Điện Bàn, Hòa Vang bị bộ đội địa phương, du kích và nhân dân bao vây, tiến công, bứt rút, bức hàng.

   Ngày 28.03.1975, ở phía Nam, Sư đoàn 2 chủ lực Quân khu tiến công dọc theo đường số 1, đánh chiếm Bà Rén, Trung đoàn 96 Quảng Đà đánh chiếm thị trấn Nam Phước, sau đó vượt sông Thu Bồn, đường 100 rồi tập kết lực lượng tại Điện Hòa.

   Ở phía Bắc các Sư đoàn 324, 325 (Quân đoàn 2) đánh chiếm đèo Hải Vân, đèo Mũi Trâu, ở phía Tây, Sư đoàn 304 chủ lực (Quân đoàn 2), tiến công theo đường 14. Đêm 28.03, tất cả các mũi tiến công của ta tiếp tục đánh địch, mở đường tiến vào Đà Nẵng. Cũng trong đêm tướng, tá Ngụy và tên Tổng lãnh sự quán Mỹ tìm cách chạy trốn, nhưng đi đến đâu, pháo tầm xa của ta cũng bắn phá, cuối cùng phải dùng trực thăng bay ra tàu chiến ngoài khơi.
Logged

Cây sinh ngàn nhánh do từ gốc
Nước chảy muôn nơi bởi có nguồn.
fantomasft
Thành viên
*
Bài viết: 468


Con nhà lính... Tính nhà binh...


« Trả lời #77 vào lúc: 16 Tháng Hai, 2013, 04:24:27 pm »


   Rạng sáng ngày 29.03.1975, các mũi tiến công của chủ lực tiếp tục tiến công vào trung tâm Đà Nẵng, tạo điều kiện cho lực lượng đặc công, biệt động, tự vệ cùng nhân dân nổi dậy chiếm giữ các đồn bót, cơ quan Ngụy quyền.

   Tiểu đoàn bộ binh R20 từ Trảng Nhật tiến theo đường Cái Mới xuống đường số 1 (ngã ba quán Bốn Anh – Điện Thắng) rồi chia thành 2 mũi:

   - Mũi 1: gồm Đại đội 1 và Đại đội 2, do đồng chí Lê Ngọc Bảy – Tiểu đoàn trưởng chỉ huy phối hợp cùng Trung đoàn 1 (Sư đoàn 2 chủ lực Quân khu) tiến theo đường số 1 vượt qua Cầu Đỏ rồi tiến ra ngã Ba Huế rồi thọc sâu xuống trung tâm thành phố đánh chiếm Tòa thị chính Đà Nẵng.

   - Mũi 2: gồm Đại đội 3 và Đại đội 4, do đồng chí Nga – Tiểu đoàn phó chỉ huy phối hợp cùng Trung đoàn 38 (Sư đoàn 2 Quân khu 5) và 2 Tiểu đoàn 3 và 4 (thuộc Trung đoàn 97 Quảng Đà) vượt cầu Tứ Câu (Điện Ngọc) tiến xuống Non Nước.

   Căn cứ phương án chiến đấu, các mũi nhanh chóng xuất kích.

   Để bộ đội cơ động nhanh vào tiếp quản các mục tiêu, lực lượng cách mạng bên trong sau khi nổi dậy làm chủ một số địa bàn đã sử dụng hàng chục ô tô chạy ra đón bộ đội vào, nhân dân hai bên đường, chủ yếu là phụ nữ, thanh thiếu niên vừa vui mừng chào đón, tiếp tế cơm, nước, đường, sữa cho cán bộ, chiến sĩ Đại đội 1, Đại đội 2.

   Trên đường cơ động ra Đà Nẵng, khi xe đi đầu của Đại đội 1 (trong đó có đồng chí Bảy – Tiểu đoàn trưởng) đến chợ Miếu Bông thì gặp một đám tàn quân địch khoảng 1 đại đội dùng súng bắn chặn, lập tức Tiểu đoàn trưởng ra lệnh cho xe vừa chạy, vừa sử dụng tiểu liên AK bắn vào quân địch. Đại đội 2 do đồng chí Củng chỉ huy từ phía sau vượt lên kịp thời truy kích tiêu diệt những tên ngoan cố, bọn còn lại tháo chạy tán loạn, đơn vị tiếp tục xuất kích. Diễn biến chiến sự đến 09 giờ, các cánh quân từ phía Nam tiến ra, phía Bắc tiến vào, phía Tây tiến xuống đã đánh chiếm sân bay Đà Nẵng, Bộ tư lệnh Quân đoàn 1 Ngụy hợp điểm tại ngã ba Huế, rồi nhanh chóng phát triển vào trung tâm thành phố, cánh quân phía Đông gặp sức kháng cự quyết liệt của tàn quân Sư đoàn 3 và bọn thủy quân lục chiến, nên đến 10 giờ các đơn vị mới đánh chiếm được sân bay Nước Mặn, bọn địch tháo chạy ra ngã ba An Hải và Mỹ Khê lập trận địa ngăn chặn sức tiến công của ta.

   Ở trung tâm thành phố, mũi 1 của Tiểu đoàn bộ binh R20 từ ngã Ba Huế phát triển xuống ngã Ba Cai Lang – đường Thống Nhất (nay là đường Lê Duẩn) chiếm Tòa thị chính rồi tỏa ra chiếm các mục tiêu Quân vụ thị trấn, Lãnh sự quán Pháp, Ngân khố. Còn Đại đội 2 tiến theo đường Khải Định (nay là đường Ông Ích Khiêm) rồi được nhân dân giúp đỡ, đơn vị tiến xuống Thanh Bồ - Đức Lợi, truy bắt các nhóm tàn quân địch. Diễn biến chiến đấu ở trung tâm Đà Nẵng đến 11 giờ 30 phút kết thúc. Tiểu đoàn trưởng Lê Ngọc Bảy dùng máy 2 Oát báo cáo cho Trung đoàn trưởng 96 – Lại Nam Dương là: “Tiểu đoàn R20 đã đánh chiếm, làm chủ và treo cờ giải phóng trên nóc Tòa thị chính Đà Nẵng lúc 11 giờ 30 phút”.
Logged

Cây sinh ngàn nhánh do từ gốc
Nước chảy muôn nơi bởi có nguồn.
fantomasft
Thành viên
*
Bài viết: 468


Con nhà lính... Tính nhà binh...


« Trả lời #78 vào lúc: 16 Tháng Hai, 2013, 04:25:09 pm »


   Ở phía Đông, các đơn vị tiếp tục tiến công, dồn quân địch ra khu vực bán đảo Sơn Trà, bọn địch không còn lối thoát nào nữa, phải buông súng đầu hàng.

   Trên hướng tiến công này, mũi thứ hai của Tiểu đoàn bộ binh R20 (tức Đại đội 3 và 4) cũng đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, làm chủ đánh chiếm các mục tiêu dọc đường Trưng Nữ Vương đến Cổ Viện Chàm, sau đó tiến theo đường Bạch Đằng bắt liên lạc với mũi thứ nhất ở Tòa thị chính. Một phân đội của Tiểu đoàn BBR20 chiếm giữ, bảo vệ an toàn tài sản và nhân viên lãnh sự quán Pháp tại Đà Nẵng (nay là thư viện Đà Nẵng).

   Như vậy, sau 32 giờ đồng loạt nổ súng tiến công và nổi dậy, đến 15 giờ 30 phút thành phố Đà Nẵng được hoàn toàn giải phóng, quân và dân ta đã tiêu diệt và làm tan rã hoàn toàn Quân đoàn 1 Ngụy, trên 10 vạn tên. Cờ giải phóng tung bay trên Tòa thị chính Ngụy quyền, Sở chỉ huy Quân đoàn 1 Ngụy. Chấm dứt 117 năm bị thực dân, đế quốc xâm lược, thống trị.

   Chiến thắng của chiến dịch Huế - Đà Nẵng là thắng lợi rực rỡ của đòn tiến công chiến lược thứ hai, góp phần quan trọng vào quá trình tổng tiến công và nổi dậy giải phóng hoàn toàn miền Nam, mà đỉnh cao là thắng lợi của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đòn tiến công chiến lược thứ ba trong đại thắng mùa xuân 1975.

   Sau ngày Đà Nẵng được hoàn toàn giải phóng, các binh đoàn chủ lực tiếp tục tiến về phía Nam tham gia giải phóng Sài Gòn và hải đảo xa xôi của Tổ quốc. Các đơn vị lực lượng vũ trang Quảng Đà nhanh chóng ổn định tình hình tổ chức và bắt tay vào thực hiện nhiệm vụ mới. Dưới sự chỉ huy, chỉ đạo của Ủy ban quân quản thành phố, Tiểu đoàn bộ binh R20, một mặt nhận tân binh, tổ chức biên chế, trang bị, mặt khác tham gia xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng trên địa bàn được phân công, tổ chức tuần tra, canh gác, bảo vệ các cơ quan Đảng, chính quyền, địa bàn dân cư, góp phần đưa tình hình an ninh chính trị, trật tự xã hội thành phố đi vào ổn định, nề nếp.

   Đảng ủy – BCH Tiểu đoàn phân công nhiều cán bộ tham gia làm công tác vận động quần chúng, làm sạch địa bàn đóng quân. Mở các đợt học tập, tuyên truyền đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước cho các đối tượng Ngụy quân, Ngụy quyền.

   Phối hợp với lực lượng tự vệ, du kích, thanh niên thành lập các tổ, đội xung kích để truy quét tàn quân địch còn lẩn trốn, tổ chức liên hoan văn nghệ, nói chuyện về chiến thắng của quân và dân ta trên các chiến trường, tạo khí thế cho phong trào cách mạng quần chúng sôi nổi, phấn khởi.

   Đà Nẵng trong mấy mươi năm sống trong sự kèm kẹp của bọn thực dân, đế quốc và tay sai, bị chúng tuyên truyền xuyên tạc về cuộc chiến tranh chính nghĩa của dân tộc Việt Nam, về cuộc chiến đấu dũng cảm, kiên cường của các lực lượng vũ trang nhân dân, nên hạn chế sự hiểu biết về Đảng, cách mạng, Hồ Chủ Tịch, khi nghe cán bộ chính trị tiểu đoàn giới thiệu, các tầng lớp nhân dân rất xúc động, sung sướng, tận mắt nhìn thấy sức mạnh, chính nghĩa, nhân đạo của cách mạng. Nhờ đó, tình hình trật tự xã hội ở các địa bàn tiểu đoàn đóng quân dần dần đi vào nề nếp.

   Việc làm tốt đẹp, tình cảm của cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang nhân dân nói chung, Tiểu đoàn bộ binh R20 nói riêng đã đánh bại luận điệu chiến tranh tâm lý của bọn Mỹ - Ngụy về sự trả thù của chính quyền cách mạng đối với bọn sĩ quan ác ôn và gia đình họ. Thực tế, ngược lại, họ đã thức tỉnh, nhất là số còn lẩn trốn đều ra trình diện và chấp hành chính sách cải tạo của cách mạng.

   Thấm nhuần quan điểm cách mạng của Đảng, trong những ngày đầu Đà Nẵng mới được giải phóng, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn bộ binh R20 đã dựa vào cán bộ và nhân dân, thực hiện hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của Đảng và nhân dân giao phó.

*
*   *
Logged

Cây sinh ngàn nhánh do từ gốc
Nước chảy muôn nơi bởi có nguồn.
fantomasft
Thành viên
*
Bài viết: 468


Con nhà lính... Tính nhà binh...


« Trả lời #79 vào lúc: 18 Tháng Hai, 2013, 08:14:40 am »

   Chặng đường hơn 6 năm (từ đầu năm 1969 đến tháng 03.1975) là một trong những giai đoạn cực kỳ khó khăn, ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của quân và dân ta trên chiến trường Quảng Đà, Mỹ - Ngụy không từ bỏ một âm mưu, thủ đoạn nào để thực hiện chiến tranh Việt Nam hóa bằng các biện pháp thâm độc, tàn bạo: Càn quét, cày ủi trắng, dồn dân, bình định, cuộc chiến đấu giữ đất, giành dân diễn ra hết sức căng thẳng, quyết liệt. Cường độ, tính chất đánh phá với mức độ cao, hủy diệt cả môi trường và môi sinh, tạo thành những vành đai trắng bao quanh căn cứ đồn bót của chúng. Bộ đội, du kích và nhân dân trụ bám phải liên tục cơ động. Tiểu đoàn bộ binh R20 cũng phải cơ động, hành quân, trú quân ở khắp các địa bàn. Vừa đánh địch càn quét, giữ vững thế làm chủ để tiến công địch, vừa phải bảo toàn lực lượng để chiến đấu lâu dài.

   Bất chấp mọi khó khăn, thử thách, cùng với quân và dân cả tỉnh, cả miền Nam, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn bộ binh R20 đã kiên định lập trường, ý chí chiến đấu, đoàn kết vượt qua mọi gian khổ, ác liệt, phát huy mạnh mẽ truyền thống trong những năm trực tiếp chiến đấu với quân Mỹ, chư hầu và quân Ngụy, tiếp tục xây dựng, chiến đấu lập nhiều chiến công xuất sắc, đánh bại các cuộc càn quét, dồn dân, bình định của Mỹ - Ngụy, ở vùng B Đại Lộc, khu Trung, khu Tây Duy Xuyên, Gò Nổi và vùng A, B Điện Bàn, khu III Hòa Vang, tiêu diệt được nhiều sinh lực, phá hủy phương tiện chiến tranh của địch, giữ vững thế tiến công, làm chủ địa bàn, góp phần đánh bại chiến lược chiến tranh Việt Nam hóa của Mỹ - Ngụy, tạo điều kiện thuận lợi để phối hợp với các đơn vị, địa phương đồng loạt tiến công và nổi dậy giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Đà và thành phố Đà Nẵng vào ngày 29.03.1975.

*
*   *






Logged

Cây sinh ngàn nhánh do từ gốc
Nước chảy muôn nơi bởi có nguồn.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM