Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 08:24:48 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Vũ khí, khí tài lục quân Mỹ và Phương Tây  (Đọc 30712 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Raptor Flanker
Thành viên
*
Bài viết: 274



« vào lúc: 20 Tháng Ba, 2013, 11:37:32 pm »

Tôi mở topic này nhằm giúp mọi người tìm hiểu về các loại vũ khí lục quân hiện đang trang bị trong các nước Phương Tây, các nước trong khối NATO,... Bài viết tổng hợp từ các nguồn sau:
- fas.org
- military-today.com
- globalsecurity.org
- army-guided.com
- militaryfactory.com...  
« Sửa lần cuối: 20 Tháng Ba, 2013, 11:51:51 pm gửi bởi daibangden » Logged
Raptor Flanker
Thành viên
*
Bài viết: 274



« Trả lời #1 vào lúc: 20 Tháng Ba, 2013, 11:42:25 pm »

Dòng xe tăng chiến đấu chủ lực M60 Patton


Lịch sử phát triển

M60 Patton là dòng xe tăng chiến đấu chủ lực (Main battle tank) đầu tiên của quân đội Mỹ, M60 được quân đội Mỹ bắt đầu nghiên cứu và phát triển từ năm 1957. Nó được thiết kế để chống lại các dòng xe tăng hạng trung T-54/55 của Liên Xô, những dòng xe tăng hạng trung vượt trội hơn hẳn so với dòng xe tăng M48 Patton của quân đội Mỹ lúc bấy giờ. Chiếc xe tăng M60 đầu tiên được xuất xưởng vào năm 1959 và nhà máy chế tạo xe Chrysler đã giành được hợp đồng chế tạo dòng tăng này với gói cung cấp 180 chiếc cho quân đội Mỹ vào năm 1961. Các phiên bản M60 được sản xuất trong thời gian từ năm 1960 đến 1987.

Thiết kế và đặc điểm

Về thiết kế, M60 là một phiên bản phát triển sâu hơn và hiện đại hơn so với các dòng tăng M26, M46, M47 và M48. Một số thành phần chính của xe tăng M60 được lấy từ dòng xe tăng M48A2, tuy nhiên M60 được bọc thép tốt hơn, hoả lực mạnh hơn và động cơ mạnh hơn, tốt hơn. Thân xe tăng M60 được thiết kế dạng hình thuyền đặc biệt, đúc từ 5 tấm thép tạo nên khả năng bảo vệ tốt,

Xe tăng chiến đấu chủ lực M60 Patton được trang bị pháo chính nòng xoắn 105mm L7 của Anh, được Mỹ sản xuất theo giấy phép với tên gọi M68. Pháo này có thể thay thế ngay trên chiến trường nếu cần. Nó có thể bắn xuyên 120mm thép đồng nhất ở khoảng cách 2km. M60 mang theo 60 viên đạn thuộc 5 loại khác nhau cho pháo 105mm này. Ngoài ra M60 còn trang bị súng máy đồng trục 7.62mm M240 với 5.950 viên đạn và đại liên phòng không 12.7mm M85 gắn trên vòm chỉ huy.

Động cơ của M60 là động cơ diesel Continental AVDS-1790-2A, công suất 750 mã lực. Động cơ này có thể thay thế trên chiến trường trong vòng 4 giờ. Đây là xe tăng đầu tiên của quân đội Mỹ trang bị động cơ diesel, vì những dòng xe tăng trước chạy bằng động cơ xăng. Xe tăng Patton có hệ thống treo thanh xoắn/ lò xo, được cấu thành bởi 6 lăn với bánh truyền động ở phía đuôi xe, cùng với 3 bánh đỡ xích. Ngoài ra xe còn trang bị bộ truyền động Allison CD-850-6/6A, giúp khả năng cơ động cao.

Hình vẽ của động cơ diesel Continental AVDS-1790-2A

Quá trình sản xuất M60 (phiên bản đầu tiên) chỉ diễn ra trong 2 năm, đến năm 1962, nó được thay thế bởi phiên bản mới tiên tiến hơn là M60A1.

Thông số kỹ thuật cơ bản:
Kíp chiến đấu (người): 4.
Trọng lượng (tấn): 56.6.
Chiều dài toàn bộ (m): 9.44 (kể cả nòng pháo).
Chiều dài thân (m): 6.95.
Rộng (m): 3.63.
Cao (m): 3.27.
Vũ khí:
Pháo chính nòng xoắn L7/ M68.
Cỡ nòng (mm): 105.
Cơ số đạn (viên): 60.
Góc nâng pháo (độ): -10…+20.
Góc quay tháp pháo (độ): 360.
Súng máy đồng trục M240.
Cỡ nòng (mm): 7.62.
Cơ số đạn (viên): 5.950.
Súng máy phòng không M85.
Cỡ nòng (mm): 12.7.
Cơ số đạn (viên): 900.
Động cơ:
Động cơ diesel Continental AVDS-1790-2A, công suất 750 mã lực.
Bộ truyền động Allison CD-850-6/6A.
Tốc độ tối đa (km/h): 48.
Tầm hoạt động (km): 480.
Khả năng vượt chướng ngại vật
Leo dốc (độ): 30.
Vách đứng (m): 1.2.
Hào rộng (m): 2.7
Vượt sông sâu (m): 1.3.



« Sửa lần cuối: 21 Tháng Ba, 2013, 11:19:20 pm gửi bởi Raptor Flanker » Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #2 vào lúc: 20 Tháng Ba, 2013, 11:51:24 pm »

1. Đã sửa lại tên chủ đề.

2. Theo tớ, bạn tự lập ra một dàn bài. Ví dụ như đầu tiên là các dòng xe tăng, sau đó là máy bay, trực thăng các loại đạn, tên lửa thuộc quân chủng lục quân trong các nước phương Tây và Mỹ (ví dụ như xếp theo thời gian xuất hiện, gia nhập vào biên chế lục quân chẳng hạn hay xắp xếp theo cỡ nòng như với pháo binh)... thì bạn sẽ dễ viết hơn và người đọc cũng tiện theo dõi hơn (kinh nghiệm của tớ lúc dịch sách với tìm bài trên các trang mạng thôi).

3. Cố gắng lên bạn, vũ khí, khí tài của Mỹ và phương Tây đang bị "lép vế" trước vũ khí của Liên Xô và Nga trong Kiến thức quốc phòng Grin
Logged
Raptor Flanker
Thành viên
*
Bài viết: 274



« Trả lời #3 vào lúc: 21 Tháng Ba, 2013, 12:00:05 am »

1. Đã sửa lại tên chủ đề.

2. Theo tớ, bạn tự lập ra một dàn bài. Ví dụ như đầu tiên là các dòng xe tăng, sau đó là máy bay, trực thăng các loại đạn, tên lửa thuộc quân chủng lục quân trong các nước phương Tây và Mỹ (ví dụ như xếp theo thời gian xuất hiện, gia nhập vào biên chế lục quân chẳng hạn hay xắp xếp theo cỡ nòng như với pháo binh)... thì bạn sẽ dễ viết hơn và người đọc cũng tiện theo dõi hơn (kinh nghiệm của tớ lúc dịch sách với tìm bài trên các trang mạng thôi).

3. Cố gắng lên bạn, vũ khí, khí tài của Mỹ và phương Tây đang bị "lép vế" trước vũ khí của Liên Xô và Nga trong Kiến thức quốc phòng Grin

Vâng cảm ơn bạn đã giúp tớ, và tớ sẽ cố gắng tìm thật nhiều bài hay cho mọi người Grin, thân Grin
Logged
Raptor Flanker
Thành viên
*
Bài viết: 274



« Trả lời #4 vào lúc: 21 Tháng Ba, 2013, 12:17:54 pm »

Xe tăng chiến đấu chủ lực M60A1


Thiết kế và đặc điểm

Xe tăng chiến đấu chủ lực M60A1 là phiên bản sản xuất chính từ năm 1963 đến năm 1980. Trang bị pháo nòng xoắn 105mm L7 với ốp cách nhiệt và thiết bị cản khói thuốc tràn ngược về tháp pháo, trang bị 63 viên đạn . Ngoài thiết kế tháp pháo mới, M60A1 giữ nguyên khung thân cơ bản như của M60, chỉ cải tiến một số thiết bị và hệ thống ở bên trong. M60A1 nhanh chóng được đưa vào dây chuyền sản xuất mà không gặp một vấn đề nghiêm trọng nào. Chiếc M60A1 đầu tiên được trang bị vào mùa xuân năm 1962, sau 2 năm khi chiếc M60 đầu tiên được xuất xưởng. Ngoài trang bị cho quân đội Mỹ, nó còn được viện trợ và bán cho các Đồng Minh của Mỹ như Đức, Áo, Iran, Israel, Jordan và Ý.

M60A1 có tháp pháo được thiết kế theo hình chữ V giúp nó có khả năng bảo vệ tốt hơn,  và được trang bị một bệ gắn pháo chính mới. Đối với những xe tăng đời trước, các bệ gắn pháo chính không có hệ thống ổn hướng, nhưng đến giữa thập kỷ 70, hầu hết đều đã được gắn hệ thống ổn hướng cho pháo chính. Vì thế mà dòng xe tăng M60A1 đã trở thành dòng xe tăng chiến đấu chủ lực cửa quân đội Mỹ từ những năm giữa thập kỷ 60 đến những năm đầu thập kỷ 70. Pháo nòng xoắn M68 105mm được Mỹ sản xuất theo giấy phép từ mẫu pháo L7 của Anh với một kiểu khoá nòng trượt theo chiều dọc. Loại pháo này cũng được trang bị cho dòng xe tăng chiến đấu chủ lực M1 Abrams, cho đến khi nó được thay thế bởi pháo nòng trơn 120mm mới cho các đời M1A1/ M1A2 sau này. Trọng lượng 58 tấn, kíp chiến đấu gồm 4 người: lái xe, trưởng xa, xạ thủ và nạp đạn. Tháp pháo M60A1 được tổ chức theo phong cách của Mỹ - xạ thủ ở bên phải tháp pháo, trưởng xa ngồi đằng sau xạ thủ và lính nạp đạn ngồi bên trái. Diện tích và nội thất của tháp pháo M60A1 cũng rộng rãi hơn so với những dòng xe tăng chiến đấu chủ lực lúc bấy giờ.

Phát triển tiên tiến nhất trong thiết kế của M60A1 chính là M60A1 RISE Passive (Reliable Improved Selected Equipment Passive/ Thiết bị thụ động lựa chọn cho tăng khả năng tin cậy). Nó trang bị cho M60 một thiết bị khuếch đại ánh sáng hình ảnh ban đêm thụ động cho trưởng xa và xạ thủ. Ngoài ra còn có một số nâng cấp khác bao gồm trang bị động cơ AVDS-1790-2C RISE làm tăng công suất của động cơ,  lắp 2 hệ thống phòng đạn khói ở 2 bên tháp pháo, làm nó mang phong cách của dòng xe tăng Chieftain. Dây cáp điều khiển chính chạy dọc 2 bên tháp pháo, được bảo vệ bời các tấm giáp mỏng và luồn vào bên trong gần bệ lắp đèn pha. Dòng xe tăng này nhanh chóng được đưa ra tiền tuyến ở nước ngoài phục vụ, chẳng hạn như Tây Đức, bắt đầu trang bị từ năm 1979.


Trong chiến dịch Tấm Khiên Sa Mạc (Desert Shield), xe tăng chiến đấu chủ lực của Thuỷ Quân Lục Chiến Mỹ chính là M60A1, được trang bị thêm các tấm giáp giúp tăng khả năng bảo vệ, nhưng vẫn không thể chống lại đối thủ mạnh hơn, đó chính là những chiếc xe tăng T-72 của Liên Xộ trang bị cho Iraq, với kích cỡ nòng lớn hơn và tầm bắn xa hơn, đây chính là mối đe doạ trực tiếp đối với Thuỷ Quân Lục Chiến Mỹ lúc bấy giờ, khi sư đoàn Viễn Chinh số Một của Thuỷ quân Lục Chiến Mỹ (1st Marine Expeditionary Force) điều động 210 xe tăng M60A1 để hỗ trợ Thuỷ Quân Lục Chiến Ả Rập Saudi tiến vào thành phố Kuwait.
Hiện nay Thuỷ Quân Lục Chiến Mỹ đã thay thế các xe tăng M60A1 bằng các xe tăng M1A1/ M1A2 Abrams cho phù hợp với tác chiến hiện đại vì dòng xe tăng M60A1 RISE đã không thể chứng minh khả năng chiến đấu tôt trong điều kiện tác chiến hiện đại nữa.


Thông số kỹ thuật cơ bản:
Kíp chiến đấu (người): 4.
Trọng lượng (tấn): 58.
Chiều dài toàn bộ (m): 9.44 (kể cả nòng pháo).
Chiều dài thân (m): 6.95.
Rộng (m): 3.63.
Cao (m): 3.27.
Vũ khí:
Pháo chính nòng xoắn L7/ M68.
Cỡ nòng (mm): 105.
Cơ số đạn (viên): 63.
Góc nâng pháo (độ): -10…+20.
Góc quay tháp pháo (độ): 360.
Súng máy đồng trục M240.
Cỡ nòng (mm): 7.62.
Cơ số đạn (viên): 5.950.
Súng máy phòng không M85.
Cỡ nòng (mm): 12.7.
Cơ số đạn (viên): 900.
Động cơ:
Động cơ diesel Continental AVDS-1790-2C RISE, công suất 750 mã lực.
Bộ truyền động Allison CD-850-6/6A.
Tốc độ tối đa (km/h): 48.
Tầm hoạt động (km): 480.
Khả năng vượt chướng ngại vật
Leo dốc (độ): 30.
Vách đứng (m): 1.2.
Hào rộng (m): 2.7
Vượt sông sâu (m): 1.3.

M60A1 RISE Pasive với thết bị khuếch đại ánh sáng ban đêm


Vị trí xạ thủ trên M60A1 RISE

Vị trí của trưởng xa



« Sửa lần cuối: 21 Tháng Ba, 2013, 11:20:07 pm gửi bởi Raptor Flanker » Logged
Raptor Flanker
Thành viên
*
Bài viết: 274



« Trả lời #5 vào lúc: 22 Tháng Ba, 2013, 12:15:08 am »

Xe tăng chiến đấu chủ lực M60A2 "Starship"


Thiết kế và đặc điểm

M60A2 là một phiên bản của xe tăng chiến đấu chủ lực M60 và phát triển như một lực lượng tăng cường cho các đơn vị sử dụng M60A1. Và được bắt đầu phát triển vào những năm cuối thập kỷ 60. M60A2 bắt đầu trang bị cho quân đội Mỹ từ năm 1972. Có tổng cộng 526 chiếc M60A2 được sản xuất. M60A2 có biệt danh là Starship vì các công nghệ tinh vi được áp dụng trên nó. Nhưng quân đội Mỹ cũng đã loại bỏ dòng xe tăng này.

M60A2 trang bị tháp pháo mới với khả năng mang pháo nòng xoắn có khả năng phóng tên lửa qua nòng  152mm M48. Loại pháo này có thể bắn các loại đạn thông thường và tên lửa chống tăng có điều khiển MGM-51 Shillelagh. Nó có tầm bắn hiệu quả là 1.5km với đạn thông thường và 3km với đạn chống tăng có điều khiển MGM-51 Shillelagh. Thế nhưng trong quá trình thử nghiệm hoạt động, pháo 152mm tỏ ra kém hơn về tầm bắn và độ chính xác so với pháo 105mm hay 120mm nếu bắn đạn thông thường, còn tên lửa chống tăng có điều khiển thì cũng không có khả năng xuyên giáp tốt. Ngoài ra nó cũng quá tốn kém và rắc rối để duy trì hoạt động. Lúc trước khẩu pháo cũng có một số vấn đề nhưng chúng cũng đã được giải quyết. Loại pháo này tương tự như khẩu sử dụng trên xe tăng hạng nhẹ M551 Sheridan. Ngoài ra xe tăng M60A2 là một trong những xe tăng đầu tiên trên thế giới lắp hệ thống đo xa laser giúp đo lường khoảng cách tới mục tiêu chính  xác hơn và có thể dẫn đường cho tên lửa chống tăng MGM-51 Shillelagh.

Tên lửa chống tăng có điều khiển MGM-51C Shillelagh

Cận cảnh hệ thống đo xa laser trên pháo M48

Vũ khí phụ của M60A2 gồm một khẩu súng máy đồng trục 7.62mm M240 và súng máy phòng không 12.7mm M85 trên vòm của trưởng xa. Các vũ khí này được khai hoả, nạp đạn và hoạt động tại một vị trí được bảo vệ tốt.

M60A2 sử dụng động cơ diesel Continental AVDS-1790-2, công suất 750 mã lực, động cơ, bộ truyền động, hệ thống treo tương tự M60A1, tốc độ và khả năng vượt chướng ngại vật cũng giống như các phiên bản M60 khác.

Hiện nay M60A2 đã không còn được sử dụng nữa, tuy nhiên vẫn còn một số ít đang được tồn kho, bảo quẩn, làm vũ khí dự bị. Đa số đã được chuyển đổi, nâng cấp thành M60A3, một số khác đã được chuyển đổ khung gầm thành xe bắc cầu M60 AVLB và những xe công binh dùng khung gầm M60 khác.

Thông số kỹ thuật cơ bản:
Kíp chiến đấu (người): 4.
Trọng lượng (tấn): 44.
Chiều dài toàn bộ (m): 7.3 (kể cả nòng pháo).
Chiều dài thân (m): 6.95.
Rộng (m): 3.63.
Cao (m): 3.1.
Vũ khí:
Pháo chính nòng xoắn có khả năng phóng tên lửa qua nòng M48.
Hệ thống tên lửa chống tăng có điều khiển MGM-51 Shillelagh.
Cỡ nòng (mm): 152.
Cơ số đạn (viên): 33.
Số đạn tên lửa chống tăng có điều khiển (viên): 13.
Góc nâng pháo (độ): -10…+20.
Góc quay tháp pháo (độ): 360.
Súng máy đồng trục M240.
Cỡ nòng (mm): 7.62.
Cơ số đạn (viên): 5.560.
Súng máy phòng không M85.
Cỡ nòng (mm): 12.7.
Cơ số đạn (viên): 1080.
Động cơ:
Động cơ diesel Continental AVDS-1790-2, công suất 750 mã lực.
Bộ truyền động Allison CD-850-6/6A.
Tốc độ tối đa (km/h): 48.
Tầm hoạt động (km): 480.
Khả năng vượt chướng ngại vật
Leo dốc (độ): 30.
Vách đứng (m): 0.9.
Hào rộng (m): 2.6
Vượt sông sâu không chuẩn bị ống thông hơi (m): 1.2.
Vượt sông sâu có chuẩn bị ống thông hơi (m): 4.1.

Vòm chỉ huy của trưởng xa (nằm chính giữa tháp pháo)

Vị trí của xạ thủ

Cửa ra vào và vị trí của lính nạp đạn (nắm bên trái tháp pháo)


« Sửa lần cuối: 22 Tháng Ba, 2013, 07:55:34 am gửi bởi Raptor Flanker » Logged
Raptor Flanker
Thành viên
*
Bài viết: 274



« Trả lời #6 vào lúc: 22 Tháng Ba, 2013, 11:40:36 am »

Xe tăng chiến đấu chủ lực M60A3


Lịch sử phát triển

Xe tăng chiến đấu chủ lực M60A3 (tên gọi khác là M60A1E3) là một phiên bản nâng cấp sâu của M60A1. Một số nâng cấp cơ bản như gắn hệ thống ổn hướng độc lập 2 trục cho pháo chính, nâng cấp động cơ RISE và gắn hệ thống phóng đạn khói, đã từng lắp đặt cho những chiếc M60A1 những năm trước đó.

Chiếc xe tăng M60A3 đầu tiên hoàn thành tại Nhà máy chế tạo xe tăng Detroit Arsenal vào tháng 3 năm 1978 là chiếc đầu tiên trong tổng số 296 chiếc M60A3 thuộc gói sản xuất tỉ lệ thấp và được tài trợ bới quý chuyển tiếp FY76 và FY77. Lục Quân Mỹ trang bị khoảng 5.400 chiếc M60A3, bao gồm 1.686 M60A3 sản xuất mới, 114 chiếc cải tiến từ M60A1 RISE Passive và 3.600 chiếc chuyển đổi từ những chiếc M60A1 đem trả từ Đức, vận chuyển từ Kho lưu trữ xe tăng Mainz ở Đức về Kho lưu trữ xe tăng Anniston ở Mỹ . Vào tháng 1 năm 1983, Ả Rập Saudi đặt mua 100 chiếc M60A3, với tổng giá trị lên đến 176 triệu USD, bao gồm các thiết bị phụ tùng, đạn dược…Năm 1987, đặt mua 150 bộ phụ tùng chuyển đổi M60A1 thành M60A3 với tổng giá trị là 120 triệu USD. Bộ phụ tùng chuyển đổi bao gồm cả Hệ thống Ảnh nhiệt lắp trên xe tăng (TTS/ Tank Thermal Sight).

Thiết kế và đặc điểm

Nâng cấp chính của xe tăng M60A3 chính là hệ thống điều khiển hoả lực. Thiết bị đó xa laser của Tập đoàn Raytheon System có tầm hoạt động tối đa là 5km, thay thế cho hệ thống đo xa quang học cũ, máy tính thay cho máy tính cơ khí. Thử nghiệm rất thành công trong 20 nguyên mẫu đầu tiên. Tập đoàn Raytheon System đã giành được hợp đồng trong việc sản xuất hệ thống đo xa laser cho M60A3 vào năm 1976. Hợp đồng cung cấp cho 69 đơn vị hệ thống đo xa laser với tổng giá trị 11 triệu USD. Dữ liệu về khoảng cách mục tiêu sẽ được nạp vào máy tính, cùng với các dữ liệu khác như vận tốc gió, nhiệt độ không khí, góc nghiêng pháo,  mật độ không khí, tỉ lệ theo dõi mục tiêu và đường đạn bay. Các dữ liệu này cung cấp góc phương vị và góc tà một cách chính xác nhất cho trưởng xa và xạ thủ, lệnh bắn trực tiếp từ trưởng xa hoặc xạ thủ. Ngoài ra nó còn lắp thêm hệ thống ngắm bắn thụ động ban đêm, tăng khả năng chiến đấu vào ban đêm cũng như ban ngày.

Tập đoàn Ratyheon System cung cấp cho hệ thống điều khiển hoả lực của M60A3 2 hệ thống con chính là hệ thống đo xa laser AN/WS-2 và máy tính đường đạn M21. Hệ thống chiếu laser/ bắt ngắm mục tiêu AN/WS-2 bao gồm 2 thiết bị chính: thiết bị tích hợp bắt ngắm/ chiếu laser từ trưởng xa với thiết bị điều khiển và thiết bị điện tử laser. Khoảng cách đến mục tiêu có thể nhập tự động vào máy tính hoặc được điều khiển và lựa chọn khoảng cách đến mục tiêu từ trưởng xa nếu có nhiều hơn một chùm tia laser nhận được và thông qua các đánh giá của trưởng xa đó về tình hình trên chiến trường. Xạ thủ và trưởng xa sử dụng chung một thiết bị đo xa laser nên xạ thủ lẫn trưởng xa đều có thể ích hoạt hệ thống đo xa laser và khai hoả vũ khí.

Hệ thống máy tính phụ trên xe tăng M60A3 có các cảm biến chọn đạn. Trưởng xa hoặc xạ thủ có thể chọn một trong 4 các loại đạn cơ bản được trang bị trên xe tăng, máy tính lưu trữ thông tin của 6 kiểu loại đạn, với 4 kiểu cơ bản được đặt ở các vị trí lưu trữ khác nhau. Nó cũng cài đặt, lựa chọn điều kiện cho đạn và việc nạp đạn trong lúc xe tăng di chuyển hay đứng yên.

Nửa trên bảng điều khiển của xạ thủ gồm 3 lựa chọn để nhập vào máy tính: nhiệt độ không khí, áp suất khí quyển và nhập khoảng cách mục tiêu bằng tay nếu như hệ thống đo xa laser bị hỏng. Các cảm biến đo tốc độ, cảm biến gió và cảm biến độ nghiêng hoàn toàn tự động. Cảm biến tốc độ dùng để tiêu diệt mục tiêu đang di chuyển trong khi xe tăng đang đứng yên. Khi xe tăng di chuyển, máy tính sẽ kích hoạt các hệ thống ổn hướng pháo chính giúp pháo chính thăng bằng và ổn định khi xe tăng di chuyển. Cảm biến gió có thể xếp lại theo chiều ngang để giảm thiệt hại khi đi qua các khu rừng hay các cây có nhánh cây thấp. Cảm biến độ nghiêng đo các chiều và hướng của trục ngang pháo.

Có một dàn đèn trên bảng điều khiển của xạ thủ giúp xạ thủ theo dõi tình trạng các thiết bị. Nếu đèn xanh bật tức là hệ thống ổn định, không bị hư hại, đàn đỏ bật lên là hệ thống bị hỏng, đèn vàng bật lên là hệ thống vẫn có thể sử dụng nhưng độ chính xác sẽ giảm đi. Nửa dưới bảng điều khiển là hệ thống điều chỉnh ống ngắm, khoá nòng, đo tốc độ gió bằng tay và các nút chọn loại đạn.

Thiết bị ngắm ảnh nhiệt trên xe tăng (TTS/ Tank Thermal Sight)  AN/VSG-2 giúp xạ thủ tác chiến trong đêm tốt hơn vì ngoài khả năng tác chiến ban đêm, nó còn cò thể giúp xạ thủ bắt ngắm mục tiêu trong màn khói và có thiết bị che phủ như đất, tường gạch mỏng… AN/VSG-2 thay thế kính tiềm vọng nhìn đêm thụ động.

Các cải tiến chính của M60A3:

- Hệ thống pháo chính có thiết bị ổn hướng 2 trục, cả về góc phương vị và góc tà.

- Lắp đặt hệ thống lọc không khí.

- Đèn hồng ngoại AN/VSS-1 thay thế bằng đèn AN/VSS-3A.

- Kính ngắm ảnh nhiệt AN/VSG-2.

- Xích T97 thay bằng xích T142 với các miếng đệm nhựa có thể tháo ra.

- Động cơ diesel AVDS-1790-2C RISE (Reliability Improved Selected Equipment).

- Ốp lót cách nhiệt cho pháo chính.

- Thiết bị đo xa laser AN/WS-2.

- Máy phát điện làm mát bằng dầu 650A.

- Máy tính tĩnh M21.

- Thiết bị nhìn đêm hồng ngoại thụ động.

- Bộ ống phóng 6 lựu đạn khói.

- Bộ xả khói cho động cơ.

- Hệ thống chữa cháy tự động Halon.

M60A3 được lắp đạn bộ xả khói. Nhiên liệu được phun vào ống xả, đốt tạo ra khói. Tập đoàn TACOM và General Dynamics phát triển thiết bị lọc bụi cho dòng xe tăng M60 với tên gọi Hệ thống loại bỏ bụi cho hệ thống xả của xe (Vehicles Exhaust Dust Ejector System/ VEDES). Hệ thống này được lắp đặt cho toàn bộ xe tăng M60A3 vào cuối năm 1984.

Thông số kỹ thuật cơ bản:

Kíp chiến đấu (người): 4.
Trọng lượng (tấn): 52.6.
Chiều dài toàn bộ (m): 9.44 (kể cả nòng pháo).
Chiều dài thân (m): 6.95.
Rộng (m): 3.63.
Cao (m): 3.27.
Vũ khí:
Pháo chính nòng xoắn L7/ M68.
Cỡ nòng (mm): 105.
Cơ số đạn (viên): 63.
Góc nâng pháo (độ): -10…+20.
Góc quay tháp pháo (độ): 360.
Súng máy đồng trục M240.
Cỡ nòng (mm): 7.62.
Cơ số đạn (viên): 5.950.
Súng máy phòng không M85.
Cỡ nòng (mm): 12.7.
Cơ số đạn (viên): 900.
Hệ thống điều khiển hoả lực và bắt ngắm:
-   Máy tính tĩnh M21.
-   Thiết bị đo xa laser AN/WS-2.
-   Thiết bị ngắm ảnh nhiệt AN/VSG-2.
-   Thiết bị dò tìm hồng ngoại thụ động Mercury-Cadmium-Telluride (HgCdTe).
Động cơ:
Động cơ diesel Continental AVDS-1790-2C RISE, công suất 750 mã lực.
Bộ truyền động Allison CD-850-6/6A.
Tốc độ tối đa (km/h): 48.
Tầm hoạt động (km): 480.
Khả năng vượt chướng ngại vật
Leo dốc (độ): 30.
Vách đứng (m): 1.2.
Hào rộng (m): 2.7
Vượt sông sâu (m): 1.3.

Vị trí của trưởng xa, nắp màu xanh chính là cửa ra vào, bên góc dưới phía trái, dây màu xám là băng tiếp đạn cho súng máy 12.7mm

Bảng điều khiển của xạ thủ



Logged
Raptor Flanker
Thành viên
*
Bài viết: 274



« Trả lời #7 vào lúc: 22 Tháng Ba, 2013, 10:55:01 pm »

Xe tăng chiến đấu chủ lực Super M60


Thiết kế và đặc điểm

Super M60, hay còn gọi là “Super 60” là gói nâng cấp toàn diện cho dòng xe tăng M60 Patton, cung cấp vào đầu những năm 1980. Mặc dù gói nâng cấp này gia tăng đáng kể khả năng chiến đấu và bảo vệ cho các đội xe tăng M60, nhưng không có khách hàng nào đặt mua, chương trình nâng cấp bị huỷ bỏ bởi sư kết thúc của Chiến tranh Lạnh.

Sự thất bại của gói nâng cấp Super M60 có thể là do lúc đó không có nhu cầu một dòng xe như vậy. Các nhà chế tạo có thể chế tạo hẳn một dòng xe tăng thế hệ mới như M1 Abrams hay Leopard 2 và ít quan tâm đến việc nâng cấp các dòng xe cũ có trong biên chế.

Super M60 dài 9.5m, rộng 4.19m, cao 2.92m, nặng 53,6 tấn, áp lực xích lên mặt đất là 1kg/cm², các thuộc tính vật lý của Super M60 giống như các dòng M60 khác. Nó có thể giải phóng 0,4m mặt bằng, leo lên vách đứng 0.9m, và leo dốc lên đến 30 độ.

Động cơ của Super M60 là động cơ diesel Teledyne Continental Motors CR-1790-1B, công suất 1.180 mã lực (21.53 mã lực/tấn). Sử dụng bộ truyền động Renk RK 304 với 4 số tiến và 4 số lùi. Hệ thống treo/ thanh xoắn cải tiến hơn so với M60A3, giúp Super M60 chạy mượt hơn trên các con đường gập ghềnh mặc dù trọng lượng nặng hơn các dòng M60 Patton khác.

Các vũ khí trang bị trên Super M60 tương tự như M60A3, nhưng sử dụng phiên bản khác. Pháo chính nòng xoắn 105mm L52/M68A1, tương tự như loại sử dụng trên M1 và IPM1 Abrams. Loại pháo này bắn các loại đạn APFSDS (Armour-Piercing Fin Stabilized Discarding Sabot/ Đạn thanh xuyên động năng có guốc ốp nòng), HEAT (High Explosive Anti-Tank/ Đạn nổ mạnh chống tăng), HE (High Explosive/ Đạn nổ mạnh), HESH (High Explosive Squash Head/ Đạn thuốc nổ dẻo), APERS (Anti Personnels/ Đạn tiêu diệt bộ binh) và WP (White Phosphorus/ Đạn phốt pho trắng). Cơ số đạn là 63 viên, súng máy đồng trục 7.62mm M73 thay bằng M240C, súng máy phòng không 12.7mm M85 thay thế bằng M2HB.

Hệ thống điều khiển hoả lực thì giống như M60A3, với hệ thống đo xa laser AN/WS-2, hệ thống ngắm ảnh nhiệt AN/VSG-2 và máy tính đường đạn M21.

Đối với Super M60, ta có thể thấy việc nâng cấp đáng kể chính là khả năng phòng vệ của nó – một lớp giáp được sắp xếp đều nhau xung quanh tháp pháo góc cạnh thay vì tháp pháo tròn hình chữ V như vủa M60. Các tấm thép bổ sung lắp đặt ở phía trước, xung quanh và phia sau thân xe. Lắp hệ thống chữa cháy tự động Halon 1301 khả năng phòng hoá-sinh-phóng xạ được cung cấp bởi thiết bị M13A1 tương tự như M60A3.

Thông số kỹ thuật cơ bản:

Kíp chiến đấu (người): 4.
Trọng lượng (tấn): 52.6.
Chiều dài toàn bộ (m): 9.5 (kể cả nòng pháo).
Chiều dài thân (m): 7.09.
Rộng (m): 4.91.
Cao (m): 2.92.
Vũ khí:
Pháo chính nòng xoắn L52/ M68A1.
Cỡ nòng (mm): 105.
Cơ số đạn (viên): 63.
Góc nâng pháo (độ): -10…+20.
Góc quay tháp pháo (độ): 360.
Súng máy đồng trục M240C.
Cỡ nòng (mm): 7.62.
Cơ số đạn (viên): 5.950.
Súng máy phòng không M2HB.
Cỡ nòng (mm): 12.7.
Cơ số đạn (viên): 900.
Hệ thống điều khiển hoả lực và bắt ngắm:
-   Máy tính tĩnh M21.
-   Thiết bị đo xa laser AN/WS-2.
-   Thiết bị ngắm ảnh nhiệt AN/VSG-2.
Động cơ:
Động cơ diesel Teledyne Continental Motors CR-1790-1B, công suất 1.180 mã lực.
Bộ truyền động Renk RK 304.
Tốc độ tối đa (km/h): 72.
Tầm hoạt động (km): 500.
Khả năng vượt chướng ngại vật
Leo dốc (độ): 30.
Vách đứng (m): 0.9.
Hào rộng (m): 2.6
Vượt sông sâu (m): 1.2.




Logged
Bộ đội Cụ Hồ
Thành viên
*
Bài viết: 158



« Trả lời #8 vào lúc: 23 Tháng Ba, 2013, 03:11:46 pm »


M-60A1 lắp lớp áo giáp phản ứng nổ ERA Kontakt-1 của Quân đội Iran.


Xe tăng Magach 6 của Israel, phiên bản nâng cấp với giáp ERA "Blazer" của M60A1.
Logged
Raptor Flanker
Thành viên
*
Bài viết: 274



« Trả lời #9 vào lúc: 24 Tháng Ba, 2013, 09:58:37 pm »


M-60A1 lắp lớp áo giáp phản ứng nổ ERA Kontakt-1 của Quân đội Iran.


Xe tăng Magach 6 của Israel, phiên bản nâng cấp với giáp ERA "Blazer" của M60A1.

Sẽ có bài viết về 2 chương trình nâng cấp này  Grin
Logged
Trang: 1 2 3 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM