Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 03:27:34 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những hòn cuội nhặt dọc đường  (Đọc 47766 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
lixeta
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1531


« Trả lời #40 vào lúc: 27 Tháng Chín, 2013, 07:23:12 am »

CHUYỆN KỂ CỦA NGƯỜI LÍNH GẶP Ở BINH TRẠM

Trong kiếp trần ai ngắn ngủi , chúng ta gặp vô vàn con người, đủ các sắc tộc, già trẻ gái trai, cả những người ở lực lượng đối phương… được chứng kiến bao cảnh đời trôi nổi phù du. Chính điều đó làm nên sự sinh động của cuộc sống. Trong câu chuyện tôi kể ở đây không nằm ngoài chủ đích đó… Kể ra cũng chả để làm gì ngoài việc ôn lại và chia sẻ những tháng ngày đói khát mà trong sáng, những kỷ niệm khốc liệt, những bờ khe, ngọn suối, cánh rừng, đêm trắng… của một thời hào hùng, mãi mãi không bao giờ trở lại.

Trong cuộc hành quân vào nam ra bắc , tất cả các cán binh quân đội ta những ai có dịp ra Hà Nội, thủ đô của cuộc kháng chiến, cũng đều biết trạm 66. Đó là nơi dừng chân, là nơi tốt nhất để nạp lại năng lượng, sức khỏe, hỏi thăm mọi thông tin về cuộc chiến, là nơi có thể nhờ vả nhiều việc kể cả gửi thư tình… Bởi lẽ, hàng trăm con người, đủ cả cấp bậc, thành phần, đến từ mọi mặt trận, thuộc đủ mọi quân binh chủng… đều dồn về đây. Rồi cũng từ đây, họ lại về thăm lại gia đình trên các miền quê châu thổ, hoặc lại từ đây, họ sẽ vào lại chiến trường B, C, K…Tôi đã gặp anh tại đây, binh trạm 66. Khi tôi cùng đoàn công tác binh chủng vào lại chiến trường, còn anh thì vừa từ chiến trường ra.

Lúc tôi để chiếc ba lô lên chốc cái tủ con đầu giường, thì giường bên đã có người nằm. Anh ta đang hí hoáy vẽ gì đó trên trang đầu của một cuốn sổ tay mới tinh. Tôi liếc nhìn, hai con bồ câu hôn nhau lồng trong một trái tim màu hồng... Nét vẽ thiện nghệ, cái bút chì đầu xanh đầu đỏ được anh ta xoay đảo liên tục. Lát sau, anh dừng bút. Nhìn thấy cái kèn Armônica tôi dắt ở con cóc lộ ra, mắt anh sáng lên, bắt chuyện liền, anh hỏi tôi: Chú sắp vô chiến trường à? Vùng nào vậy?... (Tôi tức cười biết ngay tay này là lính sinh viên ở một trường đại học nào đó)… Bạn hãy nghe tôi dài dòng một chút. Thoạt kỳ thủy là ở lớp tôi, cái lớp Văn hóa quần chúng tập trung đủ thành phần, đủ lứa tuổi, trong đó có anh Vân Hải, chính anh khởi xướng gọi mọi người là “chú” xưng “cháu”, và tất nhiên mọi người cũng gọi nhau là chú và xưng cháu … Dân làng nơi Trường sơ tán mới đầu tưởng vài sinh viên có họ với nhau nhưng về sau tá hỏa cả lên vì cả trường gọi nhau như thế… cứ loạn cả lên. Gìa trẻ lớn bé tất cả đều là chú mà tất cả đều là cháu. Đến cuối 1971, đợt tổng động viên, sinh viên các trường ầm ầm nhập ngũ. Đợt tôi đi có 9 lính vào cùng tiểu đội…Tiểu đội trưởng Khiết sau một hôm phát hoảng vì lẽ ra gọi nhau bằng đồng chí thì 9 lính toàn chú chú cháu cháu. Mà cũng không đem ra đại đội kiểm điểm được vì quân lệnh không cấm gọi nhau bằng chú cháu… Chỉ có bò ra cười. Thế rồi “dịch” đó lan ra đại đội, ra tiểu đoàn, ra sư đoàn…và không ai còn biết nguồn gốc hai từ chú cháu đẻ ra từ đâu nữa…Trong chiến dịch Quảng Trị 1972 các bọ, các mạ nơi các sư đoàn sinh viên đóng quân phải nói: “Quân giải phóng họ hàng đông hè, chả trách thương yêu đùm bọc nhau, mà sao toàn chú với cháu hè, không thấy bác hay anh em hè?”. Hôm nọ đọc báo Văn nghệ Trẻ có đăng bài “Một giờ trước và sau khi ký hiệp định Pa ri ” của nhà văn Nguyễn Thế Tường, lính xe tăng, nguyên là sinh viên đại học tổng hợp văn nhập ngũ, kể về trận đấu tăng ở Cửa Việt mà anh tham gia. Tôi xúc động khi đọc đến đoạn khi Tường sờ lên đầu thấy ướt sũng như ngày bé tắm mưa, hóa ra đầu đầy máu, lại xúc động hơn khi trưởng xe Hoa Xuân Toàn gọi: “Chú ơi, ra đi, xe trúng đạn rồi, để cháu đưa chú ra”…Thế đấy! Chuyện tôi kể có toàn thể dân làng vùng Hiệp Hòa (Hà Bắc) cũ, nơi trường sơ tán. Có 9 lính nhập ngũ cùng một ngày và chắc chắn cả chú Vân Hải làm chứng!

Bây giờ trở lại với người lính cùng phòng ở trạm 66. Thấy anh hỏi, tôi giật mình vì cái từ “chú “ đã chạy đến tận đây: “Sao chú biết cháu sắp vô ?”, “Thì nhìn hai cái ba lô biết liền à”. Tôi ngó xuống, cái ba lô của anh kế bên cháy xém, thủng lỗ chỗ, một cái chăn dù biệt động Mỹ buộc phía nắp con cóc, một cái dù pháo sáng trắng nõn lòi ra ngoài, một cái bi đông Mỹ treo toòng teng … Anh tiếp: “Nếu chú vô Quảng Trị, Do Linh, xóm 6… cho cháu gửi cuốn sổ tay này cho người thân?” Chà chà, đạn bom tan tác mà vẫn có ngay người thân rồi…Tôi hỏi: “O tên chi?” Anh trả lời: “Tên Đóa!” Tôi bảo: “Được! Chú tìm đúng người rồi đó, kỳ này cháu vào từ Do Linh tới A Sầu, nghĩa là nơi nào có bộ đội xe tăng thì cháu tới… Còn chú ra bắc nghỉ phép à? Lâu không?” Anh chần chừ: “Chuyện cháu dài lắm, chú thích thì cháu kể chú nghe”. Và sau đây là chuyện kể của người lính gặp ở binh trạm 66: “Cháu tên Lê, vốn là lính sinh viên Trường Mỹ Thuật Việt nam, nhập ngũ tháng 1 năm 1972. Sau hai tháng lăn lê bò toài ở Bỉm Sơn trong đội ngũ sư đoàn 338 quân tăng cường của Quân khu Thủ đô, chúng cháu bắt đầu rục rịch vô chiến trường hoặc phân về các binh chủng kỹ thuật. Khi đó trong sư đoàn có nhiều thầy giáo vừa rời bục giảng ở các trường đại học, nhiều nghiên cứu sinh vừa tốt nghiệp từ các nước Đông Âu về, và đặc biệt là rất nhiều sinh viên từ năm thứ nhất tới năm thứ năm đang làm bài thi tốt nghiệp, cháu ở trường hợp cuối cùng này…Tất cả mang hàm binh nhì. Rồi một số vào quân chủng Phòng không - Không quân, một số vào binh chủng Thông Tin… Riêng cháu cùng các thầy giáo và các nghiên cứu sinh vào thẳng Quảng Trị! Người ta bảo để các trí thức có dịp rèn luyện gian khổ và biết mùi bom đạn… Sau ba tháng cày lên quật xuống trong chiến dịch, đơn vị bị mấy trận B52, Quảng Trị bắt đầu “nóng” lên, bom pháo cũng tập trung dập vào khu vực Thành Cổ, buổi sáng nhận lệnh chuẩn bị vượt sông Thạch Hãn vàoThành, thì buổi chiều, lúc chúng tôi sắp bàn giao toàn bộ quân trang, từ cái áo cái quần, đến túi thêu của người thân đựng bàn chải đánh răng, đến quyển nhật ký với những lá thư nhà cho quân pháp… Chỉ còn độc cái quần cộc, một phao tự tạo và khẩu AK để qua sông thôi (Các lính còn đùa nhau bảo mặc thế này, chết xuống âm phủ chả lẽ cởi trần quần đùi yết kiến Diêm Vương…)…Thì Dương, nghiên cứu sinh từ bắc Triều Tiên về hớt hải chạy vào: Các chú ơi! Không xong rồi! Hình như lại phải chuyển quân, vừa thấy phái viên trên xuống… Chính uỷ nói, lát sẽ phổ biến… Lát sau, chính trị viên đại đội lệnh tập trung toàn bộ các thầy giáo, nghiên cứu sinh, sinh viên năm cuối các trường lại tạm thời không xuất kích, chờ lệnh mới…Với tôi, một đảng viên trẻ được kết nạp trong chiến hào thì đằng nào cũng thế thôi, số phận hoàn toàn không do mình định đoạt, nhanh quá cũng chết, chậm quá cũng chết, biết quá… cũng chết! Cuộc sống do một ma lực bí ẩn, vô hình điều khiển, hãy cứ thả mình trôi theo dòng thời gian, sống giờ nào biết giờ đó… Bởi vì ngay đêm đó, khi mà lũ bạn tôi trầm mình xuống dòng Thạch Hãn lạnh giá dưới làn hỏa pháo thì chúng tôi được lệnh quay trở lại phía bắc. Người ta giải thích ngắn gọn giống như lúc vào chiến trường là: Để bảo vệ “chất xám” của quân đội! (nói thế nào cũng được). Chỉ khác là khi ra, phải kết hợp một số công tác khác, một số anh đưa thương binh về tuyến sau bàn giao cho các trạm phẫu tiền phương, một số chuyển những tài liệu lấy được từ căn cứ địch về Bộ Tổng tham mưu, riêng tôi được giao một nhiệm vụ oái oăm, cùng một thiếu úy áp giải mười hai lính ngụy bị bắt, vượt qua sông Bến Hải, bàn giao cho Ban chỉ huy mặt trận tại Hồ Xá, Vĩnh Linh… Mới đầu tôi định kháng lệnh, nhưng thằng Dương, cái thằng qua trăm ngày nắng lửa, bị bom vùi mấy lần mà vẫn trắng hồng như con gái, bảo tôi: Chú nhận đi, ngôi sao đỏ thì phải gương mẫu chứ, vả lại qua sông bàn giao là xong, ra bắc thênh thênh! Còn gặp sự cố thì cứ bắn bỏ, toàn ác ôn… anh em mình bị bắt, tụi nó đánh gãy xương sống, có ai về được đâu! Thế là tôi nhận lời.

Viên thiếu úy, cấp trên trực tiếp và tạm thời của tôi tên Thiện, tên như lòng, anh lành và từ tâm, hơi chậm! Anh là biểu tượng của người nông dân bắc bộ, vô cùng ít nói, tôi lại hơi nhanh, láu táu hỏi thăm gia cảnh, thấy mặt anh sắt lại, lảng đi không trả lời… mãi mới nói: Chết hết rồi! Tôi sợ, không dám đụng đến vụ đó nữa! Bọn tù binh phần lớn là sỹ quan, bề ngoài tỏ ra nhã nhặn, một điều ông giải phóng, hai điều ông giải phóng, nhưng nhìn những gương mặt lỳ lợm của chúng và những ánh mắt sắc lạnh, tôi biết không đơn giản…Chúng rất kỵ anh Thiện, dường như anh chính là người bóc gan bóc ruột chúng ra vậy. Có lần anh nói với tôi: Nếu không phải vì nhiệm vụ tối cao của mặt trận, vì lợi ích và sự sống còn của chiến dịch… lũ này phải bắn bỏ hết. Tôi biết anh không nông cạn thế, có lẽ cái chết của cả nhà, sự mất mát của dân tộc những nơi anh đã qua… đã làm anh nghĩ thế. Quãng đường đi từ nơi xuất phát đến chỗ bàn giao không đầy trăm cây số mà tụi tôi đi mất mấy ngày. Leo đèo lội suối, băng rừng, bọn tù binh không quen gian khổ, trong bọn lại có thằng bị thương làm tốc độ hành quân rất chậm. Ngày thứ ba, lúc xế chiều, cả đoàn đến quãng Dốc Miếu, sắp vượt qua một con suối cạn, thì nghe ù ù tiếng B52… Đứng trước cái chết, bản năng con người lộ rõ, tôi nhìn anh Thiện, thấy anh vừa canh chừng bọn tù binh, vừa đảo mắt tìm nơi ẩn nấp… Anh quát: Tất cả chạy sang phải bờ suối, tản ra… Nhưng bọn tù binh đã mất tinh thần (chắc trước đó chúng được tuyên truyền về sức mạnh của pháo đài bay ) vài thằng hoảng loạn vùng chạy tứ tán, những đứa còn lại gào to rồi nằm mọp, có thằng vùng chạy ngược trở lại. Tình thế cực kỳ nguy cấp. Tôi đã chứng kiến hôm đi anh Thiện phải ký vào giấy cam kết bàn giao đủ quân số tù binh cho tuyến sau. Đồng chí chỉ huy mặt trận đã nhấn mạnh đây là ác ôn, rất cần khai thác để phục vụ quân báo… Giờ đây, trong tiếng nổ đinh tai, mảnh bom bay xé gió, khói lửa mịt mù, bọn tù binh chạy tung tóe. Vài tên lao về phía tả ngạn con suối, nơi có những tảng đá lớn tiếp nối với những bụi cây lúp xúp chân đồi, địa thế đó vừa tránh được bom, vừa thoát khỏi sự kiểm soát của chúng tôi, chỉ cần vọt qua quả đồi thấp là thoát…Trong khoảnh khắc ngàn cân treo sợi tóc ấy, anh Thiện lao như bay về bờ trái, nơi tiếp giáp giữa những tảng đá và bụi cây, vừa chạy vừa quát lớn: Đứng lại! không tao bắn!...Tiếng anh chìm trong tiếng bom nổ. Mặc! Vài tên đã lao thục mạng lên bờ. Anh Thiện lia một băng vào bụi cây lúp xúp, quay lại tôi và quát: Lê! Bắn đi chứ! Tôi bóp cò như một quán tính, đạn bay ràn rạt qua đầu bọn tù binh… Chính tiếng AK đã hãm bọn ngụy lại, máu loang trên dòng suối cạn… Bom tan. Chúng tôi điểm lại quân số, ba thằng chết trong bụi lúp xúp, năm thằng bị thương… Nhìn anh thất thểu xách khẩu AK đi sau lũ tù binh vừa được băng bó. Tôi thấy thương anh và cực cho cả chính mình. Chiến tranh giống như một liều thuốc thử lòng dũng cảm, độ can trường, quan điểm sống, lòng yêu nước… và cả tình yêu nữa! Đôi khi đẩy ta vào tình thế tiến thoái lưỡng nan như chúng tôi bây giờ! Để chạy thoát một tên tù binh sẽ kỷ luật, thậm chí ra tòa án binh vì hậu quả sẽ khôn lường khi hắn đã đi qua bao nhiêu là trọng điểm của quân ta. Nhưng bắn chết một tên cũng là kỷ luật vì vi phạm chính sách tù hàng binh, án sẽ là rất nặng. Khi những tia sáng cuối cùng của hoàng hôn lặn xuống cùng những làn khói sót lại của đợt bom bay lên, anh ghé tai tôi thì thầm: Để tao nhận hết, chú mày còn trẻ, lại chưa “chính thức”, có học vấn, tương lai còn dài… Mặc cho tôi phản đối muốn chia lửa cùng an ! Và thế là hôm nay quân pháp đưa chúng tôi ra đến đây, ngày mai đã “hầu tòa” rồi… chuyện của tôi chỉ có thế! Đột ngột anh lại chú cháu, chú nhớ đưa tận tay người thân của cháu nhé!

Mờ sáng , chúng tôi lên xe vào chiến trường. Tôi chỉ biết động viên anh là trong chiến tranh những chuyện như thế này chắc sẽ được xử nhẹ thôi, và hội đồng xét xử chắc cũng thấy đó là một tình huống bất khả kháng! Tôi mong có ngày chúng ta sẽ gặp lại nhau.

(còn nữa)
Logged
lixeta
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1531


« Trả lời #41 vào lúc: 27 Tháng Chín, 2013, 07:24:35 am »


CHUYỆN KỂ CỦA NGƯỜI LÍNH GẶP Ở BINH TRẠM
(tiếp)

Những tháng năm đằng đẵng chiến tranh rồi cũng đến ngày kết thúc. Tiếp theo là những tháng năm đằng đẵng của… đói! Chưa bao giờ dân tộc ta đói như thế. Người ta phải làm tất cả chỉ để lo cho… khỏi đói! Như trong một tản văn xa xưa tôi từng viết: “Thoát chết trong chiến tranh không dễ, nhưng thoát chết trong hòa bình còn khó hơn nhiều”. Tôi vẫn khoác bộ quân phục, chỉ khác là với cương vị một đại úy phụ trách một đơn vị biểu diễn. Với cương vị này, trong những đợt vào nam ra bắc, sau những hát hò, tung cờ vẫy hoa hát mừng giải phóng, đất nước trọn niềm vui… là chúng tôi tranh thủ đánh những chuyến hàng để… “cải thiện” tình hình kinh tế gia đình. Lần này, sau đợt biểu diễn, tôi ra bắc bằng tàu hỏa vì phải “ đánh ” vài con Honda theo tàu. Toa tàu sực mùi mồ hôi, hành khách nằm ngồi chật ních, có người còn mắc võng chăng ngang những hàng ghế… Hàng hóa chồng chất. Đúng là cái thời “Ra bắc nhận họ, vào nam nhận hàng ”. Sát chỗ tôi ngồi là phòng vệ sinh sặc mùi uế khí. Tàu đến ga Gà, bỗng những bao tải quăng lên rào rào, rồi vặc nhau, rồi có tiếng quát tháo, chửi thề… Ngó ra đầu toa, một bảo vệ đường sắt đang túm ngực một người đàn ông, anh ta mặc bộ quân phục cũ, vai khoác cái ba lô lộn ngược ra làm túi, đang cố lao lên tàu dù chỉ được ngồi trên cái móc xích nối các toa tàu, giữa các bao tải của mình…Trong khoảnh khắc tôi bật lên… Lê! Và lao ra cửa. Ô! Chú! Sao chú lại ở đây… Lê dường như quên phắt người bảo vệ. Có ai ngờ cái từ hài hước trong chiến tranh lại có ích trong lúc này. Bộ quân phục đại úy cùng cái từ chú cháu đã làm dịu cơn giận của người bảo vệ. Anh ta hỏi: Cháu của đồng chí à? Tôi bảo: Vâng! Xin đồng chí cho chú ấy ghé nhờ chút, lát tôi xin hậu tạ! Hai từ hậu tạ nặng như búa tạ đã kết thúc cuộc đấu! Chúng tôi ngồi ra đầu toa, nơi có hai cái móc xích chốt hai toa với nhau. Tàu lắc dữ dội, sắp qua hàng rào điện tử Măc na ma ra năm xưa… Tàu chạy qua những con suối cạn, những bụi cây lúp xúp, những tảng đá … Ký ức bật dậy trong tôi! Tôi hỏi Lê: Rồi vụ án tù binh kết thúc thế nào? Lê cười buồn: Tưởng rồi cũng như chú nói thôi, ai dè phức tạp hơn nhiều, trong chiến tranh cũng như hòa bình, hóa ra chính những kẻ nhàn rỗi chốn hậu phương lại quyết định số phận người giơ ngực hứng đạn nơi chiến trường. Thẩm phán, một trung tá dốt nát chưa hề biết mùi bom đạn kiên quyết bắt cả hai chịu kỷ luật nặng. Anh Thiện bị hạ một sao, khai trừ lưu Đảng. Cháu may được chính ủy, một người rất mê văn nghệ bảo vệ nên cuối cùng thoát… Sáu tháng sau, chi bộ mời lên nói sắp được “chính thức” và cho ba ngày phép. Khi cháu báo cáo lại với cha cháu, thì bất ngờ, ông cụ kéo ra một góc, thì thầm (dù lúc đó xung quanh không có ai): Liệu mà từ chối đi, làm chuyên môn thôi. Cháu không biết vì sao cụ lại chỉ thị như thế? Phải chăng vụ Nhân văn Giai phẩm, số phận những văn nghệ sỹ bạn cụ bị “hành quyết”… năm xưa làm cụ ngộ ra điều gì? Hay cụ thấy gì ở cái cơ chế đương thời này? Hay là nhân tình thế thái đổi thay khi đồng tiền được lên ngôi? Cái gì đã làm chấn động một cán bộ cách mạng hoạt động từ tiền khởi nghĩa, đang là ủy viên Đảng đoàn Bộ văn hóa… Cháu cũng không biết nữa, chỉ biết bố bảo thì phải nghe. Tất nhiên cháu chả dại gì nói là bố bảo thế. Cháu báo cáo với chi bộ là tôi tự thấy mình còn quá non yếu cần thử thách thêm, bí thư chi bộ rất thật, tin ngay và lại đưa cháu vào chiến trường lần thứ hai, thế là cháu lại được vào vùng đất mình gắn bó… Hết chiến tranh, cháu xin ra quân, rồi lấy vợ, rồi đẻ con, rồi đói, nhưng khủng khiếp vẫn là phải chứng kiến những bất công … Tôi lại hỏi: Sau cuộc chiến, tiếc gì nhất? Lê bảo: Chả tiếc gì! Sự nghiệp, tuổi trẻ còn chả coi ra gì nữa là. Lúc nhà không còn gì ăn, cháu đứng dạng chân giữa trời, gầm lên, ném tất huy chương vào thùng rác, bỏ luôn cơ quan, rồi chạy hàng, sống đời tự do, không ngờ gặp chú ở đây! Nếu có tiếc, chỉ tiếc cuốn sổ tay trong đó có hàng trăm ký họa, những gương mặt cuộc đời từng gặp, những địa danh sống chết từng qua, mà trong cơn giận nhất thời mất trí đã quẳng đi. Tôi bảo: Trái đất tuy bao la và mênh mông thật đấy, nhưng cũng không lớn đến nỗi như chú cháu ta tưởng đâu, mà chú có mất như thế mới biết quí những giá trị… chưa kịp vứt!

Đoàn tàu chạytrong đêm. Lê đã ngủ, ngực phanh trần trong gió, nhìn anh, tôi nhớ đến anh Thiện, lại nghĩ đến kiếp người… Sau chiến tranh, những người lính như anh chắc lại về với luống cày thôi! Có lần trò chuyện với một nhà ngoại cảm về kiếp. Ông khẳng định là có kiếp, chúng ta sống trên đời này như là để trả nợ cho kiếp trước, kể cả kiếp vợ chồng! Thế mới gọi là duyên nợ. Mọi sự giằng dịt lấy nhau, báo ân báo oán theo luật “nợ đời”. Tôi hỏi thế thì có sự liên quan gì giữa Lê và tôi ? Giữa Lê và anh Thiện? Giữa anh Thiện và những người lính đối phương? Giữa các anh và viên trung tá thẩm phán?... Nhà ngoại cảm bảo có liên quan hết, nhưng dưới cõi âm, người ta từ bi hỷ xả với nhau hơn chứ không tàn độc như trên này! Ông còn dặn tôi là đừng có ăn thịt chó nhé, chú có thấy cái tượng Địa Tạng Vương cưỡi con gì không? Đó là con chó ngao… Sau này, lúc xuống âm ty con chó ngửi thấy mùi người ăn thịt chó, nó sẽ sủa ầm lên và đừng hòng mà chết thanh thản được, nó không cho vào đâu! Theo ông, cái từ “tiền oan nghiệp chướng” là rất đúng! Và cũng theo ông, thế giới có nhiều chủ thuyết, nhiều đạo, nhưng ưu việt nhất vẫn là đạo Phật! Tinh hoa của đạo Phật ngắn gọn là diệt lòng tham, mà lòng tham lại là cội nguồn của tội ác, chủ thuyết của các đạo khác nặng nề lắm, thủ tục thì rắc rối, rườm rà gây phiền toái mệt mỏi đời thường, thậm chí chết rồi mà vẫn gây phiền toái cho người sống. Tôi bảo diệt lòng tham khó lắm, và đọc cho ông nghe bài thơ của nhà thơ Triều Dương bạn tôi (đã quá cố) làm khi vừa qua cơn trọng bệnh ngày nào: Phút cận kề cái chết/ Thấy đời là vô thường/ Lợi quyền là vô nghĩa/ Danh vọng là tai ương/ Vưà bước qua cõi chết/ Về lại giữa đời thường/ Lại đắm vào danh vọng/ Lại chìm vào tai ương! Ông cười hiền: Thế thì mới phải phấn đấu chứ, đạo Phật chân chính chỉ cần Tâm và Ý là đủ. Khi ta nghĩ về Phật, về cha mẹ, thì ngay lập tức Phật và cha mẹ đã ở bên ta. Cần gì vàng mã cầu kỳ, chú phải nhớ rằng người đã khuất tồn tại dưới dạng “khí”. Đốt lửa cháy phừng phừng lên thì khí nào trụ nổi? Tôi thắc mắc với ông về tích tại sao trong Tây du ký lúc đầu hai đại phật Anan và Cadiếp lại phát những cuốn kinh không chữ cho thầy trò Đường Tăng, chỉ đến khi nhận được chiếc bát tộ vàng mới giao kinh thật? Ông nói đó chính là chất “đời” trong đạo. Vì thế các sư vẫn phải đi khất thực, đạo và đời hòa vào nhau gjữ sự cân bằng cho cái Thiện trong cõi thế… Nhưng rõ ràng, nếu chủ thuyết nhà Phật được truyền bá thì chắc chắn sẽ nhiều hòa bình hơn! Muốn thế, mỗi người đều phải cố gắng cho cái Thiện một tý. Đạo Phật ở Việt Nam ta tiêu biểu là Thiền phái Trúc Lâm Yên tử mà Phật Hoàng Trần Nhân tông là đại diện, nó vừa uyên thâm, vừa giản dị thân thiện! Không huyền bí phức tạp như của Ấn Độ và cũng không to lớn rườm rà như ở Trung Quốc… Lúc bình thời, thanh thản tìm vui nơi núi thẳm, khi nước nhà bị ngoại xâm thì xuất chinh đánh giặc cứu nước… như Không !
Và tôi tin ông!

Rằm tháng giêng - Qúy Tỵ
Logged
lixeta
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1531


« Trả lời #42 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2013, 09:06:54 am »


TỐT MÃ DẺ CÙI

Câu ngạn ngữ này lọt lòng đã được nghe! Thực tình ngày bé chả hiểu làm sao tốt mã lại dẻ cùi? Mãi đến khi buông bỏ chốn quan trường, lao vào cái thú chơi chim cảnh mới hiểu rõ là vì sao!   

Ấy là vào quãng 1992, thấy tôi suốt ngày vẽ còng lưng, anh Bái (mộtnhà sưu tập tranh, đồ cổ nổi tiếng, tay chơi lọc lõi Hà Thành xưa) tặng cho một con Cu gáy. Thoạt nhìn đã mê ngay, nó mộc mạc, tầm cỡ vừa phải, chuyển sắc nâu cực tinh tế, nhất là lại nằm trong cái lồng bé xíu mà gọng làm bằng cả một khúc gộc tre, nắp che lồng là một cành móc gai ngoằng nghèo như tranh trừu tượng, ngoài lại phủ tý vải đỏ, khi gù xả một tràng dài “cúc cù cu, cúc cù cu, cúc cù cu…” Tiếng như đồng quê vẫy gọi, làm ta nhớ khói lam chiều, cây đa bến nước… Anh Bái bảo con này là Thổ Bầu, chưa phải là nhất, sau này phải kiếm thêm con Kim, và nhất là có được con Thổ Đồng mới đủ bộ! Nghe tin thằng em chơi chim, ông anh vợ dưới Nam Định xách lên cho con Họa Mi, quả là hay! Ông anh là võ sĩ quyền Anh kiêm tài xế lang bạt kỳ hồ, chịu chơi lắm. Lại còn cho thêm cây gỗ Lũa để treo lồng chim… Chơi thì phải chăm! Thế là phải tập hót giả tiếng chim mái ve chim đực để kích cho nó hót, rồi sau lại đi mua một con Họa mi mái ghép đôi với con Mi chiến này, cái giống Họa mi chung tình, khi đã vào đôi, chỉ con mái đó kích hót, con Mi chiến sẽ đánh tới cùng, chết thôi… Có chim này rồi lại muốn có con khác cho phong phú, tiếng hót thay đổi đi, thế là mò đến Cường Vân đồn( một tay chơi chim cự phách thời bấy giờ nhà ở cảng Vân Đồn) nài nỉ mãi mới gạ mua được con Khiếu Bạc má, lông đen nhánh, mỏ vàng, hai bên má trắng toát (vì mới chơi ai mách gì cũng nghe, nên tôi mỗi ngày cho Khiếu ta một viên dầu cá) . Thời gian đầu hót choang choác, về sau béo quay, không hót nữa (chắc bị Gút). Càng chơi càng ham, nghe đâu có giống chim lạ là háo hức tìm đến bằng được, ông bạn Huần (một thủy thủ tàu đường sông, từng lăn lộn mọi miền đất nước hai tư năm) mách cho một con Chích chòe Cau( toàn thân đen tuyền, bụng trắng toát, đặc biệt chỉ bé bằng quả cau thôi)…Rồi sau tôi lại mầy mò lên chợ Đồng xuân, nghe nói đây có nguồn chim từ Lạng Sơn về, lớ ngớ thế  nào tăm được con Bông lau( một loại Chào mào chỉ có 2 màu đen và xám, đuôi phất phơ như bông lau, tiếng hót hoang dại ghê hồn)…Cho vào cái lồng tre không chau chuốt còn nguyên cả mấu , mắt tre do một em dân tộc “đẽo”, hợp vô cùng.

Sống giữa một bầy “người” đa thanh đa sắc như thế, thế là sinh chuyện phải  chim nào lồng ấy, lồng nào coóng ấy, coóng nào cầu ấy, mỗi lồng một kiểu áo lồng khác nhau… Chích chòe Lửa thì lồng đen coóng bạc, Cu gáy thì phải coóng thủy tinh (vì lồng chật chim dễ đạp đổ coóng nước) cầu bằng cành Gạo xù xì… Họa mi thì có đôi coóng gốm long phượng Mãn Thanh, kiểu dáng kỳ quái, bản thân cái coóng đã là một họa phẩm kỳ tài vàng xanh đỏ tía rực rỡ, tỉa tót chi tiết công phu, và nhất thiết áo choàng phải bằng sa tanh đỏ thắm (Họa mi chuộng sắc đỏ, gặp màu đỏ sẽ hót mau hơn). Nhắc đến lồng, tôi không thể không kể vài chuyện sau:

Quãng năm 1995, nhân về Thành Nam chơi, ngẫu nhiên qua một con phố cổ, trong gió mùa se lạnh, một tà áo cánh nâu mỏng nhẹ lướt qua, dẫn vào một con ngõ hẹp, tường vôi long lở, thốt nhiên thấy một điểm đỏ chát chúa giữa màu xám vụn, một cái lồng chim Họa mi đung đưa trong gió, giật mình tưởng như gặp tiên, trừ hệ thống nan lồng bằng tre cật đã ngả màu vàng  suộm theo thời gian, còn lại thì từ cái móc lồng đến bộ gọng, đến ba bộ đế chân và bộ gài coóng đều… bằng bạc, được chạm trổ tinh sảo, quí phái. Cái áo lồng bằng lụa tơ tằm thêu mây ngũ sắc phảng phất nhẹ bay nửa như che bộ cửa sơn son thếp vàng, khóa cửa bằng vàng… Gõ cửa hỏi thăm, chủ nhân là một thiếu phụ cao dong dỏng, da trắng , mặt trái xoan, búi tóc to nặng  sau gáy, có đôi mắt biết nói (Tiên thật). Hỏi mua lồng, đồng ý bán, ngặt nỗi mang theo quá ít tiền, chạy vạy bà con thân quen không được, đành hẹn chủ nhân mai quay lại… Về ngay Hà nội lấy tiền, hôm sau quay lại, cảnh cũ vẫn đấy mà người xưa không còn… Hỏi những người hàng xóm, họ bảo không thấy thiếu phụ nào cả, mà cũng không biết cái lồng chim nào… Mấy hôm sau rình rập phiên chợ Viềng, hy vọng gặp lại người cõi khác nhưng bặt vô âm tín… Lòng tiếc mãi không thôi. Năm sau, nghe nói họa sỹ Vương Tử Lâm đang có con Sơn ca tuyệt chiêu nên mò đến thăm (Hà Nội bấy giờ có phong trào chơi Sơn ca, còn Chào mào, chim Khuyên bị coi là thứ cấp). Qủa danh bất hư truyền, chẳng sắc màu rực rỡ, chẳng dáng vẻ oai phong, trông bề ngoài như con Chiền chiện vàng vàng nâu nâu, cựa dài 6 cm, ngực vuông! Trên chỏm đầu vểnh tý mào, mà tiếng hót mê ly sầu thảm, họ Vương mới đầu nhất định không bán, về sau thấy lòng yêu chim tận tụy cộng với ý chí chiếm đoạt kiên cường của họ Lê nên phải đầu hàng… Khỏi nói sau khi đem về nhà, nằm cạnh chim, ngủ mà vẫn mơ thấy chim… Cái lồng Sơn ca của Vương tiên sinh không phải là xoàng, cao mét hai rộng ba mươi phân, giữa có cây nấm gỗ thị, cát vàng vừa đủ…Phủ lãnh Mỹ A…Bỗng một ngày, nghe nói ở Hồng Bàng, Hải Phòng có cha con ông đại tá quân đội về hưu chuyên làm lồng Sơn ca cao cấp, lại lặn lội, mò đến xem, quả tiếng đồn chẳng ngoa, một cái lồng chim cao ba mét rưỡi, rộng sáu mươi phân, theo lời giới thiệu của vị đại tá già thì cái lồng phải làm trong ba tháng và tịnh không có một cái nan nào phải nối, cái lồng cao thế mà lắc vào chắc như bàn thạch. Thỉnh được cái lồng “khủng” về, lại được bác đại tá biếu thêm túi cát trắng Cửa Việt (thứ cát có vừa đủ độ mặn làm tốt cho sức khỏe  Sơn ca khi dẫm lên)… Vừa chuyển Ông chúa Sơn ca sang lồng mới thì chuông báo có khách, đó là ông Vượng - Việt kiều ở Mỹ về sưu tầm tranh. Vừa thấy khách quí, con Sơn ca cất cánh bay lên từ từ như một chiếc trực thăng mini, vừa bay vừa hót réo rắt, ông Vượng sửng sốt vội rút cái Ca me ra ra quay, con chim cứ rè rè lưng chừng lồng, lúc lên lúc xuống, mãi mười lăm phút sau mới đỗ xuống nấm. Ông Vượng bảo đem về Mỹ phát lại cho bà con xem chắc lạ lắm, xứ Việt ta sao mà lắm Kỳ hoa, Dị thảo, Quái thạch, Biệt điểu thế… Nghe tin họa sỹ Lê trí Dũng có con Sơn ca Chúa, danh hài Hồng Kỳ (Nhà hát Tuổi Trẻ) là một tay chơi chim nổi tiếng Hà thành, nhất là Sơn ca, vội vàng đến thăm, kinh hãi luôn!

Ngày tháng thoi đưa, tiếng lành đồn xa… Anh Mạnh Phúc (nhà sưu tầm tranh) nghe tin đem tặng một con Bạch Yến, con chim mỏ đỏ chót, toàn thân trắng toát, chân vàng ươm, chỉ bé bằng ngón tay cái, hót như catsét thì miễn bàn, nhưng cái lồng cũng thật kỳ tài, nó bé hơn cả cái ấm giỏ, bộ chân ba mảnh tre cao mười cm mà chạm nổi tinh vi kỹ càng chi tiết toàn bộ bức tranh Đám cưới Chuột. Họa sỹ Mai Long đến chơi, nắng vừa lên, pha một ấm trà, ngồi đàm đạo trên bộ bàn ghế gỗ lũa dưới bóng cây Vọng Cách thế huyền, bên bộ ấm Gan Gà đối ẩm, đặt trên bàn cái lồng Đám cưới Chuột, con chim trắng nhỏ xíu giương cổ hót chào khách quí, thật không thể nói gì hơn! Sau này, tôi còn tăm thêm bốn chú nữa là Vân Yến (lông như mây), Hoàng Yến (lông vàng như tơ),Thanh Yến (xanh nõn chuối), Thạch Yến (lông xám như đá) thế là đủ Ngũ Hổ đại tướng quân. Nhưng từ đáy lòng, con cu gáy Thổ Đồng, con chim lạ Dẻ Cùi… cùng bao giống chim kỳ lạ xứ Việt còn ám ảnh tôi lắm, không lúc nào nguôi…

Cho đến một ngày, ngẫu nhiên gặp Tuấn, một tay chơi chim, kiêm săn chim, sau điếu thuốc, y nói ngày xưa y cũng từng có một con Thổ Đồng, sau túng tiền phải bán đi, tiếc tới giờ, y rủ tôi vào Kỳ Anh (Hà Tĩnh) săn chim, bọn tôi mang bi đông nước, bánh mì, súng săn nữa, rời quốc lộ chừng năm km, vào một làng nhỏ trên đồi, gửi ba lô đồ đạc ở nhà một lão nông, lạ cái là lão nông nhưng hình thức bên ngoài hệt một nhà giáo chốn thị thành. Bác gái còn để tóc bồng như nhân vật trong tranh của họa sỹ Tô Ngọc Vân. Lũ trẻ con xinh xắn nói giọng xứ Nghệ đặc… Hỏi ra mới biết gia đình gốc Hải Dương, cụ ông và cụ bà được phân công công tác vào Hà Tĩnh, chiến tranh bùng nổ, cơ quan đi sơ tán lên đây, hòa bình rồi thấy cảnh đẹp, người thương chất phác cần cù…Thế là ở lại luôn. Bọn tôi lấy bánh trái cho lũ trẻ ăn rồi từ biệt gia chủ vào rừng bắn chim, suốt một buổi leo đèo lội suối được dăm con cò, con le, vài con vịt trời… xách về cho gia chủ làm thịt. Tuấn bảo cái thú của đi săn là khám phá, không hẳn là kết quả … Nhìn lũ trẻ con háo hức bên nồi thịt bọn tôi cũng vui lây… Bỗng Tuấn tái hẳn mặt lại, vì như từ dưới gầm giường, như từ ngay dưới mái tranh, như từ bụi tre sau nhà, như từ tít tận cánh đồng ngoài kia, như từ ngay trên đỉnh đầu mình… một tiếng chim Cu gáy vang rền rung lên tựa tiếng chuông đồng, tựa tiếng sấm… Tôi vừa suýt thốt lên: Thổ Đồng!… Thì Tuấn bấm tôi một cái đau điếng…Vẻ ngây ngô, Tuấn làm như không để ý, sau hồi “đổ chuông” rền vang một chặp của Cu gáy, Tuấn nhẹ nhàng hỏi ông lão: Dạ con chim đó cụ mua hay bẫy được đó ạ? - Tôi đánh bẫy được đó!... Ông cụ trả lời. Suốt buổi tôi Tuấn không đả động đến con chim nữa mà chỉ hết gắp thịt cho ông lão lại chia thịt cho lũ trẻ… Sáng hôm sau, lúc thu dọn đồ đạc để về (sau khi đã chia hết bánh kẹo cho lũ trẻ và tặng ông lão cái áo…) Tuấn mới nhỏ nhẹ: Dạ! Thưa cụ, chúng con ra về không muốn gì ngoài một kỷ niệm, đó là con Cu gáy, khi về mỗi khi nghe nó gáy lại nhớ đến gia đình ta, nhưng chúng con muốn mua chứ không xin cụ, cụ thương chúng con thì để lại cho…? Tôi thấy ông cụ ngần ngừ một lát, mặt sắt lại, lát sau hỏi: Hỏi thiệt! Các chú đủ tiền mua không? Chúng tôi giật mình, không ai nghĩ tới điều này, (Tuấn từng nói đã bán con Thổ Đồng cũ với giá bốn mươi triệu)… Đang định thưa gửi thì ông lão tiếp lời: Nếu các chú không đủ tiền thì không sao, con chim vẫn ở với tôi, nhưng dứt khoát đủ tiền tôi mới bán… Hai thằng đứng như trời trồng, trong túi ngoài tiền mua vé tàu còn vài chục nghìn… Đang định tháo lui rồi tính sau (tức là sẽ lộn trở lại mua bằng được) thì ông lão lẩm nhẩm đếm trên đầu ngón tay rồi nói: Ba lăm nghìn các chú ạ! Đó chính là số tiền thóc tôi nuôi nó từ khi bẫy được, thế thôi! (Số tiền ngày đó tương đương bẩy bát phở)… Chia tay ông lão, tôi và Tuấn không dám chạy, sợ lộ! Mà nếu đi chậm, sợ ông lão thay đổi ý kiến, vì thế hai thằng dám chắc nếu đi thi Ôlimpich về đi bộ nhanh chắc đoạt Huy chương Vàng lắm!

Bây giờ ta quay lại trọng tâm bài viết, đó là chú Dẻ Cùi, ngày đó tôi hay ra Tăng bạt Hổ mua thức ăn cho chim, gần đó có nhiều “thợ săn” đem những chim bẫy được lên Hà nội bán, ngày nọ, thấy trong một cái lồng bằng gỗ hình vuông, có một con chim đẹp tuyệt, to gần bằng con quạ, đầu đen, mỏ đỏ chót,  bụng vàng thư, cánh màu xanh cô ban xen kẽ màu cánh chả, đuôi dài như đuôi phượng hoàng sặc sỡ đủ màu…Tôi hỏi: Con gì vậy? Thợ săn trả lời:  Dẻ Cùi anh ạ! Thế là tôi mua luôn, chả biết hót thế nào, cứ biết đẹp đã, hoa hậu thế, ai mà chả thích… Nhưng rồi, sau cái phút xúc động về bộ xiêm y sặc sỡ xong, là sự mệt mỏi vì nhiều phiền toái, Dẻ Cùi không biết hót chi hết, chỉ kêu kéc kéc đòi ăn, mà y rất phàm ăn, y có một bộ ruột không xoắn ốc, bởi lẽ cho y ăn một quả chuối thì lúc sau y “cho ra” nguyên xi một khối lượng chất thải như thế! Y có thể ăn mọi lúc, bất kỳ thứ gì… đặc biệt y rất thích ăn… cứt chó hay cứt lợn, sau một giờ ăn uống, toàn bộ đáy lồng đã ngập ngụa chất thải… Bạn biết đấy, mọi cái trên đời đều có giới hạn, kể cả sức chịu đựng! Sự kiên cường của tôi được đúng ba ngày! Đến ngày thứ tư, phải ra nói khó với một cửa hàng nhận nuôi giúp, coi như cho không. Hãi đến giờ!

   Thế giới loài chim cũng y như thế giới loài người! Qủa vậy!

   Công cuộc chơi chim của tôi kéo dài được hơn mười năm cho đến khi nhà nước ban bố lệnh cấm nuôi chim vì dịch cúm gia cầm H5N1… Ngày nay, mỗi khi qua hồ Ha-le, thấy hàng trăm chiếc lồng phủ vải đỏ, thấy hàng chục tay anh chị ngả ngốn dạng chân cá cược bằng những chú chim, thấy trăm ngàn chim Khuyên, Chào Mào, hình thức giống nhau, tiếng hót giống nhau, đơn điệu và nghèo nàn, thấy các chú Họa mi đánh nhau toác đầu tóe máu…Tôi phải cám ơn những Sơn ca, những Họa mi, những Chích chòe, những Cu gáy, những Bông lau…thân thiết của tôi năm xưa… cám ơn cả Dẻ Cùi nữa… Nhờ chúng mà tôi hiểu thêm con người và thấy cuộc sống thú vị hơn!

Sắp Đông chí. Nhâm Thìn 2012
Logged
lixeta
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1531


« Trả lời #43 vào lúc: 29 Tháng Chín, 2013, 07:04:09 am »


GẶP GỠ CUỐI NĂM

Bạn bảo tôi, tản văn của ông đọc có cảm giác nặng nề, hay hoài niệm, hay triết lý, hay dằn vặt, bóng gió … làm người đọc phải suy luận. Mệt! Vậy thì trong cái tản văn này nhân tiết gió mùa đông bắc về, chùm chăn ta tán phét ba cái chuyện tầm phào chủ đề ba lăng nhăng chơi… Đầu óc hoàn toàn buông thả trong  những ngày cuối năm. Tôi cam đoan đọc xong, bạn sẽ thấy yêu cuộc sống hơn!

Chủ đề tướng số, bói toán, là cái được số đông thú nhất. Nó vô thưởng vô phạt, lại giật gân, tầng lớp nào cũng … dính! Tôi cũng mê nhất đề tài này, nên đã để tâm nhiều năm mầy mò đến nó … thoạt đầu là tướng mặt, tướng tay, rồi bói bài tây, bói chén thời học sinh, đi bộ đội hôm giải phóng Sài gòn ra đường Nguyễn Huệ thấy một núi sách toàn Tử vi, tướng số, thế là bao nhiêu lương lính nướng sạch vào sách bói, vật lộn mấy chục năm chả thấy tin hơn bao nhiêu, gần đây có duyên gặp được Hà đồ Lạc thư thấy thêm yêu cuộc sống vì tính nhân văn và mức độ chính xác văn minh của nó! Ông bạn cùng cơ quan, cùng đi lính với tôi bảo: Ôi giời! bói với chả toán, cứ sống thoải mái , đỡ nặng đầu, tùy cơ ứng biến, cứ hiện sinh, biết sướng lúc này đã, có số rồi! Một câu nói chính xác và mâu thuẫn … Âý thế mà đúng!

   Năm 1971, bọn tôi bốn thằng chơi với nhau, một họa sỹ, một nhà báo , một phóng viên truyền hình, một kỹ sư … trạc tuổi nhau. Dưới trướng một nhà thơ hơn chúng tôi hẳn chục tuổi… Bọn tôi ngoài hai mươi thì lông bông không nói làm gì nhưng lần nào đến đại ca cũng được bà mẹ ông anh giục chúng tôi phải thúc ông anh thế nào chứ không thì ế mất! Ba mươi tuổi ngày ấy là gay to rồi… Ngặt nỗi, ông anh là người mê tín, rất tin Tử vi, tự học, tự xem được, lại có thầy Bảy công tác Đài truyền hình rất giỏi món này hỗ trợ… quãng nửa tháng, một tháng …Đại ca lại một lần triệu tập chúng tôi rằng mới có em này rất hay, nhưng tao đang chán vì thấy tao đến chơi em vớ vội quyển sách làm như đang đọc, tao đang phục vì sự ham sách của em thì phát hiện ra em cầm sách ngược … Lần khác lại có em nọ rất hay, con nhà gia giáo nhưng hơi gầy, sợ sau này sinh đẻ khó … lần khác nữa , đang có một em nhà ngoại ô , bản chất thật thà đáng quí quá , nhưng hơi nói ngọng … Lần khác nữa, em này thật toàn thiện toàn mỹ, được cả dáng lẫn da ,  nhưng tao để ý thấy trong lần nói chuyện đầu tiên mà nàng hai lần nhìn trộm tao … thế là tất cả ra đi . Nhưng lần nào ông anh cũng kết bằng số tử vi, rằng  sau tất cả những cái đã kể đó là sự xung tuổi, không  can, chi, thì  ngũ hành bị khắc, sợ lấy nhau cãi nhau cả ngày không thì một người phải … ra đi ! Nghe mà khiếp! Bọn tôi vì thế cũng tranh cãi ỏm tỏi , lần nào cũng bị mắng là lũ nứt mắt chả có kinh nghiệm yêu đương gì , thế là tịt ! Nhưng lâu lâu không thấy ông anh triệu tập cũng buồn … Rồi mỗi thằng đi một ngả , tôi vào bộ đội cùng Từ Ngọc Bình , Trường Phước vào Đài truyền hình, Trần Hiển đi học Hung ga ri …Thế là tan đám, ra đi mà bổi hổi bồi hồi thỉnh thoảng vẫn hỏi thăm nhau về đại ca, được biết là vẫn chưa có gì mà bà cụ thì ngày một còm cõi đi vì ông con trai độc cứ án binh bất động !

   Những năm chiến tranh có cảm giác dài hơn bình thường , thằng nào cũng đói, kết thúc chiến tranh là lần lượt lấy vợ, đẻ con, gặp nhau hỏi đại ca thế nào rồi? Vẫn chưa ! he he … Rồi bất đồ nhận được thiếp mời cưới của đại ca, mừng hú! Tối vể hì hục tra sách Tử vi , thầm nghĩ đại ca chọn kỹ thế chắc là …  Rồi ngã ngửa khi thấy số hai người… đại xung ! Nghĩa là xung từ can, chi, cho đến ngũ hành , cho đến  đông , tây trạch , cho đến hướng … xung tất!

Nhiều năm nữa lại qua đi, con cái cả lũ lớn tướng, gia đình thằng nào cũng trải qua những thăng trầm như hàng vạn gia đình Việt Nam khác … nhưng gia đình đại ca là yên nhất, người đàn bà của đại ca hiền thục, chịu khó, lo toan, nuôi dạy con cái chu đáo, khi đại ca trọng bệnh, tuổi già, lại chính người đó ngược xuôi, chăm sóc nâng giấc từng ly từng tý… Đấy là một sự thật, nhiều người biết. Ông bạn cùng cơ quan hóa đúng… Thật! Bói với chả toán!

Đến đây ta sẽ đặt một câu hỏi vậy có nên đọc sách và tin vào tướng số nữa không ? Tôi thấy vẫn  rất nên! Miễn đừng tin nhảm, miễn là mình biết lọc ra điều gì đáng tin và tin bao nhiêu phần trăm của từng cuốn sách. Rồi qua thử nghiệm lại tìm ra mỗi cuốn sách có cái hay riêng về mặt nào …Thí dụ Tử vi mạnh ở mặt nào và ngược lại? Hà Lạc mạnh, yếu ra sao? Mai hoa nên sử dụng cái gì là đắc dụng nhất? Bói bằng đồng xu dễ linh trường hợp nào? Bói bằng vật ứng dụng bất kỳ lợi điểm về gì? Khi mình đã đam mê và tin tưởng thì linh lắm! Khi bói và xem bói rất cần sự thành tâm, nhưng lại tối kỵ sự mông muội…  rất nhiều người mê muội tin vớ tin vẩn là đất sống cho lũ thầy rởm tung hoành. Tôi rất ngạc nhiên khi rất nhiều người tới nay vẫn khư khư quyển Lịch Vạn sự  bìa màu vàng chanh khổ 13 x19 , đặc điểm sách đó là không có nhà xuất bản, tức là in lậu, tức là rất không đáng tin … thế nhưng nó lại là cuốn sách bán chạy nhất ! Chỉ cần mở ra đã có thể xem ngày hôm nay nên làm gì, không nên làm gì, năm nào cũng giống năm nào, thực ra sách đó rất hợp với dân chợ búa, văn hóa lùn … ngày Ly sàng thì xui con nhà người ta cưới, ngày Thổ cấm thì bảo người ta động thổ, ngày Thiên cương bảo người ta xuất hành, ấy thế mà thiên hạ tin sái cổ, kể cả những anh vẫn tỏ ra hiểu biết…

Hôm qua thôi, xem truyền hình chương trình nói thẳng nói thật thấy một nữ tiến sỹ phê bình văn học nói khơi khơi rằng viết văn là phải có tài, ở ta nhiều anh không có tài cũng đòi viết văn (nói chung là làm văn nghệ). Tôi cũng tán thành điều đó thời tôi chưa đọc Kinh Dịch và Lý số nói chung, nói như chị cũng giống như bảo áo phò mã đẹp thôi, và nói như chị còn có nghĩa tao đây là ngươi tài giỏi, vì có tài giỏi thì mới có quyền chê người khác kém tài …Tôi nghĩ chị là Tiến sỹ chắc phải đọc nhiều sách, thiên kinh vạn quyển nhưng sách Lý số chắc… ít đọc! Vì người đọc sách đó sẽ không nghĩ thế , họ sẽ hiểu rằng nếu không có Ác thì không cóThiện, không có màu đen thì không có trắng , không có bất tài thì không có người tài, chính nhờ cái bọn chị gọi là bất tài ấy mà những người tài được nổi lên khi làm phép so sánh các mối tương quan, tương hỗ, và cái lũ người chị cho là tài ấy sẽ chả là cái đinh gì khi so với người tài thế giới… Ông bạn cùng cơ quan với tôi cũng thế thôi, ông cứ chửi tạt sườn cả đống nghệ sỹ nước nhà đi, và khi chửi ông có cái cảm giác ta  tài hơn chúng nó vì ta chửi được chúng nó! Một thứ AQ An nam , ông ca ngợi danh họa thế giới (nãng mạn ) hơn nghệ sỹ ở ta … Ông tự huyễn hoặc mình ta là Thượng đế (đã có  lần tôi thử cảm giác đó, bay bổng thật, như phê ma túy ). Nhưng đọc Dịch rồi thấy quá đương nhiên, không có những người loại ông thì người hay người giỏi lấy gì mà so sánh để nổi lên? Tể tướng Lưu gù đã từng nói: “Không có 360 nghề bất thành thế giới”… Tể tướng nói đúng, hót cứt là một nghề hạ đẳng nhưng nếu không có người hót, cứt sẽ ngập đầu nhân loại! Trong đó có chị, có anh, và cả tôi!  Thế thôi! Chắc chắn anh, chị chìm trong bể cứt thì chẳng dễ chịu  đâu! Đừng vội khinh nghề hót cứt!

   Bây giờ ta chuyển đề tài khác về sự chết! Vẫn vui! Vì có chết mới có sống! Mà cuối năm bàn về sự chết để năm mới sự sống trỗi dậy, quá nên! Hôm nay 18 tháng 11 năm 2012 tôi được mời dự cuộc gặp gỡ với cựu sinh viên lớp đầu tiên hệ 7 năm khi các anh cho ra đời cuốn sách với tiêu đề 50 năm ký ức tranh tượng. Ta sẽ bàn đến cuốn sách với một bài riêng đàng hoàng … Nhưng bài này  khi ngồi giữa các thầy, các bạn 51 năm trước từng chung sống … tôi nhớ đến những thằng một thời tắm sông Cầu, một thời đá bóng tới đêm, một thời ăn cục mỳ luộc không người lái, một thời dắt díu nhau theo các thầy đi thực tập dưới bom đạn mà vẫn ngông nghênh hát vang, học trò mới 16 , 17… mà thầy giáo chưa đến 30 …Thế rồi, lên đường nhập ngũ, 30 tháng 4 một số không trở về!

   Đầu tiên phải kể đến Vũ Quang Long, học sinh hệ 7 năm 1, anh nhập ngũ 1966, chiến đấu 4 năm tại mặt trận Trị Thiên Huế, đạt dũng sỹ diệt Mỹ, bị thương nặng, năm 1970 ra Bắc an dưỡng và điều trị, hy sinh tại quê nhà sau một trận sốt rét ác tính, liệt sỹ! Tôi đã từng kể là anh đá bóng rất giỏi, và nóng như lửa, bạn thử nhìn ảnh mà xem, gương mặt bướng bỉnh với cái đầu cua, đôi mắt gan dạ dưới cặp lông mày đậm … kẻ viết bài này đã thay mặt đồng đội  đưa  tiễn anh về nơi an nghỉ cuối cùng tại nghĩa trang làng Phù đổng… Kế đó là Hoàng Thượng Lân, cùng lớp . Anh nhập ngũ 1966, chiến đấu tại vùng giới tuyến Quảng trị, cơm Bắc, giặc Nam … tham gia nhiều trận đánh ác liệt với Mỹ Ngụy, đạt dũng sỹ diệt Mỹ… Kẻ viết bài này từng gặp anh trong chiến hào Vĩnh Chấp năm 1969 khi vừa đi trận về với bàn tay cụt ngón cái … Sau nhiều chiến công, anh được ra Bắc học, tiếc thay, anh đã hy sinh khi vượt sông Sê Băng Hiên dưới làn bom B52 …Tiếp đó là Hoàng Tích Minh, học sinh hệ 7 năm năm thứ 2, nhập ngũ tháng 9 năm 1971, sau 2 tháng luyện quân tại Hà bắc đoàn tàu chở quân vô Quảng trị chạy qua ga Hàng Cỏ, tàu dừng ít phút anh không thể bay về nhà dù nhà anh ở phố Sinh Từ gần đó. Ném xuống đường 1 lá thư tạm biệt, một người dân từ tâm đã cầm ngay lá thư đó về cho họa sỹ Hoàng Tích Chù , thân phụ anh! Khi người họa sỹ già lao ra ga Hàng Cỏ thì đoàn tàu từ từ chuyển bánh… Anh được biên chế vào Sư đoàn 325 nổi tiếng tham gia trận đánh Thành cổ lừng danh, khi rút ra Gio Linh, trong một trận công pháo ác liệt của địch mảnh pháo đã tiện đứt một chân của anh, máu ra nhiều, kiệt sức, đơn vị tan tác … anh ngồi nhìn vết thương , xỉu dần và hy sinh … Kẻ viết bài này vài ngày sau chuyển quân đến đúng chỗ xảy ra trận pháo kích và được nghe các o du kích, những người trực tiếp chôn cất anh kể lại tường tận về sự hy sinh của anh! Rồi Lê Minh Trịnh, học sinh khóa 2 hệ 7 năm người Vĩnh Mốc, được lớp mệnh danh là đô vật vùng biển , hy sinh trong chiến dịch Quảng trị 1972 . Rồi Qúach Thiện Thuật khóa 3 hệ 7 năm, rồi Lưu Phương Chính cùng khóa, các anh đều hy sinh trong chiến đấu.  Rồi Phạm Văn Học lớp7 năm 4 là bộ đội tình nguyện Lào, anh hy sinh trong một trận B52, mù hai mắt , mất máu mà chết. Lại có những cái chết oái oăm như Nguyễn Quang Việt, anh là lính trinh sát, thường vô đồn địch như cơm bữa , lần đó anh vào điều nghiên trong đồn, lúc vào như không, lúc ra không hiểu sao lại trúng mìn và anh dũng hy sinh! Còn có những cái chết đau đớn như Hồ Nia , học sinh khóa 2 hệ 7 năm. Anh là học sinh dân tộc Vân Kiều, theo chính sách không phải đi bộ đội! Nhưng anh cứ nằng nặc xung phong … 7 năm trận mạc, lập nhiều chiến công, mãi đến tháng 4 năm 1975 trong trận chiến đấu cuối cùng ở Xuân Lộc địch phải dùng ngón đòn bẩn thỉu để hạ quân ta hòng cản bước đi thần tốc, đó là bom CBU55, thứ bom hút sạch ô xy trong bán kính 2 km. Toàn bộ tiểu đoàn anh đã chết ngạt trong tư thế quân phục chỉnh tề, vũ khí trong tay!...

   Khi tôi viết những dòng cảm xúc này, không khỏi thấy hiện lên những  họa sỹ cùng hệ, được sống đến ngày nay, trong khi nên tưởng niệm những người đã khuất lại tranh thủ đánh bóng tên tuổi mình với giải nọ danh hiệu kia, những thứ chỉ để lòe bọn vô học! Nhưng tôi bình tâm được ngay khi nghĩ  bài học tương quan, không có tiểu nhân làm sao biết quân tử? Và chợt nhớ đến lời hứa đầu bài này … Nhưng không làm sao dứt khỏi dòng suy nghĩ về sự chết, bạn và tôi thử  làm một trắc nghiệm mà xem, ta chính là 8 chiến sỹ thanh niên xung phong mắc kẹt trong hang đá năm nào … Tôi cứ thắc mắc mãi ngày ấy sao không cho nổ mìn phá tung cửa hang cứu đồng đội ra? Vì đằng nào cũng chết cơ mà … Mãi gần đây lên cái hang ấy mới hiểu, cửa hang rộng 12 mét, cao 9 mét bị bịt hoàn toàn bằng đá và đất,  chỉ cần một tiếng nổ nhỏ nguy cơ sập toàn bộ trần hang, chôn sống tất cả! Vì thế mà đồng đội đành lực bất tòng tâm. Mãi sau này, hòa bình rồi mà một đại đội công binh với đầy đủ công cụ chuyên nghiệp trong tay moi móc phải hai tháng sau mới lấy được hài cốt lên…    
                        
Ta miễn bàn đến cuộc khai quật vội, tôi sẽ kể sau. Ở đây tôi muốn cùng các bạn sống với 8 người trong cơn tuyệt vọng đến hoảng loạn, thử tưởng tượng xem, nghe văng vẳng bên ngoài tiếng gọi của đồng đội,  một bức tường đá dầy đặc bít kín như dưới âm phủ, tối đen như mực, khí ô xy cạn dần, ngạt thở như có người lấy gối đè lên mặt , tất cả tuyệt vọng đến mất trí, tất cả đều đang 19, 20, người trẻ nhất 17 … Không biết cái sự ham sống mãnh liệt của các Trinh nữ và những chàng trai chưa biết nụ hôn đầu như thế nào? Mà nhiều tháng sau, nhiều năm sau, cả khi đã hết chiến tranh các lái xe vào Nam ra  Bắc qua hang 8 cô vẫn còn nghe văng vẳng tiếng kêu khóc thảm thiết, thê lương, mãnh liệt, ai oán của các vong hồn …Tôi cứ nghĩ tới cái tuyệt vọng khôn cùng ấy, cái ghê rợn ác nghiệt của sự không được chết ngay, cái nỗi lòng điên cuồng bám lấy sự sống chỉ cách vài mét đất đá ấy… Bừng tỉnh, mồ hôi đẫm người, thấy mình được sống, thì dù cho đang cơn khốn cùng quẫn bách đến đâu đi nữa ta vẫn thấy là nhỏ … Bạn thử mà xem! Nhất là ngoài kia năm mới đang đến rồi, kiểu gì thì cũng phải sống! Sống mạnh mẽ. Phải không ?

18 tháng 11 năm 2012

Logged
lixeta
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1531


« Trả lời #44 vào lúc: 30 Tháng Chín, 2013, 09:47:26 am »


SỐ MÁ VÀ CÕI KHÁC

Số má đây không hẳn là số xe máy, cũng không hẳn là sổ số kiến thiết, càng không phải số má giới giang hồ… Mà là số phận. Một đề tài nhạy cảm! Ngày xưa mà húc vào lãnh địa này đi tù như chơi, nó sẽ phạm vào tội tuyên truyền mê tín dị đoan, lừa bịp thiên hạ, nặng ngang tội hát nhạc vàng hay mặc quần ống tuýp… Bây giờ đỡ hơn! Nhất là khi chính những người bỏ tù người khác lại cầu cúng, đội bát nhang, xem bói, thậm chí lập điện thờ tại gia… nhiều nhất. Mà sợ gì, tán nhảm trong lúc trà dư tửu hậu vô thưởng vô phạt ấy mà. Chả chết ai trong cái bể tham nhũng, giết người cướp của mênh mang này!

Ông bạn tôi bảo: Học xem bói khó gì! Nhưng tôi không học vì những lẽ sau: Thứ nhất là mất thời gian, phải lăn lộn tìm thầy học bạn chứ dễ đâu. Thời gian đó để vẽ tranh kiếm sống hữu ích hơn. Thứ hai là tốn kém lắm, học thì phải mua sách chứ, mà sách tâm linh đâu có rẻ. Thứ ba là học xong, ông phải ứng dụng chứ! Mà trong khi xem cho thiên hạ (đồng thời rèn luyện kỹ năng luôn) thì nếu đúng, được dăm lời khen (ông có hành nghề xem bói lấy tiền đâu). Nếu sai (điều này là thường tình trong ứng dụng)… Ăn chửi ngay!… Mà theo tôi, mình là văn nghệ sỹ, rất cần mơ mộng, cuộc sống luôn là một bức màn bí ẩn không biết điều gì sẽ xảy ra mới thú vị chứ! Biết trước ngày mai sẽ ăn gì uống gì tồng tộc ra thì còn ra chó gì nữa? Vả lại, nghề xem bói được coi là nghề  tiết lộ thiên cơ. Ví dụ đấng tạo hóa đã có ý cân bằng âm dương khi tạo ra muôn loài. Tạo hóa sinh ra loài hươu ăn cỏ, hiền lành và đẻ hàng đàn, khả năng sẽ tràn ngập lãnh thổ… Đồng thời lại sinh ra con hổ hung dữ, ăn thịt, để hạn chế lũ hươu kia đi, nhưng lại đẻ rất ít. Một ngày nọ, hươu ta rời nơi ở thì gặp thầy bói. Thầy bảo đừng có ra khỏi rừng, qua cái cây Gù hương là hổ nó đang rình ở đó đấy! Hươu ta bèn không đi nữa. Việc hươu đực ở nhà là điều không tốt với sinh thái, vì sau đó hươu cái thụ thai, sinh ra một lũ con. Vô tình thầy bói đã làm lệch đi sự an bài của tạo hóa. Vì thế Đấng tối cao nổi giận, nói chung, những ai tiết lộ thiên cơ đều vất vả theo một nghĩa nào đó!

   Ông ấy đã nói thế thì mình còn biết cãi vào đâu nữa? Qúa chuẩn! Nhưng như tôi đã nói, mình làm gì kiếp này là có căn nguyên của kiếp trước… Kiếp trước chắc tôi có liên quan chi đó đến lý số… nên kiếp này mê lắm! Lăn lóc hết thầy này đến thầy khác, sưu tầm nhặt nhạnh hết sách nọ đến sách kia…Thế nên trong vụ này tôi chỉ còn biết cãi ông là nếu xem xong biết số phận mai này của mình rồi dõi theo xem kết quả thế nào cũng có cái thú vị của nó chứ! Vả lại, nếu biết tuy không đảo ngược được số phận thì cũng “Mũi né” được phần nào bằng cách này hay cách khác. Ba mươi năm trước, mọi người quen ỷ lại rồi, cái gì cũng đã có người chỉ đường dẫn lối, mình không phải nghĩ. Cứ nhắm mắt chấp hành là đi tới thành công! Mãi đến khi đói dài ra, làm ăn thua lỗ mới té ngửa ra là mình dốt! Lĩnh vực tâm linh đã có khoa học giải thích, khoa học không giải thích được là mê tín tất! Mãi đến khi nhờ bọn mê tín ấy mà tìm được bao nhiêu là mộ liệt sỹ, giúp cho bao người thuận buồm xuôi gió chốn đời thường, thiên hạ mới tá hỏa đua nhau đi học… Câu lạc bộ tâm linh nở như châu chấu ngày mùa, sách tướng số  nhảm nhí bán đầy phố… Chỉ cần mua một cuốn Lịch Vạn sự bìa vàng là thành thầy bói giỏi ngay! Một bà sồn sồn văn hóa lớp bốn cứ giở lịch ngày ra, tra mục nên… hay không nên là chém gió phải biết. Lũ đệ tử ngu ngốc, mê tín dị đoan cứ là há mồm ra mà bái phục!                            

Tôi có số quí nhân phù trợ nên may mắn trời dẫn đường chỉ lối gặp được những người (không dám nhận là tài giỏi) mà rất vững vàng về kiến thức, đặc biệt là rất khiêm nhường. Trước khi nói về một vấn đề gì, các đại sư cũng nói: Bể học khôn cùng, theo riêng tôi thì thế này…thế này…Trong đó có một đại sư trung vận suýt vào đội ngũ cán bộ cao cấp nhà nước, sau khi bật bãi chốn quan trường, thấu hiểu cái lẽ bạc bẽo nơi quyền quí… Mới lui về quê ở nơi thôn ổ đọc sách về lẽ đời (chắc chắn là loại Kinh Dịch, phong thủy, tướng số, Tử vi… rồi). Nhưng rừng sâu núi thẳm không tiến bộ được mới khoác tay đẫy, đeo mắm tép đặc sản quê nhà lên đô thành tu tập. Sau vài năm, ông bảo, hóa ra Thần học nói chung cũng đơn giản. Lại một đại sư khác, tuổi trẻ giang hồ, từng cầm đầu một nhóm cướp, tung hoành tuyến đường sắt Hà Nội - Hải Phòng, sau giải phóng dạt vào Bảo Lộc - Lâm Đồng làm ăn, rồi bỗng hoàn lương, vừa kiếm ăn vừa nghiên cứu Tử vi, Lý số, đến cái đoạn ông viết sách mới lạ, chả chuẩn bị gì trước, ông cắm đầu cắm cổ viết, nghĩ đâu viết đó như Trời cầm tay viết hộ, thế mà ra đời cuốn “Kinh Dịch với Nhân mệnh” xuất sắc… Rồi đại sư thứ ba, xuất thân là bộ đội chuyển ngành, rồi làm công nhân xây dựng khu gang thép Thái Nguyên, rồi trở thành nhà văn, nhà báo chuyên nghiệp… Ngẫu nhiên ngày nọ, gần nhà chuyển đến một giáo sư tâm linh học lừng danh, thế là như có duyên kiếp trước, ông học mà tới đâu sáng đó, mà chỉ chuyên về Hà đồ Lạc thư thôi, ông cũng đã ra mấy đầu sách quí rất được trọng vọng, như cuốn “Khám phá một tia sáng văn hóa phương đông” rất nổi tiếng , đọc nó, ta thấy Kinh Dịch rất gần gũi không khó hiểu, tràn đầy tinh thần lạc quan vững tin cuộc sống ngay cả lúc khốn cùng nhất! Đại sư nữa là một họa sỹ, ông dạy cho tôi sự chi chút cẩn thận trong từng động tác, sách vở ông trang bị cho tôi ghi chép sạch sẽ, đánh dấu chu đáo, bạn bè mời ông vô Sài Gòn hành nghề xem Tử vi kiếm bộn tiền ông từ chối vì mục đích xem chỉ để ngẫm sự đời mà thôi… Cả bốn đại sư đều có chung một đặc điểm là từng trải, khiêm nhường và kiêu hãnh.  Hình như sự từng trải từ trường đời lao khổ giúp họ học nhanh kiến thức tâm linh thì phải, hoặc giả là kiếp trước họ đã là thầy bói? Khiêm nhường giúp họ luôn thấy mình còn phải học thêm thì đúng rồi! Nhưng lúc họ kiêu mới thật hay! Kiêu mà vẫn nhún nhường. Có một lần, mấy đại sư rủ nhau đến một lớp đào tạo môn phong thủy, người giảng là một ông nguyên kỹ sư xây dựng nổi tiếng, có xuất bản sách về tâm linh hẳn hoi. Nghe xong, ra ngoài các đại sư bảo nhau, kiến thức như thế mà dám đi dạy, quá liều! Mà cũng không dám nói to, sợ mất lòng. Lúc ngồi với mấy ông, tôi cứ luôn day dứt một điều, bao nhiêu là tài năng, bao nhiêu là kiến thức… đúc kết từ những cuộc đời từng trải… mà tất cả rồi một ngày nào đó vẫn phải từ giã cõi đời! Phí thật!         
   
Có lần một đại sư bảo: Đọc bao nhiêu sách, tu tập qua bao nhiêu cấp, cuối cùng rút lại hóa ra  kết quả thật đơn giản, một cộng với một bằng hai! Thế nhưng để hiểu một với một bằng hai lại phải học qua một đống cấp ấy…Thế thì phải rồi, số má không chỉ là số má mà trong đó gồm cả số xe máy, sổ số kiến thiết Thủ đô, cả số má bọn giang hồ phong cho nhau… Cái gì cũng có số hết! Năm trăm năm trước, Trạng Trình  có bói một quẻ cho cái quạt của mình, quẻ rằng ngày ấy ngày nọ, giờ ấy giờ nọ cái quạt sẽ chết…Trạng Trình lạ lắm! Đến ngày giờ cái quạt từ giã cõi đời ông quyết không rời nó, xem nó chết như thế nào. Ông treo cái quạt trên đình màn, nằm dưới giường đăm đăm canh cái quạt… Về chiều, bên nhạc phụ có việc hệ trọng rất cần sự có mặt của ông, phu nhân mấy lần vào giục để mời ông ra kiệu mà không thấy hồi âm, tức giận! Bà xộc thẳng vào phòng thấy ông vẫn bình thản nằm theo dõi cái quạt, tức điên người, bà xé tan tành cái quạt…Cái quạt mà còn có số như thế, thì phỏng còn cái gì trên đời này không có số? Đến đây, những ai hay oán trách số phận là hẩm hiu, lẽ ra tôi phải được thế này… Gía như  tôi được thế kia, thì đã không phải thế nọ… Phải biết rằng chả có lẽ ra với giá như gì hết! Có thế thôi! Nó là hậu quả của một nguyên nhân, có thể từ xa lắm, từ một cõi nào đó, từ một kiếp nào đó…vô hình và hữu hình, và bây giờ mình là kẻ gánh!

Ba giờ sáng. Tôi lần mò tìm Soi.com… Số tôi (lại số) may mắn về già vẫn gặp được Internet. Tình cờ đọc được bài phê bình mỹ thuật của một họa sỹ mà tôi coi như anh từ trẻ. Hai anh em học cùng lớphồi đại học, tôi 19, còn anh 24. 24 tuổi mà anh chín chắn, hiểu biết, phàm việc gì vướng mắc tôi đều nhờ anh lý giải. Cách nói của anh giản dị, dễ hiểu, kiến thức của anh uyên bác (ngày ấy chúng tôi cứ đùa anh nói là như ông cụ). Ra trường anh làm viên chức và vẽ vời như muôn họa sỹ. Chỉ có điều sống rất âm thầm! Cuộc sống thời kinh tế thị trường càng nhốn nháo bao nhiêu anh càng âm thầm bấy nhiêu… Rồi anh mất hút trong biển đời hỗn tạp. Với tôi, dù ngụp lặn tích cực đủ vành nhưng không bao giờ tôi quên anh. Thâm tâm nghĩ rằng đời vốn như mặt nước cánh bèo, anh thì như Khuất Nguyên, đời đục ta trong… Cũng biết phong thanh anh sống một mình, nhu cầu sinh hoạt tối đơn giản, thôi thì mỗi người mỗi số (lại số) ai chịu phận nấy… Bất ngờ đọc Soi, thấy anh tương lên một loạt bài, lại bất ngờ hơn là ngoài việc đăng một bài phê bình tác phẩm của một nhà điêu khắc, còn lại hai bài anh phê bình giới phê bình mỹ thuật nước nhà. Giọng văn mạch lạc, khúc triết, vẫn châm biếm và hóm hỉnh như ngày nào. Có điều bình thản hơn… Thì ra, vẫn còn những con sóng ngầm sôi sục nơi đáy sông! Làm cuộc sống chậm lại một tý, bắt cuộc sống phải nghĩ kỹ nữa đi, phải cân nhắc lại một tý trước khi làm việc gì đi. Trong sự phê bình hài hước vẫn chứa sự nghiêm khắc! Không thể đùa!
   
Hôm sau, tôi đề cập chuyện đó với đại sư (ông Tử vi). Ông bảo đó cũng là do số thôi. Chắc chắn cung mệnh cha đó có Thạch trung ẩn ngọc. người có tài mà không gặp thời, hoặc cha đó thấy gian thần nhung nhúc, nếu xuất thế là toi nên khôn ngoan ở ẩn lánh đời! Tôi hỏi thế làm sao lại còn viết báo đăng đàn trên Soi làm gì? Ông bảo đó chính là sự cố gắng tỏa sáng của ngọc (bản chất của ngọc là tỏa sáng). Còn tỏa sáng được hay không lại do số! Thế nên nhiều sự trên đời phải cố gắng. Tôi đùa ông, bảo: Thế thì số tôi không có Thạch trung ẩn ngọc rồi ! Bởi bài thuộc lòng 108 ngôi sao đặt theo các qui luật chuyển động và ứng dụng Tứ trụ tôi học mãi không thuộc. Tôi phàn nàn với ông thế. Ông bảo phải cố lên chứ! Ở đời có nhiều việc ngoài cố gắng ra, không còn cách nào khác. Số má không bao giờ là bất biến, nó là cái khuôn để chủ thể con người nỗ lực khắc chế dù không thể đảo ngược Thiên định. Tôi cố cãi: Cố quá nhỡ thành quá cố thì sao? … Ông cười, bảo: Đúng là số anh không có Thạch trung ẩn ngọc!                                                            

20 - 3 Qúi Tỵ
Logged
lixeta
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1531


« Trả lời #45 vào lúc: 01 Tháng Mười, 2013, 07:06:09 am »


VÀI TÍCH CỔ VĂN


CÁNH TAY CON QUỈ

      Trịnh Quân, người làng Yên Định, đất Hoan châu. Tính tình gan dạ, bình sinh ghét sự bất công… Thường giữa đường thấy sự bất bằng mà tha. Quân mình hổ tay vượn,  bụng beo lưng báo, từng đánh nhau với hổ, dùng đá ném chết lợn lòi, vũ dũng không ai bằng. Mỗi khi có sự va chạm người làng thường kéo Quân đi dùng sức mạnh giải quyết, chưa bao giờ Quân từ nan…Mỗi một điều, Quân không bao giờ tin có quỉ thần!
   Hoan châu ngày đó chưa có đê điều như ngày nay, mỗi khi mùa nước lên làng quê ngập lụt trăm họ khổ sở vô cùng. Có con quỉ Dạ xoa thường lên quấy nhiễu người bản xứ …Khi thì giả dạng người lái đò đưa người qua vùng nước xoáy rồi dìm chết , ăn thịt , khi thì vào vai thiếu nữ mồi chài đám tài tử văn nhân xóm khiến họ mất hồn mất vía suốt ngày chỉ lo kèn cựa đấu đá lẫn nhau…Rồi nó thừa cơ bắt người . Dạ xoa len lỏi vào nhà này , xuất hiện ở nhà kia , thóc mách ,tọc mạch tung tin đồn nhảm kích động sự hằn thù dân làng…Làng quê náo loạn không lúc nào yên…
   Nhưng gian ngoan mấy cũng có lúc hở cơ , một lần Dạ xoa phục trong bụi rậm rình bắt người . Vô phúc cho nó , hôm đó Quân đi phát cỏ về , giữa đường ghé quán rượu làm vài hũ, say quá lăn ra ngủ vùi gốc tre làng…Đang say giấc nồng , bất đồ thấy  gió nối vù vù , mây đen sập xuống … Chàng vùng ngay dậy thì gặp ngay quỉ Dạ xoa đang cắp người , tóc tai xõa xượi , hai cánh tay vừa dài vừa to đầy móng vuốt , trên lưng đôi cánh quạt gió ầm ầm , chàng quát to một tiếng. Dạ xoa giật mình buông ngay người mà quay lại tiếp chiến với chàng. Chỉ một nhát dao quắm quỉ đã đứt lìa cánh tay , máu đen xối xả …Nó vội lao vào màn mây chạy trốn… Quân nghe thấy trên không vọng xuống … “Giữ cánh tay ta trong bẩy ngày nhé.”                                      
Trịnh Quân nhặt cánh tay quỉ về nhà , lấy cỏ Mần trầu buộc túm nó lại, treo lủng lẳng dưới mái hiên bên cái Giại trước nhà, rồi  kê chõng nằm ngay cạnh , dao quắm để bên, uống rượu tì tì, xung quanh đàn chó dữ chạy qua chạy lại sùng sục.                              
Sáu ngày trôi qua không có động tĩnh gì .
      Cả ngày thứ  bẩy trôi qua không có động tĩnh gì.
   Vào lúc nhá nhem tối , khi đã không nhìn rõ mặt người, có một bà lão ăn mày bẩn thỉu, rách rưới, xách một cái bị đến nhà Quân xin ăn…Lúc này Quân đã say bí tỉ , bà mẹ Quân động lòng trắc ẩn bèn nhốt đàn chó dữ lại. Vào xới bát cơm cho mụ ăn mày. Mụ ăn mày ngó quanh , đột nhiên rú lên lên một tiếng kinh thiên động địa rồi bay vọt lên hiên nhà, giật lấy cánh tay treo lủng lẳng trước sự bất lực của đàn chó… Quân tỉnh hẳn rượu, vớ lấy dao chém bừa...Qủi đã vọt lên không trung…trong tiếng sấm rền… Biến mất !        
Từ đó, không thấy quỉ Dạ xoa xuất hiện nữa. Xóm làng bình yên!   
Và cũng từ đó, Trịnh Quân ngộ ra rằng  ngoài cái cuộc sống hữu hình nhìn thấy hàng ngày, ngoài cái sức mạnh vũ dũng Trời cho mà sớm hay muộn nó cũng sẽ mất đi theo thời gian…; còn tồn tại một thế lực thần bí, siêu nhiên hoặc đen tối mà mắt thường không nhìn thấy được. Trước “Thế lực” bí ẩn đó, mình hổ tay vượn cũng chả là cái đinh gì!
 
Tiết  HÀN LỘ - NHÂM THÌN .


GỐC CÂY DÃ HƯƠNG 
     

Từ Kinh thành Thăng Long lên ải Bắc, vượt qua Aỉ Chi Lăng chừng bẩy cây số, mé trái đường độc đạo nằm giữa những vách núi dựng đứng, hiểm trở ta gặp một khe nước bốn mùa chảy xiết, một cây cầu gỗ vắt ngang.  Mé bên kia cầu là một ngôi đền gọi là đền Chầu Hai, nghe đồn rất thiêng. Qúa cổng đền một quãng ngắn là căn nhà gỗ nhỏ của ông lão bán na, sát mép đường, trước cửa nhà có một gốc cây Dã hương ngàn năm bị sét đánh sát gốc. Hàng ngày ông lão đặt na lên gốc cây để bán. Na của ông do thổ dân hái từ trên núi cao, cho vào sọt tre rồi chuyển xuống bằng dây rừng, ông lão mua lại và bán giá cao hơn một chút, kiếm kế sinh nhai…
 Một hôm, có một lữ khách cưỡi con ngựa gầy, chân đi hài sảo, đội cái nón Tu lờ dừng chân trước mặt ông lão, ngập ngừng.
- Ngài muốn mua na?
 Lại ngập ngừng, hồi lâu:
 - Tôi muốn mua cái gốc cây dưới sọt na của cụ?
Ông lão giật mình, cái gốc này đã nhiều lần ông định bổ ra làm củi những khi trời đông giá rét, giờ bán được tiền, tốt quá! Ông nói với lữ khách:
- Ngài trả bao nhiêu?
- Năm mươi quan?
Ông lão lại giật mình, chưa bao giờ ông có một số tiền lớn như thế. Nhưng ngay lập tức, ông nghĩ “Có điều gì bí mật đây… Phải đòi cao hơn”. Ông bảo:
- Rẻ thế, ngài nghĩ lại đi?             
- Một trăm quan?
Lần này, ông lão giả bộ khó khăn. Ông nói:
- Ngài nói thế nào ấy chứ! Cái gốc này bán cho ngài thì tôi biết để na vào đâu? Nhờ có nó mà hàng mới bán chạy đấy, trả hơn đi?
Cuộc cò kè căng thẳng rất lâu. Cuối cùng khách nói:
- Một nghìn quan? Gía chót cùng đấy, không bán cụ sẽ hối đấy!
Ông lão vẫn khăng khăng đòi hơn. Mà thực trong lòng cũng chả biết sẽ hơn là bao nhiêu thì vừa? Chỉ biết nếu bán bị hố thì tiếc! Mặc kệ! Thế nào khách cũng phải quay lại. Không bán cái gốc vẫn là của mình cơ mà…
Thế là ông lão nhất quyết không bán. Lữ khách thấy vậy bỏ đi!
Suốt mấy ngày liền, ông lão mất ăn mất ngủ tự khám phá cái điều bí mật  nằm trong gốc cây khô. Ngắm mãi, nó vẫn chỉ là gốc cây sần sùi rắn đanh, mốc meo mục nát rêu phong cổ quái nằm dưới sọt na mà thôi. Trằn trọc, ông lại nghĩ:
Hay là bán quách…Một  nghìn quan…Mình có bán na ba kiếp cũng chả để dành được số tiền lớn như thế. Nhưng chắc cái gốc phải thế nào chứ? Hôm nọ cuộc mặc cả to tiếng thế không biết có ai nghe thấy không? Rồi họ đào trộm mất thì toi.
Nghĩ thế, ông đem ngay cuốc ra cửa hì hục đào bật cái gốc cây lên, hì hục vần vào trong nhà, không yên tâm, ông lại hì hục đào một cái hố to tướng giữa nền nhà lên, chôn gốc cây xuống, kê giường lên. Bụng bảo dạ là đang nằm trên một nghìn quan chứ chả chơi. Đừng đùa với lão già này.
 Bẵng đi vài tuần, lão lại nghĩ: Mình ngày ngày vẫn phải bán na, vẫn đầu tắt mặt tối, chỉ để nằm gác cái gốc cây mục. Mà không chừng bây giờ lại làm mồi cho lũ cướp đêm thì nguy, bọn cướp sẽ cầm dao đột nhâp vào nhà, giết chết ta, thế là mất hết. Thôi! Tốt nhất là bán quách đi, lấy nghìn quan di dưỡng tuổi già, lại đỡ phải lo nơm nớp…Và lão quyết định…Bán!
 Chà chà! Nhân bảo như thần bảo. Đúng lúc đó, lữ khách quay lại.
- Tôi nghĩ rồi! Bằng lòng bán cho Ngài đấy.
- Thế cụ để nó đâu rồi?
- Tôi đã cẩn thận chôn nó dưới gầm giường nhà tôi rồi! Ngài yên tâm. Để tôi vào nhà đào nó lên nhé?
Lữ khách tá hỏa.
 - Thôi thế là hỏng hết mọi việc rồi. Cụ biết không? Ở trong cái gốc cây đó có một con Phượng Hoàng, tinh anh của cây Dã hương đúc lại từ ngàn năm. Hàng ngày nó vẫn ăn bằng cách ngửi hương na của cụ mà sống! Bây giờ cụ chôn nó xuống đất lâu thế. Chắc nó chết ngỏm rồi.
Nói đoạn, buồn bã ra về.
Ông lão sôi tiết. Đem ngay rìu bổ đôi cái gốc cây ra. Qủa nhiên trong gốc cây có một con chim Phượng Hoàng… đã chết đói!

   Lập đông - Nhâm Thìn
   


NGƯỜI THIẾP YÊU CỦA QUAN TỔNG TRẤN .

Tổng trấn Đại Tướng quân là một khai quốc công thần. Ông tài kiêm văn võ. Người đời gọi ông là nho tướng . Ông có một người thiếp yêu, người này dung mạo đoan trang , thông minh mẫn tiệp , cầm kỳ thi họa xuất chúng … Đặc biệt nàng thẩm thơ và thẩm họa thì không ai bằng! Việc quân cơ đại sự cũng giỏi, nhiều lần tham mưu cho Tổng trấn trong những tình huống gian nguy… Lại đặc biệt nữa, âm mao của Nàng dài quá gối (không biết có họ hàng gì với người thiếp của Chúa Nguyễn trong truyện của Đông Ngàn tiên sinh không?). Tổng trấn Đại tướng quân yêu lắm … Qúi hơn vàng. Nhiều lần đi trận mang theo bên mình để hỏi kế sách … Những khi uống rượu thưởng trăng bên Nàng … Đại tướng quân thường mơ khi nào thiên hạ thái bình thì xin Vua cho nghỉ hưu, sẽ đem Nàng lên một chiếc thuyền con rồi đi mất dạng trong sương mù giống người xưa …Vì với ông, Nàng là một cái gì tiêu biểu duy nhất cho sự toàn thiện toàn mỹ…Tình yêu của Quan Tổng trấn càng dạt dào sau lần tình cờ quan Thái Bốc trong triều đến đánh cờ… Đang lúc trận chiến bất phân thắng bại thì Nàng đưa thêm rượu vào… Lúc  Nàng ra ngoài rồi, Quan Thái Bốc thì thầm với Tổng trấn: Thật là Vưu vật trong thiên hạ. Người đời vốn được Tiên thiên thì hỏng Hậu thiên, hoặc ngược lại … Người này được cả. Trong ba phúc lớn Trời ban là Hóa công, Thiên nguyên khí, Địa nguyên khí chỉ cần được một đã phúc lắm rồi ... Người này được tất! Cái gì toàn vẹn quá chắc sẽ có cái vô lý của nó…? Quan Ngài có biết không?
Làm sao mà Tổng trấn Đại Tướng quân cầm trăm vạn binh mã lại không biết! Ngài chỉ tủm tỉm cười mà khen Quan Thái Bốc sao tinh thế rồi lảng sang trận cờ đang hồi kết thúc . Âý là vì Nàng có một đặc điểm và cái đặc điểm này đã làm khổ Đại Tướng quân nhiều lắm rồi… Đặc điểm đó rất chi là đàn bà: Ghen tuông và Đa nghi… Ừ thì cứ cho là như thế thì đã làm sao nào? Chán vạn đàn bà An Nam chả cũng thế sao? Nhưng thưa Thiên hạ, ở Nàng tỷ lệ đó được nhân lên mười lần, còn hơn mười lần … Tổng trấn bảo thế … he he!
Năm Tân Mão, Niên hiệu Quang Hoài thứ nhất, mùa thu .Vua xuống chỉ sai Tổng trấn dẹp loạn giặc Chân Lạp… Đại tướng quân mang theo Nàng trong quân . Quân đánh đâu thắng đấy ,  thế như chẻ tre … Lấy xong thành Rạch Gía , Đại Tướng quân thừa thắng ruổi tiếp tới đảo Hòn Tre , để thành lại cho nàng coi giữ . Hòn Tre là một hòn đảo cách thành Rạch Gía chừng 30 km , quá nửa tàn quân giặc lúc bỏ chạy trốn vào đây …Trong Tổng hành dinh Chân Lạp có một quân sư người Hoa đa mưu túc trí tên là Vương Anh …Y rất biết đặc điểm của nàng , y bèn tâu với vua Chân Lạp là Nặc Ông Đăng là phải dùng mưu thì may ra mới thoát khỏi nạn này. Theo kế hiểm thì phải như thế … như thế … Vua Chân Lạp vỗ đùi khen hay . Miệng nói lần này có một ngàn Nàng , Tổng Trấn cũng không tránh khỏi thất bại …Thế rồi hôm sau trong thành dậy lên tin đồn là Đại Tướng quân chiếm xong đảo Hòn Tre bắt được một người con gái đẹp, đang vui thú không còn thiết gì đến về thành nữa … Vừa nghe thị nữ tâu xong , thay vì cho gầm lên một tiếng hoặc nghiến răng kèn kẹt thì nàng chỉ cười rất nhạt. Lẳng lặng vào trong Hổ trướng khoác Hổ phục , đeo Hổ kiếm vào và truyền toàn quân … xuất phát ra đảo Hòn Tre trước sự ngỡ ngàng của tướng sĩ . Vừa ra khỏi thành vài cây số , quân Chân Lạp mai phục ba phía đổ ra đánh tan nát quân Đại Việt, chiếm luôn được thành … Nàng bị địch quân bắt sống và rất ngạc nhiên vì thái độ ân cần, thậm chí khúm núm của quân tướng giặc…
    Nhận được tin dữ, Đại Tướng quân gầm lên một tiếng , đạp chân lên tảng đá trước mặt  khiến nó vỡ làm đôi … Ông lo quân pháp bất dung thân vì để mất thành thì ít mà lo cho số phận người thiếp yêu nhiều hơn… Ông quá biết sự thâm hiểm và xảo quyệt một khi người Chân Lạp kết hợp với người Hoa sẽ khủng khiếp như thế nào, dã man như thế nào … Ông cũng quá biết người thiếp yêu của ông thông minh tài trí ở đâu thôi chứ trong thực tế trường đời lại rất ngây ngô… Thậm chí ngu si … Suốt đêm, Viên Tổng trấn loay hoay … Sáng ra , quân sĩ thấy  bên bờ biển trông vào đất liền có một tảng đá như hình người ngồi chống tay vào cằm … Viên tổng trấn, vị Đại Tướng quân bách chiến bách thắng đa tình choáng váng trước hiện thực lãng xẹt … Ông đã hóa thành đá . Ngày nay , ai đến thăm đảo Hòn Tre sẽ thấy gần bờ có tảng đá vỡ đôi như có ai đạp mạnh . Còn tảng đá hình người thì đã bị sóng cuốn đi mất tích . Còn tôi , chiều chiều ngồi bên bờ vịnh Rạch Gía nhìn ra Hòn Tre thấy hòn đá bị cuốn đi mất tích là phải. Một cái kết logic!
   Đến đây , bạn đọc chỉ còn một băn khoăn cuối cùng là số phận người thiếp yêu của Tổng trấn rồi sẽ ra sao trước một bầy hùm sói … Tôi cũng thế, trong lần đi công tác tháng 10 năm 2012 tại Rạch Gía, Kiên Giang vừa qua tôi cũng bỏ công lặn lội dò hỏi , chủ yếu là những người già , một vài nhà nghiên cứu lịch sử vùng cực tây nam bộ … Đặc  biệt là những thổ dân còn sót lại trên những hoang đảo… Và nhận được nhiều luồng thông tin  khác nhau , thậm chí ngược nhau … nhưng tựu trung là ba luồng thông tin  như sau:
Luồng thứ nhất: Ngay khi bị dẫn vào trong trướng giặc . Nàng đã chửi mắng , sỉ vả Nặc Ông Đăng và Vương Anh thậm tệ … Nào là … (cho phép không kể ra ở đây ). Lạ lùng nhất là dù nàng sỉ vả dữ dội đến thế nào thì bọn chúng chỉ cười ,thậm chí còn tỏ ra khoái trá (làm nàng chả hiểu ra làm sao cả) … Cuối cùng nàng cắn lưỡi tự tử!
Luồng thứ hai : Sau một thời gian khoảng hơn một tháng không thấy tin tức gì của Đại Tướng quân … Trước sức cám dỗ của hai tên … (Chúng chăm sóc nàng tận tụy, bữa ăn hàng ngày khi thì gà rán, khi thì xôi Yến , quà tặng lúc nhẫn mặt đá tinh xảo , lúc vòng gỗ đeo tay trang sức kiểu hiện đại…) Gặp nàng thì đưa nàng lên mây xanh , nào là đẳng cấp cao siêu , nào là con nhà gia thế … Cuối cùng , sau hai tháng nàng chấp thuận yêu Vương Anh vì tên này tuy không lắm của bằng vua Chân Lạp nhưng A ma tơ hơn và lừa giỏi hơn! 
   Luồng thứ ba : Vốn là người khôn ngoan , nàng chả tội gì phải chết, mà cũng chả tội gì không nhận quà (người ta yêu mình chứ có ăn thịt mình đâu) Nàng yêu cả hai thằng … không, ba thằng chứ (quá trình điều tra tôi còn biết là phó vương Chân Lạp Nặc Ông Trưn cũng rất mê nàng và rất muốn lấy nàng làm vợ) Mặc cho ba thằng đánh đá nhau … Nàng quan hệ với cả ba . Nàng bảo: Ôi giời! Đời ngắn lắm … Chết là hết ấy mà …
   Nhiệm vụ của tôi đến đây coi như đã hoàn thành . Còn các bạn? Có ba phương án đấy, muốn chọn cách nào thì chọn. Tùy ý !

Viết tại Mũi Nai – Hà Tiên –Sương Gíang -- Nhâm Thìn
Logged
lixeta
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1531


« Trả lời #46 vào lúc: 02 Tháng Mười, 2013, 08:31:23 am »


HÒN CUỘI VÀ NHỮNG NGƯỜI BẠN[/b]


 

MỘT HÌNH ẢNH LẪM LIỆT NGƯỜI LÍNH,
MỘT CÁCH NHÌN PHƯƠNG ĐÔNG VÀ NHỮNG NỤ CƯỜI U-MUA
(đọc tập hồi ký- tản văn “Những hòn cuội nhặt dọc đường...”1 của Lê Trí Dũng)

Tiểu thuyết về chiến tranh thì Bảo Ninh là tác giả được Lê Trí Dũng mến mộ nhất. Còn tản văn (hoặc tạp văn) về chiến tranh, tôi vẫn cho rằng Lê Trí Dũng là hơn cả. Tiêu biểu là áng tản văn bài 17, tập I. Quan điểm mỹ học của tác giả hết sức đơn giản: “Tác phẩm văn chương tác phẩm hội họa..., đó là tác phẩm nghệ thuật, muốn hay... phải “xuất được cái thần” (I,101). Cái thần của bài tản văn được bộc lộ tập trung trong mươi dòng cảm hứng triết luận về chiến tranh. (xem II, tr.176). Trong những ngày và đêm chiến tranh khốc liệt nhất thì trời đất vẫn vô tình “Mặt trời vẫn hừng lên vô tình như từ thuở hồng hoang không có chiến tranh”. Bom đạn cũng vô tình: “Xa xa, tiếng bom pháo vẫn rền nổ vô tình như mọi ngày từ thời chiến tranh bùng nổ”. Đằng sau dáng vẻ vô tình của chiến tranh là “sự tính toán không vô tình chút nào của Bộ chỉ huy tối cao cả hai bên”. Trong tương quan éo le này giữa con người và trời đất hiện lên hình ảnh lẫm liệt những người lính. “Chúng tôi lầm lũi đi trong bình minh giữa rừng cây trụi lá. Bóng in sẫm trên nền trời đỏ hực như vô vọng". Hình ảnh rỡ ràng “áo chàng đỏ tựa ráng pha” người chinh phu của Đoàn Thị Điểm có cơ bị lu mờ trước hình ảnh lẫm liệt những người lính của Lê Trí Dũng. Kết thúc đoạn cảm hứng triết luận này là lòng cảm thương vô hạn của tác giả với “số phận” ngàn vạn người đã hy sinh trong chiến tranh. “ở đó, mỗi dân tộc, mỗi đất nước, mỗi cuộc chiến, ... đều có số phận riêng, mà trong đó “số phận” mỗi người lính chúng tôi mỏng manh nhỏ bé xiết bao. Thậm chí chả còn ai thèm để ý đến nó, đếm xỉa đến nó, như những nấm mộ vô danh lô nhô tôi gặp trên suốt chặng đường hành quân dằng dặc dọc chiều dài quê hương tôi”. Thời hậu chiến, cảm hứng triết luận về chiến tranh của tác giả vẫn “lớn tiếng”. “Cuộc bươn trải đời thường giống như trận cuồng phong khổng lồ chôn vùi tất cả, chiến tranh thì như một con ngựa hoang trong trận cuồng phong ấy, thỉnh thoảng cất lên một tiếng hý vang trời nhắc nhở mọi người đừng quên” (II,179). Triết luận dễ đi vào tự biện. Lê Trí Dũng triết luận bằng những câu văn hình ảnh, những mạch cảm nghĩ không thật xác định nhưng lại có sức khơi gợi sâu và xa.
Trong các bạn văn, có một người nữa được Lê Trí Dũng mến mộ là Phùng Quán. Một tính cách “lẫm liệt”. “Lẫm liệt” yêu và lẫm liệt “ghét”. Lê Trí Dũng ghét cay ghét đắng những kẻ chỉ tìm cách che đậy con người thật của mình, lúc nào cũng “diễn”, “cả đời chỉ đóng kịch”, những kẻ ra rả chửi đời nhưng hễ có cơ hội là đổi giọng “nịnh đời”, những kẻ “lúc nào cũng đạo mạo mô phạm, không bao giờ mất lòng ai, nói một câu nghĩ nửa ngày” nhưng mấy chục năm trời, không tiêu chuẩn nào ông bỏ qua, được phân nhà mấy lần, “tóm lại là chả miếng nào ông đớp trượt” (II,31). Cái ghét của Lê Trí Dũng sẽ đi đến đâu? Có một quá trình khác diễn ra trong sự trưởng thành của ý thức tác giả: anh ngày càng nhận rõ cái lẽ tương đối ở đời.
“Trong cái thế giới bề bộn này, tất cả chỉ là tương đối” (I, 235)
“Trong cõi hồng trần này, cái gì cũng tương đối thôi” (II, 29)
“... quy luật muôn đời là thuyết tương đối” (II, 371)
Phương Tây (mà văn hóa bắt nguồn từ cái nôi văn minh Hy lạp cổ đại) và Phương Đông mà gốc là văn hóa Trung Quốc cổ đại) trong sự tư duy đều xuất phát từ những trái ngược: từ nóng và lạnh từ sống và chết, từ Âm và Dương... Theo Francois Jullien, tư duy phương Tây về cơ bản khác với tư duy phương Đông ở chỗ này:
- Tư duy phương Tây “dựng những trái ngược lên thành những “vật tự nó”, biến những vật tự nó” này thành những bản chất loại trừ nhau” cách tư duy này chi phối cách nhìn những trái ngược, chỉ thấy quan hệ đối lập giữa cái này cái kia, tuyệt đối hóa quan hệ đối lập này, thành ra giữa cái này cái kia, chỉ có quan hệ cái này loại trừ cái kia, chẳng còn quan hệ nào khác nữa.
- Tư duy phương Đông “đã không trừu xuất những trái ngược khỏi dòng chảy của những quá trình; nó đã duy trì chúng trong một thứ liên can với nhau” ngăn ngừa mọi “sự cắt đứt và sự loại trừ” thường thấy có trong tư duy phương Tây từ đó sinh ra cách nhìn: ngay trong quan hệ đối lập giữa cái này cái kia vẫn thấy những quan hệ khác: quan hệ dung hợp, bổ sung, nâng đỡ, tương tùy tương hỗ... giữa cái này, cái kia.
Vấn đề đối lập giữa nghệ thuật và thương mại đã làm tốn không biết bao nhiêu giấy mực. Cách nhìn của Lê Trí Dũng về vấn đề này hết sức đơn giản: “...nghệ thuật và thương mại là hai phạm trù vừa đối kháng vừa nâng đỡ nhau” “...bán được tranh ai cũng thích, không thì lấy gì tiếp tục vẽ?”... “Nhưng nếu vẽ chỉ để bán, thì tôi còn biết nói gì giữa ngày xuân rộn rã đang đến nhỉ (xem I,26)
Trong hội họa, nét vẽ “khôn ngoan đến thượng thặng” đối lập với nét vẽ “ngây ngô như trẻ nhỏ”. Tư duy bằng ngôn ngữ “cắt đứt” và “loại trừ” thì đã khôn ngoan đến thượng thặng không thể nào “ngây ngô như trẻ nhỏ”, hai lối hành nét này “loại trừ” nhau. Xem lối hành nét của họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm, Lê Trí Dũng đã đọc, thấy ở đây “sự khôn ngoan đến thượng thặng mà vẫn ngây ngô như trẻ nhỏ”. Cũng vậy, anh thấy qua những nét vẽ người họa sĩ bậc thầy này “nửa như vận khí, nửa như vô thức”, “cái gì cũng biết mà dường như không biết gì” (I,22). Một lần nữa, cái này và cái kia đối lập nhau mà vẫn “dung hợp” với nhau. Không có cách nhìn phương Đông, liệu Lê Trí Dũng có nhận ra được lối hành nét của người thầy của mình?
Cũng với cách nhìn này tác giả hình dung chân dung người lính giải phóng. “Tôi thấy chân dung anh... , nó vừa cô đơn, vừa hào hùng, vừa có một cái gì nghĩa cả lại vừa tủi phận, nó vừa là sứ mệnh vừa là số phận...” (I,69). Từ cách nhìn này có thể rút ra nhiều bài học trong việc xây dựng nhân vật trong mọi ngành văn học nghệ thuật và cả trong cách tiếp cận con người bao giờ cũng phức tạp, không hề đơn giản như chúng ta tưởng.
Cuối cùng, phải nói đến phương Đông trong quan niệm mỹ học của tác giả. Mỹ học phương Đông truyền thống đặc biệt coi trọng việc “xuất được cái thần" của nhân vật, cảnh vật, còn trong mỹ học phương Tây việc hiển lộ cái đẹp đã trở thành một yêu cầu phổ quát. Quan điểm mỹ học của Lê Trí Dũng: “... đã là tác phẩm nghệ thuật, muốn hay, ... phải “xuất được cái thần”; trong nghệ thuật, “cũng giống như phép xem tướng, nếu chỉ đạt “Hình tướng” mà không đạt đến “Thần tướng”, là không được” (I,102).
Trong hai tập tản văn, đặc biệt phần nói về thế thái nhân tình và những nghịch cảnh thời hậu chiến, có những trang khá “căng”. Lác đác những nụ cười u-mua làm dịu đi sự căng thẳng.
Tác giả nói đến những người “được đăng báo một đôi bài thì đem khoe cả họ” (II,338). Ai cũng có thể viết một câu văn như vậy, nhưng thêm vào cuối câu mấy chữ “(chủ yếu họ đằng vợ)” thì đấy là nụ cười u-mua của Lê Trí Dũng.
Tác giả kể chuyện “một ông họa sĩ vốn hay chửi”: “Lần triển lãm nào ông cũng dự thi và lần nào ông cũng chửi Hội đồng Nghệ thuật là ngu. Bỗng năm ấy không thấy ông chửi, gạn hỏi mãi, ông mới ghé vào tai tôi, thì thào: “Hội đồng Nghệ thuật lần này được đấy!”. Tìm hiểu, té ra năm ấy ông được giải...” U-mua nhẹ nhàng thôi, hầu như không có châm, chọc.
“Rồi xếp đặt, rồi trình diễn... vì nước Nam không thể thiếu những người đi tiên phong trong nghệ thuật” (II,7). Tác giả cứ như tỉnh bơ, lời lẽ nghiêm trang. Nụ cười u-mua quá kín đáo, nhưng càng ngẫm càng đau.
Tác giả kể chuyện duyên nợ thơ ca của một người cháu:
“... mới hết cấp 2 đã nổi tiếng thần đồng,... lên cấp 3 đã có thơ đăng trên báo tỉnh. Thế rồi cu cậu thành nhà thơ thật, cả nhà tràn trề hy vọng... Đùng một cái cu cậu bệ rạc hẳn ra, uống rượu như điên... Gặp tôi, cu cậu bảo: “Chú ạ, cháu bất hạnh làm sao lại rúc đầu làm “thi sĩ” thế này... Thơ phú nước mình toàn thơ con cóc, ngợi ca sáo rỗng, rẻ tiền... Kiếp sau thà đi cày ruộng còn hơn!”. Bất đồ, một ngày nọ, thấy cu cậu trên Diễn đàn Văn nghệ VTV1 đang thao thao bất tuyệt về nền thơ Việt đang trên đà khởi sắc... Hỏi mấy bạn thơ, té ra cu cậu vừa nhận được cái giải kèm theo ít tiền. Vội đến chúc mừng, ghé qua rèm cửa, thấy cu cậu đang rung đùi ngâm nga: “Kiếp sau xin lại được làm... nhà thơ” (II,252). Những sự gia công của tác giả vào câu chuyện được kể chứng tỏ u-mua của Lê Trí Dũng có nghệ thuật và nghệ thuật khá cao.
Dọc đường hành quân, rong ruổi trên đường đời, đường nghệ thuật, Lê Trí Dũng nhặt được không biết bao nhiêu hòn cuội. Đọc hai tập hồi ký-tản văn của tác giả, tôi nhặt được một hình ảnh lẫm liệt anh bộ đội giải phóng, một cách nhìn phương Đông và dăm ba nụ cười u-mua. Hơi bị ít. Phan Cẩm Thượng, người viết lời giới thiệu cho tập I, tập II, thẩm văn tinh tế, lại am hiểu hội họa, anh nhặt được nhiều hơn.

Logged
lixeta
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1531


« Trả lời #47 vào lúc: 03 Tháng Mười, 2013, 07:13:30 am »


Hai từ “Đồng đội” thiêng liêng

Lê Đức Tuân
(CCB Bộ đội Tăng thiết giáp)

Năm 1972, từ Quảng Trị, tôi nhận lệnh về Bộ Tư lệnh Thiết giáp làm trợ lý bản tin Thiết giáp.
Hồi đó chúng tôi đều chưa vợ, lại đồng hương, cùng ban, cùng phòng nên chóng thân nhau. Tôi biết Lê Trí Dũng là một trong quân số hàng đại đội sinh viên, giáo viên đại học, nhiều người học ở Liên Xô, Trung Quốc, Hungari, Triều Tiên... vừa vào binh chủng. Họ về từ nhiều con đường. Từ Cục chuyên gia Bộ Quốc phòng điều xuống, từ các sư đoàn bộ binh vừa “dính” đòn ở Quảng Trị điều ra, do lệnh của Tướng Giáp muốn bảo tồn một phần chất xám cho quân đội, hoặc từ những đơn vị huấn luyện tân binh ở Thanh Hóa điều về...
Bom Mỹ ném, doanh trại tan tành, chúng tôi phải sơ tán vào làng Gô sống cùng với dân. Ôi! Làng Gô, một làng cổ dễ nghìn năm vùng đất tổ trung du này với cây đa đầu làng xum xuê bóng mát, đêm nào lính tăng cũng ra đó ngóng về Hà Nội rực sáng ánh đèn pha, đạn pháo phòng không, lửa bom của cuộc đấu với B52 của quân dân Hà Nội.
Tôi gặp Dũng lần đầu tại bàn bóng bàn dã chiến, cạnh bếp quân dụng trong lúc chờ đủ mâm. Chả nhớ thắng thua thế nào, chỉ nhớ bữa cơm hôm đó cả mâm “liên hoan” hơn các mâm khác một rổ rau sống và tảng cháy to, do Dũng “dân vận” được từ anh chị nuôi bằng tài “truyền thần” của mình.
Rồi Mỹ tạm ngừng ném bom, chúng tôi nhận lệnh về doanh trại cũ.
Doanh trại nằm ngay dưới chân núi Đanh, sớm sớm khi tiếng kèn báo thức bừng lên, mở mắt ra đã thấy 6 chữ đại tổ đùng do lính công binh xe tăng khắc trên sườn núi “Đã ra quân là đánh thắng”. Giáp chân núi và doanh trại là sân bóng đá mà ở đó xảy ra nhiều trận đấu quyết liệt giữa đội Thể công, Trường Sỹ quan Lục quân, Học viện Quốc phòng... với đội tuyển binh chủng Tăng mà Dũng là một tiền vệ cứng của đội.
Một hôm, anh Ẩn (Lưu Ngọc Ẩn) trợ lý tuyên huấn bảo Dũng: “Doanh trại ta nằm ngay trên đường đi Tam Đảo, bộ đội và nhân dân qua lại nhiều. Bộ Tư lệnh chỉ thị cho đồng chí phải thực hiện một tranh cổ động khổ lớn (cao 3m ngang 5m) ngay tại cổng doanh trại để động viên sỹ khí của quân dân...”. Dũng hỏi: “Vật liệu vẽ, họa phẩm và nhân lực trợ giúp, em được nhận từ đâu?”. Anh Ẩn bảo: “Vật liệu vẽ, cậu cứ kê khai, xuống kho quân khu lĩnh, còn nhân lực, từ phác thảo, thể hiện, lắp ráp giàn giáo... tất cả chỉ có mình cậu”. Dũng không nói gì, lẳng lặng quay ra ngoài, khuất cửa tôi mới nghe một tiếng “rõ” rất nhỏ.
Tôi thương Dũng quá, cứ đi công tác về lại ra giữ thang cho Dũng leo trèo đo đạc, suy tính... Anh Thỉnh (Hữu Thỉnh) là nhà thơ của binh chủng, tác giả lời bài “Năm anh em trên một chiếc xe tăng”, vừa từ chiến trường ra, bảo tôi: “Tuân đừng lo, Dũng đã tự tay căng lều bạt, tự tay thiết lập cả một xưởng in lưới dưới gốc cây hồng nhà chị Quân, tự tay sáng tác mẫu, tự tay in ấn, vừa là Giám đốc vừa là công nhân thì nó làm được đấy!”.
Tôi vẫn băn khoăn, thấy anh Thỉnh ra gặp Dũng, nheo mắt, xuýt xoa: “Chà! Sao lại có thanh niên đẹp trai thế này nhỉ? Chết thì phí quá, em ơi...”. Tôi ngó góc phòng, thấy hàng cuộn, hàng cuộn tranh cổ động do Dũng vẽ và in sắp gửi ra chiến trường thấy yên tâm hơn.
Ngày đó, để tăng chất lượng bữa ăn, mỗi người lính ở Bộ Tư lệnh phải đảm bảo chỉ tiêu mỗi tháng 10kg rau xanh tự tăng gia, 10kg củi. Anh em lo công việc của mình tối ngày, hễ được nghỉ lại phải tính đi rừng, cuốc đất, phân tro. Chúng tôi tuổi còn trẻ “đói kinh niên”. Chả biết do “thiếu kinh nghiệm” hay cố ý mà trong giấy đề xuất vật liệu cho tranh cổ động tôi thấy Dũng đề: bột nếp loại 1 (không có thuốc trừ sâu): 7kg... vải bố:... mét, gỗ:... thanh, đinh 10 phân... cái! Nồi quân dụng lớn: 1 cái. Rồi chờ đúng dịp nhiều bạn thân ở nhà (tôi nhớ có cả các lính trong đội Tuyên văn binh chủng) Dũng “mật báo” cho chúng tôi…
Đêm đó, giữa cái rét cắt da, trong một ngôi nhà hai tầng không mái (bom đánh bay cả mái đi rồi) phi lao rì rào trong gió, củi cành phi lao sẵn đấy. Dũng chiêu đãi các sỹ quan xe tăng một trận cháo bột nếp tưng bừng. Nhìn đi nhìn lại, kẻ đứng người ngồi sì sụp giữa đêm đông. Cháo đã nhiều, lại đặc quánh… Nhớ lại cảnh “Ăn hồ thợ vẽ” ngày đó mà ôm bụng cười đến giờ.
Hết chiến tranh, người thì “ba sao không bằng một sào ruộng khoán” tôi thay sắc áo lính. Dũng về cày trên tờ Báo Ảnh Việt Nam, làm họa sỹ thiết kế mỹ thuật, cũng quá hợp vì trong chiến tranh Dũng từng là phóng viên chiến trường, lăn lộn ở Quảng Trị trong các đại đội xe tăng với chiếc máy ảnh trong tay, lại còn làm đại đội trưởng phụ trách đội tự vệ cơ quan hồi chiến tranh 1979.
Rồi Dũng “có riêng” một cô kỹ sư hóa làm ở nhà máy Da Thụy Khuê và một thằng cu con, nhà đầu hồi B1 Kim Liên. Tôi đến thăm, thấy Dũng vẫn cần mẫn tìm mật đời vẽ tranh. Tranh nhiều lắm, nó nằm “vùng” trên gác xép, nóc chạn... Đùng một cái Dũng thả ngàn ngựa ra thế giới người. Tôi mừng như việc của mình, cũng khoe với Dũng những bài viết của mình, hai thằng lính cũ hàn huyên, Dũng bảo: “Anh em mình có vẽ, viết cũng là để thấy cần phải sống như thời cưỡi “ngựa sắt” vượt cổng trời thôi anh ạ!”.
Cận Tết Nhâm Ngọ (2002), tôi nhận được bài viết “Đường đến dinh Độc lập” của thượng tá Nguyễn Khắc Nguyệt (người lái chiếc tăng thứ 8 tiến vào dinh). Trong bài ấy có chi tiết tôi ngờ ngợ, buộc phải hỏi lại Nguyệt: Liệt sỹ Duyệt có phải là sinh viên năm thứ hai Đại học Nông nghiệp 1, người Hà Nội. Hồi ở Quảng Trị có tham gia lớp vẽ của Lê Trí Dũng không?
Tôi điện cho Dũng đề nghị “truy tìm” trong “bảo tàng” ảnh chụp và vẽ của riêng Dũng thời Dũng lăn lộn cùng lữ đoàn 203 ở Cửa Việt, A Sầu - A Lưới - Quảng Trị. Dũng sốt sắng mò mẫm cả đêm. Đến với tôi, hai người chụm đầu chỉ trỏ, nhớ lại. Dũng khẳng định trong một bức ảnh bé tý, cỡ 3 x 4 có ba người lính trẻ măng ngồi trên tháp pháo xe tăng rất ấn tượng... Đằng sau chiếc tăng là rừng phi lao tan tác sau trận đấu tăng khủng khiếp vừa xảy ra, bãi cát trắng và sóng biển xanh chồm lên xác các xe tăng M48, M41 của địch còn ngổn ngang hơn 1km dọc bãi biển.
Dũng bảo: “Người ngồi cao nhất, đang đo đạc là Duyệt đấy, anh ta rất ít nói, rất chịu khó và chơi ghita được đấy!”... Rồi Dũng lại phải “xuất xe” vài lần, mỗi lần hàng chục km tìm Nguyệt để xác minh nhân vật trong ảnh trong bề bộn các hợp đồng vẽ bìa báo Tết và minh họa cho hàng chục tờ báo của Dũng.
Ngày 28 tháng 4 năm 2002, ngày giỗ lần thứ 27 của trung sỹ Nguyễn Kim Duyệt (pháo thủ đại đội xe tăng đầu tiên vào chiếm dinh Độc lập), tôi, Dũng và Nguyệt đến nhà Nguyễn Kim Duyệt (ở 32 Đại La - quận Hai Bà Trưng - Hà Nội) mang theo tấm ảnh quý nhất - như gia đình Duyệt nói, nhưng gia đình chưa biết bức ảnh đó do Dũng chụp và cắt cúp phóng to cỡ 18 x 24 tại một hiệu vi tính.
Ngày giỗ Duyệt năm ấy làm ấm lòng bà mẹ Duyệt đã trên 80 tuổi, bà mẹ tóc bạc phơ, cao gầy rất đẹp lão ôm tấm ảnh vào lòng, trong đó Duyệt đang giơ bút đo đất ngắm trời cho bức vẽ sau trận đánh chống lấn chiếm của cả thầy lẫn trò. Lớp học đó cũng là một trong nhiều lớp bồi dưỡng hội họa cho bộ đội xe tăng giữa vùng bom đạn của thầy giáo, thượng sỹ xe tăng Lê Trí Dũng.
Đối với Lê Trí Dũng, hai từ đồng đội bao giờ cũng bao hàm một ý nghĩa thiêng liêng. Những người số phận chiến tranh đã cho đứng cùng đội ngũ thì Dũng không bao giờ quên, nhất là những người đã hy sinh.
Và thật bất ngờ, cuối năm 2006, Dũng qua thăm tôi, tặng một tranh ngựa có cành hoa mai (vợ tôi tên Mai) rồi khiêm nhường đưa một quyển sách rất lạ, hình vuông, bìa cứng rất “lính”. Dũng nói: “Em cũng mạo muội viết, vì đồng đội thôi mà...”. Nội dung cuốn sách gồm các bài tản văn mà Dũng gọi là những “hòn cuội” nhặt dọc đường hành quân. Toàn bộ cuốn sách ngập tràn tình đồng đội trong cuộc chiến vệ quốc vĩ đại...
Rồi hơn một năm sau Dũng lại đến thăm tôi, lại nhẹ nhàng đưa ra quyển thứ hai dày dặn hơn, sách có đến hơn 100 bức minh họa rất sinh động, độc đáo. Điều làm tôi xúc động là trong sách có một bài tên “Đồng đội” kể về việc anh dày công vẽ một bức sơn dầu khổ lớn về người đồng đội Nguyễn Kim Duyệt như thế nào. Ngoài ra còn hàng loạt tản văn khác kể về phút hy sinh hào hùng của tiểu đoàn trưởng Ngô Nhỡ vài giờ trước khi Sài Gòn giải phóng. Kể về các đồng đội cùng học trong trường Mỹ thuật như Hoàng Thượng Lân, Hoàng Tích Minh, Nguyễn Quang Việt... hy sinh như thế nào... Kể về vị chỉ huy tối cao, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đứng nghiêm chào người lính binh nhì Nguyễn Tiến Dũng trước giờ xuất trận ra sao... Cho đến cả người đồng đội mà số phận không cho được gặp lúc còn sống: Hòa Vang...
Dũng nói với tôi: “Em viết lỗ mỗ anh ạ! Nhưng chắc là có “khí” đấy. Không hiểu sao cứ viết về đồng đội là em khỏe ra. Vừa rồi đang ốm, anh Trịnh Đình Cần bên Hội hỗ trợ các gia đình liệt sỹ đến thăm, nói: “Hội mới thành lập cần gấp một cái logo biểu tượng cho Hội để đặt dấu ấn đầu tiên vào lễ ra mắt, nhờ anh giúp cho...”. Thế là em lao vào làm ngay, phác thảo tới bảy cái và được duyệt ngay, hết cả ốm. Hình như lúc vẽ có các liệt sỹ “phù cho” anh ạ!...”. Tôi bảo: “Mình đâu phải nhà văn chuyên nghiệp, nhưng chắc chắn viết có “khí” rồi, vì mình có “tình”. Tình đồng đội của chúng ta vô giá. Chỉ có Trời xanh mới thấu hiểu hết, Dũng à…”.

Logged
lixeta
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1531


« Trả lời #48 vào lúc: 04 Tháng Mười, 2013, 07:16:21 am »


HÒN CUỘI CỦA KÝ ỨC
Họa sĩ Lương Xuân Đoàn

Trong sự mách bảo bất chợt của vô thức, tôi nhặt lên một viên cuội nhỏ dọc con đường hành quân của anh lính xe tăng - họa sĩ Lê Trí Dũng. Bước chậm vào ký ức, tôi lại được mơ mộng như ngày nào bên bờ hiện thực, để kịp mở đôi tai lạ cho con mắt hòa điệu với tiếng nhạc của bầy la và bước la đi dọc những cánh rừng vô tận của Trường Sơn.

Ngày ấy, mùa khô, trời xanh và cao tít tắp, chẳng thể nào nhìn thấy một gợn mây nhỏ, dù chỉ phảng phất như một sợi khói. Vì thế cái sức vang của rừng cũng dữ dội hơn. Rừng rộng và sáng hẳn ra. Những chiếc lá đỏ tung bay như những mảnh áo gay gắt rực hỏa của mặt trời. Có một thoáng đụng chạm của thị giác để được thốt lên: Rừng gầy! Nhìn đâu cũng thấy gốc và cành cây. Chả thế mà bầy la đi, lút cả bốn chân trong lá, trong cỏ. Chỉ có tiếng chuông trên cổ la rung là cao vút, sắc lanh lảnh...

Và những ngày mưa, những ngày mưa ẩm ướt, dai dẳng và tối sầm. Bầu trời ngổn ngang những đám mây lớn như cánh đồng đang mùa gặt bề bộn. Những con chim pơ tốc kêu hoài, thê thiết trong tiếng sấm vỡ vụn ra ở phía chân trời. Tiếng thác nước đập ồn ĩ xuống đá nhọn và lòng suối cạn. Còn những con đại bàng lặng lẽ dang đôi cánh lớn đen sẫm, lượn quanh chóp núi nhọn hình mũi gươm. Nhưng thường xuyên hơn là tiếng bom hung hãn bóc đi lớp da xanh ngắt của rừng, làm trơ ra những vạt đất đỏ chói, những mỏm núi nhọn bị phạt ngang, đất tơi ra như bụi. Chiếc áo cỏ xanh non sáng lên. Những búp măng cũng nhô lên, mập mạp và cứng cáp. Rồi hương thơm của trái chín, dù còn đượm sắc màu riêng hoang dã vẫn thấy nhẹ nhàng ngọt mãi trong lòng...

Vâng, ngày ấy đâu đã kịp xa đi trong ký ức của anh, của bạn và của tôi. Những mảnh vụn của sự hồi nhớ xa xôi chợt gắn kết nguyên vẹn. Ta bỗng nghe đâu kia những tiếng nổ lớn dọc triền núi thẫm dội về, chúng ào đến rồi lại tan nhanh như những đám mây. Rừng nắng. Mặt đất ùn lên dấu dép, dấu giày...

Thật lạ. Vậy thì những hòn cuội nhặt dọc đường hành quân của anh lính xe tăng Lê Trí Dũng đâu phải vật vô tri?

Tôi tự xoay viên cuội nhỏ trên tay như xoay khối vuông Rubích ngày ngày. Để ngày ngày, tôi có cớ để đi về, để bước chậm vào ký ức miên viễn với Trường Sơn...

Hà Nội cuối Chạp năm Tân Mão 2011
LXĐ

Logged
lixeta
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1531


« Trả lời #49 vào lúc: 05 Tháng Mười, 2013, 07:15:42 am »


BA LẦN GẶP ĐẠI TƯỚNG TỔNG TƯ LỆNH

Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nguyên Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam, vị chỉ huy lớn đánh thắng hai đội quân xâm lược là Pháp và Mỹ. Với những người làm công tác văn hóa, ông là anh Văn thân thiết. Còn với những người lính chúng tôi, dù đang còn mặc áo lính hay đã giải ngũ, ông là vị chỉ huy suốt đời, là "ông Tướng huyền thoại" của chúng tôi, còn là kỷ niệm không bao giờ quên được với ba lần gặp ông.

Lần thứ nhất
: đó là những ngày giáp Tết Nhâm Tý đầu năm 1972, Sư đoàn Bộ binh 338 quân tăng cường Bộ tư lệnh Thủ đô đang cấp tập “rèn” quân ở Thạch Thành (Thanh Hoá). Ngày nào cũng đeo 10kg đá đựng trong sọt tre tự đan chạy 5km, sau đó là lăn, lê, xạ kích, võ thuật và đào giao thông hào. Đại đội đóng quân trong một bản người Mán, vùng bán sơn địa. Sung sức, tôi được giao khẩu B41, nặng và là hoả lực chính của đại đội. Mùa đông năm ấy rất lạnh. Đêm nằm, chúng tôi mặc tất quần áo, quấn cả màn và áo mưa mà ngủ, chờ lệnh xuất quân vào B dài.

Một đêm khoảng 12h đột nhiên có còi báo động rú lên. Lệnh xuất quân. Toàn bộ quân trang quân dụng phải mang đi hết. Lính tráng làu bàu: Đêm hôm giá buốt, lại còn vài ngày nữa là Tết... Nhưng kỷ luật chiến trường, quân lệnh như sơn. Tôi nai nịt chặt chẽ xong, hất khẩu B14 lên vai là đi. Trời đêm đen như mực, hết đèo lại suối, người sau cứ nối bước người trước mà đi. Hầu hết lính nhập ngũ năm ấy là sinh viên các trường đại học, có cả những thầy giáo và khá đông nghiên cứu sinh ở nước ngoài mới về. Đến lúc ấy, các "công tử" mới thấy giá trị của những buổi đèo sọt rèn quân. Nhưng dù sao chăng nữa, lính Hà Nội cũng khó dứt khỏi những mối tình sinh viên mà các bạn gái theo lên từ thủ đô. Và thế là cái kho chứa rơm của hợp tác xã bị biến thàng "chiêu đại sở" của lính và nước mắt chia ly nhiều bao nhiêu thì càng làm tăng sự đột ngột của lệnh hành quân đêm ấy. Nhưng đến tảng sáng thì chúng tôi ngã ngửa người ra khi nhìn thấy lờ mờ dãy núi đá vôi Ninh Bình, tức là chúng tôi đã lộn ngược ra Bắc và đã đi được 40km. Và một tin vui còn bất ngờ hơn: chuẩn bị nghe đại tướng Võ Nguyên Giáp úy lại vào chúc Tết khi vào chiến trường...

Hôm ấy, Sư đoàn bộ đã dựng một khán đài cao, Đại tướng sẽ đứng trên đó nói chuyện, toàn sư đoàn hàng ngũ chỉnh tề trải dài xuống ven đồi. Nhiều đơn vị ở quá xa chỉ cử đại diện. Đại tướng lên nói chừng 15 phút, chúc Tết và động viên binh sĩ, tiếng "hu-ra" vang rền. Kết thúc, đơn vị chỗ nào lại về chỗ nấy. Chúng tôi còn nán lại để "xem mặt" ông. Ra đến ngoài cánh rừng bạch đàn, rất nhiều chiến sĩ đứng dọc hai bên đường, từ trên xe, ông nhảy xuống đi bộ giữa hai hàng quân, tay vẫy vẫy... Đột nhiên ông dừng lại trước một người lính trẻ, rất trẻ. Chỉ khoảng 16, 17 tuổi và rất nhỏ bé, lùng thùng trong bộ quân phục số 2. Đối diện với người binh nhì, ông ôn tồn hỏi: “Đồng chí đi bộ đội bao lâu rồi?”. “Báo cáo Đại tướng, gần một tháng ạ”. “Đã học chào chưa?”. Người lính trẻ lúng túng, vì cảm động hơn vì câu hỏi. Và bất ngờ, Đại tướng dập gót, đứng nghiêm, giơ tay chào. Người lính cũng đứng thẳng người, chào đáp lại, hai mắt anh rực sáng. Suốt đời, tôi không bao giờ quên ánh mắt của người lính hôm ấy. Trong ánh mắt ấy nửa như có sự hàm ơn, nửa như mang một lời hứa. Trong giây lát, không gian như nén lại rồi vỡ tung ra trong tiếng “hu-ra” vang dội. Lần đầu tiên, tôi chứng kiến một cảnh tượng cảm động và lạ lùng: một đại tướng đứng nghiêm chào một binh nhì trước giờ xuất trận.

Giờ đây, đã hơn 30 năm, lũ trẻ sinh thành đêm hôm ấy phần lớn đã có gia đình, Còn chúng tôi không quên được cuộc hội ngộ. Trong tình thế ầm ầm vào trận, mạng sống quả rất mong manh. Nhưng với đạo quân "Phụ tử chi binh" ấy, người ta cũng có thể chết vì một tấm lòng, một nghĩa cử lắm chứ! Sự thực trong đoàn quân năm ấy rất nhiều người không trở về, họ vĩnh viễn nằm lại thành cổ Quảng Trị, đáy dòng sông Thạch Hãn, một cánh rừng nào đó B2, B3, chiến trường C... Nhưng tôi biết sức mạnh của những người lính chúng tôi được tăng lên kể từ buổi gặp chủ tướng của ngày ấy.

 Lần thứ hai:
Vào cuối năm 1994. Cuộc triển lãm hội hoạ mang tên “Cái nhìn từ hai phía” hội tụ 40 hoạ sĩ cựu chiến binh hai nước Việt Nam và Mỹ sau khi chu du vòng quanh nước Mỹ gặt hái nhiều tiếng vang thì lễ bế mạc được tổ chức ở bảo tàng Mỹ thuật, Hà Nội. Vài hôm sau buổi lễ, tôi được ban tổ chức mời đến để cùng tiếp một khách mời đặc biệt: Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Hơn nửa giờ ông xem kỹ từng bức tranh một, thỉnh thoảng trao đổi đôi lời với chúng tôi. Ông dừng lâu trước bức “Chân dung Bác Hồ” gắn bằng những con tem thư của hoạ sĩ cựu chiến binh David Thomas và bức “Cánh rừng Đi-ô-xin” của tôi. Tôi biết, ngày nay ở Hà Nội, mỗi tuần một triển lãm, việc ông đến thăm triển lãm hội hoạ của những người lính cũ hai bên của cuộc chiến mà “hơi bom còn nóng hổi” là không phải điều đơn giản. Ông thích hội hoạ, am hiểu văn, sử, khoa học và còn biết chơi piano cừ khôi. Thế giới ít có người văn võ song toàn như thế.

Lần thứ ba:
Thời gian như gió qua cửa sổ. Nhiều lúc phóng xe trên đường nhưng tôi cứ nghĩ: "Ông tướng đã 93 tuổi rồi, đại thượng thọ rồi, không biết có tập thiền nữa không? Thế rồi, một dịp bất ngờ, tôi được vẽ và chụp ảnh Đại tướng. Một chiều tháng 9, tôi đến nhà ông. Tôi chờ trong phòng khách. Rồi ông xuất hiện trong bộ lễ phục Đại tướng. Cử động chậm đi nhiều tuy rất minh mẫn. Sau phút chào hỏi, ông bảo: "Làm việc ngay, vì lát nữa là đến giờ tập thái cực quyền rồi". Tôi bắt đầu vẽ, căn phòng lặng tờ, chỉ nghe tiếng sột soạt trên giấy. Đột nhiên, ông bảo: “Rất nhiều người nói tôi có hai đặc điểm: cái mắt và cái trán. Anh lưu ý nhé”. Tôi biết ông đang mệt, dạo này thời tiết rất độc, mưa luôn. Vừa vẽ, tôi vừa quan sát ông. Đằng sau vầng trán kia, ông đang nghĩ gì? Hơn 30 năm trước hằng đêm ông thức trắng nghe tin chiến sự miền Nam từ điện thoại trực tuyến, nước mắt tướng quân có rơi không khi nghe tin đồng chí đồng bào của mình hy sinh dưới lê súng địch? Và ông phải chống chọi thế nào với sóng gió cuộc đời sau cuộc chiến? Bất thần, ông nói: “Nhà đồng chí ở đâu?”. Tôi vừa trả lời ông vừa lựa thế đưa câu chuyện chuyển sang hướng “tâm tình”. Nhưng không, chỉ thế thôi! Ác liệt của chiến tranh và cuộc sống quân ngũ, sự cọ xát thường tình với hiểm nguy và yêu cầu quân sự đã tôi luyện vị Tổng chỉ huy thành bản lĩnh “buồn giận không lộ ra nét mặt”.

Rồi 30 phút qua đi. Bức hoạ bằng bút sắt đã xong, nhìn vẻ chưa hài lòng của tôi, ông đột nhiên hỏi người nhà: “Mai thứ mấy?”. “Thưa, thứ bảy ạ!”. “Vậy mai anh lại đến nhé!”. Lại bất ngờ, tôi hồi hộp: “Dạ, mấy giờ ạ?”. Vài tích tắc trôi mau: “Ba giờ”. Đến bây giờ và mãi mãi về sau, tôi không thể quên được âm thanh, ngữ điệu và hồn khí của hai từ ấy. “Ba giờ” - Đại tướng nói nhanh, mạnh và sắc với ngữ điệu của người Lệ Thủy, Quảng Bình, không, không hẳn là vì thổ ngữ xứ đó, xứ quen trận mạc và đau thương, xứ có nhiều người kiệt xuất... mà trong âm điệu ấy, cái ý toát lên một lời hẹn thì ít mà nghe như một tiếng Lệnh thì đúng hơn. Đời ông, ông đã ra bao nhiêu cái lệnh như thế?

Âm hưởng toát ra cái thần hồn, thần khí có tác dụng gieo vào lòng người thừa hành một lòng tin đặc biệt, chắc thắng, không do dự. Tôi tặng ông cuốn Theo vết xích xe tăng và giới thiệu đây là cuốn hồi ký của bộ đội xe tăng trong chiến tranh. Ông cầm cuốn sách, im lặng nhìn chiếc xe tăng vượt cổng trời nơi bìa. Chuyển cho người cần vụ cất đi và nói: “Tôi sẽ đọc”. Rồi thay đồ để đi tập thái cực quyền. Ba giờ đúng ngày hôm sau, công việc tiếp tục. Ông tương tỉnh hơn. Thấy tôi giở máy ảnh, ông bảo: “Tôi rất ít khi được chụp một mình, bởi các đoàn thăm cứ tìm vai bíu cổ đòi chụp chung”. Lúc tôi vẽ ông, ông ngồi rất im, để phá tan cái im lặng ấy, tôi hỏi ông: “Chiều nay Đại tướng có còn tập quyền nữa không?”. Ông bảo “Không”, rồi tiếp: “Tôi tập lại, trước tập rồi, bây giờ tập lại”. Đột nhiên ông bảo: “Sao Minh Đỉnh “đi” nhanh thế nhỉ? Đang khoẻ! Giới hoạ sĩ cũng đánh giá ông ấy đắp tượng Bác giống nhất đấy!”.

Tôi đưa cho ông xem bức hoạ vừa xong bằng phấn màu, ông ưng ý lắm: “Được đấy!” và gọi vợ: “Hà ơi, xem này!”. Tôi đưa cây bút dạ để ông ký vào góc dưới tranh, ông cầm bút hơi rung, dưới ngón trỏ một nốt ruồi đỏ lớn, ông hỏi: “Ký là Văn nhé?”. Tôi trả lời: “Không ạ, Đại tướng cứ ký Võ Nguyên Giáp là hơn!”. Im lặng, rồi dường như lấy đà, ông phóng bút ký, đường bút đi như kiếm bay, rồi chấm một cái vào một chỗ không ngờ. Thế là bức hoạ hoàn thành. Ông bắt tay tôi và nói: “Cho tôi gửi lời chào toàn thể gia đình anh nhé!”. Ông là vị tướng quân của người Việt Nam, của dân tộc cấy lúa nước, là chỉ huy trưởng đoàn quân chân đất năm xưa.

Chị Hà tiễn tôi, tôi bảo: "Ông là tài sản của nhân dân Việt Nam". Chị Hà sửng sốt: "Thế à". Chị Hà ơi, sao chị lại sửng sốt? Ông ấy đã lấy lại lòng tin cho chúng tôi trong bao phút ngã lòng. Đời người ta, ai không có những phút ngã lòng? Khi cái ác đè lên cái thiện, khi sự thật bị vùi lấp... thì chúng tôi cần ông biết bao. Vì ông mãi mãi là vị Tổng Tư lệnh của những người lính chúng tôi.

Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM