Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:56:03 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Người lính Việt thời thế chiến 1  (Đọc 254156 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #190 vào lúc: 02 Tháng Chín, 2013, 12:41:32 am »

Phiếu của phi công-sĩ quan Đỗ Hữu Vị trong lưu trữ của Bộ Quốc phòng Pháp



Logged
laoshan1234
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1474



« Trả lời #191 vào lúc: 02 Tháng Chín, 2013, 06:34:07 am »

    Một bài báo viết về phi công Đỗ hữu Vị,mời các bác cùng xem !

   


Đỗ Hữu Vị trên đất Picardie – Do Huu Vi sur la terre Picarde
25/10/2012
tags: Chemin des Dames, Indochine, Laffaux, les poilus, Picardie
Đỗ Hữu Vị trên đất Picardie

© Mathilde Tuyet Tran, France 2012

Trong một buổi đi dạo tham khảo ở vùng Chemin des Dames, một chiến trận thảm khốc ác liệt của Đệ nhất thế chiến, tình cờ tôi thấy một tấm bảng quảng cáo có một con đường mang tên „Do Huu Vi“. Thế là chúng tôi vội vàng lái xe ngay đến con đường đó, cách khoảng mấy chục cây số.
Hai thế hệ trước tôi chắc còn nhớ nhiều và biết rõ về người mang tên Đỗ Hữu Vị. Dòng họ Đỗ Hữu làm quan dưới thời Pháp thuộc, là những cộng tác viên đắc lực, cao cấp của chính quyền thuộc địa. Đỗ Hữu Vị là con thứ năm trong số 11 người con của của tổng đốc Phương (Đỗ Hữu Phương) sinh 1881 (năm Tý), nên còn có tên là Đỗ Hữu Tý, tử năm 1916 tại khu vực vùng sông Somme, Pháp. (1)
Theo một tư liệu của đại tá Maurice Rives với tựa đề là « Les militaires indochinois en Europe (1914-1918) » thì khi Đức tuyên chiến với Pháp mở đầu trận Đệ nhất thế chiến khốc liệt, quân đội Đông Dương với lính bản xứ gồm có 23.930 người, trong đó có 13.373 lính đánh bộ, ngoài ra thành phần lính dự bị có 29.064 người, trong đó có 23.936 lính bản xứ. Tướng Joffre cho rằng người Đông Dương không đủ thể lực để đánh trận ở châu Âu. Nhưng đến năm 1915 khi lực lượng quân đội Pháp đã bị thiệt hại nặng nề trên các chiến trường châu Âu, chính quyền thực dân Pháp tại Đông Dương mới cung ứng nhân sự cho đại chiến thứ nhất. Từ năm 1915 cho đến 1918, Pháp đã huy động, chiêu mộ tổng cộng 93.411 người, trong đó có 43.430 lính chiến đấu, 9.019 y tá, 5.339 người phục dịch và hành chánh, 48.981 lính thợ chuyên nghiệp như thợ máy, thợ sơn, thợ da, thợ làm thuốc súng, vũ khí, lái xe, bác sĩ, kỹ sư, tải thương… và không chuyên nghiệp. Tính theo gốc tích, thì có 24% người miền Bắc (Tonkin), 32% người miền Trung (Annam), 22% người miền Nam (Cochinchine) và 22% người Cam Bốt. Ngân quỹ Đông Dương cũng đóng góp 541 triệu quan Pháp cho chi phí chiến tranh của Pháp. Thêm vào đó, 175 khẩu đại bác lên đường đi Marseille, hàng chục tấn hàng hóa các loại cũng được chuyển đi cung ứng cho chiến trường tại Pháp, thậm chí xe xích lô (pousse-pousse) cũng được gởi sang Pháp để tải thương. Nhân sự và vật liệu được chuyển qua đường châu Phi như Cameroune, Djibouti, Madagascar, Égypte…để sau đó đi tiếp về cảng Marseille. Đoạn đường di chuyển cực khổ đó đã làm cho một số người chết vì bệnh tật trước khi đặt chân lên đất Pháp. Chính phủ bảo hộ tỏ ra quan tâm đến thành phần lính Đông Dương, cấp phát quần áo mùa đông, may cho « cai quan » (cái quần) không có nút, chỉ có giây thắt, phân phát trầu, cau, ớt và thành lập một xưởng làm nước mắm trên đất Pháp.
Những người lính Đông Dương được các đồng đội « les poilus » 2) công nhận là dũng cảm, gan dạ, bình tĩnh và biết tổ chức. Nhiều người được thưởng huân chương « thập giá chiến tranh » và được xem là « anh hùng » của nước Pháp trong đại chiến thứ nhất. Đa số hy sinh trong lãng quên, xương cốt của họ còn ở Đài kỷ niệm Douaumont (l’ossuaire de Douaumont), hay ở nghĩa trang Géré và d’Udonista ở Albanie.
Trong số những phi công đầu tiên của Pháp xuất xứ từ Đông Dương có Phan That Tao, Cao Đắc Minh, Felix Xuân Nha, Đỗ Hữu Vị, nhưng quan ba (đại úy), capitaine Đỗ Hữu Vị, được xem là anh hùng nổi tiếng nhất. Đến nỗi, nhà nước Pháp cho phát hành tem « Đỗ Hữu Vị ».
Sau bậc trung học tại trường Janson-de-Sailly, một trường nổi tiếng vào bậc nhất nằm trong quận 16 của Paris, Đỗ Hữu Vị nhập trường sĩ quan Saint-Cyr vào ngày 01.10.1904. Năm 1906 Đỗ Hữu Vị ra trường với quân hàm thiếu uý (sous-lieutenant) trong binh đoàn Lê dương số 1 (1er régiment Etranger).
Từ năm 1907 cho đến 1908, Đỗ Hữu Vị tham chiến tại Oujda Maroc, Casablanca và trong khu vực le Haut-Guir septentrional. Từ cuối năm 1908 cho đến 1910, ông tham chiến tại biên giới Maroc và Algérie.
Ngày 10.12.1910, Đỗ Hữu Vị vào trường quân sự lái máy bay (l’école militaire de pilotage) và 11 tháng sau tốt nghiệp với chức vị trung úy phi công (lieutenant-pilote) nhận văn bằng số 649 (brevet n°649) của hội Aéroclub de France, thành lập năm 1898. Đỗ Hữu Vị gặp trung úy Victor Ménard và trở thành bạn cùng lái trong chuyến du hành nước Pháp trên không năm 1911. Năm 1912 Đỗ Hữu Vị thuyên chuyển đến Maroc và phục vụ đến năm 1913. Một con đường được đặt tên « Do-Hu » tại Casablanca. Năm 1914, Đỗ Hữu Vị trở về Saigon để học thực hành về một loại thuyền lướt trên mặt nước, chạy bởi động cơ cánh quạt máy bay do Charles de Lambert chế tạo (l’hydroglisseur Lambert) trên sông Cửu Long và sông Hồng. Nhưng khi đại chiến thứ nhất bùng nổ, Đỗ Hữu Vị trở về đơn vị chiến đấu tại Pháp. Năm 1915, trên đường trở về đơn vị sau một trận đánh, máy bay của Đỗ Hữu Vị rớt vì bị bão cuốn, ông bị thương nặng gẫy cánh tay trái, hàm mặt và phần sọ bên dưới, hôn mê chín ngày, nhưng sống sót.
Không được lái máy bay nữa, Đỗ Hữu Vị, với quân hàm đại úy, xin trở về quân đội Lê dương số 1, được phong chỉ huy đội quân số 7 (7ème compagnie) có khoảng từ 100 đến 300 lính, chiến đấu trên mặt trận vùng Somme, là mặt trận khốc liệt nhất thời ấy. Ngày 9.07.1916 vào lúc 16 giờ, trong một cuộc tấn công quân Đức trên địa bàn giữa hai làng Belloy-en-Santerre và Estrée, Đỗ Hữu Vị xung phong, bị trúng nhiều phát đạn, chết ngay trên trận tuyến. Đỗ Hữu Vị được chôn cất tại làng Dompierre thuộc vùng Somme. Năm 1921 người anh cả là quan năm Đỗ Hữu Chấn chuyển hài cốt về an táng trong phần mộ gia đình tại Việt Nam. Từ đường dòng họ Đỗ Hữu hiện nằm trên đường Điện Biên Phủ, Quận 3, còn gọi là Đền Bà Lớn.
Ở Sài Gòn trước kia có một con đường mang tên Đỗ Hữu Vị, chạy từ bùng binh chợ Bến Thành đến chợ cũ, giáp đường Charner (nay là đường Nguyễn Huệ). Hiện nay, đường Đỗ Hữu Vị được đổi tên lại là đường Huỳnh Thúc Kháng ở quận 1. Tại Hà Nội, phố Đỗ Hữu Vị thời Pháp thuộc được đổi tên lại thành phố Cửa Bắc hiện nay. Một số trường học được mang tên Đỗ Hữu Vị, trong đó có trường Kỹ thuật Cao Thắng tại Saigon trước đây là trường máy Đỗ Hữu Vị.
Con đường mới mang tên Do Huu Vi thuộc làng Laffaux vùng Picardie, Pháp, nơi phong cảnh núi đồi chập chùng, không cao lắm, nhưng lên dốc xuống dốc cũng đủ mệt. Nằm trong một khu vực dân cư mới
xây dựng, đường Do Huu Vi, tuy ngắn, nhưng có ý nghĩa, vì bên cạnh đó là một khu địa đạo, lô cốt cũ, chứng tích của chiến tranh đã qua. Quân Đức phải chọc thủng phòng tuyến ở vùng này để

tiến về Paris, nên xương máu của cả hai bên Pháp – Đức đổ xuống rất nhiều.



Đường Do Huu Vi tại làng Laffaux, Picardie Pháp

Đỗ Hữu Vị được nước Pháp vinh danh nhiều, cho đến hiện nay, vì trong thời điểm Đệ nhất thế chiến ngành hàng không, nhất là không quân, chỉ mới phôi thai, nên những người phi công đầu tiên rất được thán phục, ngưỡng mộ. Blériot lái máy bay cánh quạt vượt biển Manche năm 1909. Năm 1913 Rolland Garros vượt biển Địa Trung Hải bằng máy bay. Năm 1914 Pháp chế tạo máy bay cánh quạt quân đội đầu tiên và sử dụng ngay trong đại chiến thứ nhất. Cho nên sự kiện Đỗ Hữu Vị, một người „An nam mít“, có bằng lái máy bay từ năm 1911 là một điều rất mới mẻ thời ấy và trong lịch sử không quân Pháp. Làng Laffaux là nơi máy bay của Đỗ Hữu Vị rớt xuống, chấm dứt sự nghiệp phi công của ông. MTT
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Chín, 2013, 06:41:29 am gửi bởi laoshan1234 » Logged
tuanb5
Thành viên
*
Bài viết: 610


« Trả lời #192 vào lúc: 02 Tháng Chín, 2013, 02:33:56 pm »



Một đơn vị Bộ binh đóng quân ở Versailles, 1919.



Cây súng trường Lơ-Ben gắn lưỡi lê, quả là thứ vũ khí trứ danh trong những trận đánh thời Thế chiến 1.
Logged

Ngàn năm hồ dễ mấy ai quên.
laoshan1234
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1474



« Trả lời #193 vào lúc: 02 Tháng Chín, 2013, 02:39:15 pm »



Một đơn vị Bộ binh đóng quân ở Versailles, 1919.



Cây súng trường Lơ-Ben gắn lưỡi lê, quả là thứ vũ khí trứ danh trong những trận đánh thời Thế chiến 1.
   Súng dài quá,có thể vướng víu bác tuanb5 nhỉ.Mà lưỡi lê,có thể tháo ra để làm kiếm sao mà có lá chắn  vậy bác  Huh
Logged
tuanb5
Thành viên
*
Bài viết: 610


« Trả lời #194 vào lúc: 02 Tháng Chín, 2013, 04:25:55 pm »


Bác Laoshan1234 ơi, tôi đồ rằng bước vào Thế chiến 1 thì hình thức tác chiến của lính bộ binh đã thay đổi căn bản: Không còn tổ chức theo khối như trước, phát triển cách đánh có chiến hào...Khả năng xảy ra cận chiến rất cao, nên trang bị cây Lơ-Ben như vầy là hay lắm.

Hồi ở Bát tam bang, đơn vị tôi thu được 1 kho súng cổ có gắn lưỡi lê dài ngoằng. Chúng tôi nghịch, tháo ra. Sử dụng như 1 cây kiếm. Hồi ấy kỷ luật chiến trường rất nghiêm, nhưng kiếm lại...không bị nhắc nhở. Định bụng mang về làm kỷ niệm, nhưng khi mang ra Long Bình thấy vướng víu. Vả lại, dân chúng " nhiệt tình" hỏi mua nên chả ai muốn giữ làm gì nữa. Grin
Logged

Ngàn năm hồ dễ mấy ai quên.
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #195 vào lúc: 02 Tháng Chín, 2013, 11:56:13 pm »

Người Đông Dương đối mặt với hiện đại

Theo khảo cứu của colonel Maurice Rives:

Khi đến chính quốc, các lính tập khơi dậy sự tò mò vì những chiếc nón lá cọ (les salaccos en latanier) của họ, những bộ răng sơn đen và những đôi đũa họ sử dụng để ăn. Cho đến năm 1917, họ luôn được chào đón bằng sự vui vẻ và tình hữu ái thiết lập giữa họ và dân chính quốc. Tài liệu lưu trữ chỉ ghi lại một sự cố duy nhất: tại Somme, những người lính tập tắm truồng trong bể giặt công cộng của một ngôi làng đã bị quân cảnh phạt vì lỗi sinh hoạt không đứng đắn. Sự kiện này được thuật lại trong tờ báo Ý kiến (l'Opinion) của bán đảo.

Các sĩ quan và hạ sĩ quan châu Âu của tiểu đoàn lính BB thuộc địa (BTI), nếu họ không từng phục vụ ở Đông Dương, nhận xét rằng "rất khó để nhận ra đời sống tinh thần đạo đức của người An Nam những người sống rất khép kín và không cởi mở với cấp trên của họ". Một sĩ quan của tiểu đoàn thuộc địa 12 (12ème BTI) tuy nhiên cho rằng những con người của ông ta là "những người can đảm và rất tận tâm", trong khi một người khác nhận ra rằng những người lính tập của ông ta nói được ba ngôn ngữ: le Cuôc Ngu (sic) (tức quốc ngữ), le Nôm (1) (tức tiếng Nôm) và le Chinois (tức tiếng Hán) nhưng không nói được chút tiếng Pháp nào. Một số hạ sĩ quan đặt biệt danh cho những người có nguồn gốc từ bán đảo là "người Aztec". Bộ chỉ huy làm mọi thứ cần thiết để những người châu Á không phải đối mặt với quá nhiều vấn đề nghiêm trọng của môi trường khí hậu. Họ nhận được quần áo ấm và các sản phẩm của đất nước họ như trầu, cau hạt, hạt tiêu; một nhà máy nước mắm hoạt động tại Pháp. Tướng Claudel đã tự mình viết một bản chỉ dẫn cách nấu cơm cho người An-nam và cung cấp cho lính tiểu đoàn thuộc địa 21 năm 1917 một "cai quan" (quần dài) không có nút, và chữ Hán thay vì chữ Pháp.


Lính tập Bắc Kỳ tập hợp xuống tàu khách Porthos (chạy đường Marseille-Saïgon-Haïphong) trong Thế chiến 1
........
Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #196 vào lúc: 03 Tháng Chín, 2013, 12:51:50 am »


Cổng doanh trại là cái gì? Nói cho cùng nó là cái cổng làng nhà tớ, phải không các cậu mẫu quốc, các cậu nhìn sẽ biết ngay làng tớ ở đây: ảnh một nhóm lính An-nam trước cổng trại của mình, năm 1917.


Các cậu mẫu quốc đánh đấm chán lắm. Mai bọn tớ phải ra trận đánh hộ các cậu cả mẫu quốc rồi, thôi đi lau súng cho kỹ để khỏi ân hận...hi hi
Logged
tuanb5
Thành viên
*
Bài viết: 610


« Trả lời #197 vào lúc: 03 Tháng Chín, 2013, 01:09:20 am »

Lên đường đi chiến đấu, đánh bằng đổ bọn Đức tặc kia!

Logged

Ngàn năm hồ dễ mấy ai quên.
baoleo
Moderator
*
Bài viết: 1500


« Trả lời #198 vào lúc: 03 Tháng Chín, 2013, 08:25:18 am »

Tuyệt vời  Grin
Cảm ơn tất cả các bác.
Baoleo tôi trộm nghĩ: tập hơn tất cả các bài viết trong topic này, sửa sơ qua lỗi trùng chút đỉnh, có khi lại trở thành là một cái đề tài:
- 'Luận án Phó tiến sỹ về: Sự đóng góp có tính chất quyết định của Bộ đội An Nam vào kết quả chung cuộc của Thế chiến 1' cũng chả chơi.  Wink
Tin rằng đề tài cũng như bản luận văn này của chúng ta, Bộ Đại học mà ko cấp cho cái bằng Phó Tiến sỹ, chúng ta kiện nó sặc gạch, chứ chả đùa  Grin
Logged
baoleo
Moderator
*
Bài viết: 1500


« Trả lời #199 vào lúc: 03 Tháng Chín, 2013, 08:28:09 am »

Hành quân tiếp bước cùng các cụ  Grin

9. Việc tín ngưỡng của các binh sỹ Việt.
Những người lính Annam phục vụ tại Pháp thì, đương nhiên, được quyền thực hành những việc thờ phượng của họ cũng như khi họ còn ở quê nhà. Người ta không nêu rõ những người lính trong các hình này là thuộc tín ngưỡng nào. Đại đa số dân Annam là tín đồ Phật giáo, mặc dù cũng có một số người theo Khổng giáo. Ky tô giáo cũng được truyền bá đáng kể vào đất nước này, thông qua nỗ lực của các nhà truyền giáo. Trong một bài viết về Annam trong tự điển “Bách khoa cho mọi người,” có viết rằng: “Tôn giáo, được vay mượn cũng như tất cả phần còn lại của nền văn hóa từ Trung Hoa, chủ yếu là Phật giáo. Có khỏang 420.000 người Công giáo. Sự tôn kính tột cùng được dành cho người chết, và việc thờ cúng tổ tiên là rất thịnh hành.
‘Ảnh chính thức của VP Báo chí, do Central Press cung cấp’


 

10. Những người lính thuộc  ‘Lính thủy đánh bộ Việt Nam / Thủy binh bộ chiến An Nam Lữ đoàn’ : Quân trang tại quê nhà (trái) và trang bị do Cục Đối ngoại trang cấp tại chiến trường Tây Âu. (phải).
Trong ảnh là hai người lính Annam của đơn vị thuộc địa Pháp từ vùng Viễn Đông bây giờ đang phục vụ tại châu Âu. Bên trái là một binh nhất trong quân phục mặc tại Đông Dương, nơi binh đoàn được tuyển mộ. Anh ta đội chiếc nón có dạng như cái chóa đèn mà những người dân bản xứ ở miền Viễn Đông đội. Nón đó được làm bằng rơm hay nan tre, và với các binh sĩ thì nó được phủ lên trên bằng lớp vải màu xám. Chiếc quạt cầm trên tay là món đồ phụ không thể thiếu được trong cuộc sống của những dân tộc vùng Viễn Đông. Những người Annam đến Pháp đội những chiếc nón này, và mang theo những chiếc quạt, nhưng cả hai đều đã bị vứt bỏ, quạt thì bị bỏ đi hoàn toàn. Cả hai sẽ chẳng được dùng lại cho tới khi những người lính Annam lên tàu trở về nước khi chiến tranh kết thúc. Trong hình bên phải là một người lính đội chiếc mũ mới, một chiếc mũ bêrê kiểu của lính biệt kích núi (Alpine Chasseurs).
‘Ảnh chính thức của VP Báo chí, do Central Press cung cấp’



Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM