Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:29:31 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chân dung một quản đốc  (Đọc 49325 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #60 vào lúc: 13 Tháng Sáu, 2013, 09:09:57 am »

- Đáng lẽ chúng tôi xử tử mấy người... Đã đào ngũ, sao không về quê làm ăn, lại sanh nghê trộm cướp… Đánh mấy đám rồi? Giết ai chưa?... Thì mấy ngưòi chối leo lẻo thôi... Mới vô nghề ! Bữa nay là trận đầu ! Nghèo đói quá! Tính làm một vố lấy tiền về xe! Cha mẹ già ! Con nhỏ ! Còn gì nữa ? Tên tuổi rõ ràng, quê quán thì nói đến tên ấp, tên nhà kế cận... Ai hơi sức đâu lội xuống Giồng Riềng, mò vô Ông Dẻo, Thất Lát, kiếm cho ra nhà Tám Trà...

Hai Cũ mắng nhiếc hai đứa thậm tệ.

- Cỡ ăn cướp như mấy người mà cũng đòi chia chác... Tao biết tỏng tụi bây: nhà cửa quanh quất đây thôi... Hết nghề làm ăn sao đi ăn cướp!

Hai Cũ thét to, giận dữ. Anh giận thực sự:

- Ăn cướp cũng phải coi thời coi thế chớ! Thiên hạ đánh giặc ì ì... Giặc Mỹ, giặc Diệm... Tụi bây đi ăn cướp! Tao bắn bỏ đầu ráo! Đồ ngu... Ăn cướp hả?... Tao đây...

Hai Cũ nổi sùng, định trình lý lịch của anh ra. Song anh kịp tốp lại. Tụi “hậu sanh” này làm gì biết được Hai Cũ. Vả lại, ở đây xa tít tè cái xứ Biên Hòa.

Hai tên cướp hết ngơ ngác này đến ngơ ngác khác. Lúc Hai Cũ là tay buôn lậu cần sa chính cống, lúc lại giống mấy ông giải phóng, lúc y như đầu đảng anh chị bự. Giọng của anh vừa nghiêm khắc vừa có vẻ thông cảm…

- Tôi biết anh em lầm lạc... Nếu không đủ chí lo việc nước thì nên làm ăn: Thiếu gì nghề lương thiện... Đốn củi hầm than... Đánh cá... Nuôi heo... Mần mướn…

Anh bỗng bỏ nhỏ:

- Hổng được hả ? Tề lính làm khó hả ? Vậy thì dẹp, mẹ tụi tề lính... Theo Giải phóng. Hổng được hả?

Rồi, anh lại bừng bừng:

- Không theo Giải phóng thì chắc theo Mỹ Diệm.. Còn chối nữa ! Trên đất nầy mà tụi bây tính “trung lập”, nói lào lao !

- Đó! Cầm lấy! - Hai Cũ vứt cho hai người mấy tờ giấy một trăm đồng - Làm vốn tìm phương sống, tao mà còn gặp tụi bây ăn cướp lần thứ hai thì tao lóc thịt... Hai cây súng để lại. Tao đem cho người khác, họ xài vô chỗ lợi ích... Đi cho khuất con mắt tao.. Xin súng hả? Tao biểu lủi cho lẹ, còn dang ca ! Tao đổi ý, chôn sống hai đứa ngay bây giờ. Thiệt là đồ chua ngục!

Hai tên uể oải vẹt cành cây. Hai Cũ trông theo, cười độ lượng:

- Có thể rồi tụi nó khá...

Thử nâng khẩu Ga-răng:

- Cháu thấy tụi này đứa mỏ chuột, đứa mắt dơi, không tin nổi!

- Mầy theo mang mu rùa cho Khánh Sơn hồi nào?

- Để rồi chú coi... Chưa chắc đâu, chú ơi.

Một phát đạn cắt câu nói của Thử. Thử ôm ngực và ngã chúi. Phát thứ hai sượt vai Hai Cũ. Phát thứ ba truy theo Hai Cũ khi anh né vào gốc cây. Tràng Tôm-xông của Tâm rộ cùng lúc với khẩu súng ngắn của Hai Cũ. Cành và lá cây đổ rào rào. Khi Tâm cùng Thìn - người đóng vai con trai Hai Cũ, chiến sĩ Hải quân - đến nơi phát ra ba phát súng bắn tỉa, thì tứ bề vắng hoe. Họ chỉ còn lượm được ba vỏ đạn - đạn của một khẩu Ga răng. Hai Cũ gọi Cao - quân y sĩ, cũng đóng vai con trai anh - đến săn sóc Thử (thật ra, anh biết là Thử đã chết, đạn trúng ngực), anh lao vào rừng. Bất kể dây mây, mất cật. Hai Cũ càn ào ào, Nếu Tâm không rị cúng anh, anh còn bơi nữa, bơi tới khi nào tự tay xả hết băng P.38 vào đầu ba đứa khốn kiếp kia. Nhưng rừng mênh mông... Bóng chiều càng khiến nó thêm bí hiểm. Bọn cướp chẳng cần chạy xa và chúng hạ một Hai Cũ điên loạn thật dễ như lấy đồ trong túi. Bản lĩnh sử dụng Ga-răng của chúng không tồi... Hai Cũ dần dần trấn tĩnh. Anh vuốt mặt Thử:

- Lỗi của qua...

Thử được đặt lên tấm ni-lông. Hai Cũ quỳ bèn cạnh, khóc thút thít. Thử, tuy còn trẻ, song có cái nhìn rành rọt hơn Hai Cũ. Giá mà Hai Cũ cũng có được cái nhìn ấy, anh đâu mất một đồng chí trong trường hợp thật lãng như vậy.

- Mồ tổ cha tụi ăn cướp! Mồ tổ cha Hai Cũ.

Hai Cũ gào thống thiết, mỗi tiếng gào là một lạy, trán anh nện binh binh trên rễ cây...

Thử nằm nghỉ trên bờ con lạch không tên. Hai Cũ chọn một chỗ dễ tìm nhất, hí hoáy ghi vào sổ tay vị trí ngôi mộ.

- Thử đừng phiền... Thế nào cũng về nghỉ ngơi quê nhà.

Hai Cũ khấn lầm thầm. Thuyền nổ máy, anh ngó sững ngôi mộ, cả khi sóng biển đã vỗ mạn thuyền.

- Quân đầu trộm đuôi cướp!...

Tâm chửi đổng. Nếu trước kia, nghe chửi kiểu đó, thể nào Haì Cũ cũng nự:

- Ăn cướp, ăn trộm cũng là con người!

Anh biết Tâm không chửi xéo anh - chú ta đâu rõ ngày xửa ngày xưa của Hai Cũ. Song, anh thấm thía. Cứ cho như Tâm chửi cả anh, cũng không oan.

- Hừ! Quân đầu trộm đuôi cướp !

Hai Cũ lặp lại đau đớn...
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #61 vào lúc: 13 Tháng Sáu, 2013, 09:12:37 am »

   hai mươi

Đúng đêm rằm, thuyền Hai Cũ men bờ biển mà anh đinh ninh là Thạnh Phú. Trăng vằng vặc. Tâm ngồi trước mũi, dán mắt trông rặng cây xa xa.

Hình như quá Cồn Ngao khá lâu, nhưng không thấy ba đống lửa. Cả hàng đáy cũng biệt tăm. Hay là trên bờ có giặc ?

Triều đang xuống nhanh. Hình dạng bờ biển quen thuộc bỗng khác lạ. Sao lại có cái doi kia? Rõ ràng, đây là cửa sông mà...

Hai Cũ sợ Tâm rối trí, anh không hỏi han ,đốc thúc... Giá mà thằng Thử còn sống, thêm hai mắt, đỡ sai sót hơn. Hai Cũ thở dài. Từ hôm Thử hy sinh, Hai Cũ thở dài luôn...

Chiếc thuyền đang lao trong vùng biển tắm ánh trăng, bỗng rùng mình. Hai Cũ suýt ngã ngửa. “Mắc cạn”! Hai Cũ nhảy xuống nước, sình lên đến thắt lưng, chân vịt thuyền khuấy sủi một khoảng đen đặc. Chiếc thuyền quay ngang, không tiến lên mà cũng không thối lùi được. Thìn tắt máy.

- Hè đẩy! - Hai Cũ vừa ra lịnh vừa kê vai đẩy.

Chiếc thuyền khẽ nhúc nhích. Nhưng, không tìm ra lòng lạch, thuyền cứ cựa quậy giáp vòng. Nước rút nhấp nháy và bây giờ thuyên nằm trong một bãi bồi bát ngát. Hai Cũ toan quyết định dỡ vũ khí xuống để cho thuyền nhẹ, song, anh biết rằng quyết định đó quá chậm. Nơi thuyền mắc cạn gần như là đỉnh của một quả đồi trọc và  bây giờ muốn ra đến mí nước, phải lôi thuyền hằng năm bảy trăm thước. Mà nước vẫn tiếp tục rút, mí mỗi lúc mỗi xa. Đằng đông, đã ửng hồng.

Chỉ còn đường “tử thủ”.

Ban ngày, giữa bãi bồi, hiện lên một chiếc thuyền mắc cạn - dân sẽ bàn tán, bọn xấu sẽ tọc mạch, tàu tuần sẽ chẳng bỏ qua... Biết đâu, khi trời sáng bạch, ngay trên bờ, lại là một đồn lính nào đó... “Đi năm châu bốn biển bình yên, về đến quê nhà lọt lỗ chân trâu”... Hai Cũ cay đắng than thở, dù anh cố nén bối rối. “Cứ tưởng vụ thằng Thử là vụ cuối cùng”.

Tâm là người ỉu xìu nhất đám. Cho thuyền mắc cạn là vì anh, anh là hoa tiêu.

- Phải chi thằng Thử còn sống!

Tâm quen đo đạc trên bản đồ. Thử - trái lại - đo đạc bằng trí nhớ. Trong chuyến ra, tiếng nói của Tâm quyết định, bởi chẳng ai hiểu bãi bến gần suốt ven biển đất nước ta. Thử ghi nhận nằm lòng. Tài của Thử nổi rõ từ khi thuyền qua giới tuyến, trong chuyến vào. Cái cồn bất nhơn này ! Nếu không mắc cạn, cặp đại vào đất liền, chưa tới Thạnh Phú thì Ba Tri, quá Thạnh Phú thì Long Toàn, Cồn Cù, quá nữa thì Vĩnh Lợi, Năm Căn... Du kích lềnh khênh... Khỏe ru ! Chẳng rõ đây là đâu...

Hai Cũ không rầy Tâm. Song Tâm “ớn”. Ông nội này có cập chân mày, khi ông “lên cơn”, giống đám mây báo bão - sập xuống tối hù! Ngày thường coi hiền khô khi lâm trận, ổng nghiến răng trèo trẹo. Ổng nói vặn họng là vặn họng thiệt tình ! Hôm thằng Thử chết, ổng mà túm được cái thằng mật thẹo, ông dám chôn sống lắm...

Hai Cũ hết còn thì giờ để cự nự. Phải giữ sao cho trọn chiếc thuyền, chờ con nước tối.

Anh nói với tất cả người trên thuyền:

- Bây giờ, không còn cách nào khác. Có thể giặc cho thuyền mắc cạn là sự thường, dẫu có nghi, trước khi nước triều lên, chúng cũng chẳng lội ra đây đâu... Như vậy, nội đêm mai ta tới điểm. Nhược bằng chưa tới điểm thì ta tạt vào một căn cứ nào đó, rồi tính sau... Còn như giặc nghi, nó gọi ta lội đến tàu nó, tôi đi cho. Tôi lựa lời đối đáp với nó... Giả tỷ nó lội ra, ta đánh! Vậy thôi... Ban ngày, cứ hai người mội ngồi bên ngoài, đứng núp lén mà nó sanh nghi... Tôi nhắc lại: Tới mức ăn thua, không để thuyền lọt vào tay giặc không để giặc bắt... Đó là lịnh! Tôi nói, đồng chí Cao nghe rõ chưa ?

Hai Cũ “ghim” Cao vì nhiều lẽ. Thỉnh thoảng Hai Cũ nghe Cao than, khi thì sóng, khi thì ăn uống. Cao thiếu bình tĩnh trong những lúc tình hình găng. Đáng lý Hai Cũ “xạc” Cao một trận nên thân ở Hòn Hèo. Hôm đó, thuyền tránh bão ở bến Lương Sơn, Thử và Cao lên chợ mua thức ăn, gạo, lấy nước. Trên đường trở lại Hòn Hèo, Cao bảo Thử:

- Đài với báo của mình tuyên truyền miền Nam khổ sở, tôi thấy cái chợ huyện của nó mà hơn gấp chục chợ tỉnh của ta.

Thử cãi lộn với Cao. Cao tuy đuối lý song chỉ chịu thua có một điểm:

- Anh “lập trường” bê-tông cốt sắt, ghê quá! Tôi xin anh chớ nói cho lão Hai Cũ nghe nhận xét của tôi. Anh thì đỏ mặt tía tai thôi, còn lão, lão dám quăng tôi xuống bể...

Tâm thuật lại chuyện xảy ra trên mỏm núi, Cao hạ một câu:

- Canh bạc đặt trong may rủi. Vấn đề là may nhiều hay rủi nhiều!

Cao - tập kết và học y sĩ - không trong diện xung phong đi chuyến này. Song, vì quê anh vùng Biển Bạch và vì thuyền cần một thầy thuốc nên tổ chức bố trí anh. Hơn nữa, anh cần về thu xếp chuyện vợ con, nghe đâu không êm thấm - đó là theo lời anh. Còn theo lời anh Thìn, Cao tiếc là mình lấy vợ sớm... Trước khi rời Hải Phòng, nghe Hai Cũ khai thông về nguy hiểm trên dường, Cao cho rằng Hai Cũ ba hoa. Nhưng, mỗi ngày qua, anh ta thấy nguy hiểm thực nhiều hơn cái mà Hai Cũ dự đoán.

Hai Cũ càng bực bội bởi Cao hay dọ giá đồng hồ đeo tay Nhật và tỷ hối giữa dồng bạc miền Bắc với đồng bạc ngụy.

- Đồng chí thiếu tá yên trí, ai sao tôi vậy ! - Cao tự ái, trả lời gay gắt.

Hai Cũ bồi thêm:

- Với đồng chí Cao mà “ai sao tôi vậy” thì tốt quá !

Cao ngồi thu lu trong mui. Mặt tái xám.

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #62 vào lúc: 13 Tháng Sáu, 2013, 09:14:39 am »

Trời sáng. Cồn hiện nguyên vẹn bề mặt lóng lánh của nó. Cồn khá rộng, chiều ngang ước hai cây số là ít, chiều dài thì mịt mù. Ngoài chim bói cá đáp tìm mồi, không có một vật gì trên cồn. Chiếc thuyền, do đó nổi bật.

Đã nom thấy bờ. Xa lắm. Phải đến năm, ba cây số. Tâm lúi húi vừa đo bản đồ vừa ngắm bờ.

- Lạ kỳ thiệt... không phải Thạnh Phú...

Trên thuyền, mỗi mình Tâm biết rặng cây xanh kia có phải là Thạnh Phú hay không.

- Chẳng thấy hàng đáy... Nếu Thạnh Phú, chỗ này là hàng đáy, tới mấy chục miệng lận...

- Coi chừng trôi tận Thái Lan,.. Vậy mà cũng đòi làm hoa liêu ! Tụi hải tặc Thái Lan xơi tái hết bây giờ! - Cao làu bàu.

- Thái Lan gì mà Thái Lan! - Thìn cãi lại.

Một số tàu thuyền từ ngoài khơi chạy vào bờ. Hai Cũ không để sót một chiếc nào: Tất cả là tàu thuyền đánh cá bung xa, nay trở về, khẳm đừ.

Quang cảnh buổi sáng nay có vẻ êm ả, mong sao nó êm ả cho hết ngày !

- Đây là Cồn Cù! Ta chạy tuốt cửa Cổ Chiên. - Tâm rối rít - Bây giờ, thấy rõ các động cát... Đó, các chớn trồi hụp trăng trắng là động cát...
Hai Cũ yên tâm được một bề. Tâm biết đích xác phướng hướng, hễ triều lên là thuyền có thể rà rà rề phía Thạnh Phú. Hai Cũ ngóng mặt trời. Mặt trời lên cao một chút, anh cảm thấy nhẹ nhõm trong lòng một chút.

Một ngày căng thẳng qua chầm chậm, song nó vẫn qua. Nước triều bắt đầu thu hẹp cái cồn. Chắc chắn khi mặt trời chưa khuất, thuyền đã nổi. Từ sáng tới giờ này, không một tàu tuần nào của giặc lảng vảng trên mặt biển. Trong vài tiếng đồng hồ còn lại, khả năng xấu chỉ có thể giảm. Hai Cũ đã ngó mọi người với đôi mắt dịu dàng, Cao cũng đỡ tăng hăng, da anh từ xám xịt chuyển sang xám tro.

Chính vào lúc họ ngấp nghé cái nhẹ nhõm, mặt biển bỗng rối tinh. Hàng chục - Hai Cũ đếm mười bốn chiếc - tàu tuần cỡ nhỏ theo một cửa sông nào đó, túa ra biển. Chúng như đàn chó săn, hung hãn trợt trên mặt nước, cắt đôi những đợt sóng, nghếch mũi tìm kiếm. Chúng áp sát thuyền đánh cá. Hai Cũ nhìn rõ cuộc khám xét diễn ra chớp nhoáng.

Không khí trong thuyền trầm trở lại. Da mặt của Cao y như da thằng chỏng.

Nước phủ khắp cồn. Thuyền của Hai Cũ đã lắc lư. Tất nhiên, nó chưa thể nổ máy ngay, song, nó phải nổ máy trong vòng nửa giờ nữa. Mặt trời nghiêng hẳn về Tây, tuy vậy, vẫn còn đến mấy sào mới chìm dưới cái chớn biển xa lắc kia.

Tình thế không ổn rồi! Một chiếc tàu tuần đánh vòng quanh cái cồn mà thuyền Hai Cũ mắc cạn. Hình như bọn trên tàu ra hiệu gọi thuyền anh. Chiếc tàu tuần loại chạy nhanh, mũi dốc ngược rất du côn, buồng lái chắn gió bằng kính, thân sau không mui có thể chở một bán đội An ninh Hải quân. Trang bị của lính toàn “súng Mã Lai”, ở đây nghĩa là toàn Các-bin báng xếp, băng đạn đôi, một khẩu EM tay, một khẩu phóng lựu cỡ nhỏ. Đó là hiểu biết của Hai Cũ và mọi người qua tài liệu hướng dẫn của quân đội ta. Hai Cũ chọn liền phương án. Anh nói nhanh, gọn:

- Ta giành bất ngờ, tụi nó nhất định bị! - Lời anh như đinh đóng cột.

Tâm, Thìn lặng lẽ nghe. Với Tâm, bốn người “ôm hè” nửa chục đứa là “dư sức”. Với Thìn một sĩ quan kỹ thuật, chưa thử lửa lần nào (ở Sông Ray, anh chỉ bắn hú họa nửa băng Cạc-bin) mà lần thử lửa đầu tiên lại thuộc lối đánh “xáp lá cà” - mệnh lệnh là mệnh lệnh. Họ không trả lời “rõ” theo điều lệnh song Hai Cũ tin rằng ở hai người, nhất là Tâm, mọi việc sẽ trôi chảy một cách hoàn hảo. Rốt cuộc, còn Cao, tay trung úy quân y “phón” đến nỗi ý tứ lẩy bẩy, đoạn nọ không khớp với đoạn kia:

- Ta sai cơ bản... Đâu phải một tàu... Đài ta nói vùng giải phóng, chưa chắc có... Chết vầy tức tưởi lắm... Không có hoa liêu... Không ai đón... Tụi nó đông, tàu to thế kia...

Hai Cu xụ cặp chân mày:

- Bây giờ, không phải là lúc tôi bửa óc anh, nạo cái khối u toàn cứt ra, nhét vào điều hơn lẽ thiệt... Bây giờ, anh phải hành động theo lịnh của lôi! Nói cho anh tỉnh ngủ. Đâu một chục tàu ngụy chực hờ xông vô, tôi vẫn đủ lẹ để bắn anh! Đừng có mà lơ mơ! Đừng có ngỡ tôi sợ tàu ngụy... Xuống !

Tâm ở trên thuyền. Ba người ra vẻ tận lực lay chiếc thuyền mà chiếc thuyền vẫn trơ trơ. Hai Cũ dặn:

- Đứng trên cái gì đó, cho tụi nó thấy nước chưa cao !

Tâm chuyển cho họ mấy thùng dầu.

Hai Cũ, sau một lúc ỳ ạch, đưa tay làm hiệu với bọn tàu tuần.

Thuyền bây giờ nổi phao.

- Kèm cho chặt ! - Hai Cũ lại dặn. Chiếc thuyền tiếp tục đứng yên.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #63 vào lúc: 13 Tháng Sáu, 2013, 09:18:00 am »

Bọn tàu tuần có lẽ sốt ruột vì mặt trời đã ngày một thấp. Một tràng trung liên xé gió, vút qua thuyền.

- Nổ máy... Nhớ nổ máy sao ra vẻ chân vịt còn đụng sình.

Theo lệnh Hai Cũ, Tâm nổ máy. Máy thuyền rống lên khỏe khoắn lúc đầu rồi ấm ứ, thuyền day ngang.

Hai Cũ ra hiệu phân bua với tàu tuần.

Thuyền tắt máy. Nước lên đến ngực. Cái trò nằm vạ này sắp phải hạ màn thôi.

Tàu tuần bây giờ xáp gần hơn. Hai Cũ nhẩm tính: trong vòng mười lăm phút nữa, thuyền Hai Cũ không ra thì chính tàu tuần sẽ xộc vào tận nơi.

Một tràng trưng liên nữa xé gió, lần này đạn rà thấp. Hai Cũ bỗng làm như mừng rỡ, ra hiệu cho bọn chúng. Thuyền nổ máy. Nhưng máy vừa cất tiếng giòn giã lại vụt tắt. Cả năm lần bảy lượt như vậy, máy mới “chịu” chạy bình thường, Tâm ghé sát tai Hai Cũ:    - Buộc Cao xuống hầm máy. Cháu ngại nó trở quẻ !

Hai Cũ lắc đầu:

- Chưa đến nỗi vậy đâu...

Tâm thở dài. Hai Cũ muốn nói thêm để Tâm yên bụng. Theo anh, Cao bất quá vì mất tinh thần, nên nói bậy, chớ chẳng thể nào trở quẻ, song, tàu tuần đang hầm hừ tiến lại.

Mặt trời chui chầm chậm xuống biển, như nán chút thì giờ xem cái pha cụp lạc sắp diễn ra.

- Đ.m ! Bộ chở lậu khí giới sao mà nằm lỳ giữa cồn ?

Tên sĩ quan chỉ huy, khi hai tàu kề nhau, rộng họng chửi sang. Hắn đứng ở buồng lái, người mập thù lù.

Một tên lính quăng sang thuyền sợi dây. Hai Cũ nắm sợi dây ấy và quấn vào cột thép đằng mũi.

- Tụi em làm ăn ngoài quần đảo Nam Du, chở bậy ba thứ lặt vặt về kiếm thêm chút đỉnh nuôi vợ nuôi con...

Hai Cũ vừa gãi ót vừa bẩm. Tên lính nhún vai, không trả lời.

Từ buồng lái, tên chỉ huy ra lệnh:

- Trung sĩ Thấu, hạ sĩ Vũ sang thuyền. Buộc tất cả ngồi im, đứa nào rục rịch,cứ bắn !... Quay lẹ về căn cứ !

Chiếc tàu tuần rùng mình lôi chiếc thuyền theo. Tốc độ của nó không nhanh như hồi nãy. Tuy vậy, nó vẫn mở hết máy có vẻ cố thoát cái vùng tối chốc nữa đây sẽ xâm chiếm cả bầu trời và mặt biển.

- Hai ông cho tôi lên tàu thưa với trung úy...

Hai Cũ bỏ nhỏ với hai hạ sĩ quan. Hai thằng bĩu môi, lên cò súng cái rốp.

Hai Cũ vẫn nhỏ nhẹ:

- Không giấu hai ông, tụi tôi chở cần sa. Về tới đồn bất quá mấy ông chia được vài chục ngàn... Tôi muốn thưa với trung úy, đã đến nước nầy, tụi tôi chia hai. Nếu trung úy chịu, ngừng tàu lại, tụi tôi trao hàng... Phần riêng hai ông, tụi tôi tặng mỗi ông một ký... Đó là phần phụ trội... Phân nửa tàu tức là 15 ký !

Hai Cũ làm toán trắng trợn. Anh nhấn mạnh những số: một ký, mười lăm ký.

Hai tên hạ sĩ quan đờ mắt. Hai Cũ bồi tiếp:

- Một ký bây giờ đem vô Sài Gòn, mạt gì cũng ba trăm ngàn !

Hai tên hạ sĩ quan ngó nhau. Hui Cũ biết cả đã cắn câu:

- Tôi đưa kín cho hai ông, không để trung úy thấy đâu, đừng ngại!

Vừa nói, Hai Cũ vừ đặt chân lên tàu tuần. Hai tên hạ sĩ quan ừ không ra ừ, không cũng không ra không. Hai Cũ cứ rấn tới. Một tên chuẩn úy đón anh trên tàu:

- Đi đâu?

Hai Cũ kẽ vào ai hắn:

- Hai ông kia biểu tôi lên gặp trung úy. Chia nhau tốt hơn mà !

- Chia cái gì ? Cần sa hả ? Bao nhiêu?

Tên chuẩn úy hỏi dồn dập, sau khi được trung sĩ Thấu hất hàm ra hiệu.

- Dạ... thì cần sa. Vài chục ký...

- Ừ... Đi đi... mà...

Hắn nắm vai Hai Cũ, thì thào:

- Nói với trung úy là mấy người chỉ có 10 ký thôi. Hiểu chưa?

Hai Cũ ríu rít vâng dạ. Anh lần theo thành tàu ra phía trước.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #64 vào lúc: 13 Tháng Sáu, 2013, 09:20:55 am »

Con tầu rẽ sóng. Nó chồm chồm. Chiếc thuyền chồm chồm theo. Mặt trời chui hết xuống chớn biển, để lại vầng sáng vàng ối đang ngả màu dần.

- Ai cho mầy lên đây?

Tên trung úy thảng thốt khi thấy mặt Hai Cũ. Hắn rút phắt khẩu “Côn” 12, lăm lăm.

- Dạ! Mấy ông biểu tôi lên gặp trung úy.

Hai Cũ lọt vào phòng lái, với điệu bộ sợ sệt. Anh chớp nhoáng đo đạc khoảng cách. Phòng lái chỉ có tên trung úy và tên hoa tiêu. Chẳng cần phải lo. Đằng sau - ngoài hai tên đã sang thuyền, còn bốn đứa: tên chuẩn úy kiêm phóng lựu, một xạ thủ trung liên tay. Riêng xạ thủ đại liên thì lắc lư trên mui buồng lái. Một lính thợ máy ở hầm tàu.

- Không gặp gì hết! Mầy trở xuống thuyền ngay.

Tên trung úy gầm gừ.

- Dạ, tụi tôi chở cần sa...

Hai Cũ nhích thêm một bước.

- Chở bạch phiến cũng vậy... Về căn cứ rồi muốn chia chác gì thì chia - Hắn rít răng - Mầy ra khỏi đây tức khắc!

Máy vô tuyến bỗng phát ra tiếng léo nhéo:

- Trung úy Doanh đâu rồi ! Trung úy Doanh...

Hai Cũ quay lưng. Anh nói buông thõng:

- Ông khó tánh quá... Tôi đã giao cần sa cho ông chuẩn úy rồi.

Máy vô tuyễn vẫn léo nhéo:

- Trung úy Doanh!

Hai Cũ nghe tên trung úy trả lời:

- Có trung úy Doanh !

Anh biết hắn phân tâm. Và Hai Cũ chỉ cần một phân giây phân tâm đó. Chân anh đánh vụt, hai tiếng nối đuôi: tên trung úy rú đau đớn và khẩu “Côn” rơi độp trên sàn tàu. Hai Cù đá giò lái - cú đá sở trường nhờ đó mà anh thành danh trên giang hồ. Giữa lúc sống chết cọ sát nhau nầy Hai Cũ không phải là không đắn đo: Có nên dùng một thế võ của Tư Chắc Cà Đao không? Anh từng thề, sau khi Tư Chắc Cà Đao chết, quyết quên hết các thế võ của y dạy anh. Nhưng bây giờ không lời thề nào quan trọng hơn phải trong chớp nhoáng hạ thằng sĩ quan này...

Tên trung úy sụm dần, sụm dần, tay ôm đì, mắt chỉ còn lại tròng trắng.

Viên hoa tiêu sững sờ. Y chưa kịp chụp khẩu AR 15 dựng sát tay lái, đã bị Hai Cũ nắm cổ, ngón tay cứng như kìm sắt, anh thì thầm:

- Đầu hàng thì sống!

Máv vô tuyến hối hả:

- Trung úy Doanh ! Trung úy Doanh ! Sao lên tiếng rồi im luôn ? Có việc gì không?

Hai Cũ tắt công tắc phát của máy vô tuyến. Anh bảo viên hoa tiêu:

- Bảo thợ máy tốp máy !

Khẩu “Côn” trong tay anh, nó buộc viên hoa tiêu ngoan ngoãn. Tàu dừng đột ngột.

Tâm coi đó là hiệu lệnh. Anh lật tấm ván, nơi cất mấy khẩu súng ngắn. Đáng lẽ mọi sự êm xuôi, nếu không có Cao.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #65 vào lúc: 13 Tháng Sáu, 2013, 09:29:27 am »

Từ lúc tàu tuần lôi thuyền theo và trên thuyền thêm hai lính ngụy, Cao như kẻ chết rồi. Anh ta lấm la lấm lét ở góc thuyền. Cao chợt run như thằn lằn đứt đuôi khi tàu tắt máy, mắt không rời Tâm.

- Thằng cha kia! Sao run dữ vậy hả?

Trung sĩ Thấu hỏi, nghi ngờ. Hắn bắt gặp Tâm đang lật tấm ván. Tâm mau mắn:

- Chắc trung úy chịu rồi, tôi đưa phần riêng cho hai ông.

Trung sĩ Thấu ngờ ngợ. Nhưng, Cao thét như trối:

- Đừng... Tâm! Chết...

Chính Cao đã ném cả thân hình lên tấm ván. Tâm xô mạnh Cao. Thìn bấy giờ đã lật được tấm ván ở chỗ khác, kịp thét to:

- Tâm coi chừng !

Không kịp rồi! Loạt dạn AR15 của Thấu ghim khắp người Tâm, giữa lúc Cao còn giữ chặt tay anh. Và, loạt đạn ấy cũng chẳng tha Cao.

Từ buồng lái của tàu tuần, Hai Cũ nghe hai loại đạn gần như hòa làm một. Loạt sau là của Thìn. Hai hạ sĩ quan ngụy gục chồng lên nhau.

Trong âm thanh hỗn loạn ấy, tiếng tên chuẩn úy khàn khàn:

- Sao tắt máy ? Nổ máy ngay !

Hắn xả một loạt đạn về phía thuyền. Thìn bắn trả.

- Hạ sĩ Tư! Bắn vào thuyền! - Hắn ra lệnh cho tên giữ khẩu đại liên.

- Nổ máy! - Hắn nói vọng xuống buồng máy.

Người lính thợ chưa biết phải làm sao thì tên chuẩn úy đã nhảy xuống hầm tàu. Hắn bóp cò, hất xác người lính thợ sang bên, tự tay khởi động máy.

Hạ sĩ Tư chưa xoay kịp khẩu đại liên về phía sau đã nhảy đùng xuống biển, tránh đạn của Thìn. Hai tên còn lại bắt chước y.

Tàu rồ máy. Song tên chuẩn úy đã bị Thìn khử bằng một phát súng ngắn.

Máy vô tuyến rối rít:

- Vân Đồn 276 ! Trung úy Doanh ! Có cần trực thăng tiếp cứu không?

Hai Cũ ra lệnh cho hoa tiêu:

- Trả lời đi... Trung úy Doanh đang khám một tàu buôn lậu. Mọi việc bình thường. Chắc tàu cặp bến trễ, hàng nhiều lắm, có quà trọng hậu cho chỉ huy... Trả lời thật bình tĩnh, nghe chưa !

Viên hoa tiêu không dám chống cự. Song hắn không thông luồng lạch. Được cái là Thìn điều khiển máy tàu khá thạo.

Mãi gần sáng, họ mới bắt gặp ba đống lửa sắp tàn...

*
*   *

Hai Cũ thuật cho tôi nghe những gì xảy ra trong sáu năm tôi và anh xa nhau. Còn về chuyến đi, chính Thìn mới kể tỉ mỉ.

Ngay sau khi mở đầu buổi làm việc - Hai Cũ báo cáo suy nghĩ của anh về cách đặt đường dây lâu bền - ổn định trên mặt biển - anh vẫn chưa rời những ám ảnh vừa qua:

- Chú Tâm chết rồi!

Và anh kết thúc báo cáo:

- Đáng lý tôi phải viếng gia đình Tâm, Thử. Song e chậm trễ chuyện chung. Nhờ các đồng chí vậy. Còn gia đình Cao thì nên lựa lời mà báo, đừng để ngưòi ta tủi, tội nghiệp !

Chúng tôi lại chia tay anh. Lần này Hai Cũ là lái dừa trong chuyến ra.

Sắp nhổ sào, Hai Cũ dặn:

- Thằng cha hoa tiêu, o bế nó coi... Biết đâu còn xài được!

Thìn tần ngần nhìn mấy cô du kích. Hai Cũ giục:

- Nổ máy chớ!... Mầy đừng lo. Tao “bao” mầy cái món vợ con !
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #66 vào lúc: 14 Tháng Sáu, 2013, 03:00:22 pm »

   hai mươi mốt

Chỉ huy sở tiền phương đóng ở một ngôi nhà ngói cũ kỹ.

Tay địa chủ, chủ nhà, tản cư ngay khi quân ta chiếm lĩnh khu vực này - xóm Quán Cơm, đối diện với các ống khói nhà máy xay cao vút của quận 7.

Đợt tập kích Mậu Thân đã khai hỏa giữa đêm qua.

Tôi và Út Giảng ngồi quanh ngọn tọa đăng. Trước mắt chúng tôi là tấm bản đồ Sài Gòn bọc ny-lông chi chít các mũi tên xanh, đỏ, vạch bằng bút chì mờ. Ở gian cạnh, chiếc ra-gô-nô quay rè rè phát đi một điện khẩn. Bộ đàm của tổ truyền tin và của tổ trinh sát kỹ thuật vang lên đủ loại âm thanh: tiếng khàn khàn của một cán bộ chỉ huy từ một ngôi nhà cao tầng nào đó giữa trung tâm thành phố hay rìa sân bay Tân Sơn Nhất, tiếng rối rít của một đơn vị trưởng biệt động quân ngụy, tiếng chỉ điểm cho pháo của bọn lính dù và cả tiếng Mỹ ặc ặc trong cổ họng.

Nền trời từng chặp lóe rực. Những chiếc pháo sáng do máy bay thả hoặc do đại bác bắn lên, lơ lửng với những chiếc dù trắng tinh. Chân trời thì tô màu đỏ sẫm: các đám cháy và các kho đạn nổ...

Đã quá 11 giờ đêm, Út Giảng tiếp tục đánh dấu bản đồ, đối chiếu với eác bản thông báo do tổ truyền tin chốc chốc mang đến. Khúc bánh mì và cốc sữa còn nguyên.

- Báo cáo! Một cán bộ Cục Hậu cần xin làm việc với các chú...

Đồng chí cận vệ của Út Giảng đặt lên bàn một giấy giới thiệu công tác. Tôi liếc qua, giấy đánh máy. Một Lê Văn Cũ nào đó... Ai cũng được, miễn là hậu cần! Chúng tôi đang bí. Càng thọc sâu vào thành phố hành lang vận chuyển càng khó, phía trước không gắn với phía sau...

- Mời vào! - Tôi ra lệnh. Và, tôi chúi đầu vào tấm bản đồ suy tính.

- Báo cáo bộ chỉ huy tiền phương! Tôi có mặt.

Út Giảng và tôi cùng ngước lên, cùng rú và cùng nhảy tới, ôm chầm con người cao lớn, khoác chiếc blu-dông xám:

- Anh Hai ! Trời đất...

Hai Cũ choàng vai hai đứa chúng tôi.

- Tôi đâu ngờ anh... Tưởng Lê Văn Cũ nào lạ. Chắc anh rủa tụi “quan liêu” này lên mặt !

Tôi cười với anh.

- Nói bậy ! Tôi biết các vị rối ruột, còn thì giờ đâu mà “quan liêu”. Rảnh rỗi mới “quan”, sùng sục như nước sôi vậy, “quan” chạy ráo !

Hai Cũ vẫn cà rỡn. Tóc anh đốm bạc, da sạm nhưng chưa có gì gọi là đổi khác.

- Đói bụng thấy mẹ ! Sáng nay còn ở Ba Thu, bây giờ tới đây... Chạy “đuôi tôm” thí cô hồn với tụi trực thăng... Qua Tân Nhựt, mấy bà má cho mấy đòn bánh tét, cả tiểu đội ăn giống cọp ăn bồ mắt!

Út Giảng mời anh nhai tạm khúc bánh mì, chờ các đồng chí phục vụ dọn cơm.

- Anh chạy, không ăn. Tụi này ngồi, cũng không ăn.. Từ lúc nổ súng tới giờ, toàn uống nước... - Tôi nói trong lúc Hai Cũ nhai ngấu nghiền khúc bánh mì.

- X.76 xin nói chuyện với chú...

Một cán bộ truyền tin bảo tôi. Tôi buông đũa, lại máy.

Thấy tôi, sau khi nói chuyện qua bộ đàm, không quay lại mâm cơm, Út Giảng biết có tình hình xấu. Anh lùa vội chén cơm, rồi tất tả đến chỗ tôi. Tôi đang theo các vạch bút chì, tìm một điểm. Hai Cũ đã ăn xong.

- Mình ở đây có chi bất tiện không?

Hai Cũ hỏi. Anh muốn giữ nguyên tắc. Dù chúng tôi là thân quen, song hiện giờ, trách nhiệm mỗi người mỗi khác, Út Giảng là tham mưu trưởng mặt trận, còn tôi, chính ủy.

- Chẳng những không bất tiện mà còn không thể không có anh ! -Tôi trả lời.

- X.76 là tiểu đoàn bộ binh từ đồng bằng Bắc Bộ vào, đang mở mũi đánh vùng này. - Tôi chỉ vùng quận 8. (rêu bản đồ - vấp một đồn án ngữ, kêu bằng đồn Vị Quang...

- Tôi dò mà chưa tìm ra đồn Vị Quang.

Nó nằm đây... Đồn cỡ đại đội, xây tam giác, giữ cây cầu nổi Rạch Cát với Bình Đông...

Út Giảng ghi một dấu đậm lên bản đồ.

- Đúng, đồn tam giác và một cây cầu... Ba lô-cốt ngoại vi, X.76 trang bị nhẹ, không bộc phá, đã phụt mấy quả B. 41, song chưa ăn thua... Kéo dài, chỉ tổ thương vong, mà không đẩy cái đồn, nó chặn lối vào bít lối ra của ta... Tiểu đoàn trưởng xin chỉ thị!

Tôi thông báo những điều vừa nghe X.76. Hai Cũ nheo mắt sát bản đồ.

- Đồn bảo vệ nội thành cấu trúc xoàng thôi. Tất nhiên, hỏa lực nhẹ thì chỉ khều nó...

- Các chú - Hai Cũ trở lại lối xưng hô bình thường. (Và điều này khiến Út Giảng rạng rỡ: tôi biết tâm trạng của Út Giảng, anh khổ tâm trong sự “thay bậc đổi ngôi” giữa anh và Hai Cũ: anh là thượng tá). Đặc công của mấy chú còn dự bị không?

Tôi lắc đầu. Tồi nói luôn với anh: X.76 chính là lực lượng dự bị cuối cùng của Bộ chỉ huy tiền phương.

- Chà ! Đưa cả hậu vệ hãm thành đối phương, chỉ để vài “chư vị” giữ gôn.... Coi chừng phép đá banh, thủ môn không thể bắt tay ngoài vòng cấm địa... Hai Cũ rõ ràng phấn chấn gặp lại chúng tôi ngay ngoại ô Sài Gòn - Đành phải “nhào vô” với các “huynh” vậy... Nên bảo tiểu đoàn gì đó của các anh giãn rộng, chờ tôi... Tôi quay sang Bến Thủ, điều liền mấy khẩu đội ĐK của pháo binh, tôi trổ tài ngoại giao, chắc chắn họ chịu. Sụp tối, qua lộ An Lạc, cỡ 10 giờ, tới đây... Tiện thể, tôi đôn đốc chuyển thêm bộc phá vào hướng nầy...

Hai Cũ tạm biệt chúng tôi. Thuyền nổ máy. Đồng hồ chỉ 12 giờ đêm.

- Tầm bậy quá! - Út Giảng vỗ đùi, than - Gặp ổng, mắc lu bù, quên báo tin thằng Mới...

Tôi cũng bật la hoảng: Bậy thiệt !
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #67 vào lúc: 14 Tháng Sáu, 2013, 03:03:48 pm »

Mới là đại đội phó, trước ở Tiểu đoàn Quyết Thắng trong chiến dịch, chúng tôi rút cậu về bộ phận trinh sát tiền phương, vì X.76 hoàn toàn lạ nước lạ cái với Nam Bộ và vùng Sài Gòn, nên chúng tôi biệt phái cậu làm trợ lý tham mưu cho tiểu đoàn.

- Thôi được ! Tối mai ổng trở lại, gọi Mới về gặp ổng. Gọi luôn cô Hương nữa...- Tôi bảo.

Hương, vợ chưa cưới của Mới, “chị nuôi” của Phòng Chính trị tiền phương, đóng cách sở chỉ huy chúng tôi cây số.

- Ổng thấy cô dâu, chắc ưng bụng lắm !

Một quả pháo 155 rít qua đầu chúng tôi. Nó không làm tan nụ cười Út Giảng và tôi - nụ cười vì niềm vui của Hai Cũ.

Khuya đêm sau, đồn Vị Quang và ba lô-cốt bị san bằng. Kết quả giản dị, nhanh chóng như quyết định của Hai Cũ trở về bờ Vàm Cỏ Đông “vay” cho chúng tôi mấy khẩu ĐK. Có thể vì Út Giảng là gánh “hồi tụi mình” và tôi là “thằng em kết nghĩa” của Hai Cũ mà Hai Cũ thiên lệch: ngoài ba khẩu ĐK 57 với cơ số đạn “cỡ phú nông”- như Út Giảng đánh giá - chúng tôi nhận được của Bộ chỉ huy pháo binh hai khẩu đội trọng liên 12 ly 8, hơn chục khẩu R.P.Đ, nhiều B.40. B.41, cả tấn bộc phá và bốn khẩu M.79 - thứ phóng lựu lợi hại của Mỹ.

- Các chú cứ vuốt râu... Hậu cần đảm bảo cho quân của mấy chú bắn mỏi tay! - Hai Cũ không giấu tự hào.

Hai Cũ gặp Mới ngoài đồn Vị Quang. Khi Hai Cũ đưa khẩu ĐK chui qua cầu An Lạc - anh không chuyển súng theo đường bộ mà bằng đường thủy - anh ghé ban tác chiến tiền phương và nói chuyện điện thoại với Út Giảng. Út Giảng cầm lòng không đậu trước lời xin tha thiết của Hai Cũ, nên cùng Hai Cũ đưa súng ra đồn. Hai Cũ nhắc tới nhắc lui với Út Giảng là chớ cho tôi hay.

- Chú Thắng bận đủ thứ, sá gì cái đồn mạt rệp mà phải báo bẩm với chú ấy... Chú với tôi đi, ta táng một cái rầm - cho mấy thằng biệt động quân tưởng bị trời dành, nhớ cho tới đời chắt chít nó !

Cha con chưa nói với nhau chuyện riêng. Hái Cũ bận cùng Út Giảng và ban chỉ huy tiểu đoàn - tất nhiên có Mới dự - trao đổi cách “tăng hăng” của mấy khẩu ĐK và kế hoạch tiếp sau...

Gần hai giờ sáng, tôi đang viết báo cáo thì Hai Cũ về đến chỉ huy sở. Đinh ninh, Hai Cũ vừa mang súng sang, tôi có ý kiến nên dời trận đánh đồn Vị Quang vào hôm sau... Hai Cù nheo mắt:

- Ừ ! Tối mai thế nào cũng tặng cho tụi Ký Thủ Ôn hay tụi xóm Củi vài quả để tụi nó đưa ông bà - mùng bốn Tẽt mà ! Đồn Vị Quang thì chầu trời hồi nãy, bị hốt hồn, nên quên xin phép chánh ủy trước khi cưỡi hạc!

- Tía làm vậy, con thấy không ổn... Gì thì gì, cũng phải thông qua bộ chỉ huy.

Hai cha con ngồi cạnh nhau. Mới chưa báo tin của mẹ và em gái, chưa hỏi tin em trai, đã cự Hai Cũ.

- Tía tính đánh Mỹ y như đánh Tây !

- Ai nói với mầy tao tính đánh Mỹ y như đánh Tây ? Đánh Tây, tao cần đách gì ĐK! - Hai Cũ nổi sùng.

- Con nói tía tính y như đánh Tây là về chuyện khác. Chuyện kỷ luật chiến trường... - Mới vẫn không nhượng bộ.

- Vậy tao đi với chú Út mầy, chú Út mầy không phải là tham mưu trưởng sao? Nó ra lịnh chớ bộ tao ra lịnh à? - Hai Cũ chống chế.

- Tía nói vậy mà nghe được !... Tại sao tía không gặp chú Thắng trình bày dự kiến của tía?

Hai Cũ ấm ớ. Út Giảng phải đỡ cho anh:

- Thằng Mới gián tiếp phê hình tôi đó! Thôi, trăm sự tại tao...

- Cái thằng máy móc ! - Hai Cũ cố vớt vát - mầy không thấy đồn Vị Quang lật gọng sao?

- Sao không thấy ! Không có tía, tiểu đoàn cũng lật gọng nó! - Mới truy bức Hai Cũ tới cùng.

Tôi cười xòa:

- Cha con vừa gặp nhau “chung sống hòa bình” một chút coi! - Anh Hai chưa nói một lời về việc anh đột ngột xuống đây.... Bỏ cái vụ chở vũ khí bao giờ ?... Sau trận mắc cạn ở Cồn Cù, còn trận nào “ác xiêm lai” nữa không?... Mới, cháu nói tin của má cho tía nghe...

- Ôi ! Đợi nó cho tin thì tôi xuống lỗ rồi! Tôi gặp chị Hai của chú, cách đây vài tháng, lúc tôi vô tới. Gặp con Hạnh... Nó 17 tuổi... Ghê chưa?

Hai Cũ quên phứt chuyện cha con cãi lẫy, nhắc vợ với con gái, mắt long lanh.

- Tôi thôi lo vận tải đường biển sau vụ X.5 1 . Chú biết vụ đó chớ?

- Biết ! Tháng 2 năm 1965. Nghe tin, anh Út với tôi lo cho anh...

- Thì “đi đêm có ngày gặp ma”... Địch ngửi ra khi ta đã chuyển vận được một số lượng vũ khí đáng kể rồi. Bây giờ, chọn con đường khác, thiếu gì cách... Mà tôi không theo chuyến X. 5, các đồng chí đi chuvến đó đáng phong anh hùng... Sau khi thu hẹp hoạt động đường biển, tôi chuyển công tác... Có ở Nam Vang nghe ! Hiện thời, chính thức về Cục Hậu cần Miền... Chuyện “thường thường bực trung” vậy...

-------------------------------------------------------------------------
1. Vụ Vũng Rô
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #68 vào lúc: 14 Tháng Sáu, 2013, 03:04:58 pm »

Một cô gái rụt rè ngoài cửa. Cô hơi thấp người, da bánh mật, mắt đen láy, mặc bà ba đen, khoác AK. Mới vội đón cô, phụ nhĩ cái gì đó mà cô mín môi, hai đồng tiền lúm trên má.

- Hương đó hả con?

Hai Cũ vồn vã bước tới. Hương nói lí nhi trong miệng, chắc cô ta chào. Hai Cũ kéo cô vào nhà, đặt ngồi cạnh anh.

- Tía nghe má con nói rồi... Tía vui lắm... Em Hạnh gởi thơ cho con đây... Để coi tía bỏ đâu... À! (Anh mở xắc cốt) nó đây. Anh chị nhà vẫn bình yên chớ?

- Tía gặp má với em Hạnh bao giờ?

Hương cầm thơ, ngó qua phong bì mà chưa đọc. Cồ dạn dĩ khá nhanh. Cô hỏi sức khỏe Hai Cũ, tin tức Hùng.

- Hùng học ở Liên xô, ngành chế tạo máy... Cái thằng làm biếng viết thơ thượng hạng. Nó chưa biết con... Để rồi tía báo cho nó mừng.

Hai Cũ hết ngó con trai rồi ngó dâu. Tôi biết anh nở từng khúc ruột.

- Lo cơm nước cho mấy anh, mấy chú, sao con không đeo dao phay, đũa bếp mà đeo AK ?

Hai Cũ đùa. Hương thẹn quá, né vào vai anh:

- Tới chú Thắng, chú Giảng còn đeo súng, nữa là lính lác như con...

- Tía nói chơi thôi... Phải bắn chớ...

Út Giảng nói vài nét về cô dâu của anh. Hai Cũ có vẻ chịu lắm.

- Vậy sao? Bắn loại giỏi, chạm trán với Mỹ nhiều trận. Vậy là con hơn tía rồi !

Anh bảo Mới:

- Hương nó là dũng sĩ cấp ưu tú... Còn mầy, mầy là “dượng dũng sĩ” thôi sao ?

Mới nói với Hương:

- Đừng thấy tía khen mà đi trên ngọn cỏ, nghe bậu !

Hai Cũ hỏi, giọng nghiêm chỉnh:

- Hai đứa tính chừng nào cưới?

Hương cắn chéo chiếc khăn rằn quanh cổ không trả lời.

Mới nói lẫy:

- Hương biểu con chừng nào hết giặc thì cưới.

- Chà! Giặc cũng có thể hết qua chiến dịch này, cũng có thể chưa... Coi là chưa đi, cho chắc!

- Anh Mới vu cáo con đó, tía... Con đâu có nói vậy... - Hương thỏ thẻ. Có lẽ nó hiểu nỗi lo lắng chân thành của cha chồng.

- Tốt quá ! Con gái thời nay, như con mới đúng... Bà Định làm tướng, con không tướng cũng phải là úy ! Chuyện vợ chồng mà nay lần mai lữa là không nên. Con nhà võ, hễ chịu thì chịu, không thì không, đã chịu thì cưới. Tía nói vậy, con Hương nghĩ coi đúng không? Hườn hườn, tía lo đám cưới hai con, hổng chừng vài tuần nữa... mãn chiến dịch này !

Hương không nói gì thêm. Chúng tôi biết là nó bằng lòng.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #69 vào lúc: 14 Tháng Sáu, 2013, 03:08:06 pm »

   hai mươi hai

Thế mà, Mới hy sinh. Hy sinh ngay trước mắt Hai Cũ, ngay trước mắt Hương.

Hai Cũ ôm thi thể đẫm máu của Mới, máu vấy sang áo quần tóc râu anh. Nước mắt Hai Cũ hòa trong máu còn nóng hổi của Mới. Hương ngất lịm. Công việc cứu cấp Hương không phải là dễ dàng. Tim cô thoi thóp, hơi thở nhẹ đến nỗi không lung lay sợi tóc mịn đang vắt qua mũi cô. Thạnh - bác sĩ quân y tập kết trở về - chiếc sơ mi sọc lấm tấm máu của Mới, đang khẽ đưa miếng bông thấm ê-te trước mũi Hương, cầu mong một tiếng khóc. Hai Cũ ghì Mới trong lòng, song không ngớt gọi tên Hương.

*
*   *

Đàn xe học thép tháo chạy tán loạn, những chiếc sau cùng chỉ còn thấp thoáng bên lộ mù u, giống bày trâu sợ pháo, đít nhẩy vồng vồng. Ngọn lửa rừng rực, dựng thành hàng chục cột khói đen đặc, bốc từ những chiếc M.113, M.41, nòng các khẩu đại liên gục cong như ngọn nến hơ nóng, chiếc nón sắt của lính Mỹ vẫn chụp trên đầu chúng, mà bây giờ da của chúng đã nứt, hình thù tựa con lợn quay. Tràng đạn trong xe nổ tiếp, tiếng bé và tiếng to, hệt muối rang.

Bầy trực thăng phóng pháo, tránh đạn từ mặt đất, xây cù trên không, hẳn muốn tống tiễn đến phút chót mấy thằng Mỹ, tẩm liệm cẩn thận trong các quan tài bằng thép đang nung đỏ. Dãy lò gạch nát vụn. Trước mắt chúng tôi ba xác lính bộ Mỹ, giống ba khối thịt băm và ngó thẳng vào cửa hầm của tôi, một thằng lính Mỹ lủng sọ, tay nó còn tì ở cò khẩu trung liên...

Trong âm thanh ầm ĩ của chiến trường, tiếng khóc của Hai Cũ vẫn vang động hơn cả.

Bộ chỉ huy tiền phương chuyển về ngoại ô thành phố đêm thứ tư của chiến dịch. Chúng tôi làm việc trong một dãy lò gạch thủ công xây dựng theo hình chén úp, cổ truyền, ngoảnh ra một chiếc cầu nhỏ, nơi bắt mối một đại lộ chạy thẳng vào trung tâm Chợ Lớn. Bên phải chúng tôi là khu lao động tiếp giáp với các nhà máy xay khổng lồ, bên trái, cách nửa cây số là căn cứ ra-đa Phú Lâm. Sau lưng chúng tôi - hai con lộ rẽ quạt, giữa chúng là cánh đồng chen chúc nhiều ngôi mộ xây, một trong hai con lộ ấy lác đác vài chục gốc mù u.

Chưa tới đợt hầm gạch, lò để trống. Tường lò dày, chắc, nhuộm màu đỏ ối, rải rác có chỗ chảy từng bệt men nâu xám. Nóc lò hở thấy trời. Ngoài cửa chính, lò có hai cửa gió. Công binh đào cạnh lò, sau những đống gạch ngổn ngang, một số hầm tránh pháo.

X.76 - tiểu đoàn trưởng và phó đã hy sinh, Mới được chỉ định chỉ huy tiểu đoàn - trở lại nhiệm vụ dự bị đội và chúng tôi giao cho bảo vệ sở chỉ huy.

Hai Cũ, đáng lẽ rút về tuyến sau, song anh “ham vui”, năn nỉ mãi chúng tôi cho anh “ăn có” chiến dịch. Út Giảng và tôi tội nghiệp nỗi thèm thuồng của anh - “mười lăm năm không cầm quân, ghiền chảy nước dãi rồi” như anh thổ lộ - nên đưa anh theo. Có anh, thêm ấm cúng, như hồi nào ở Đại đội 3. Vả lại, tuy tuổi trọng, Hai Cũ vẫn giữ cái nhìn sắc sảo và nhanh nhạy ứng phó với các loại tình huống chiến đấu.

Do Hai Cũ ở chung với chúng tôi - và Mới cũng đóng vòng ngoài bộ chỉ huy -chúng tôi điều Hương về phục vụ nấu cơm nước cho chúng tôi. Xế chiều. Ngày thứ bảy của chiến dịch sắp qua.

Hương giục năm lần bảy lượt, chúng tôi mới ngồi vào mâm. Đây là bữa cơm trưa. Suốt mười ngày đêm qua, chúng tôi gần như chưa rõ mỗi khi nhai là mình nhai giống gì. Hôm nay, thấy xót ruột.

Mới đang xớ rớ - sau khi báo cáo tình hình với Út Giảng, nó nấn ná thêm vài phút - tôi bảo nó vào mâm luôn. Hương vừa hâm lại, nó nói là hâm ba lần rồi, tô canh chua thơm mùi rau om, hứa hẹn một bữa ăn ngon. Hai Cũ, ngồi xếp bằng trên đệm, gật gù khen cô dâu, bảo chúng tôi:

- Con nhỏ giỏi quá chừng, chưa chính thức về nhà chồng mà đã rành tánh của cha chồng: canh chua phải chua me chín, cay và nước chấm phải là nước mắm không pha chế...

Một phát pháo 105 rè rè và nổ chụp ngoài đồng. Bụi rơi mù mịt. Lúc đầu, chúng tôi cho là địch bắn vu vơ. Hai Cũ xua bụi quanh tô canh:
- Mỹ hại dâu tôi... Mấy chú ăn canh tương nó nấu cá với gạch !

Nhưng Mới - khi pháo nổ, chạy ra ngoài ngóng - đã hào hển báo cáo:

- Pháo điểm !

Chúng tôi bỏ mâm cơm, tản ra hầm. Hai Cũ gọi Hương:

- Bỏ mâm cơm đó, xuống hầm đi con!

Anh đợi Hương xuống hầm rồi anh mới xề cạnh của hầm. Mới biến mất, nó phải có mặt ở tiểu đoàn bộ.


Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM