Chúng tôi bị "dính" bom ở mặt trận Xuân Lộc, tháng 4/1975

Trong chiến dịch HCM, ở mặt trận Xuân Lộc, Đại đội 18 (12,8mm) chúng tôi có ba Trung đội 1,2,3 đi phối thuộc với ba Tiểu đoàn 1,2,3 của Trung đoàn 4. Trung đội 2 của tôi đi phối thuộc với Tiểu đoàn 2
(thằng Tâm và thằng Thực bị “dính” và hy sinh vì trận bom này).Trung đoàn 4
(sáp nhập với Trung đoàn 33 thành Sư đoàn 6 trong chiến dịch HCM) chúng tôi đang tập kết tại khe suối trong rừng để chuẩn bị đánh Xuân Lộc
(tôi còn nhớ địa hình có khe suối hẹp, lòng suối chỉ rộng chừng 2-3m, chắc là suối Nhạn, ở bìa rừng giáp với Rừng chuối Hưng Nghĩa và giáp Lô cao su Hố Bò).
Với chúng tôi, những người lính quen với chiến trường này, khi chuẩn bị vào trận, nếu bắt gặp dân địa phương vào Lô cao su cạo mủ hay làm rẫy, thì bắt buộc phải tạm giữ họ lại
(khi nổ súng mới thả cho chạy) để giữ bí mật. Mặt khác, trong rừng chuối Hưng Nghĩa,
(mỗi bụi có kích thước khoảng 5x5m và cách nhau cũng khoảng 5m), nếu chúng tôi cần chặt cây nào thì sẽ chỉ tỉa mỗi bụi vài cây thưa thớt ra, sẽ không bị máy bay trinh sát OV-10 hoặc L-19 phát hiện.
Khi này có trong đội hình đánh trận Xuân Lộc có Sư đoàn 341 mới từ ngoài Bắc vào đóng trong rừng chuối Hưng Nghĩa. Cán bộ chỉ huy của Sư đoàn 341 từ cấp chỉ huy đại đội trở lên trước đây hoạt động ở mặt trận Trung Lào, hầu hết chưa quen và thiếu kinh nghiệm đánh ở đồng bằng Nam Bộ. Còn chiến sỹ hầu hết là tân binh nên còn rất ngây thơ, hồn nhiên, vì mất cảnh giác đã để lộ vị trí đóng quân. Khi gặp dân vào làm rẫy hoặc cạo mủ cao su
(thực chất là thám báo đóng giả dân) còn trêu đùa chọc ghẹo vì đã lâu lính ta không gặp dân, và lính ta vẫn quen tác phong tiếp xúc dân Lào nên không giữ họ lại. Lính F341 còn chặt trụi cả một dãy hàng loạt bụi chuối
(để lấy thân cây và lá chuối lót hầm nằm) làm trống cả một vùng. Vì vậy máy bay trinh sát điện tử OV-10 và L-19 của đối phương phát hiện ra vị trí đóng quân của ta.
Thế rồi..........
Tôi còn nhớ rõ khi đó mấy người chúng tôi gồm có:
- Ông Nguyễn Văn Anh
(Chính trị viên trưởng đại đội);
- Nguyễn Văn Sử
(liên lạc của CVT);
- Nguyễn Văn Sáng
(liên lạc viên của Đại đội trưởng);
- Nguyễn Văn Tâm
(xạ thủ số 4, chuyên vác “Tầm” - tên gọi của giá súng 12,8 mm),
- Và tôi –
(xạ thủ số 2, chuyên vác nòng 12,8mm)Thằng Sử đang luộc củ mỳ (sắn). Nó vừa chắt nước đi và đặt lại trên bếp để cho ráo nước thì thằng Tâm đứng lên nói: “Tao phải về đơn vị đây”. Tôi bảo: “Ở đây đợi ráo nước thì ăn củ mỳ xong hãy về”
(nếu nó ở lại đã không hy sinh!). Nó bảo: “Thôi, tao sốt ruột lắm nên phải về thôi”.

Nó vừa đi được khoảng chưa đầy nửa phút thì bỗng nghe thấy tiếng máy bay rất nặng nề
(sau này chúng tôi gọi là tiếng “tù ti”) rồi đột ngột lặng đi
(nó chúi xuống để định vị thả bom), nửa giây sau tiếng máy rồ lên, là lúc bay ngược lên
(nó mở đuôi máy bay và trút bom ra như xe ben trút VLXD bây giờ), sau đó chúng tôi không còn biết gì nữa.
Hàng loạt tiếng nổ liên hồi, tai ù đặc, mắt hoa lên không biết trời đất là gì nữa, người thì cứ bò lê bò càng dưới mặt đất, cứ nẩy bần bật lên như đang bị sẩy trên sàng thóc, thằng Sử người gầy yếu, nhẹ bỗng nên bị nẩy lên nẩy xuống mấy lần rồi rơi xuống khe suối mắc kẹt trong bụi mây, mấy ngày sau còn ngồi nhổ gai mây dính khắp người. Dứt hồi bom, chúng tôi mới hốt hoảng chui xuống hầm mà vẫn còn run như “cầy sấy”!
Ngay lúc đó có lệnh từ Sở chỉ huy Trung đoàn: D2 bị trúng bom, tất cả lập tức sang cấp cứu thương binh và làm công tác liệt sỹ! Tôi, Sáng, Sử cùng mấy đồng đội chạy sang đã thấy một bãi hoang tàn, cây cối đổ rạp ngổn ngang, mùi thuốc bom khét lẹt, thằng Tâm bị trúng mảnh bom vào đùi, thủng bàng quang, ...
(tôi và thằng Sử khênh nó đi được một đoạn thì nó tắt thở). Còn thằng Thực
(người Thanh Hóa) bị gẫy tay và bị thương một số chỗ nữa rồi cũng mất. Cả hai đều không cứu được!
Sư đoàn 341 bị thiệt hại nặng nhất, quân tướng tan tác mỗi thằng một ngả, mãi mấy hôm sau vẫn chưa thu hết quân!
(Chính ủy Sư đoàn và liên lạc viên chạy sang tá túc ở đơn vị tôi).
Sau trận này chúng tôi còn nhặt được nhiều mảnh ván đóng kiện, khi đó được cán bộ giải thích là: Do Mỹ đã không chi viện cho chính quyền SG máy bay B-52 nên Nguyễn Văn Thiệu đã ra lệnh dùng máy bay B-57, chở bom còn nguyên đai nguyên kiện, cài sẵn đầu nổ vào từng quả và bộc phá vào kiện bom, mỗi kiện 4 quả và cho B-57
(sau này biết đó là máy bay C-130) trút xuống một lúc hàng chục kiện như vậy
(giống như xe “ben” trút ben đổ VLXD bây giờ). Khi rơi xuống nửa chừng thì bộc phá nổ bung ra và các quả bom rơi xuống với mật độ cao như giống như B-52 đánh vậy!
Sau đó chúng tôi lại được cấp trên phổ biến là đối phương thả “bom dù” “bom phát quang”, tức là nó nổ trên ngọn cây và phát quang cả một vùng để dọn bãi cho trực thăng đổ quân chứ đâu biết là loại bom gì? Sau này mới biết đó là Bom CBU-55 (hoặc BLU-82).
Từ đó trở đi cứ nghe thấy tiếng “tù ti” là lính ta mặt mày xám ngoét và nhanh chóng chui xuống hầm trú ẩn. Những ngày sau lại thêm mấy trận bom gần chỗ chúng tôi đóng quân....
(Lính SV)