Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 05:00:29 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: 100 Câu hỏi về cuộc chiến tranh Việt Nam 1945-1975  (Đọc 355862 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
trucdang
Thành viên
*
Bài viết: 338


« Trả lời #210 vào lúc: 02 Tháng Mười, 2008, 03:48:23 pm »

daibangden: Bác nào có bài này cho em xin! Em cảm ơn!
-------------
Theo tớ biết thì hiện giờ chưa có CD. Nếu Bạn nào có xin thông báo.
Còn bạn muốn sưu tầm Bản nhạc in thì có thể tìm ở Cửa hàng Sách, tớ đã thấy một lần rồi.
Logged
rongxanh
Thành viên
*
Bài viết: 2085

Mơ về nơi xa lắm.


« Trả lời #211 vào lúc: 02 Tháng Mười, 2008, 05:25:25 pm »

Em thử tập hợp câu hỏi - câu trả lời lại cho nó tiện theo dõi:
Câu 1 đến 7:

Câu hỏi 1:
Từ những năm 1950, Mỹ đã viện trợ quân sự cho cuộc chiến tranh của Thực dân Pháp ở Đông Dương. Chi phí này chiếm tỷ lệ là:
 a- 20% ?,
 b- 40% ?,
 c- 50% ?

Trả lời câu hỏi 1:
Năm 1950 là 20%, 1952 là 50%, 1954 là 80%. Nguồn: Giáo trình LS Đảng CS Việt Nam

Câu hỏi 2:
Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, pháo binh ta có dùng hỏa tiễn Ka-chiu-sa không ?

Trả lời câu hỏi 2:
Có. Tạp chí Lịch sử quân sự Tháng 4-1997 , bài "Tiểu đoàn hỏa tiễn 224", tác giả nguyên là người trong cuộc, ghi: Tiểu đoàn này thành lập ngày 22-4-1954 nên gọi là Tiểu đoàn 224, hay còn gọi Tiểu đoàn H6, vì trang bị pháo phản lực 6 nòng. Tiểu đoàn có 2 Đại đội, mỗi Đại đội 6 khẩu, vậy mỗi loạt phóng là 2 x 6 x 6=72 viên. Loại hỏa tiễn Ca-chiu-sa này do Liên Xô chế tạo, viện trợ cho Trung Quốc trong cuộc chiến tranh "Viện Triều chống Mỹ" năm 1953, Trung Quốc viện trợ lại cho ta. Trước khi nổ súng chính thức, dưới sự hướng dẫn của chuyên gia Trung Quốc, pháo đã mang đến Mường Phăng để bắn thử vài viên, gây cháy rừng, bộ đội phải dập tắt. Hồi 2h30 rạng sáng ngày 7-5, toàn Tiểu đoàn đồng loạt nã 1.000 viên đạn vào Sở chỉ huy địch và khu Trung tâm Mường Thanh. Một số lính Lê Dương (tiếng Pháp là Legion, loại lính gốc Đức Quốc Xã bại trận, nay đánh thuê cho Pháp), thì đây là lần thứ hai "xơi" Ca-chiu-sa, bởi trước đó đã được Hồng quân Liên Xô chiêu đãi rồi.

Câu hỏi 3:
Tổng thống Mỹ nào đã bị giấc mơ Điện Biên Phủ ám ảnh ? Vào thời gian nào ?

Trả lời câu hỏi 3:
Tổng thống L.B.Johnson thường lo sợ xảy ra kết cục một trận Điên Phủ nữa, ấy là vào đầu năm 1968, khi quân ta đang vây hãm Khe Sanh.
Thực ra thì địa hình Khe Sanh khác với Điện Biên Phủ: Khe Sanh là cao điểm chứ không phải thung lũng lòng chảo, tương quan lực lượng, vũ khí hai bên cũng khác nhau, nhưng giống nhau là tình trạng "bị bao vây". Ta tập trung ở đây hơn 16 tiểu đoàn pháo, gồm 210 khẩu pháo có xe kéo và 9 dàn pháo phản lực BM14, không kể hỏa lực cối, DKZ bộ binh. Đây là kỷ lục tập trung pháo có mật độ dày đặc nhất trong Chiến tranh Việt Nam. Mỗi ngày pháo ta nã hàng trăm trái phá, ngày 23-2 nã tới 1.307 quả.  
Hồi ấy các báo chí Phương Tây ví việc Mỹ đưa Sư đoàn Thủy quân lục chiến lên vùng rừng núi Trị-Thiên giống như 'đưa cá lên thớt".

Câu hỏi 4:
Sau Hiệp định Genève năm 1954, lần đầu tiên máy bay Mỹ xâm phạm bầu trời Hà Nội vào năm nào?
 a-1963 ?
 b-1964 ?
 c-1965 ?

Trả lời câu hỏi 4:
Cuốn " Quân chủng phòng không-Biên niên sự kiện", Nxb QĐND 2000 ghi: sáng ngày 11-8-1963, hai lần 2 chiếc máy bay trinh sát phản lực RF-101 bay vào do thám Hà nội, bộ đội cao xạ ta bắn nhưng không rơi. Một năm sau, mùng 5-8-1964 Cuộc chiến tranh phá hoại Miền Bắc lần thứ nhất bắt đầu.

Câu hỏi 5:
Hoàng Cầm là ai ?

Trả lời câu hỏi 5:
1- Một người là anh nuôi trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Năm 1952 ông phát minh ra kiểu bếp đun không có khói bay lên, vô hiệu hóa máy bay trinh sát địch. Chỉ cần một chiếc xẻng để đào đất và một con dao để chặt cành lá, trong khoảng 30 phút, hai người làm xong một chiếc bếp. Trong những năm đánh Mỹ, "Bếp Hoàng Cầm" là một khoa mục trong khóa huấn luyện tân binh trước khi đi chiến trường. Không biết bây giờ chiến sỹ mới còn học bài này không ?    
2- Một người là Thượng tướng QĐNDVN. Xem thêm cuốn hồi ức "Thượng tướng Hoàng Cầm-chặng đường mười nghìn ngày", Nxb QĐND 2007.
3- Một người là Nhà thơ, Giải thưởng Nhà nước năm 2004, Trưởng đoàn văn công Tổng cục chính trị trong những năm 1950, tác giả những bài thơ nổi tiếng "Bên kia sông Đuống", "Lá diêu bông"vv...
Riêng người ra câu hỏi này, một lính già, rất thích bài "Nếu anh còn trẻ": Nếu Anh còn trẻ như năm ấy / Quyết đón em về sống với anh / Những khoảng chiều buồn phơ phất lại / Anh đàn em hát níu xuân xanh / Nhưng thuyền em buộc sai duyên phận / Anh lụy đời quên bến khói sương / Năm tháng...năm cung mờ cách biệt / Bao giờ em hết nợ Tầm Dương ? / Nếu có ngày mai anh trở gót / Quay về lãng đãng bến sông xa / Thì em còn đó hay đâu mất / Cuối xóm buồn teo một tiếng gà...

Câu hỏi 6:
Một tổng thống Mỹ nói: " Đã có kẻ nào đó bỏ thuốc độc vào giếng". Tổng thống đó là ai ? Câu nói ám chỉ những ai ?

Trả lời câu hỏi 6:
Tạp chí Lịch sử quân sự Tháng 11&12-1999, bài "Mỹ thua về chiến lược chính là thua về quân sự sự nặng nề nhất", ghi "...Sau Tết Mậu Thân, Giôn-xơn mời các chính khách, nhà chiến lược, những "nhà thông thái" của nước Mỹ để tham khảo ý kiến, vào ngày 25 và 26-3-1968. Đó là các ngài: Acheson, Goldberg, George Ball, M.G.Bundi, Henry Cabod Lodge, Abe Fortas, Douglas Dillon, John Mc Cloy, Robert Murphy, Maxwell Taylor, 2 đại tướng đã về hưu, Omar Pnadly, Mathew Ridway và Rusk, Rostows, Wheeler... Tổng thống Giôn-xơn vẫn muốn tiếp tục chiến tranh, ngày 17-3-1968 đã tuyên bố:" chúng ta đang và sẽ thắng". Sau 2 ngày gặp các vị "lão thành" và nhận thấy họ đều muốn rút ra khỏi cuộc chiến tranh, Giôn-xơn như bị một cú sốc, choáng váng, làu nhàu: " Đã có kẻ nào đó bỏ thuốc độc vào giếng". Cuối cùng Giôn-xơn tuy muốn tiếp tục chiến tranh để cứu vãn thất bại song cũng phải nghe theo các bậc "lão thành", ra tuyên bố ngày 31-3-1968, chấp nhận xuống thang chiến tranh, mở đường cho việc quân Mỹ rút về nước.

Câu hỏi 7:
Mỗi trận không chiến giữa Mig của Không quân ta và máy bay Mỹ, thời gian trung bình kéo dài:  
 a- Khoảng 5 phút?
 b- Khoảng 15 phút?
 c- Khoảng 30 phút?

Trả lời câu hỏi 7:
Cuốn "Phi công tiêm kích", Nxb QĐND 2004, tác giả là Đại tá, Anh hùng lực lượng võ trang Lê Hải, người từng bắn rơi 6 máy bay Mỹ, trang 123: "Những trận không chiến thông thường diễn ra từ 3 đến 5 phút. Có nhiều trận chỉ độ 1 đến 2 phút, thậm chí dưới 1 phút. Trận không chiến ác liệt cũng chỉ diễn ra độ 7 đến 10 phút."

Logged
rongxanh
Thành viên
*
Bài viết: 2085

Mơ về nơi xa lắm.


« Trả lời #212 vào lúc: 02 Tháng Mười, 2008, 05:26:31 pm »

Câu hỏi 8:
Vào thời điểm Cuộc tập kích chiến lược của Không quân Mỹ vào Thủ đô Hà Nội Tháng Chạp năm 1972, hãy so sánh giá tiền của 2 loại máy bay B-52 và F-111: loại nào đắt hơn, đắt hơn bao nhiêu lần ?

Trả lời câu hỏi 8:
Các bạn chú ý câu hỏi "vào thời điểm năm 1972".
Báo Nhân dân ngày 19-10-1972 ghi, giá 1 chiếc F-111 là 15 triệu đô-la, đây là loại máy bay ném bom chiến thuật-chiến lược, hiện đại nhất lúc bấy giờ, cánh có thể thu gấp vào để tăng tốc độ và đạt tới 2,2 lần vận tốc âm thanh. Báo Quân đội nhân dân ngày 27-12-1972 ghi, giá tiền của 1 chiếc B-52 là 9 triệu đô-la. Vậy loại F-111 đắt gấp rưỡi loại B-52.

TẠI SAO MÁY BAY F-111 ĐẮT HƠN "PHÁO ĐÀI BAY B-52" ?
(Tài liệu giải thích thêm cho câu trả lời)
Trong cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất, từ tháng 3-1965 đến tháng 11-1968, Không quân Mỹ (KQM) chủ yếu dùng máy bay F-105D Thần sấm. Được gọi là "lính xung kích của Mr Namara" nhưng loại này có đầy nhược điểm: tốc độ bay chậm, chỉ cường kích được ở trạng thái bổ nhào, tính cơ động tránh hoả lực phòng không kém, khả năng tự vệ kém nên phải có tiêm kích F-4 Con ma bay hộ tống. Điểm yếu nhất của F-105D là chiếc động cơ kiểu J-75-P-10W thường nổ tung ngay khi hỏng hóc, dẫn đến tổn thất lớn về phi công và máy bay. Riêng năm 1967 có 1.067 máy bay các loại bị hạ, trong số 600 chiếc F-105D trên chiến trường Đông Dương thì có tới khoảng 400 chiếc F-105D bị loại khỏi vòng chiến đấu, bởi vậy giới quân sự Mỹ chấm dứt sản xuất loại này. Đồng thời các nhà chế tạo quân sự cũng ra sức cải tiến loại máy bay F-4 Con ma gồm các kiểu B, C, D, E, G, H, J làm mọi chức năng chiến thuật như cường kích, tiêm kích, trinh sát v.v… Nó có ưu điểm: có hai buồng lái cho hai phi công nên có thể kết hợp một số nhiệm vụ chức năng công tác cùng một lúc; với kiểu động cơ kép gồm 2 chiếc J79-GE-17A, loại này khi cháy hỏng vẫn không bị nổ; bởi vậy nhiều trường hợp máy bay bị chết một bên động cơ vẫn bay về được tới căn cứ. Mỹ đã từng sản xuất 5.195 chiếc F-4 các loại. Tuy vậy máy bay F-4 vẫn có những nhược điểm: không hoạt động tốt được dưới 500 mét nên dễ bị ra-đa phòng không phát hiện; mang tải không lớn (3,2 tấn bom so với F-105D là 5,4tấn); tự trọng nặng 24 tấn nên khi chiến đấu, vận tốc lên cao nhỏ cho nên khi lâm trận không chiến trường rơi vào thế bị động… Bởi vậy các tổ hợp quân sự Mỹ vẫn ấp ủ ý đồ chế tạo được một kiểu máy bay mới khắc phục được các nhược điểm trên, hơn thế nữa nó phải thay thế được cả máy bay ném bom chiến lược B-52 Pháo đài bay mà loại này thường bất đăc dĩ phải dùng làm nhiệm vụ chiến thuật.

Cuối tháng 11-1967 khi cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất lên tới đỉnh cao, bộ chỉ huy Tập đoàn không quân số 7 trên đất Thái Lan tổ chức tại sân bay Tăcli hội nghị lấy lên là "Cuộc họp của những người hoạt động ở thung lũng Sông Hồng", thành phần gồm Ban chỉ huy và 20 phi công lão luyện nhất của các Liên đội 338 (sân bay Còrạt), Liên đội 335 (sân bay Tăcli), Liên đội 8 (sân bay Ubon), Liên đội 432 (sân bay Uđon). Hội nghị đưa ra một số giải pháp nhằm giảm thiệt hại về máy bay, trong đó có việc đưa loại máy bay mới nhất là F-111 sang chiến trường Đông Dương.

Máy bay phản lực F-111 do hãng General Dynamics chế tạo, là loại ném bom chiến thuật-chiến lược kiểu động cơ kép-hai người lái, lần đầu tiên bay thử năm 1965. Thân dài 22,4m; sải cánh lúc "xoè" rộng 19,2m, lúc "cụp" 9,47m; chiều cao 5,52m; trọng lượng rỗng 20,943 tấn, trọng lượng cực đại 41,5 tấn. Khi bay cao 18km vận tốc cực đại đạt 2,2 Mach (gấp 2,2 lần vận tốc âm thanh), tốc độ trung bình 800-1000km/h, tốc độ hạ cánh 185km/h, bán kính hoạt động 5.093km, sức tải tối đa 13,610 tấn bom. Sở dĩ gọi nó là "cánh cụp cánh xoè" vì cánh trước có cơ cấu điều khiển động lực học: khi mang tải nặng hai cánh trước xoè ra để tăng tiết diện nhằm tăng lực nâng của không khí; khi đã trút bom xong trọng lượng máy bay giảm, đôi cánh trước gấp xuôi về phía sau để giảm tiết diện nhằm giảm lực cản, máy bay như hình mũi tên bay thoát ly khỏi chiến sự nhanh hơn. Trạng thái mức độ "cụp xoè" tuỳ theo tải trọng do  máy tính thực hiện. Nó có ra-đa tự động tính toán địa hình để bay được rất thấp từ 80m đến 200m, hoạt động tốt trong mọi thời tiết nhất, là ban đêm. Do được trang bị thiết bị cảnh báo phát hiện ra-đa đối phương và gắn tên lửa đối không nên F-111 có thể độc lập tác chiến mà không cần máy bay dẫn đường và tiêm kích bay kèm.

Tháng 3-1968, từ bang Nevada, KQM đưa sang chiến trường Đông Dương 6 chiếc F-111, nó bay vượt Thái Bình Dương sang đậu tại sân bay Tăcli (Thái Lan). Đây là lần đầu tiên F-111 được đưa vào thử nghiệm thực tế chiến đấu, phương thức là: từng chiếc một bay trong đội hình cường kích F-4, cùng bổ nhào ném bom với F-4 để so sánh hiệu quả. Song qua một số trận đánh kết quả thật bi đát:

- Ngầm Khe Tang nằm trên Đường 15, qua huyện Hương Sơn, miền Tây Hà Tĩnh, là một trong những trọng điểm giao thông ác liệt trên đường vào chiến trường. Ngay sát ngầm là trận địa Đại đội 12 pháo cao xạ 85ly (Tiểu đoàn 11, Trung đoàn cao xạ 280). Hồi 10h15' sáng ngày 28-3-1968, tốp địch gồm 4 máy bay bổ nhào đánh phá ngấm, trong tốp có 3 chiếc F-4H và một chiếc kiểu mới lạ to hơn và bay nhanh hơn nên Đại đội trưởng quyết định nhằm đánh chiếc này. Cho qua các lượt F-4H lao xuống cắt bom, đến lượt chiếc máy bay lạ bổ nhào, khi trắc thủ báo địch xuống đến cự ly 2.800m thì toàn Đại đội đồng loạt nổ súng: chiếc máy bay trúng đạn trực diện liền bốc cháy rơi ngay tại chỗ. Khi xem xác nó, bộ đội ta phát hiện ra đây là chiếc máy bay kiểu F-111A. Chiến công này được báo ngay lên Quân chủng phòng không. Đây là chiếc F-111 đầu tiên bị bắn rơi trên chiến trường Đông Dương.

- Hai ngày sau, chiều 30-3 một chiếc nữa bị bắn rơi ở Hà Tây. Và 3 tuần sau, vào sáng 21-4 thêm một chiếc thứ ba bị bắn cháy ở Quảng Bình. Như vậy một nửa trong số 6 chiếc đưa vào chiến đấu đã bị bắn hạ trong vòng chưa đầy một tháng. Thất bại phủ đầu này làm xôn xao dư luận giới quân sự Mỹ, ba chiếc còn lại phải quay về nơi xuất phát để kiểm  tra lại.

Trong thời gian 4 năm "xuống thang chiến chiến tranh" ở miền Bắc, loại F-111 tiếp tục được hoàn chỉnh tại nơi chế tạo nó. Đến đầu năm 1972 Mỹ đã chế tạo được 307 chiếc F-111 các loại A, E, F cho KQ chiến thuật, loại F-111B cho KQ Hải quân, loại FB-111A cho KQ chiến lược có thể mang bom hạt nhân (nuclear bomber) có thể thay B-52 Pháo đài bay, loại EF-111A trinh sát điện tử đa chức năng, loại F-111C bán cho KQ Hoàng gia Úc v.v..
Khi cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai bắt đầu từ tháng 4-1972 thì đến tháng 9-1972 Mỹ lại điều động tổng cộng 48 chiếc F-111 (hai phi đoàn) từ bang Nevada vượt Thái Bình Dương sang sân bay Tăcli, bắt đầu cuộc thử nghiệm mới. Rút kinh nghiệm thất bại bốn năm về trước, KQM điều chỉnh lại nhiệm vụ nhằm tăng mức độ an toàn cho nó:

- Trên chiến trường, máy bay F-111 chỉ ném bom toạ độ như máy bay B-52. Bởi toàn bộ việc vận chuyển cơ giới trên đường giao liên của ta vào ban đêm, nên KQM cải tiến từ máy bay vận tải thành các loại cường kích đêm AC-119, AC-130, các loại này có thiết bị phát hiện bằng tia hồng ngoại, gắn pháo 40ly, 105 ly và ngắm bắn bằng máy tính điện tử. Đồng thời trên những trọng điểm bến phà, cầu ngầm, dốc đèo, KQM thường xuyên ném bom toạ độ các loại nổ chậm, bom phá, bom bi, bom từ trường v.v… Đội hình ném bom toạ độ bằng máy bay B-52 cồng kềnh: mỗi phi vụ gồm "3 chiếc B-52 + 4 chiếc F-4 tiêm kích", dãn cách thời gian giữa các đợt trên mỗi trọng điểm được tính toán vừa đủ để công binh không kịp sửa chữa nhằm kéo dài ách tắc. Có những trọng điểm nổi tiếng ác liệt bởi bom đánh điểm kết hợp với bom toạ độ suốt 24 giờ trong ngày như cua chữ A, ngầm Ta Lê, đèo Phu La Nhích trên Đường 20 Quyết thắng mà lịch sử gọi là "bộ ba ATP" … Khi sử dụng thay thế loại B-52, các phi vụ F-111 ném bom toạ độ do sức tải nhỏ (chỉ bay đơn, mang 10 tấn bom so với tốp B-52 ba loạt 25 tấn) nên tần số xuất kích phải lớn hơn, bởi vậy có những trọng điểm suốt trong một thời gian dài cứ 15 phút lại có loạt bom ném kiểu này. Đường vào chiến trường dài hàng ngàn cây số với hàng trăm nhánh phụ luôn thay đổi từng mùa từng chiến dịch, vì vậy lực lượng cao xạ bảo vệ giao thông chỉ bố trí phân tán và nguỵ trang bí mật bất ngờ ở những địa bàn quan trọng, chỉ nổ súng khi máy bay địch uy hiếp trực tiếp pháo hoặc khi có phần tử bắn thuận lợi. Do vậy các phi vụ F-111 do bay thấp dưới 500m lại bay nhanh 800km/h nên thời cơ để xạ kích rất ngắn (<7 giây), bộ đội ta không tổ chức đánh nhằm tránh bộc lộ lực lượng, cho nên các phi vụ kiểu này thường trót lọt. Những vụ ném bom toạ độ không theo quy luật nào, có thể là do "cây nhiệt đới" (thiết bị thu phát địa chấn) kết hợp với máy bay trinh sát điện tử EC-121 chỉ điểm...

- Ở miền Bắc F-111 chỉ dùng đánh đêm như loại máy bay A-6A Kẻ đột nhập. Các phi vụ bay đêm, số ít bởi máy bay trinh sát RF -4C chụp ảnh quang học bằng đạn chớp sáng, còn phần lớn là các phi vụ ném bom do máy bay A-6A Hải quân thực hiện. Loại này bay tương đối thấp, có thiết bị dẫn đường để luồn lách địa hình nhưng vẫn bị lực lượng phòng không của ta bắn rơi nhiều, kể cả phát hiện bằng khí tài ra-đa: đêm 3/2/1966 phi công Lâm Văn Lích lái Mig-17 được Đài chỉ huy mặt đất dẫn đường đã bắn hạ liền 2 chiếc trên vùng chợ Bến tỉnh Hoà Bình; đêm 25/4/1968 tiểu đoàn 69 tên lửa (trung đoàn 275) bằng một quả đạn hạ một chiếc tại sân bay Vinh- Nghệ An vv … Những phi vụ đánh đêm tuy hiệu quả thấp (A-6A chỉ mang được 2,5 tấn bom) nhưng nó nhằm gây mệt mỏi căng thẳng cho Bộ đội Phòng không vì phải trực chiến liên tục suốt ngày đêm hàng tháng trời. Khi đưa F-111 đánh đêm, chúng bay rất thấp, luồn lách địa hình như khe núi, triền sông v.v.. nhằm gây trên màn hiện sóng ra-đa mục tiêu lẫn vào nhiễu sóng địa hình đạt vật và giảm tối đa khả năng bị phát hiện bằng mắt thường. Song thực tế, ngay từ khi địch rời sân bay hoặc tàu chiến, ta đã "quản lý mục tiêu" và báo động từng cấp cho lực lượng phòng không trên mỗi khu vực, bởi ngoài Mạng ra-đa cảnh giới Quốc gia ta còn nhiều nguồn thông tin khác... Ví dụ: Quân chủng phòng không tổ chức 12 trạm, 48 vọng gác quan sát các hoạt động máy bay địch bằng mắt thường, ống nhòm, kính quang học và  thông tin liên lạc chuyển tiếp trải rộng khắp miền Bắc và Chiến trường, hệ thống này gọi là mạng BB (bộ binh)... Ta còn có nguồn thông tin kịp thời ngay khi máy bay B-52 vừa xuất kích từ các căn cứ quân sự ở nước ngoài, trong cuộc tập kích chiến lược Tháng chạp năm 1972 toàn Quân chủng được thông báo trước 5 giờ đồng hồ ….

Sau đây là một số sự kiện máy bay F-111 trong lần thử nghiệm năm 1972:

- Ngày 28-9 KQM tăng cường thêm 12 chiếc sang sân bay Tăcli, nâng tổng số lên 48 chiếc, thì ngay trong đêm, một số chiếc trong đó thực hiện phi vụ đánh ga Yên Bái, liền bị Đại đội pháo 37 ly với tinh thần cảnh giác cao đã phát hiện, bằng phần tử máy đo xa, nổ súng kịp thời hạ một chiếc F-111E.
Choáng váng vì đòn phủ đầu, mặc dù Đài phát thanh và các báo chí của ta lập tức đưa ngay tin chiến thắng song giới quân sự Mỹ cố tình giấy kín thất bại, doạ sẽ rút giấy phép nếu tờ báo nào đăng tin này sớm trước 5 ngày vì sợ ảnh hưởng về quân sự và chính trị, đồng thời kiểm nghiệm lại toàn bộ các máy bay loại này. Sau đó Hãng AP đưa tin "… việc bất đồng đã bao quanh F.111 ngay từ khi thiết kế. Trong 6 năm hoạt động đã có 23 chiếc F-111 đã rơi, giết 17 nhân viên và 8 người nữa mất tích".

Logged
rongxanh
Thành viên
*
Bài viết: 2085

Mơ về nơi xa lắm.


« Trả lời #213 vào lúc: 02 Tháng Mười, 2008, 05:27:09 pm »

- Vào lúc 0giờ 5 phút ngày 17-10, một chiếc F-111A lạng lách quanh dãy núi Tam Đảo rồi xà xuống cắt bom đánh một mục tiêu công nghiệp. Chỉ vài giây sau liền bị cụm trận địa gồm 3 khẩu đội súng máy 12,7 ly của dân quân xã Tiền Châu huyện Yên Lãng tỉnh Vĩnh Phú bắn cháy bằng loạt điểm xạ ngắn, mỗi khẩu chỉ tiêu thụ khoảng 9 viên đạn. Nó cắm đầu xuống cánh đồng Đầm Quận bên sông Cà Lồ cách thị xã Vĩnh Yên khoảng 1km, gây nên một tiếng nổ dữ dội.

- Đêm 21-11, lúc 3h dân quân huyện Bố Trạch, Quảng Bình bắn rơi 1 chiếc bằng 15 viên đạn súng máy 12,7 ly, chiếc máy bay trúng đạn rơi ngay xuống biển.

Đặc biệt trong Cuộc tập kích chiến lược 12 ngày đêm Tháng Chạp năm 1972 ở Hà Nội (từ ngày 18 đến 30-12), cùng với B-52 pháo đài bay, loại F-111 tham gia đánh xen kẽ với tần xuất rất cao: mỗi đêm có từ 20 đến 30 lần/ chiếc. Trong chiến dịch lịch sử này chỉ trong 4 ngày đã có 5 chiếc F-111 bị hạ. Sau đây là một số trận điển hình:

- Lúc 19h45' tối ngày 20-12, khẩu đội tự vệ của nông trường tỉnh Hà Tây, với một khẩu súng máy cao xạ 14,5 ly loại 4 nòng, chiến đấu độc lập, phát hiện một chiếc F-111 đang bay lắt léo qua yên ngựa một trái núi. Đêm sáng trăng nên mục tiêu trông rõ. Bằng một điểm xạ ngắn tiêu thụ 44 viên đạn, chiếc máy bay trúng nhiều viên đạn, gãy lìa đoạn đầu, phần thân rơi xuống khu rừng già. Do nó đã ném  bom xong nên hai cánh lớn ở trạng thái đã xếp vào thân.

- Chiều ngày 22-12, nhận định đường bay F-111 sẽ vào Hà Nội qua khu vực phà Khuyến Lương, Ban chỉ huy quân sự địa phương tăng cường hoả lực chiến đấu tại trận địa bãi cát Vân Đồn, gồm 5 khẩu súng máy 14,5 ly do tự vệ của 3 nhà máy cùng trực chiến. Phương án tác chiến như vật chuẩn, đường bay, tầm, hướng được chuẩn bị sẵn, trận địa được nối thông tin với cấp trên. Lúc 19h15', phát hiện trên nền trời tối chiếc máy bay địch bay rất thấp đang vào, một số khẩu lập tức nổ súng. Chiếc máy bay trúng đạn, cố gượng đến huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình thì rơi. Đây là chiếc F-111 cuối cùng bị bắn rơi trên chiến trường Đông Dương.

Cũng trong tháng Chạp năm 1972, khi được hỏi về loại máy bay F-111, một phi công lái F-4 trong Trại giam Hoả Lò bộc bạch: với các phi vụ TFX (Tactical Fighter Experimental: thí nghiệm máy bay chiến đấu chiến thuật-chiến lược) trên F-111, khi bay với vận tốc 800km/h ở độ cao dưới 200m là rất nguy hiểm, bởi chỉ trong vòng 5 giây đồng hồ phải xà xuống thấp để trút hết bom, tải trọng bị giảm đột ngột nên gây mất ổn định, dễ bị tai nạn. Lái F-4 ở độ cao 2km gặp sự cố còn nhảy dù được, chứ bay quá thấp khó mở dù để sống sót...

Để chế tạo một kiểu máy bay mới, các tổ hợp công nghiệp quân sự Mỹ phải cần từ 3 đến 5 năm thiết kế, từ khi đặt hàng đến khi cất cánh phải mất thêm 2 năm nữa. Giá thành một chiếc F-105D là 1,5 triệu đô-la, loại F-4H là 3,2 triệu đô-la, loại B-52G là 9 triệu đô-la, loại F-111A là 15 triệu đô-la, cao nhất các loại máy bay lúc đó. Ngoài ra để đào tạo huấn luyện một phi công chiến đấu cần 3 năm với chi phí hàng chục vạn đô-la… Song phải đưa nó vào thực tế chiến đấu mới bộc lộ rõ ưu nhược điểm của nó. Trong chiến tranh Việt Nam đã từng có 16 loại máy bay gồm 47 kiểu do 20 hãng công nghiệp Mỹ sản xuất đã bị hạ; trên miền Bắc trong hai cuộc chiến tranh phá hoại đã có 4.330 chiếc bị bắn rơi, chiếc thứ 4.000 lại chính là chiếc F-111A rơi ở Vĩnh Phú.

Lực lượng không quân thuộc Hải quân Mỹ (NAVY) mặc dù đã từng tham gia thử nghiệm nhưng từ chối đưa kiểu máy bay mới này vào sử dụng, bởi một số vụ tai nạn lớn xảy ra trên tàu sân bay là do những chiếc máy bay cường kích gây ra. Ví dụ một số vụ ở Hạm đội 7 đậu trên Vịnh Bắc Bộ: ngày 29-7-1967 tàu sân bay Forreston phát nổ từ khoang chứa máy bay làm 134 lính Mỹ chết và 21 máy bay thiêu huỷ; đêm 25-10-1972 chiếc máy bay A-6A "Kẻ đột nhập" sau khi ném bom về hạ cánh sai quy cách xuống tàu sân bay Midwey đã gây nổ lớn làm 27 línhMỹ chết, mất tích, bị thương, đồng thời phá huỷ thêm 2 chiếc A-6A, 3 chiếc F-4B Con ma; 4 chiếc A-7A Cướp biển nữa. Các sân bay trên đất liền cũng có nhiều tai nạn, nhưng không tổn thất lớn như vậy.

Sau một loạt chiếc F-111 bị hạ, ngày 9-10-1972 Hãng thông tấn AP đưa tin: Tiểu ban thượng nghị viện Mỹ tuyên bố rằng cuộc thử nghiệm máy bay F-111 là một thất bại lớn.

Sau chiến tranh Việt Nam, loại F-111 được chế tạo thêm một số kiểu, chúng được đặt các tên riêng là Raven (Con quạ), Aardvark (Lợn đất)vv..., tổng số có 554 chiếc F-111 được chế tạo. Năm 1998 KQM ngừng bay loại này.

Câu hỏi 9:
Với bộ đội đặc công nước Rừng Sác, ba kẻ thù nguy hiểm nhất là: kẻ địch, sông to, và gì nữa ?

Trả lời câu hỏi 9:
Cuốn "Lịch sử Trung đoàn 10 Rừng Sác anh hùng (1966-2006)", Nxb QĐND 2008, cho rằng ba kẻ thù nguy hiểm nhất của bộ đội đặc công nước là "kẻ thù, sông to, cá sấu". Cuốn sách dành hẳn một phần nói về tổn thất về người do cá sấu sông Lòng Tàu gây ra, bộ đội ta từng mở chiến dịch tiêu diệt loài cá hung dữ này. Có con dài vài mét, nặng hàng tạ, sau khi bị bắn chết, muốn kéo lên phải đánh đắm thuyền, vần vào lòng thuyền rồi tát nước ra, xẻ thịt ra phân phối cả cho cả đơn vị. Có con mổ ra trong dạ dày còn tóc người. Ngoài ra bộ đội còn truy tìm tìm trứng ăn thay thực phẩm (trứng cá sấu to như trứng vịt, đun mãi mà màu vẫn trong lỏng sền sệt), săn lùng đàn cá con để kho, bẫy bằng vịt gài bộc phá vv...

Câu hỏi 10:
Súng tiểu liên AK-47 đã bắn rơi máy bay ném bom B-57 của Mỹ bao giờ chưa ?

Trả lời câu hỏi 10:
Trong cuốn sách: Trung đoàn 280-Những chặng đường chiến đấu (Đoàn pháo cao xạ Hồng Lĩnh Quân chủng Phòng không)  - Nhà xuất bản: Quân đội Nhân dân - Năm xuất bản: 1989 có đoạn như sau:
Dạo đó, Ban hậu cần có trồng một rẫy sắn ở xã Hồng Sơn. Sắn mới làm củ non, lợn rừng đã kéo nhau từng đàn ra ủi, phá. Vì thế đêm nào thượng sĩ Hoàng Văn Dung cũng phải đi canh rẫy. Lên rẫy bao giờ Dung cũng mang theo một khẩu AK đầy ắp đạn. Và anh thường nói đùa với anh em trong ban:
“Hễ nghe súng nổ, các anh cử người lên rẫy khênh lợn lòi về ăn thịt”.
Hôm ấy là một đêm trăng rằm. Trăng đẹp và sáng tới mức Dung không sao ngủ được. Tuy biết lợn rừng không mấy khi đi sục sạo trong đêm trăng thế này nhưng Dung vẫn khoác súng lên rẫy.
Đang dạo quanh rẫy sắn. Dũng bỗng nghe tiếng bom bi nổ ran ngoài bến phà Xuân Sơn. Rồi một chiếc B57 “bò” sát ngọn cây, bay thẳng về phía Dung. Chiếc máy bay là thấp quá, trông lù lù như cánh phản. Lập tức Dung đứng dạng chân thủ thế và tỳ chắc súng vào vai kéo một điểm xạ dài. Chiếc B57 bay qua, quạt gió mát rượi trên đầu Dung. Nhưng Dung nhìn theo mãi chẳng thấy nó ngóc đầu lên ở hướng nào cả. Sáng hôm sau, trinh sát nhìn thấy xác chiếc B57 trong một bìa rừng. Cánh và nụng nó lỗ chỗ vết đạn súng bộ binh.
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=948.10
Logged
rongxanh
Thành viên
*
Bài viết: 2085

Mơ về nơi xa lắm.


« Trả lời #214 vào lúc: 02 Tháng Mười, 2008, 05:31:26 pm »

Nếu nhìn được, không cần chỉnh sửa thêm về màu sắc, co chữ ... thì nhờ bác mod nào move mấy cái đó lên đầu trang và bổ sung vào tên topic phần câu trả lời ở trang 1 cho tiện theo dõi!
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #215 vào lúc: 02 Tháng Mười, 2008, 08:49:01 pm »

daibangden: Bác nào có bài này cho em xin! Em cảm ơn!
-------------
Theo tớ biết thì hiện giờ chưa có CD. Nếu Bạn nào có xin thông báo.
Còn bạn muốn sưu tầm Bản nhạc in thì có thể tìm ở Cửa hàng Sách, tớ đã thấy một lần rồi.
Em không ở Việt Nam, em là em cần để bổ xung vào cái kho nhạc của em, cũng là của Box Văn công nhà em bác ạ Grin.
 Dù sao cũng chân thành cảm ơn bác!
Logged
anhkhoi
Thành viên
*
Bài viết: 311


« Trả lời #216 vào lúc: 02 Tháng Mười, 2008, 09:43:38 pm »

daibangden: Bác nào có bài này cho em xin! Em cảm ơn!
-------------
Theo tớ biết thì hiện giờ chưa có CD. Nếu Bạn nào có xin thông báo.
Còn bạn muốn sưu tầm Bản nhạc in thì có thể tìm ở Cửa hàng Sách, tớ đã thấy một lần rồi.
Em không ở Việt Nam, em là em cần để bổ xung vào cái kho nhạc của em, cũng là của Box Văn công nhà em bác ạ Grin.
 Dù sao cũng chân thành cảm ơn bác!

Em đã PM cho cụ Tô Hải để xin phép copy bản hợp xướng, theo nội dung trên blog thì cụ đã chép ra file, lúc nào có kết quả sẽ báo cáo với các bác.
Logged
tuaans
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 3774


« Trả lời #217 vào lúc: 02 Tháng Mười, 2008, 09:50:23 pm »

Đúng ra thì em không tham gia box của bác trucdang, nhưng qua cách thu gom các câu hỏi của bác, cách bác xác nhận câu nào đúng câu nào sai thì nhà em xin tuyên bố em sẽ tham gia ít nhất 1 câu!   Grin

Kiếm thức hồi giờ copy trên mạng để làm gì? Để đem so với kiến thứcc trong sách! Vô lý nhỉ?
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Mười, 2008, 09:52:24 pm gửi bởi tuaans » Logged
LeDuyYenLan
Thành viên
*
Bài viết: 41



« Trả lời #218 vào lúc: 03 Tháng Mười, 2008, 08:02:48 am »


Câu hỏi 16: "Lời tuyên bố bỏ cuộc của Mc Namara" là thế nào ?

Câu hỏi 18: Hãy kể những trường hợp mà chỉ một quả tên lửa phòng không CA-75 (còn gọi là SAM-2, Đờ-vi-na) bắn rơi 2 máy bay Mỹ ?
Trả lời câu 16: Câu này khó quá. Nhưng có phải là Kế hoạch Mc.Namara bị phá sản không bác trucdang ?
 Kế hoạch Mc.Namara được tổng thống Mỹ Johnson thông qua tháng 12.1964 nhằm đưa chiến tranh ra miền bắc Việt Nam, dự định thực hiện vào giữa năm 1965. Mỹ đã huy động vào cuộc chiến tranh này một lực lượng không quân và hải quân rất lớn, gồm hàng ngàn máy bay tối tân thuộc 50 loại khác nhau, kể cả những loại mới nhất như B52, F.111 với các vũ khí hiện đại...
 Nhưng trong hơn 4 năm ( từ 5/8/1964 đến 1/11/1968 ) quân và dân miền Bắc đã bắn rơi và bắn cháy 3.234 máy bay Mỹ ( trong đó có 6 chiếc B52, 3 chiếc F.111), diệt và bắt sống hàng nghìn giặc lái Mỹ, bắn chìm và bắn bị thương 143 tàu chiến và tàu biệt kích của chúng. Do bị thất bại nặng nề ở cả hai miền, Mỹ buộc tuyên bố ném bom hạn chế miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở vào, kể từ 31.3.1968 và ngừng hoàn toàn ném bom bắn phá miền Bắc từ 01.11.1968.( Trước đó, năm 1965, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ Mc.Namara đã báo cáo trước Nhà Trắng và Quốc hội Mỹ: Quân lực VNCH ( ngụy quân) đã không còn đủ sức chiến đấu, chế độ Sài Gòn đã thất bại ).

Trả lời câu 18: Một trong số những trường hợp đó là: chiến công của bộ đội tên lửa trong các ngày 7 và 8/3/1966: chỉ một quả tên lửa hạ 2 máy bay Mỹ.

Nhắc thành viên LeDuyYenLan: Diễn đàn có chức năng sửa bài viết, bạn không cần phải gửi bài mới đính chính!

« Sửa lần cuối: 03 Tháng Mười, 2008, 09:04:38 am gửi bởi DepTraiDeu » Logged

...Anh không ngủ phải vì em đang nhớ
Một trời sao rực cháy giữa đôi ta
Em nhắm mắt cho lòng anh lặng sóng
Cho sao trời yên rụng một đêm hoa...
LeDuyYenLan
Thành viên
*
Bài viết: 41



« Trả lời #219 vào lúc: 03 Tháng Mười, 2008, 10:00:26 am »

 Cảm ơn bạn. Nhờ bạn hướng dẫn thêm. Mình chưa biết dùng chức năng này.

Bổ sung trả lời câu 18:
Ngày 3 tháng 4 năm 1972, tại trận địa Mễ Tre, tiểu đoàn 64 ( đoàn Tên lửa Sông Đà ) đánh liên tiếp 4 trận, bắn rơi 3 máy bay Mĩ. Lúc 15 giờ 10 phút, tiểu đoàn bắn rơi 1 máy bay trinh sát OV10 bằng một qủa đạn, Tiểu đoàn trưởng bàn với Chính trị viên và kíp chiến đấu tiếp tục dùng một qủa đạn trong một trận đánh. Thông thường một lần phóng phải đánh liên tiếp hai hoặc ba quả đạn. Bước vào chiến dịch việc sản xuất, vận chuyển, nạp đạn rất khó khăn. Chính vì vậy cần hết sức tiết kiệm. Chủ trương của tiểu đoàn được anh em ủng hộ. Hồi 15 giờ 40 phút và 16 giờ 18 phút, tiểu đoàn 64 đánh hai trận, mỗi trận phóng một quả đạn diệt hai máy bay F4. ( Theo Lịch sử Trung đoàn tên lửa 236- Đoàn Tên lửa Sông Đà- quansuvn.net)
Logged

...Anh không ngủ phải vì em đang nhớ
Một trời sao rực cháy giữa đôi ta
Em nhắm mắt cho lòng anh lặng sóng
Cho sao trời yên rụng một đêm hoa...
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM