Hehe, nghe nói cụ T.V.Đoành sau ầy làm Adm cái trang gì ấy! 
--------------
Mời các bác xem trích đoạn truyện ngắn về 1 người lính kèn thuộc địa ở Hội An.
...Tuy nhiên tiết mục "giải trí" không mua vé những năm đầu thập kỷ 30 là được nghe ông Mudích thổi những bản Tây có nhịp trống rập rình theo. Thú vị hết sức cho tuổi thơ chúng tôi khi nghe những bản hành quân, cả bản Mađờlông , quốc ca Pháp Mạc xây de , với tiếng trống rầm rập dấy lên một không khí tưng bừng, vui vẻ cho cả khu chợ mà kẻ mua người bán, vào thời điểm bấy giờ áo quần phần lớn màu sậm, màu da, màu nâu, màu đen. Cả áo dài và áo ngắn may vải trắng cũng vá nhiều miếng và đã ngả qua màu cháo lòng. Phần ít mang guốc, thứ guốc mộc, phần đông đi chưn không. Một ít học sinh chúng tôi đi dép và rất hiếm mang sandale. Dân ngoài chự bu lại nghe, có người cúi xuống bỏ ít tiền vào cái mũ cũ mềm ông ngả ra, để ngửa trên mạt đất. Chúng tôi, bọn trẻ, bu quanh ông Mudích, thiệt tình ủng hộ, vỗ tay, trố mắt ra mà nhìn, há hốc mồm mà nghe một cách thích thú. Nhưng có tiền đâu mà bỏ cho ông!...
Ông người cao ráo, hơi ốm, dáng đi khỏe khoắn. Người ta nói ông là lính mộ qua Pháp trong Thế chiến thứ nhất trở về và nguyên là lính kèn. Ông đã từng nói chưa bao giờ cầm súng bắn phát nào mà chỉ thổi kèn aláchxô, thúc giục bọn lính Pháp nhảy từ chiến hào này qua chiến hào khác để thắng bọn Đức ở mặt trận La Mácnờ, của thời thống chế Giốp (Joffre) chỉ mới là tướng.
Ông đội calô (calot), bấy giờ dân địa phương gọi mũ chào mào - mũ lính khố đỏ thường đội, dạng chiếc ghe nang lật úp, ngất ngưởng trên đầu như cái mào con chim chào mào. Áo lính tây cũ mèm, phủ quá mông. Quần kaki vàng, rộng thùng thình, đã ngả qua màu tro. Đôi giày sơn đá (soldat) cũ, cổ ngắn, có đóng đĩa sắt dưới đế, bước đi nghe cồm cộp. Giày hở cả mũi, toác hoác như hàm ếch. Đi, lưng ông vẫn giữ được ngay, hơi cứng ngắc. Tư thế còn sót lại của nhũng năm làm lính kèn ở Pháp.
Ông chào mào không có kèn tây và cũng chẳng có trống ếch. Kèn của ông là những ống đu đủ, có khoét một số lỗ và có gắn lưỡi gà ở đầu miệng thổi. Nhiều đoạn ống dài ngắn ráp lại. Khi thổi, ngón tay vừa bịt lỗ vừa đẩy ống kèn xê dịch theo âm điệu trầm bổng. Trống là cái thùng thiếc Tây (thứ dùng đựng dầu lửa thắp đèn) nhưng ông đã cắt ra, gò lại thành một hộp tròn. Mắc dây hai đầu và đeo vào cổ. Ông thường dùng tay đập vào mặt trống, nghe cũng hòa nhịp với tiếng kèn. Tiếng kèn khi trầm bổng réo rắt, lúc the thé kéo dài, rồi hùng hồn, khẩn trương, thúc giục... Chúng tôi chỉ vỗ tay tán thưởng. Không có tiền bỏ vào nón nên mặt mày chúng tôi buồn xo. Ông ngưng thổi, mỉm cười nhìn chúng tôi. Nụ cười hiền hậu:
- Tụi bây làm chi có tiền. Cứ việc đứng nghe. Đứng cho đàng hoàng, đừng la hét, lộn xộn.
Rồi ông hạ giọng:
- Cũng để người lớn có chỗ vào nghe và bỏ tiền vào mũ.. Cho tau ăn cơm...
Ông không chìa cái mũ chào mào ra để xin tiền. Chỉ lật ngửa mũ và đặt trên mặt đất sau khi dã thổi một số bản. Hình ảnh khác thường này gây ấn tượng mạnh trong trí não non nớt của tôi, làm cho một đứa trẻ bùi ngùi bắt đầu biết xót thương cho số phận cơ hàn của một đồng loại. Tiếng kèn, tiếng trống và cung cách nhận tiền của người cho rất độc đáo...
Lớn lên đọc được sách báo và xem phim ảnh Pháp mới biết ở Paris, một số nghệ sĩ sa cơ thất thế cũng đứng ở góc phố kéo đờn vĩ cầm hay đờn xếp accordéon. Nón lật ngửa nằm dưới chưn trên mắt đất để đón những đồng quan đồng xu hảo tâm của khách qua đường bỏ vào. Ôi, sao mà giống nhau thế, cảnh đời tàn tạ của những nghệ sĩ về già sa sút.
Khi ông thổi nhũng bản buồn rả rích, kéo dài lê thê, mắt ông đăm chiêu như mơ màng ở đâu. Hỏi, ông trả lời:
- Ở Tây tau thổi bản buồn là những lúc phải đưa bọn "nó" tử trận ra nghĩa địa.
Người ta nói công lao chết sống ông đóng góp cho mẫu quốc (nước Pháp) cũng nhiều, nhưng khi về nước chẳng có gì hết. Hỏi, có người giải thích: "Qua Pháp ông còn giữ tánh khí bướng bỉnh, ngang tàng của người trai xứ Quảng. Ở bên Tây ông quậy phá lung tung nên khi về nước (1918) ông chẳng có mề đay, mề điếc (tiếng Pháp médaille nghĩa là huy chương) gì cả. Trụi trơn như hồi mới qua (1914).
Mỗi năm ông xuống Phố đôi ba lần, và còn đi biểu diễn ở các chợ huyện, thị trấn Tam Kỳ (nay là thủ phủ tỉnh Quảng Nam) và Hàn, nay là Đà Nẵng. Xứ Quảng lúc bấy giờ đất rộng, người đông nhưng còn nghèo lắm. Tiêu tiền cũng phải tính toán tằn tiện. Bà con nghèo đứng nghe ông thổi kèn ngày một ít hơn... Gặp buổi kinh tế khủng hoảng, củi quế gạo châu, ông xuống Phố thưa hơn. Quần nhàu nát và áo rách vai nhiều chỗ.
Lần chót ông đi chưn không, người lừ đừ, mặt mày hốc hác.
Sau đó chúng tôi không thấy ông xuống nữa.
-----------------------------
1. Mátđờlông: Madelon, bài hát dân gian nổi tiếng được sáng tác năm 1914 ở Paris, phổ biến ở Pháp, trong suốt thời gian Đại chiến thứ nhút 1914 - 1918.
2. Macxâyde: bài hát yêu nước của Pháp ra đời năm 1793, đến năm 1879 thành bản quốc ca Pháp cho đến ngày nay (Marseillaise).