Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:39:36 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những hòn cuội nhặt dọc đường  (Đọc 47747 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
lixeta
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1531


« Trả lời #60 vào lúc: 18 Tháng Mười, 2013, 08:07:13 am »


Tin vào nước mắt

(Tiếp theo)

 Bốn mươi năm, sau cuộc đọ sức quyết liệt ấy, những người lính trở về, nay có người thành quan to: Đinh Thế Huynh, Nguyễn Quốc Triệu… Nhưng thương nhất là những đứa nằm lại…Rưng rưng bên dòng Thạch Hãn hai cha con xem Biên tập viên Tạ Bích Loan và đạo diễn Lê Hùng chuẩn bị cho “cầu truyền hình Quảng Trị 40 năm” thì bất thình lình cô gái trẻ Hà Nội, một BTV đài THVN bỗng lăn đùng ra đất miệng lảm nhảm như vong nhập. Tất cả  sửng sốt khi nghe cô gái bảo rằng: “Tôi thích Lê Hùng! Nhưng không thể chọn 12 người, mà ông Hùng phải chọn đủ 30 người, mặc quần cộc, mang AK và phao ni lông qua sông thôi, ngày ấy làm gì có quần áo chỉnh tề thế…” Lê Hùng quá bất ngờ bởi câu chuyện như… “vong nhập” ấy nằm ngoài mọi kịch bản… Lớp ấy toàn tài hoa ra trận. Tôi không hiểu sao thế hệ sinh khoảng từ 1945 đến 1950 thật là một “thế hệ vàng” trong lịch sử đất nước. Nhưng rồi vì tiếng gọi vệ quốc thiêng liêng đến nỗi bao người gác lại chuyện học hành tu nghiệp để lên đường chiến đấu.…Lứa ấy bao nhiêu tài hoa ra trận. Hoàng Thượng Lân nếu trở về sẽ là một họa sĩ tên tuổi. Nguyễn Văn Thạc sẽ là một nhà văn, rồi Nguyễn Văn Giá, Đặng Thùy Trâm…Đất nước đau thương tiễn một thế hệ tài hoa ra trận. Lịch sử đôi khi cần như vậy. Dũng kể năm 1969 trong lúc nằm hầm ở Quảng Trị, Hoàng Thượng Lân bảo: "Tao chỉ mong hòa bình, dựng được một cái tranh bằng một góc bức Brodino cho nó sướng, các nhân vật trong trận đánh  tao sẽ đưa tất cả các bạn của tao vào. Năm 1971, gặp Hoàng Tích Minh ở phố Phủ Doãn, trước khi Minh vào chiến trường, Dũng hỏi: Này, hết chiến tranh rồi ông còn thích vẽ bộ đội nữa không? Minh trả lời buồn: “Chả biết còn sống không mà vẽ. Mà nếu có vẽ có lẽ chỉ vẽ các mạ thôi, hình đẹp mà thương lắm!” Từ bấy đến nay đã bao nhiêu năm rồi, cả hai thằng bạn của tôi cũng đã về trời rồi mà ước mơ của chúng nó vẫn còn nguyên vẹn trong tôi…”

"Đi Quảng Trị nghĩa là "về" Quảng Trị" - Dũng bảo với tôi thế. Những chuyến hành hương về laị Quảng Trị của Lê Trí Dũng và những người lính cũ làm bừng tỉnh trong tôi một giả thiết về “hội chứng tri ân”. Họ trở về tri ân mảnh đất này đã cưu mang đã chở che để được trở về…“Tôi không tin là làm sao mình còn sống! Vâng! Đôi khi thấy việc mình còn sống trở về như một điều vô lý”. Chàng lính Quảng Trị năm xưa Đào Chí Thành – đã phát biểu trên Truyền hình như vậy khi được hỏi cảm giác của anh ngày hôm nay trở lại Quảng Trị. Chiến tranh khốc liệt quá. Quảng Trị là nơi đối đầu lịch sử, sự khốc liệt càng lớn hơn và xương máu cho ngày hòa bình ở đất này vô cùng lớn… Dũng lại âm thầm lau mắt. Anh giấu tôi những giọt lệ một cách rất nghệ thuật. Tôi bảo không phải nước mắt nào cũng yếu đuối ủy mị đâu.  Nước mắt mắt đôi khi kiêu hãnh tự hào và một chút tủi hờn đấy. Anh đương úp bàn tay lên che khuôn mặt gồ ghề góc cạnh và khá đẹp lòa xòa mái tóc xoăn dài hình như để giấu đi đôi hạt nước mặn - nồng nơi khóe mắt.. Dũng bỏ bàn tay quen cầm cọ ra ngượng ngùng trước tôi… Ký ức của người lính vệ quốc sâu nặng lắm. Riêng điều ấy là một bí ẩn thuộc về tâm linh. Dũng và đồng đội ra trận khi vừa mười tám đôi mươi. Tuổi xuân phơi phới chưa kịp cầm tay cô Thanh niên xung phong thân thương trên đường hành quân qua Đò Lèn, Thanh Hóa… Cứ tháng Bảy  về, rầm rập những đoàn cựu binh tìm về Cổ thành và những địa danh trên đất Quảng Trị như Lê Trí Dũng. “Trong lễ tưởng niệm những người con ngã xuống vì Tổ quốc hôm tháng Bảy, có người lính cũ bây giờ là Ủy viên Bộ Chính trị. Anh ngồi đó giữa nắng hè mà không cần người che ô. Tác phong ấy, cử chỉ ấy chỉ có lính về từ Thành cổ …Từ Thành cổ trở về có lẽ không có gì có thể làm người ta so bì, lựa chọn, đòi hỏi…” Dũng kể mà mắt ánh lên chút tự hào. Không ai sống mãi với quá khứ. Dũng lại kể lần gặp một nhà văn nọ ở Quảng Trị. Anh này không thích ôn chuyện đã qua mà muốn xung trận mới, với những dằn vặt không kém đớn đau trên con đường xây dựng hòa bình của đất nước hôm nay quá nhiều điều trăn trở. Không phản đối thái độ của nhà văn ấy. Đó cũng là thái độ của người chiến thắng biết nhìn tới tương lai…

Tôi có thể khẳng định rằng, một trong những  người vẽ nhiều nhất, đẹp nhất về trận mạc, về chiến tranh vệ quốc và cũng là người vẽ những bức tranh dữ dội nhất về điều đó, là Lê Trí Dũng. Anh vẽ tranh, vẽ minh họa cho sách báo, vẽ tặng bằng hữu…hình như bức nào cũng dữ dội và bạo liệt. Dữ dội không chỉ ở mâu thuẫn từ bố cục, nội dung tư tưởng trong tranh anh, mà còn dữ dội trong từng nét vẽ. Tôi đã nhìn thấy nỗi ám ảnh và những giọt nước mắt anh chắt ra từ trái tim mình qua những nét vẽ ấy. Nước mắt anh đã rỏ xuống những bức tranh, rỏ xuống đất đai Quảng Trị và rỏ xuống cuộc đời. Nước mắt là thứ nước đôi khi vớ vẩn nhất nhưng nó có lúc là thứ vĩ đại nhất mà tôi biết. “Không (vẽ) trận mạc bất thành Lê Trí Dũng”. Tôi không tin một nhà phê bình mỹ thuật khi nói về Dũng như vậy. Tôi nói thêm, nếu không trận mạc vẫn có một Lê Trí Dũng khác, tài hoa và tài năng. Chỉ tiếc trong những bộ sưu tập tranh trên thế gian thiếu những bức tranh ám ảnh về chiến tranh mà thực ra nó như một cách thể hiện khát vọng hòa bình…   

 Bây giờ thì mọi chuyện đều nhỏ. Và việc lớn nhất đời anh là nỗi nhớ đồng đội, tình thương với những người bạn đã nằm lại chiến trường… Lê Trí Dũng bảo: Thời gian còn lại anh sẽ dành để đi - về nơi này. May mắn thay có người con trai không những ủng hộ cha hành hương mà còn chủ động đề xuất đưa cha về lại mảnh đất ấy mỗi năm ít nhất một lần. Vậy là tôi đã không hiểu cái bí ẩn của những chuyến đi ngược về quá khứ đau thương oanh liệt của anh. Nước mắt người lính đã chảy ngày hòa bình và chảy suốt đời bởi miền đất linh thiêng Quảng Trị. Tôi tin những giọt nước mắt ấy chỉ có niềm kiêu hãnh, tự hào và chỉ có ở những con người trân trọng lắm cuộc đời này. Nước mắt đâu phải  tất cả yếu mềm. Nhìn những bức vẽ của anh nét rắn rỏi lắm mà sao tôi cứ lặng đi, khi nước mắt chực rơi. Cái rắn rỏi ấy chứa cái phần tinh hoa nhất  bên trong, đó là nước mắt không chỉ để khóc cho người, cho mình hay cho cho thân phận…mà là cho nhân loại khi được hưởng những ngày tháng hòa bình. Chỉ những người giàu bản lĩnh mới mau nước mắt. Và lúc này nước mắt là niềm tin yêu long lanh rất thật của người quá nhiều trải nghiệm về lẽ sống, về cái chết. “Không khóc được mới là hèn”. Dũng bảo thế. “Ngày ra trận mà lo buồn khóc than thì yếu hèn. Nhưng bây giờ khi yên hàn rồi, khi hạnh phúc mà dám khóc mới vĩ đại”. Tôi tin lời người bạn của tôi khi nghe chuyện họa sĩ Lê Trí Dũng dành phần lớn lao nhất tâm hồn mình cho miền đất thiêng liêng ấy… Tôi tin vào những giọt nước mắt. Nước mắt người lính ngày hòa bình có cái gì đó lớn lao kiêu hãnh, tự hào xúc động thật. Nó đưa con người gần lại, với hòa giải, và hướng thiện…Bản thân giọt nước mắt đã là những giọt nước vĩ đại được chắt ra từ đáy con tim. Nước mắt mãi là bài học cho mỗi cuộc đời. Họ đâu có về đây để khóc cho đời mình, cho bạn mà là để nguyện cầu cho đất nước mãi  mãi được sống trong hòa bình, trong nhân ái…

 Nước mắt đôi khi làm người ta rẳn rỏi, thanh thản hơn…

Đông Hà - Hà Nội 2012
T L

Logged
lixeta
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1531


« Trả lời #61 vào lúc: 19 Tháng Mười, 2013, 10:46:03 am »



 
HÒN CUỘI CUỐI TRỜI

Họa sỹ - Lê Anh Tuấn-

Tôi biết Lê Trí Dũng qua kỷ yếu “Nghệ sỹ tạo hình Việt Nam hiện đại” của Hội mỹ thuật xuất bản năm 2009. Đọc đi đọc lại cứ băn khoăn, chẳng hiểu vì sao ông ta lại bỏ sót cái phần mà ai cũng tự hào, cũng cho là quan trọng: Đó là những năm tháng cống hiến trong quân đội nhân dân Việt Nam - Thời kỳ đánh Mỹ…Hội viên thứ 2000 của hội sắp đến, Lê Trí Dũng vẫn đang ở “tốp vài trăm”. Một vuông chiếu trên cho một người tuổi Kỷ Sửu quê ở Phố Hiến, lên Kinh Kỳ sinh sống và hành đạo cũng đã bốn đời, thế cũng cho là được. Tôi là người nhà quê, vào làng mỹ thuật cho vui từ những năm 80 của thế kỷ trước, trong cái đám thập loại chúng sinh, đất còn chẳng có, nói gì đến chiếu. Duyên kiếp thế nào lại được Lê Trí Dũng tặng cho hai tập tạp văn “Những hòn cuội nhặt dọc đường hành quân” và “Những hòn cuội nhặt dọc đường”. Trong một hội thảo mỹ thuật tại Huế, tôi ngồi gần nhà lý luận cựu trào, bậc thầy chữ nghĩa trong giới mỹ thuật nước ngoài, tuổi đã ngoài 80, cầm quyển tạp văn tôi hỏi, anh đã đọc thứ này chưa? Ngay tức khắc ông trả lời: Có được tặng đâu mà đọc. Tôi im lặng. Lại thêm một lần hiểu về Dũng. Thảo nào trong kỷ yếu mỹ thuật Dũng chỉ ghi có hai cái huy chương (mà bây giờ nó đã thành kỷ niệm chương rồi), còn huân chương nhà nước thưởng cho những người cầm súng đánh giặc, tiệt không thấy. Thì ra tất cả nằm ở “Những hòn cuội nhặt dọc đường”.

Là người có đọc sách, nhất là sách của anh em hoạ sỹ thì càng kích thích tính tò mò, “Những hòn cuội nhặt dọc đường” không phải là một ngoại lệ. Được viết ra từ những trải nghiệm cuộc đời, tạp văn là một dòng chảy bằng máu và nước mắt.

Tạp văn của Lê Trí Dũng dẫu trữ tình nhưng cũng không kém phần châm biếm, nhiều lúc ta thấy ngòi bút ông nghẹn ngào giữa hàng chữ. Ai chả biết sự việc đã trở thành quá khứ rồi, nhưng cái còn lại đang hiện hữu trong tâm hồn người viết thì sao? Chúng ta biết gì, biết được bao nhiêu trong cái con người đa đoan, vọng nhiễu này? Con người mà tôi biết được, khi cầm bút vẽ thì câm như tượng gỗ, vẽ xong cũng chẳng nói gì về cái được, thua, hay, dở, nhưng nụ cười thì chân tình, dễ mến. Hình như tất cả những gì to tát, dữ giằn, trầm uất trong ông đã gửi vào những hòn cuội rồi. Nó mịn màng, trơ khấc, sống bầy đàn mà đơn độc. Trong tạp văn Lê Trí Dũng ta nhận ra nụ cười chua chát, mỉa mai, có lúc cao hứng, ông cười ha hả một mình trước cái xấu xa, bỉ ổi của con người mà trong đó ông cũng là thành viên cộng đồng.

Tôi thích tạp văn Lê Trí Dũng chính là những điều ông viết ra cứ như chẳng đâu vào đâu cả. Truyện nào ông kể cũng vừa đùa, vừa thật, khi thì tiền nhân lạ hoắc, lúc thì kẻ cướp trong nhà… đùa mà đằng đằng sát khí, văn viết như thế quả là rất lạ. Cứ cái đà này, cái bị “ba gang”, chứ đến “trăm gang” sao mà đựng hết “Những hòn cuội nhặt dọc đường”. Tôi ừ với Lê Trí Dũng: thì cứ viết cho sướng, cho bõ cái công sinh thành của cha mẹ, cho bõ cái người, cái ta, cái vô lý chất chồng và cái nhỏ nhoi chân lý. Tôi tin ở “đứa con nuôi” của Dũng, và biết đâu nó chính là kỵ mã tung hoành trong bầy ngựa mà ông đã cho ra chuồng bằng “cái cửa mỹ thuật”. Cung đàn gió mưa của Lê Trí Dũng đang sầm sập đổ, vần vũ, hỗn mang, nhưng hãy coi đấy, khi nào vào cái tuổi “cổ lai hy” thì tự nó sẽ trầm xuống, nó sẽ nhìn vào vô tận mà trước mắt là vực thẳm ảo mờ. Biết rằng nếu không có tương lai thì làm gì còn quá khứ, thói đời thì cứ vuốt ve quá khứ để phỉnh nịnh tương lai thật là trò đùa của những kẻ “vô đạo bất đối”.

Tôi cứ bị ám ảnh về câu nói của Paul Klec, danh hoạ Đức quốc tịch Thuỵ Sỹ: “…Xã hội càng hỗn loạn thì nghệ thuật càng trở nên trừu tượng”. Trong hội hoạ Lê Trí Dũng có duyên sử dụng trừu tượng bằng ngôn ngữ thuần Việt của riêng mình. Trong văn chương cái cách trừu tượng trần trụi và thô mộc của ông khiến người đọc tưởng như truyện tầm phào, tếu táo, viết những lúc tửu tàn, canh muộn, hay những khi trưa hè oi bức, đông giá không nhà. Vào những lúc như thế viết gì mà chả hay, vẽ gì mà chả đẹp!

Không xong rồi Lê Trí Dũng ạ! Cứ cái cách tản mạn, tỉnh say viết vẽ như đùa thế này thì hồi kết sẽ đến đâu? Cho nên viết gì thì viết, vẽ gì thì vẽ nếu để mất hiện đại thì làm gì có tương lai, mà đã không có tương lai thì công sức bao nhiêu cũng đổ xuống sông xuống bể. Như Khổng Minh nước Thục, sáu lần ra Kỳ Sơn để rồi binh tàn tướng kiệt, đến nỗi phải nhờ mẹo vặt mới thoát chết. Sao bằng Tào Tháo một đời mang tiếng đa nghi, ác độc mà cơ nghiệp lẫy lừng, tình yêu bất diệt, chả vậy mà ngót trăm năm Tam quốc lửa binh, được mất, dại khôn đủ cả, vậy mà chỉ để lại một dòng thơ Tam Tào một mối tình Tào - Sái, thì ra thẩy đều bông phèng, giả dối, chỉ còn lại tình và văn chương mới là đích thực.
 
Những hòn cuội của Lê Trí Dũng, là những kỷ niệm cuộc đời mà ông từng “bôn ba trên mọi miền đất nước”, ông âm thầm góp nhặt và xếp lại thành những áng văn, với độ kết dính từ tư duy hội hoạ, cho ta một cảm nhận văn chương thú vị: Đọc, nghe và nhìn. “Những hòn cuội nhặt dọc đường” còn được tác giả gom góp ngày một nhiều hơn, từng viên cuội sẽ cho ta những hình thù bí ẩn và kỳ thú. Ở cuối xa kia sẽ là một lâu đài nguy nga tráng lệ, có vô số những biệt phòng mà công trình sư Lê Trí Dũng tạo dựng, thành công ban đầu mới chỉ là sự tập kết vật liệu  cho cái lâu đài xa kia, xa mãi kia…

Hà Tĩnh, Tháng 04 năm 2012


Logged
lixeta
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1531


« Trả lời #62 vào lúc: 21 Tháng Mười, 2013, 07:54:29 am »


LỜI NGƯỜI BIÊN TẬP

        Khi tôi đòi nội dung lời cuối sách để đưa vào bố cục trang, đặng hoàn tất bản thảo trước khi đưa nhà in. Lê trí Dũng đưa cho tôi một tờ giấy trắng với đầy đủ tiêu đề và ngày, tháng, năm, trân trọng…Tôi hỏi anh liệu đây có phải là trò đùa với độc giả hay không? Anh bảo: Hoàn toàn không! Mà ngược lại! Tôi lại hỏi: Bạn đọc sẽ lĩnh hội được gì ở trang giấy trắng này? Anh bảo: Họ hiểu hết ấy mà… Bạn tôi toàn người thông minh…Tùy theo tầm cỡ mà mỗi người sẽ hiểu theo một cách. Nếu họ hiểu đúng thì quý mà không đúng cũng chẳng sao vì sách tôi viết chỉ để cho một người đọc, mà người đó lại quá nhậy cảm, ông chẳng hạn…Thế là xong!

   Tôi biết Anh đã rất cố gắng khi cho ra cuốn sách này… Suốt hai năm biên tập giúp anh là hai năm nhiều lần định không ra sách nữa. Với một họa sỹ số tiền mấy chục triệu đồng cũng vẫn phải tính, thời gian đầu anh không có đầy đủ phương tiện máy tính phải đi thuê đánh bài… Sách ra, chỉ để tặng, chẳng bán chác gì… Anh bảo danh cũng thừa rồi vả lại danh hão chả tích sự gì, vả lại, thời buổi nhiễu nhương, chả lợi lộc gì nơi trường văn trận bút, vớ vẩn đi tù như chơi… Nghĩ đến cảnh tù đày (nhất là nhà tù ở ta bây giờ) Thế là chúng tôi lại thôi, (Tôi cũng không muốn phải vào vai người đưa cơm tù, có lần tôi bảo anh : Ông mà vào tù là tôi bỏ ông liền đó). Anh đáo để: Điều đó chắc rồi, ông Thiên Đồng thủ mệnh, bản chất sao Thiên Đồng là thay đổi, có mới nới cũ mà. Lần khác, tiền đủ rồi, anh lại bảo đang sắp có một bài về liệt sỹ rất xúc động phải cho vào tập này… Rồi một bài nữa, lại một bài khác nữa…Tới  bài số 64. Tôi kiên quyết bảo anh: Ông phải ngừng thôi, còn gì để tập 4…Vì cuốn này đã dày gấp đôi cuốn tập 2 rồi… Bất ngờ, anh bảo tôi: Thôi ông ạ! Không in nữa, chết là hết ấy mà…

   Tôi buồn, đến bàn viết của anh, nơi có con chó đá kề bên, có một bức  sơn dầu nhỏ xinh vẽ  con mèo xanh kề bên, có cái lọ Hán trong cắm ba quả Canh ki na anh lấy ở Tam đảo về… Đó cũng là nơi tôi ngồi sửa bài, chọn bài cho anh. Anh bỏ nó suốt từ tháng ba đến nay…Trên mặt bàn phủ đầy bụi, một bản thảo dang dở… Cái tiêu đề cực đoan mà hài hước: “Chết là hết ấy mà …” Câu mở đầu như sau: Đức Phật dạy rằng: Sinh - Thành- Suy - Hủy ! Cổ nhân cũng dạy rằng : Sinh – Lão – Bệnh – Tử… Cái gì cũng dẫn đến kết cục là cái chết! Gần đây anh hay nói về sự chết. Ngay cả nghe nhạc cũng vậy, anh thích nhất bài Phôi Pha của Trịnh công Sơn, tôi bật nghe thử, bài hát từ đầu đến cuối toàn nói về cõi trời mây gió kiếp sau… Anh bảo: Vậy chiến đấu làm gì nữa… Ta vốn là một người bình thường, viết ra những chuyện bình thường, nói hộ những con người bình thường… thì thà đi chơi còn hơn… Và anh đi chơi thật !
Những lần chán nản như thế anh thường bảo tôi: Ý chí của tôi, tình yêu của tôi văng xa ngàn dặm rồi ông ạ! Rồi tiếp đó là tôi an ủi anh … Hồi tâm, anh lại làm việc. Anh bảo với tôi là anh có tiếng cứng đầu, không hiểu sao anh lại nghe tôi ngoan ngoãn như thế! Thâm tâm, tôi thừa biết anh tin tôi vì anh biết chỉ có tôi là người duy nhất trên cõi đời này hiểu được anh! ... 

 Nhưng lần này thì anh đi thật!
Mới hôm nào, khi ngồi ăn phở gánh Hàng Trống anh còn bảo đọc chuyện thiên hạ toàn đầu rơi máu chảy…Vua Voi Amakông lấy 4 vợ, 80 tuổi còn đẻ con, có người nhai thủy tinh rào rào, có người giận chồng tưới xăng tự thiêu luôn… Trong khi chuyện của mình toàn người bình thường, một người lái xe, một người bạn học cũ, một họa sỹ nghèo, một bà mẹ gặp trên đường hành quân, một nhà báo thông minh nhưng cả tin mắc lừa bởi trò bịp vớ vẩn, thấp hèn, một cô thanh niên xung phong thời khói lửa, một người lính đối phương nhất quyết không rời bỏ nước, bây giờ làm xe ôm… Anh bảo nghe chuyện thiên hạ gân giật tanh tách, chuyện mình chắc không ai thèm xem! Rồi anh bảo sao cái số chúng mình nó vất vả thế không biết? In một cuốn sách mà lên bờ xuống ruộng. Lại bảo từ bé được giáo dục cái Thiện bao giờ cũng thắng cái Ác… nhưng thực tế cái Ác rất mạnh, quật ngã cái Thiện như chơi. Từ lúc biết nghĩ anh chỉ thấy cái Ác hoành hành nhơn nhơn qua mặt cái Thiện, thậm chí cười vào mũi cái Thiện … Đột ngột, anh hỏi tôi: Ông có kẻ thù không? Tôi bảo: Không! Tội gì mua thù chuốc oán vào mình, tôi chỉ muốn hòa bình, mọi người bắt tay với nhau, kể cả những người yêu tôi và những người tôi yêu…Trầm ngâm, anh bảo anh muốn sống lâu hơn kẻ thù của anh để chứng kiến cái chết của y. Tôi hỏi: Ông có kẻ thù à? Anh bảo:  Có! Trong xương tủy! Rồi cười nhạt… cái cười cay đắng… Anh bảo vẫn tại cái số, chắc kiếp trước ân oán giang hồ chi đây… Cái gì cũng số hết…Từ vận nước đến duyên vợ chồng, đến nghề nghiệp, đến nhà cửa, đến trả thù nhau, lừa lọc nhau, đến ngồi không mà có ăn, đến hùng hục bươn trải mà vẫn đói… Số hết! Tôi bảo: Số Hà Lạc cho ông quẻ gì? Anh bảo: Qủe Truân … Thế thì mới đi nhặt cuội để làm tản văn chứ, là Đại Súc thì đã viết tiểu thuyết… Thế nhưng cái tản văn có chủ đề về Tình yêu và Kẻ thù của tôi đang viết dở lại dài quá… chả biết nên gọi là tản văn hay tiểu thuyết… Tôi lại bảo: Mấy năm trước ông mà nói thế là đi tù chắc rồi đó! Can tội tuyên truyền mê tín dị đoan! Nhớ lão X năm xưa hát nhạc vàng tù 10 năm không? Nhớ đại ca Y chơi vài cái ảnh khỏa thân tù 4 năm không? Anh bảo tù cũng có số chớ bộ, dễ mà được đi à? Anh rượu kém thật, bát phở gánh với vài ly rượu gì màu vàng trong cái chai vuông, lùn mà đã bất chấp tù tội… Liều !

   Bây giờ thì anh đi thật! Dù chỉ là đi chơi đâu đó.
   Số bài viết cũng đã 64 bài! Đúng bằng số tuổi anh (có số thật)
   Tôi lật dưới bài Chết là hết ấy mà, thấy còn vài tờ giấy viết nhằng nhịt  nhiều dòng xô lệch như viết trong một cuộc giằng xé… Cuối cùng vẫn đọc được mấy dòng sau: “Gửi Vĩnh ! Bản thảo bây giờ là của ông… tùy ý sử dụng, tôi không kìm được cơn cuồng nộ tìm kiếm cái kết cục tận cùng của cái Ác và cái Ngu, tôi muốn trước khi tiếp nhận sự chết được thấy nó! Rồi lên một cái thuyền không biến đi khỏi thế giới này… Rủi thay Bề Trên lại dạy rằng lên được thuyền thậm dễ mà cũng vô cùng khó! Bởi vì, phải có vé. Mà chiếc vé đó có tên là…Vị Tha!...”

   Tôi rời bàn viết, lòng trống rỗng, tôi thừa biết, anh muốn vị tha hay không vị tha cũng chẳng được! Anh không phải loại người quyết đấu … có lần tôi nói với anh như thế, anh bảo: Sao ông quá hiểu tôi vậy? Tôi từ bé đã không thích va chạm, ai cho cái gì thì được chứ không có ý thức cạnh tranh, thế nên lâu dần thành quen, lúc có việc thì mình nai lưng ra, lúc liên hoan chả ai nhớ đến mình, chơi xổ số không bao giờ trúng, làm kinh tế thì thua lỗ, đánh bạc toàn bị lừa, học Hà đồ Lạc thư để tìm đường giải thoát tinh thần thì phát hiện ra mình chỉ làm những việc hão huyền trên mây dưới gió, các cụ gọi là vô tích sự… Tôi nhớ dạo cuối  năm ngoái có ông thầy bói dạo gặp anh, phán: Làm mười hưởng ba là may, nhưng không làm thì chết đói! Anh bảo tôi, có lẽ đó là lời phán hay nhất mà anh được nghe, vì nó thật!… Tôi bảo: Nghe bác Xuân Cang đi, thiên hạ dẫm đạp nhau thì mình trốn đi, lủi vào một góc mà vẽ, viết… Và anh đã nghe tôi, những khi ấy, anh rạng rỡ hẳn lên, anh lặng lẽ vẽ bên tôi như một kẻ nhập đồng…Thế mà bây giờ đột nhiên anh bỏ đi, buông sõng một câu: Chết là hết ấy mà! Có lần hai người cùng đọc Kinh Dịch, tôi hỏi anh: Ông thích nhất quẻ nào trong 64 quẻ? Anh bảo: Qủe số 15! Tôi giễu anh: Thế thì làm sao mà làm Thượng đế được, làm sao mà có khí phách anh hùng được, không có hai cái đó làm sao mà vẽ được… Anh cười buồn: Có lẽ vẽ cũng phải bỏ thôi… Tôi ghê sợ cái lòng người bây giờ quá… Không ai được chọn đắng cay hay hạnh phúc, tôi đã từng hạnh phúc, lạ thay, nó lại rơi vào thời điểm cả dân tộc gian nan, khốc liệt nhất… Sau này Hà Lạc dạy tôi rằng: Nhiệm vụ trong suốt cuộc đời của anh là đi, còn đi đến đâu không thuộc quyền lựa chọn của anh, quyền ấy thuộc về đấng tối cao, đó là số phận! 
   
Cuối Đông - đón Qúi Tỵ về.
Nguyễn văn Vĩnh

HẾT
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM