Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:40:50 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Giải phẫu một cuộc chiến tranh  (Đọc 112831 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #10 vào lúc: 24 Tháng Tám, 2008, 08:51:34 am »

SỰ CHẬM PHÁT TRIỂN CỦA TƯ TƯỞNG VÀ SỰ CHỐNG ĐỐI

Về mặt ý thức hệ và văn hóa, khi chuyển sang thế kỷ này, Việt Nam đã trở thành nơi tập trung nhiều tư tưởng và triết lý của thế giới, kể cả những tư tưởng và triết lý thịnh hành ở Trung Quốc và Nhật Bản. Người Pháp du nhập vào Việt Nam tư tưởng bảo thủ của họ thông qua các hệ thống trường cơ sở mà họ bắt đầu thiết lập và một số sinh viên tuy nhỏ nhưng có ý nghĩa của những gia đình Việt Nam giàu có du học ở Pháp cũng mang về nước tư tưởng dân chủ hơn. Nhiều thứ lý thuyết như vậy tạo ra một mớ lộn xộn về khái niệm.

Đối với những nhà trí thức, việc đi tìm kiếm tư tưởng vừa là một sự tìm kiếm khách quan những biện pháp cho việc thúc đẩy lợi ích của Việt Nam chống lại những thất bại trước đó và những thách thức của chủ nghĩa thực dân, vừa là một phương tiện để thực hiện những tham vọng của họ. Bởi vì những nhà trí thức đều gắn liền với tầng lớp có học tương đối có đặc quyền và liên hệ cá nhân với địa chủ, tư sản thành thị, và giới quan liêu thuộc địa ngày càng đông, cho nên ý kiến và quan điểm của họ được hình thành theo lợi ích và khả năng giai cấp của họ. Tình trạng đó hạn chế sâu sắc sức lôi cuốn quần chúng của họ và đưa họ đến việc luôn luôn chấp nhận những thỏa hiệp tai hại, tạo điều kiện thuận lợi ngày càng nhiều cho Đảng Cộng sản.

Một lực lượng kỳ lạ nhất và chắc chắn là thành công nhất mà tình hình trên đây tạo ra là giáo phái Cao Đài. Thành lập năm 1925, Cao Đài hòa lẫn đạo Thiên chúa, đạo Phật, đạo Lão, đạo Khổng, thuyết duy linh, bói toán và thuyết thần bí với nhau và thu hút một phần mười đến một phần năm số dân của Nam Kỳ vào năm 1930. Các nhà lãnh đạo Cao Đài xuất thân từ tầng lớp trên của xã hội địa phương. Nhiều người chiếm những vị trí tương đối quan trọng trong bộ máy thuộc địa hoặc trong các tổ chức tư nhân của Pháp, hoặc họ cũng là những địa chủ và họ trùm lên trên giới lãnh đạo của đảng Lập hiến, một tổ chức thân Pháp một cách trung thành nhưng cũng ra sức giành những quyền kinh tế và hợp pháp cho tầng lớp trên có học của Việt Nam. Cơ sở quần chúng của Cao Đài là những bần nông sống ở những vùng ít chịu ảnh hưởng của chế độ ruộng đất Pháp và sẵn sàng chịu sự lãnh đạo tôn giáo gia trưởng của Cao Đài. Người Pháp cũng tỏ ra dễ dãi và đôi khi lợi dụng sự có mặt của Cao Đài, và trên bốn thập kỷ, Cao Đài là một lực lượng môi giới lớn nhưng rất địa phương hóa ở Nam Kỳ, biến tư tưởng, chính trị, nhu cầu xã hội của quần chúng, các cơ sở kinh doanh và tài sản của những người sáng lập thành một thứ pha trộn độc đáo nhưng thành công.

Không có phong trào trí thức không mác-xít nào khác có được ảnh hưởng như Cao Đài chỉ vì nó không có một cơ sở xã hội tương đương. Những cuộc nổi dậy địa phương của nông dân mà một ít nhà quý tộc có học lãnh đạo trong cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX hoặc ngay cả cuộc nổi dậy ngắn ngủi tháng 2 năm 1930 của Quốc dân đảng Việt Nam, chứng tỏ rằng Việt Nam có những phần tử trí thức yêu nước một cách dũng cảm. Nhưng họ thiếu một ý thức về kỷ luật và về thời cơ rất thiết yếu cho sự tồn tại và thắng lợi và do những sai lầm của họ mà người Pháp có thể đàn áp và gạt bỏ làm cho họ không còn là một nhân tố có ý nghĩa nữa.

Cuối cùng, bước đường tất yếu của những tư tưởng cổ truyền, thừa hưởng của Việt Nam, tư tưởng văn hóa, tôn giáo và trí thức, trở nên mòn mỏi và thụ động trước những biến đổi xã hội và chính trị của đất nước. Không có học thuyết không mác-xít nào xuất hiện mà có thể khắc phục những chiều hướng ly tâm của tư tưởng Việt Nam bằng một sự tổng hợp những quan niệm cổ truyền và hiện đại phù hợp với những biến đổi kinh tế và xã hội to lớn mà chủ nghĩa thực dân gây ra.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #11 vào lúc: 24 Tháng Tám, 2008, 08:52:53 am »

GIAI CẤP TƯ SẢN CHẬM PHÁT TRIỂN

Bên cạnh một giai cấp công nhân năng động chậm phát triển, một giới trí thức mơ hồ, manh mún và một giới nông dân ngày càng bị bần cùng hóa và thất thế dưới ách bóc lột của những địa chủ hoàn toàn không ổn định, xuất hiện một giai cấp tư sản Việt Nam nhỏ, mong manh và chậm phát triển một cách khác thường. Cách dễ nhất và chắc chắn nhất làm cho một người Việt Nam tham lam để thành công về mặt kinh tế là làm việc với bộ máy quan liêu thuộc địa.

Việc xây dựng một giai cấp tư sản dân tộc đã bị ngăn trở ở Việt Nam, cũng như ở toàn Đông Nam Á bởi vai trò lấn át của người Trung Quốc trong cơ cấu kinh tế. Được tổ chức một cách hợp pháp thành những bang tự trị, tự quản trên cơ sở năm khu vực chính mà từ đó người Trung Quốc di cư, vào năm 1930 họ đã hưởng quy chế nước được ưu đãi nhất và sau năm 1946 thì hưởng sự bình đẳng thực tiễn với người Pháp trong các vấn đề kinh tế. Các bang điều hòa tất cả các vấn đề về pháp lý và thuế khóa và là cơ sở chức năng cho hoạt động kinh tế của Trung Quốc, trong đó các tập đoàn gia đình Trung Quốc khác nhau kinh doanh. Các bang thường chia các ngành hoạt động kinh tế thành những độc quyền, giúp các thành viên của bang bằng một hệ thống tín dụng không chính thức nhưng rất hiệu quả. Các bang nắm phần lớn nền kinh tế thông qua vị trí lấn át của họ với tư cách là những nhà cho vay nặng lãi và họ hoạt động ở nông thôn với một phương thức mà giới quan liêu Pháp không thể làm được. Xay thóc, trồng thuốc phiện và tiêu, buôn gạo, bông và đường, xuất nhập khẩu, vận chuyển, buôn bán, tất cả những hoạt động này đều rơi vào tay người Trung Quốc mà đến năm 1954 đã kiểm soát khoảng ba phần tư tất cả ngành buôn bán.

Người Pháp vừa phục vừa sợ người Trung Quốc, nhưng lại dựa mạnh vào họ để giải quyết các nhu cầu của mình, giảm bớt một phần thuế và nới rộng một phần việc quản lý tài chính. Bởi vì người Trung Quốc làm trung gian giữa bọn thực dân và những người thuộc địa và giúp cho chế độ của Pháp hoạt động có hiệu quả với tư cách là tư sản mại bản và như một giai cấp tư bản chủng tộc khác. Những nhà kinh doanh và cho vay nặng lãi Việt Nam hoạt động trong những kẽ hở của nến kinh tế nếu họ không trực tiếp gắn bó với các tập đoàn Trung Quốc. Còn những người Chà-và cho vay nặng lãi từ Ấn Độ cũng chỉ thu hẹp mảnh đất bị bóc lột mà thôi.

Mạng lưới của Trung Quốc hoạt động trên khắp Đông Dương, nhưng Sài Gòn (với khu vực Chợ Lớn toàn người Trung Quốc), Phnôm Pênh, Hải Phòng và Hà Nội là những cộng đồng chính của họ. Do đó Việt Nam đô thị chịu ảnh hưởng Trung Quốc rất mạnh về văn hóa và chủ yếu về kinh tế. Thỏa hiệp duy nhất của người Trung Quốc với xã hội địa phương là cưới, nếu cần, những phụ nữ bản xứ, và phần đông bọn họ duy trì quy chế hợp pháp của quốc tịch Trung Quốc, tuy đã trải qua nhiều thế hệ ở Việt Nam. Vì việc buôn bán với nước ngoài của họ đòi hỏi tiếp xúc với trong nước và với các bang và gia đình ở Hồng Công hoặc Xinh- ga-po, cho nên họ thấy cần thiết không được làm giảm nhẹ tính chất chủng tộc của họ.

Thực ra, Đông Dương, cũng như toàn bộ Đông Nam Á, là một địa bàn lớn cho những người nhập cư từ Trung Quốc để làm giàu và phần đông bọn họ không quan tâm cũng như không có xu hướng đồng hóa với địa phương. Số dân Trung Quốc ở Nam Kỳ tăng sáu lần từ 1879 đến năm 1928, khi tổng số người Trung Quốc ở toàn Đông Dương lên đến 402.000. Tuy nhiên, với sự xảy ra của cuộc đại khủng hoảng, 76.000 đã rời thuộc địa này trong 8 năm tiếp theo. Như vậy là thành phấn duy nhất có lợi nhất trong trật tự hiện có lại là thành phần dễ biến động và không trung thành bảo vệ trật tự đó.

Kết quả là không có một giới tinh túy kinh tế bản xứ và thống nhất đủ khả năng và sẵn sàng thiết lập một trật tự thể chế và một cơ cấu chính trị nhằm củng cố mình một cách độc lập với chế độ thực dân. Không có giai cấp tư sản dân tộc như kiểu giai cấp lãnh đạo phong trào độc lập ở Ấn Độ có thể xuất hiện ở Việt Nam. Giai cấp tiểu tư sản Việt Nam to lớn vừa là thứ yếu vừa là không ổn định, không có lợi ích gì trong chế độ và chỉ đủ thu nhập để nuôi dưỡng con cái.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #12 vào lúc: 24 Tháng Tám, 2008, 08:53:31 am »

Sự có mặt của Trung Quốc không còn để lại bao nhiêu chỗ cho một giai cấp tư sản Việt Nam mạnh. Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, việc Pháp đưa tư bản vào đã mở ra những cơ hội cho những nhà kinh doanh, và người Trung Quốc không thể hoàn toàn loại trừ người Việt Nam. Nhưng người Pháp vẫn giữ thị trường địa phương cho lợi ích của chính mình và hạn chế phạm vi hoạt động kinh tế của giai cấp tư sản tại chỗ. Khi nhiều địa chủ Việt Nam đã làm giàu nhờ đầu cơ ruộng đất và cho vay nặng lãi, chuyển vào các đô thị thì họ thấy khó tham gia nền kinh tế phi nông nghiệp. Họ đưa con họ vào thành phố hoặc ngay cả sang Pháp để học tập. Họ là những người tiêu thụ ngày càng nhiều hàng hóa phương Tây và là những người làm theo những suy nghĩ của phương Tây. Gia sản của họ được xây dựng bằng khai thác ruộng đất, bằng một số dịch vụ và bằng nghề xây dựng và trên hết là bằng bộ máy quan liêu thực dân của Pháp mà họ phục vụ như những người cộng tác. Đến năm 1951, người Trung Quốc kiểm soát trên một nửa các xí nghiệp ở phía nam vĩ tuyến 17 và trên một nửa vốn đấu tư phi nông nghiệp, kể cả đầu tư của Pháp. Người Việt Nam chỉ chiếm đa số trong các xí nghiệp nhỏ nhất.

Giai cấp tư sản Việt Nam, cuối cùng không tìm được một vai trò rõ ràng hoặc một tính cách trong chế độ thực dân. Trong cuộc đại khủng hoảng, do thiếu vai trò quan trọng nên các hoạt động kinh tế của giai cấp đó đã bị thất bại. Trong tình hình như vậy, đại bộ phận giới trí thức Việt Nam thấy rằng sự cộng tác với Pháp, không nghi ngờ gì là con đường chắc chắn nhất để giành được nhiều của cải hơn. Tuy vậy một nhóm nhỏ hơn đòi hỏi một vị trí lớn hơn trong chế độ. Cố gắng quan trọng nhất trong nhiều cố gắng theo hướng đó là cố gắng của đảng Lập hiến trong suốt những năm 1920 đòi người Pháp để cho giới trí thức Việt Nam tham gia điều khiển bộ máy quan liêu và nền kinh tế. Gồm những nhà chuyên nghiệp có học thức, những địa chủ, những nhà buôn giàu có và những quan chức cấp cao, giai cấp tư sản hết lòng thân Pháp và công khai chống Trung Quốc đó được giao một số chức vụ danh nghĩa nhưng chưa bao giờ giành được những thời cơ kinh doanh quan trọng như họ đòi hỏi. Kết quả là một số tham gia đạo Cao Đài trong khi bản thân đảng của họ trở thành một lực lượng nhỏ bé, luôn luôn cộng tác với Pháp trong suốt những năm 1930.

Cuối cùng, Cao Đài, đảng Lập hiến và nhiều tổ chức tương tự chỉ còn là những phản chiếu của tình trạng lo âu day dứt của một nhóm tương đối nhỏ trong tầng lớp trên tham lam gồm những địa chủ, công chức, nhà chuyên nghiệp và những người đô thị giàu có cùng chung quan điểm chính trị, văn hóa và xã hội. Phần đông thành viên của tầng lớp đó, tuy vậy, không có xu hướng vận động quần chúng, ngay dù cho với danh nghĩa của chính họ, bởi vì quan tâm của họ chỉ quanh quẩn việc làm ra tiền và tiêu tiền mà thôi. Lóa mắt trước hàng hóa tiêu dùng của Pháp và những giá trị vật chất mà họ xem là gắn liền với nền văn hóa Gô-loa, những thành viên thực dụng của nhóm chóp bu Việt Nam đó không quan tâm gì đến việc thách thức nghiêm chỉnh bất kỳ nhà cầm quyền nào. Cộng tác với địch trong suốt lịch sử của Việt Nam là đặc điểm của vị trí xã hội và kinh tế không ổn định và không quan trọng của tầng lớp trên Việt Nam. Bị kẹt giữa những ông chủ thực dân và bọn mại bản Trung Quốc, họ không bao giờ có đủ quyền lực, sự cố kết, tính hợp pháp để lấp lỗ trống mà người Pháp đã tạo ra trên khắp Việt Nam. Cuộc đại khủng hoảng chỉ làm yếu thêm các cơ sở đã lung lay của họ cũng như đã làm yếu thêm toàn bộ trật tự xã hội mà Chiến tranh thế giới thứ hai sẽ hoàn toàn phá hủy.

Một sự khác biệt chủ yếu giữa cách mạng Trung Quốc và cách mạng Việt Nam là các người cộng sản Trung Quốc đương đấu với một kẻ thù khá đoàn kết tuyên bố có đủ tính hợp pháp quốc gia trong khi Việt Nam chẳng có gì có thể so sánh được với Quốc dân đảng (Trung Quốc) trên khắp đất nước. Giới thượng lưu đô thị và giới sở hữu ruộng đất Việt Nam kém đoàn kết và kém phát triển hơn Trung Quốc và sự khác biệt đó được biểu hiện trong việc không có một lực lượng chính trị quan trọng chống lại Đảng Cộng sản trong phần còn lại của thế kỷ.

Bế tắc của giới thượng lưu Việt Nam chỉ là một bộ phận của cuộc khủng hoảng phổ biến của trật tự thực dân, nó ảnh hưởng nghiêm trọng nhất đối với nông dân nhưng cũng gây tổn thương cho giai cấp công nhân có vị trí chiến lược và cho những nhà trí thức rất nổi tiếng nhưng bất lực. Do thiếu cơ sở chính trị và giai cấp của giới thượng lưu, nên cuộc khủng hoảng kéo dài tạo điều kiện cho sự xuất hiện của Đảng Cộng sản, bởi vì chính trong hàng nghìn thôn xã của những nông dân nghèo, trong các hầm mỏ và đồn điền cao su của những công nhân thiếu ăn và trong hàng ngũ những sinh viên và trí thức lo âu, say sưa thảo luận tương lai của Việt Nam mà bắt đầu cuộc đấu tranh dài nhất, có tính chất anh hùng ca của con người trong thế kỷ thứ XX.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #13 vào lúc: 24 Tháng Tám, 2008, 08:54:31 am »

Chương hai
ĐẢNG CỘNG SẢN CHO ĐẾN NĂM 1945:
TỪ ĐẠI KHỦNG HOẢNG CHO ĐẾN CHIẾN TRANH

Cho đến năm 1945, Đảng Cộng sản có một lịch sử với quá ít thắng lợi để biện hộ cho tinh thần lạc quan của gần bốn nghìn đảng viên trong năm 1944. Nhiệm vụ quan trọng đặt ra cho Đảng trong hai thập kỷ đầu là phát triển một chiến lược để tồn tại trước một chế độ đàn áp nhằm vào các lực lượng và các tiềm năng xã hội. Khả năng kiên trì của Đảng, trong khi thời gian và hoàn cảnh gây tổn thương cho kẻ thù, đã trở thành một mặt quan trọng trong lý thuyết và thực tiễn của Đảng. Thường vai trò của Đảng không phải là lãnh đạo các sự kiện nhưng đáp ứng và thích nghi để rồi hướng dẫn các sự kiện. Đảng trở thành vừa là người lãnh đạo vừa là người theo quá trình của lịch sử.

Tài năng độc đáo nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự nhận thức về mặt quốc tế trong sự phân tích và hành động của mình. Đảng tin rằng sức mạnh của Đảng và số phận kẻ thù sẽ phụ thuộc ở một mức độ trọng yếu vào các sự kiện và các lực lượng nằm ngoài phạm vi trực tiếp của Việt Nam, phản ánh những mâu thuẫn nội bộ ở Pháp và sau đó ở Mỹ cũng như cán cân lực lượng thế giới. Ý thức quốc tế của Đảng là sợi chỉ trung tâm trong suốt quá trình rèn luyện của mình.

NHỮNG CƠ SỞ TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Những ảnh hưởng đối với sự phát triển hệ tư tưởng của Đảng rõ ràng là khá phức tạp nên không thể đánh giá một cách đơn giản. Cuộc khủng hoảng văn hóa sâu sắc trong thời kỳ giữa hai cuộc chiến tranh đã tầm thường hóa những tư tưởng xã hội cũ và đưa vào một số lớn các tư tưởng mới. Rất khó nếu muốn tách ra một cách rành mạch tác động của chủ nghĩa mác-xít lê-nin-nít, của những tư tưởng xã hội Việt Nam biểu hiện trong đạo Khổng và trong chủ nghĩa dân tộc hay là của những truyền thống cấp tiến Pháp, bởi vì Đảng chưa nhất thể hóa các loại ảnh hưởng khác nhau trong một hệ thống thống nhất. Thiên tài của Đảng là đã sản sinh ra những nhà chiến lược lỗi lạc, trước hết là Hồ Chí Minh (Chú thích: Để tránh nhầm lẫn, tôi xin dùng tên sau năm 1940 của Người: Hồ Chí Minh hoặc đơn giản hơn là “Hồ"-TG.), phản ánh một cơ cấu lãnh đạo ổn định và hợp tác của Đảng và Đảng cũng đã tạo ra một quan niệm độc đáo và chi tiết cho hành động cách mạng của mình. Hồ Chí Minh là hiện thân cho các dòng tư tưởng hình thành tư tưởng của Đảng và khả năng của Người khuyến khích những tư tưởng và chiến lược linh hoạt đã tạo ra một khả năng tiếp thu rộng rãi nhiều di sản. Chính thái độ tiếp thu rộng rãi đó của các nhà lãnh đạo đã đưa đến một đảng quần chúng ngày càng rộng rãi của cánh tả tương đối ít bị chia rẽ về mặt lý luận. Hồ Chí Minh luôn luôn lập luận rằng vai trò của Người và vai trò của tất cả các nhà lãnh đạo phải phụ thuộc vào vai trò của Đảng, bảo đảm rằng không nhân vật kém khiêm tốn nào có thể làm nguy hại đến tính chất độc lập của Đảng. Có lẽ đóng góp lớn nhất của Người chính là khả năng của Người thấy rõ những giới hạn của các nhân vật và các cá nhân, và xác định rõ cơ cấu làm ra quyết định của Đảng là tập thể các nhà lãnh đạo và các đảng viên cấp thấp hơn. Phong cách giấu mình đó đã làm cho Người càng được quần chúng tín nhiệm hơn bởi vì đó là phong cách vừa quá hiếm có vừa rất đáng tin. Thực vậy phong cách đó làm cho Người xứng đáng là một nhà tổ chức lê-nin-nít duy nhất, chân chính và quan trọng, xuất hiện từ phong trào cộng sản quốc tế.

Không đánh giá thấp vai trò của các tư tưởng khác, những tư tưởng quốc tế của Đảng đã ảnh hưởng sâu sắc đến giai đoạn phát triển đầu tiên và quyết định của Đảng cho đến năm 1940, khi mà những sự kiện của thế giới đã tác động đến số phận của Việt Nam. Hồ Chí Minh rời Việt Nam năm 1911 và ba thập kỷ tiếp theo đã liên hệ với Việt Nam từ bên ngoài biên giới; Người đi vào chủ nghĩa mác-xít lê-nin-nít ở Pháp. Tác động qua lại của Người với thế giới, tuy khá khác với Xta-lin hoặc Mao chỉ hoạt động trong nước, đã kết hợp chủ nghĩa quốc tế và chủ nghĩa yêu nước mà về sau trở thành tiêu biểu của Đảng. Sự sụp đổ của trí thức Việt Nam cổ truyền đã từng tồn tại lâu đời và ảnh hưởng tiến bộ của Pháp đối với nhiều sinh viên hoặc sang Pháp học hoặc đọc trong nước những nhà văn tiến bộ Pháp đã củng cố những ảnh hưởng quốc tế. Vì nhóm thanh niên đầu tiên của Đảng chủ yếu là những nhà trí thức nên lúc đầu để thu hút những người cùng chí hướng, lý thuyết đóng một vai trò quan trọng hơn nhiều so với giai đoạn sau, khi mà những yêu sách cụ thể của Đảng bắt đầu lôi cuốn quần chúng.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #14 vào lúc: 24 Tháng Tám, 2008, 08:55:07 am »

Trong suốt lịch sử của Đảng, Hồ Chí Minh và các nhà lãnh đạo khác lập luận rằng chủ nghĩa yêu nước phù hợp với chủ nghĩa quốc tế vô sản và với công cuộc chống thực dân, do đó phù hợp với lợi ích của những người cộng sản ở tất cả các nước, nhưng chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi là phản động. Đảng Việt Nam làm mọi điều có thể làm được để tránh bất kỳ dính dáng nào đến chủ nghĩa sô-vanh.

Chủ nghĩa Mác, đã ảnh hưởng lớn đến Đảng, nhưng chính vì phải cùng tồn tại với nhiều ảnh hưởng trong nền văn hóa nên chủ nghĩa Mác trở thành một phương pháp luận hơn là một học thuyết chính xác trong mọi vấn đề. Ảnh hưởng lớn nhất của chủ nghĩa Mác là đối với những người trong nhà tù là nơi mà việc nghiên cứu chủ nghĩa Mác đã trở thành điều mà về sau Hồ Chí Minh gọi là "biến điều xấu thành điều tốt" Vì Ban Chấp hành Trung ương của Đảng được bầu trong Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lấn thứ ba năm 1960 đã chịu tổng cộng 222 năm tù hoặc đày, nên ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác, mỉa mai thay, có thể được xem như một trong những đóng góp của Pháp vào việc xây dựng hệ tư tưởng.

Chỉ có Đảng Việt Nam mới luôn luôn nhấn mạnh một cách sâu sắc những tiêu chuẩn của tư cách đạo đức con người và trách nhiệm của cá nhân và của Đảng đối với nhau. Tuy những năm sau đó, Đảng phải đối phó với những đảng viên thuộc những lý thuyết đáng phê phán hơn như những người Tờ-rốt-kít và những người tôn giáo ở đồng bằng sông Cửu Long, những khả năng phát triển Đảng càng nhiều càng tốt chung quanh một chương trình khiêm tốn đã phản ánh ngay từ đầu tình trạng không bè phái trong Đảng. 

Sức mạnh thực sự của Đảng, cuối cùng, là khả năng của Đảng giải quyết nhu cầu giai cấp của đa số đất nước. Và tính độc đáo của Đảng đã xuất hiện không phải từ học thuyết mác-xít trừu tượng mà từ sự phát triển của học thuyết đó sau năm 1945 thành những quan niệm mới, thành những hình thức tổ chức để thực hiện học thuyết, thành một Đảng mác-xít lê-nin-nít với mối quan hệ của cá nhân với nhau, với Đảng và với quá trình chuyển biến lịch sử to lớn hơn.

Hệ tư tưởng cách mạng và nền văn hóa ở Việt Nam biểu hiện bằng nhiều mặt khác nhau bên cạnh chủ nghĩa mác-xít lê-nin-nít: thơ ca, kinh nghiệm nhà tù, ý nghĩa của ruộng đất và những sắc thái của nó và tính liên tục của những truyền thống quan trọng. Những người cộng sản tránh chủ nghĩa sô-vanh và do đó sớm xác định mối quan hệ của Việt Nam với phong trào và tư tưởng thế giới. Những người cộng sản sẵn sàng bảo vệ một số mặt của nền văn hóa hiện có nhưng cũng rất thiết tha thay đổi phần lớn nó. Tuy vậy, khi bắt đầu, chủ nghĩa Mác ở Việt Nam thừa kế một gia sản trí thức chuyển tiếp để sản sinh ra một phong trào cách mạng còn bé nhỏ. Trước sự thay đổi kinh tế và xã hội nhanh chóng của xã hội Việt Nam, những người cộng sản cần phải đủ sức để tổng hợp càng nhiều dòng tư tưởng cũ, cấp tiến và có ích càng tốt và để xử lý với tác động của những phát triển không thể kiềm chế đó.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #15 vào lúc: 24 Tháng Tám, 2008, 08:55:59 am »

NHỮNG NĂM l930 VÀ SỰ XUẤT HIỆN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN ĐÔNG DƯƠNG

Trước Chiến tranh thế giới thứ hai, những người cộng sản chịu đựng một thời gian dài, khó nhọc của sự rèn luyện và thử thách. Hồ Chí Minh ở Trung Quốc và Liên Xô cũng gián tiếp chịu phần thử thách đó, và các thất bại của những người khác khẳng định sự nhìn xa thấy rộng và sự khôn ngoan của Người khi Người tự tách mình ra và có lúc vì những mục tiêu thực tiễn, làm cho không ai chú ý đến.

Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Lê-nin qua vấn đề thuộc địa mà Lê-nin là người đầu tiên cho đó là vấn đế trọng yếu của cách mạng thế giới. Hồ Chí Minh công khai chỉ trích các Đảng Cộng sản Tây âu vì đã bàng quan với vấn đề đó, đặc biệt là với chủ nghĩa đế quốc của chính đất nước họ. Và sự nhấn mạnh như vậy đối với chủ nghĩa thực dân có nghĩa là phải thích nghi với thực tế rằng quần chúng thuộc địa là một lực lượng mà tối đa là nông dân cho nên sự nhấn mạnh của Quốc tế cộng sản đối với vai trò thiết yếu của giai cấp vô sản vừa không thích đáng vừa không phù hợp với tương lai của phong trào cộng sản châu Á.

Những vấn đề thuộc địa và nông dân trên thực tế không thể tách rời nhau. Trong một tiểu luận xuất sắc và độc đáo năm 1927, Hồ Chí Minh đã đi thẳng vào thế khó xử cơ bản của Đảng của giai cấp vô sản trong một nước nông dân, tức là làm thế nào cho nông dân đi được với chiến lược của Đảng, Hồ Chí Minh lập luận rằng không thể không làm như thế được. Ngay cách mạng tư sản dân tộc cũng không thể một mình thành công được. Đảng của giai cấp vô sản phải uốn nắn những hành động tự phát, riêng rẽ và phôi thai về chính trị lúc ban đầu của nông dân cho phù hợp với các chương trình đặc biệt và để phối hợp chúng với công việc của Đảng ở các trung tâm công nghiệp. Hồ Chí Minh đã dự kiến trước tất cả các vấn đề chiến lược tương lai thiết yếu của Cách mạng Việt Nam từ cơ sở chính trị của tình trạng chiến tranh đến mối liên hệ của thành thị với nông thôn.

Nhờ sự đánh giá lê-nin-nít đúng đắn về mặt tổ chức, Hồ Chí Minh đã hiểu ngay tính chất rộng lớn và sự phân tán bên trong của Việt Nam và do đó mà cần thiết phải rất linh động. Kết quả là sự đa dạng của chiến thuật chống chủ nghĩa thực dân. Tuy nhiên phải mất đến một thập kỷ Đảng mới hoàn toàn tán thành quan điểm của Người, tính độc lập của Người đã biểu hiện rõ ngay vào cuối những năm 1920. Hồ Chí Minh đã trở thành một trong những nhân vật xuất sắc nhất của thời hiện đại.

Trong thời gian ở Trung Quốc từ năm 1925 đến năm 1927 với tư cách là đại diện của Quốc tế cộng sản, Hồ Chí Minh đã tìm cách thành lập tổ chức Thanh niên trong số những người Việt Nam lưu vong, nhưng ngay ở Việt Nam cũng xuất hiện nhiều nhóm độc lập tự xưng là Cộng sản của một nhóm những sinh viên ở đô thị thuộc nguồn gốc tư sản, và cũng giống như những tổ chức riêng lẻ khác, các nhóm đó sớm tranh giành với nhau vì những vấn đề bè phái. Chương trình của Thanh niên không có những yêu sách gì quá to lớn: nó chỉ muốn một mặt trận thống nhất rộng rãi chống thực dân do công nhân và nông dân lãnh đạo. Trong khi còn cần phải khắc phục thực tế về tính chất chưa quan trọng và còn là quá độ của giai cấp công nhân, rõ ràng từ năm 1927 Hồ Chí Minh đã đặt hy vọng nhiều vào giai cấp công nhân. Nhưng nhóm Thanh niên đã bị tiêu diệt hoàn toàn ở Trung Quốc sau năm 1927, còn ở Việt Nam, những người còn lại tiếp tục hoạt động trong phạm vi giai cấp công nhân nhỏ bé. Một số các thành viên Thanh niên trước kia của Người, được học tập ở Mát-xcơ-va đã tán thành đường lối sau năm 1928 của Quốc tế cộng sản nhằm nhấn mạnh tính chất thuần túy của giai cấp vô sản và hạn chế cơ sở hợp tác với các giai cấp khác, đã sớm nắm quyền lãnh đạo.

Hồ Chí Minh tổ chức cuộc họp thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 2 năm 1930 ở Hồng Công, đưa ba phái riêng rẽ lại với nhau, viết ra tuyên ngôn và lời kêu gọi đầu tiên của Đảng. Tuyên ngôn làm rõ giai cấp vô sản là giai cấp lãnh đạo trọng yếu, nhưng cũng nhấn mạnh một cách rõ ràng sự cần thiết phải liên minh với nông dân bằng một cuộc cách mạng ruộng đất chống lại địa chủ lớn, phong kiến và đế quốc, nhưng miễn trừ phú nông, trung nông và bần nông và cả giai cấp tư sản dân tộc. Tiếp xúc với những giai cấp như vậy để rồi vô hiệu hóa họ là chiến thuật rõ ràng và cơ bản nhất của Đảng, tức là chiến thuật thành lập các mặt trận thống nhất. Độc lập dân tộc và các vấn đề ruộng đất như vậy là được gắn với nhau như phương tiện và mục đích. Về thực chất, cương lĩnh tương lai của Đảng đã được công bố, nhưng sau một số tháng, Quốc tế cộng sản tố cáo cương lĩnh đó là không nguyên tắc và đến tháng 10, cương lĩnh đã được sửa đổi nhiều nhưng chưa phải là hoàn toàn khi một cương lĩnh được Quốc tế cộng sản tán thành đã được đưa ra cùng với một số nhà lãnh đạo đã được lựa chọn và buộc phải đổi tên Đảng thành Đảng Cộng sản Đông Dương. Ít nhất là trong ba năm tiếp theo nữa, Hồ Chí Minh đã bị chỉ trích vì bị cho là theo chủ nghĩa cải lương và đã đi vào bóng tối hầu như hoàn toàn cho đến năm 1939. Về sau Hồ Chí Minh và Đảng đưa ra công khai nhiều lời phê bình các chính sách thời kỳ 1931-1939 của Đảng.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #16 vào lúc: 24 Tháng Tám, 2008, 08:56:46 am »

Ở Trung Kỳ có một thành phố công nghiệp quan trọng bị ảnh hưởng nặng nề vì cuộc đại khủng hoảng, đó là Vinh. Những hoạt động của Đảng trong giai cấp công nhân ở đó chỉ bắt đầu trong tháng 3 năm 1930, khi hai nhà tổ chức được phái đến. Họ nhanh chóng tìm cách thành lập một chi bộ và chi bộ đã vạch kế hoạch cho các cuộc biểu tình ngày 1 tháng 5. Vì nhiều công nhân thực sự là những nông dân mới chuyển sang, nên gia đình và bạn bè của họ nhanh chóng bị lôi kéo vào. Mùa màng thiệt hại nặng năm 1929-1930 đã làm cho họ không sao chịu nổi nợ nần và thuế khóa. Ba cuộc tuấn hành ngày 1 tháng 5 đã trở thành những cuộc tập hợp của quần chúng và cuộc đàn áp ngay tức khắc của Pháp đã sát hại 12 người. Cả khu vực rực cháy trong nhiều tháng khi những cuộc biểu tình lớn dẫn đến những cuộc đàn áp tàn bạo và đồng thời cũng kéo theo sự phản đối tăng lên. Các cơ quan thuế và hành chính cùng với các hồ sơ đã bị phá hủy, những rừng cờ đỏ xuất hiện khắp nơi cùng với những khẩu hiệu của Đảng. Khi bộ máy của Pháp rút lui ra khỏi khu vực tàn sát, quần chúng mà đa số là nông dân, do các nho sĩ và sinh viên tham gia Đảng lãnh đạo đã nhanh chóng thành lập các Xô-viết để nắm quyền. Vào tháng 10, khi người Pháp bắt đầu đàn áp mạnh mẽ cuộc nổi dậy thì nhiều tổng và xã đã nằm trong tay các Xô viết. Bị kẹp giữa đàn áp và nạn đói, chính quyền cách mạng bị tan vỡ vào mùa đông và mùa xuân tiếp theo. Cuối cùng ít nhất 1.300 người đã bị Pháp giết và, số người bị tù và bị đày gấp nhiều lần con số đó. Trong những tháng cuối cùng của chính quyền Xô-viết, các đảng viên mới và những người cảm tình của Đảng chống lại nhau và bần cố nông thì trả thù những láng giềng giàu hơn của mình, chia rẽ thôn xóm đã từng rất đoàn kết trước đó. Cuối cùng, hầu như Đảng không còn gì lại trong khu vực.

Các lực lượng của Đảng nằm ngoài khu vực thì bị bất ngờ và tuy Đảng cho rằng việc thành lập các Xô-viết là quá sớm và không khôn ngoan, nhưng Đảng không thể chỉ trích. Công khai thì Đảng Cộng sản Đông Dương ủng hộ các người nổi dậy Nghệ Tĩnh. Có chứng cớ đầy đủ rằng nhiều đảng viên địa phương cũng như các đảng ủy địa phương không biết đến đường lối mặt trận thống nhất chung của Trung ương Đảng đối với phú nông và trung nông và đối với trí thức mà các đảng ủy địa phương đuổi ra ngoài. Quan trọng hơn là không có dấu hiệu nào cho thấy rằng những lệnh trực tiếp của Ban Chấp hành Trung ương đã đến địa phương trước khi các sự kiện tiến triển đến mức không thể đảo ngược được nữa và cũng không có dấu hiệu nào cho thấy các người nổi dậy đã tuân theo chỉ thị sau đó.

Không nghi ngờ gì, Ban Chấp hành Trung ương Đảng không còn kiểm soát được cuộc nổi dậy lớn nhất của nông dân trong thời gian giữa hai cuộc chiến tranh. Trong mùa xuân năm 1931, toàn bộ Ban Chấp hành Trung ương bị bắt cùng với hầu như tất cả các ủy viên của ba xứ ủy. Nhiều người đã bị giết. Hồ Chí Minh bị bắt ở Hồng Công và phải ngồi tù hai năm. Khoảng 10.000 tù chính trị bị giam trong các nhà tù của Pháp năm 1932. Với Ban Chấp hành Trung ương lâm thời bị dày, Đảng Cộng sản Đông Dương trên thực tế đã ngừng hoạt động. Bài học của Nghệ Tĩnh là đơn giản, nhưng văn học về sau viết về Nghệ Tĩnh không phải đơn giản như vậy. Tuy về sau Hồ Chí Minh gọi sự kiện đó là một giai đoạn tập dượt cho Cách mạng tháng Tám 1945, nhưng lúc đó cả Người lẫn những nhà lãnh đạo Đảng có óc bè phái hơn đều cho là không còn hy vọng và nguy hiểm cho chiến lược mặt trận đoàn kết rộng rãi hơn. Trên thực tế Nghệ Tĩnh cho thấy tính tất yếu và những nguy hiểm to lớn của những hành động quần chúng tự phát đối với tương lai của Đảng và làm rõ rằng Đảng phải lãnh đạo các sự kiện như vậy đi vào những mục tiêu có ý thức để tránh những hậu quả không lường được, thậm chí rất tai hại.

Cho đến khi những bài học đắng cay của những năm 1930, kể cả bài học về những nguy hiểm của sự tuân theo quá triệt để những chính sách của Quốc tế cộng sản được nhận thức và tiếp thu đầy đủ và cho đến khi nổ ra cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai thì không thể có một hệ thống tổ chức chặt chẽ, một chiến lược động viên, một cơ quan lãnh đạo, thậm chí một hệ tư tưởng sâu sắc được. Trên một mức độ lý thuyết nào đó cuộc đấu tranh để sống sót đã làm cho các đảng viên không còn thì giờ để có những phân tích cơ bản, và sự áp dụng máy móc của những thanh niên Việt Nam được Liên Xô huấn luyện và được đưa vào lấp chỗ trống trong cơ cấu tổ chức, cũng chẳng đưa lại lợi ích gì. Hoạt động thường là từ những khu vực an toàn ở Thái Lan hoặc Trung Quốc, các nhà lãnh đạo mới của Đảng bắt đầu xây dựng một hệ thống mặt trận hợp pháp khác và một cơ cấu bí mật ở Việt Nam.

Sự cần thiết phải có một tổ chức ưu việt hơn là rất rõ, nhưng cấp bách hơn vẫn là sự cân đối đầy sắc thái giữa ngọn cờ độc lập dân tộc với ngọn cờ chống phong kiến, và sự nhấn mạnh của Quốc tế cộng sản vào các hoạt động mặt trận đoàn kết chống phát xít sau tháng 7 năm 1935 là nhằm đáp ứng nhu cầu đó, tuy rằng trên thực tế nó có những hậu quả vừa chia rẽ vừa tích cực. Cuộc bầu cử tháng 5 năm 1936 của Mặt trận bình dân ở Pháp với những chính sách cai trị thực dân dễ dãi hơn đã giúp cho quá trình đó và cho Đảng phát triển. Trên khắp đất nước Việt Nam, Đảng đã thành lập một mạng lưới mặt trận rộng lớn nhưng đồng thời cũng duy trì một hệ thống chi bộ bí mật của Đảng nhằm chống lại sự đàn áp mà Đảng tin rằng chắc chắn sẽ xảy ra. Đảng cũng xây dựng những tổ chức và chi bộ của giai cấp công nhân và nông dân và Đảng đã đóng vai trò quan trọng trong các cuộc bãi công và biểu tình trong suốt thời kỳ nửa hợp pháp từ giữa năm 1936 đến khi nổ ra cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai tháng 9 năm 1939. Vào lúc đó Đảng đã tự xây dựng lại và lớn hơn khi được thành lập. Mặc dù có những thất bại và những vấn đề của giai đoạn 1936 - 1939 như việc Đảng tạm thời hạ thấp những yêu sách ban đầu để tránh làm tổn thương đến sự đoàn kết với giai cấp tư sản dân tộc, Đảng đã đi vào một tổ chức và phong cách thành công, nhất là đối với các nhóm mặt trận. Quan trọng nhất là đã có một ban lãnh đạo mới và sáng tạo hơn nắm quyền trong Đảng. Tóm lại, Đảng đã trở nên khôn ngoan, linh động và trưởng thành hơn nhiều sau một thời gian dài và tổn thất của những sai lầm ấu trĩ.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #17 vào lúc: 24 Tháng Tám, 2008, 08:57:35 am »

ĐẢNG VÀ CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI
VẤN ĐỀ ĐỘNG VIÊN

Chiến tranh thế giới thứ hai đã ngay tức khắc phá hoại cơ cấu thực dân Pháp ở Đông Dương, và sự cộng tác của Vi-si với Đức bắt đầu từ tháng 6 năm 1940 và với Nhật Bản sau khi đồng ý trong tháng 9 năm 1940 cho Nhật đóng quân, đã làm mất một cách rất tai hại tính hợp pháp của chế độ cũ, khi chống chủ nghĩa thực dân trở nên đồng nghĩa với chống phát xít. Trước và sau khi Hồ Chí Minh trở về Việt Nam tháng 2 năm 1941 và Mặt trận Việt Minh được thành lập tháng 5 năm 1941, quyết định chiến lược cơ bản đứng trước Đảng là mối quan hệ của vấn đề nông dân và ruộng đất với vấn đề mặt trận đoàn kết, độc lập dân tộc và cơ cấu giai cấp hiện có, nhất là vị trí của các địa chủ lớn hơn và của cái gọi là giai cấp tư sản dân tộc. Đảng quyết tâm tránh bị cô lập về chính trị và làm cho mặt trận đoàn kết trở thành một mục tiêu tối cao trong chiến lược của mình. Đảng cho rằng càng thu hút được nhiều thành phần vào mặt trận đoàn kết bao nhiêu thì càng giảm bớt được kẻ thù tiềm tàng thách thức Đảng bấy nhiêu. Các vấn đề này tiếp tục tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau trong 35 năm nữa.

Khi chiến tranh nổ ra, Đảng chỉ thị cho các đảng viên rút vào bí mật, nhưng trên hai nghìn người vẫn bị bắt, kể cả nhiều nhà lãnh đạo chủ chốt đã từng trung thành với các chính sách của Quốc tế cộng sản. Tất cả các nhóm chống thực dân nhỏ khác đã bị bắt vào nhà tù hoặc bị đày hoặc trở thành những người cộng tác với Nhật - Pháp, vì thế mà Đảng không còn đối thủ. Đảng sớm bắt đầu phát triển, động viên những người đã không bị trói buộc bởi sự mơ hồ về học thuyết trong thập kỷ trước. Điều quan trọng hơn là các nhà lãnh đạo mới của Đảng là những người không bè phái phù hợp về mặt chính trị cũng như về mặt cá nhân với lòng tin của Hồ Chí Minh là người đã thấy những đặc tính của các điều kiện ở Việt Nam. Trường Chinh, Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp ở trong số những nhà lãnh đạo mới đó. Từ thời gian này trở đi, đã xuất hiện một giới lãnh đạo có học, hợp tác và sáng tạo, không bị vướng tính ích kỷ, và được kéo dài liên tục trong bốn thập kỷ tiếp theo. Sự hòa hợp giữa các nhà lãnh đạo đó trở thành một nguồn cơ bản cho sức mạnh của Đảng và là một lý do chính tại sao Đảng tránh được những rắc rối về lãnh đạo đã từng gây tai họa cho các Đảng mác-xít lê-nin-nít khác.

Để tìm cách xác định một chương trình và những chiến thuật nhằm làm chủ các thay đổi đang giày vò Việt Nam sau năm 1941, Đảng cố gắng hướng dẫn lịch sử và thường là không để bị xóa bỏ bởi các lực lượng không thể kiểm soát nổi và bởi chính sự yếu kém ban đầu của mình. Tuy nhiên, những sai lầm vẫn tiếp tục gây tổn thất to lớn và không sự kiện nào khác minh họa tình hình đó tất hơn là cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ ở đồng bằng sông Cửu Long mà Xứ ủy Nam Kỳ đã bắt đầu vạch kế hoạch tháng 7 năm 1940. Những sự kiện trong sáu tháng tiếp theo bộc lộ những nguy hiểm vốn có trong một tình hình mà sự phối hợp giữa những ban chấp hành cao hơn của Đảng với các khu vực nông thôn xa xôi rất tế nhị và Đảng thì không thể kiềm chế các tổ chức địa phương của mình.

Cả Xứ ủy và Ban Chấp hành Trung ương đều cố gắng hoãn cuộc nổi dậy lại, nhưng do Xứ ủy chia rẽ và dao động, nên cuộc nổi dậy bắt đầu cuối tháng 1 và kéo dài gần hai tháng trong một khu vực rộng của đồng bằng. Các ủy ban cách mạng nắm quyển và chia lại ruộng đất ở một số vùng. Nếu tính chất cuộc nổi dậy đó không kém tự phát hơn cuộc nổi dậy Nghệ Tĩnh một thập kỷ trước đó, điều rất rõ ở cả hai trường hợp là một khi quá trình đấu tranh đã bắt đầu thì những cấp cao nhất của Đảng không thể lãnh đạo được. Sự cản trở và tình hình giao thông liên lạc nghèo nàn làm cho không thể có sự kiểm soát tập trung, nhất là đối với Đảng bộ khá độc lập ở miền Nam. Khi Pháp bắt gần sáu nghìn người và giết hàng trăm người, kể cả nhiều nhà lãnh đạo chủ chốt của Đảng, thì điều rõ ràng là toàn Đảng phải trả giá rất cao cho những hành động mà Đảng cho là không đúng lúc và không đúng đắn. Đảng bộ Nam Kỳ đã từng là mạnh nhất ở Việt Nam, bây giờ bị tan nát và phải nhiều năm mới xây dựng lại được.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #18 vào lúc: 24 Tháng Tám, 2008, 08:58:36 am »

Thách thức lớn nhất đối với một đảng cách mạng muốn quyết định kết quả của những quá trình lịch sử là sự căng thẳng giữa ý muốn làm chủ tình hình với tính tự phát của những thay đổi. Dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, Đảng còn phải đương đầu trong bốn năm nữa với thế khó xử đó bằng cách theo đuổi một chiến lược thận trọng để sử dụng tốt nhất tổ chức đã bị suy yếu của mình.

Trong một thời kỳ đầy rẫy những thay đổi đột ngột và mọi thứ khả năng, khía cạnh đáng chú ý nhất của chiến thuật Việt Minh là mặc dù họ không thể duy trì Đảng trong những khu vực rộng lớn nhất là trong các đô thị, nhưng cuối cùng thời gian và cán cân lực lượng quốc tế trở thành có lợi cho chiến lược cơ bản của Đảng.

Chính ý thức sâu sắc của Đảng về những tác động của bối cảnh toàn cầu và của vị trí địa lý chính trị đối với Việt Nam, dựa trên sự phân tích vế ý nghĩa chiến tranh đối với Pháp và về trật tự thế giới trước năm 1939 đã xác định những chiến thuật và chiến lược của Đảng. Những sự kiện từ lúc Đảng bị khủng bố phải rút vào vùng dân tộc thiểu số dọc theo biên giới Trung Quốc hoặc hoạt động bí mật trong vùng đông dân do Pháp và Nhật chiếm đóng cho đến lúc Đảng giành lại được Việt Nam tháng 8 năm 1945 là những sự kiện đáng chú ý nhất của toàn bộ cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai. Những sự kiện đó bộc lộ rằng vai trò của những người có ý thức về mình cũng như những tổ chức sẽ hoặc là có tính chất quyết định hoặc là chẳng có tác dụng gì như thế nào từ một hoàn cảnh này sang một hoàn cảnh khác.

Cương lĩnh của Việt Minh giảm nhẹ vấn đề ruộng đất để lôi kéo càng nhiều thành phần khác nhau càng tốt, kể cả những địa chủ, vào các tổ chức mặt trận của họ. Cương lĩnh đó đề nghị chia lại chỉ ruộng đất của người Pháp và bọn tay sai, nhưng việc Việt Minh không kiểm soát được chặt chẽ vùng đồng bằng đã làm cho ngay những mục tiêu khiêm tốn đó cũng khó mà thực hiện được. Quan trọng hơn nhưng cũng dễ thực hiện hơn là vấn đề giảm tô và giảm tức những vấn đề sống còn của nông dân. Vì vậy khi Đảng giảm nhẹ cương lĩnh nông dân để xúc tiến liên minh yêu nước, Đảng không hề bỏ cương lĩnh đó. Dù có những thất bại ở một số vùng nhưng Việt Minh đã trở thành đồng nghĩa với sự chống lại trên phạm vi toàn quốc một trật tự thực dân đã mất tín nhiệm đang liên minh với chủ nghĩa đế quốc Nhật Bản. Sự cộng tác của Cao Đài và Hòa Hảo với Nhật Bản và Pháp đã làm cho hai lực lượng duy nhất có cơ sở trong giai cấp nông dân đó mất tính hợp pháp của họ và những đảng nhỏ thuộc tầng lớp trên cũng như thuộc hoàng tộc đều theo con đường tương tự, hòa hợp với bọn cầm quyến nên cuối cùng tự tiêu diệt mình.

Thắng lợi của Đảng vào thời điểm quyết định này trong lịch sử của mình là do kết quả của khả năng tồn tại của Đảng về phương diện vật chất cũng như chính trị trong một khoảng trống chính trị. Nhưng, những thành tựu của Đảng là tương đối và gắn liền với khả năng của Đảng hiểu và đáp ứng cán sự kiện rộng lớn quanh Đảng, dù là đáp ứng một cách thận trọng. Số lượng đảng viên vẫn còn rất nhỏ, có lẽ hai hoặc ba nghìn vào năm 1944. Khu vực căn cứ của Đảng bị tách rời và quân đội thì còn nhỏ bé. Tổ chức đô thị của Đảng bị tổn thất và thất thường mặc dù Đảng có quan hệ tốt với sinh viên và trí thức.

Và tháng 8 năm 1942 Hồ Chí Minh đi Trung Quốc để tìm kiếm sự ủng hộ của Đồng minh, nhưng bị bắt và sau 14 tháng trong các nhà tù Trung Quốc, thường là trong tình cảnh không sao tả xiết, và một năm nữa bị hạn chế đi lại. Người đã trở về Việt Nam tháng 9 năm 1944. Trong khi đó thì sức mạnh tập thể của Đảng, và ý thức về những hạn chế và những thuận lợi của mình đã làm cho Đảng tồn tại và phát triển.

Chiến tranh thế giới thứ hai gây ra cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa thực dân ở Đông Dương và những thay đổi rộng lớn trong khắp châu Á và những thắng lợi của Đảng sau năm 1942 là hậu quả của biến đổi đó. Cho đến năm 1945, khi Đảng lần đầu tiên trở thành một nhân tố sáng tạo hình thành các sự kiện, thì Đảng đã hiểu một cách thực tế mối quan hệ phụ thuộc của mình với các lực lượng làm ra những thay đổi và sự cần thiết của mình phải trở nên vừa sẵn sàng vừa đủ mạnh để tiến công khi người Pháp không còn đủ sức cai trị nữa.

Sau khi thành lập một mặt trận và xây dựng một hệ tư tưởng yêu nước bao quát, Đảng liên hệ với các phần tử đô thị và có học chưa tham gia Đảng. Tiếp xúc của Đảng với nông dân còn chặt chẽ hơn nhiều mặc dù chương trình cải cách ruộng đất có bị giảm bớt và tỏ ra quan trọng hơn nhiều so với đánh giá ban đầu của Đảng. Lúc đó Đảng chưa thấy rằng trí thức thành thị quá không ổn định hoặc giai cấp công nhân quá mới mẻ nên không thể hợp tác lâu dài với Đảng, càng ít thấy rằng sự ủng hộ lâu bền nhất đối với Đảng sẽ là từ giai cấp nông dân.

Đảng có một loạt các vấn đề có thể quan hệ trước mắt với giai cấp nông dân, tuy rằng ý nghĩa cơ bản của vấn đề ruộng đất là vai trò của nông dân sẽ trở nên thiết yếu cho bất kỳ sự huy động rộng lớn và kéo dài nào của đất nước. Tô và tức là những vấn đề sống còn trước mắt, ít gây chia rẽ cho chiến lược mặt trận đoàn kết hơn là vấn đề chia lại ruộng đất nhưng vấn đề truyền thống và chủ nghĩa yêu nước lại là những vấn đề khác. Tất cả sớm trở thành đồng nghĩa với nhau bởi vì chiến tranh và những đòi hỏi ngày càng tăng của Pháp và Nhật bắt đầu thách thức sự tồn tại của nông dân hơn là chế độ ruộng đất. Bởi vì, mặc dù những mâu thuẫn nội bộ to lớn và những căng thẳng của trật tự cổ truyền, nó vẫn còn ổn định hơn là tình trạng hỗn loạn của thời chiến tranh. Nạn đói. và thảm họa chiến tranh sớm đẩy một giai cấp nông dân tuyệt vọng đi vào thế phải tập thể đối phó với những vấn đề của mình. Những trạng thái mà chủ nghĩa thực dân Pháp đã tạo ra ở Việt Nam, cùng với sức ép của sự rối loạn tai họa của chiến tranh đưa lại cho Đảng cơ hội to lớn, hiếm có để nắm quyền, nếu đủ khả năng.

Sự sa sút không tránh được của chủ nghĩa đế quốc châu Âu ở châu Á, và cố gắng chủ yếu là mong manh của Nhật Bản để đi vào khoảng trống, nói lên rằng Đảng Cộng sản có thể hy vọng giành được thắng lợi mặc dù tổ chức nhỏ bé của mình trước năm 1945, bởi vì Đảng không có đối thủ khi Đảng thách thức chủ nghĩa đế quốc Pháp. Tính chất kém phát triển và dễ mua chuộc của các đảng và giai cấp khác làm cho Đảng dễ giữ độc quyền một cách kỳ lạ trong công cuộc chống Pháp. Sự nắm quyền tháng Tám năm 1945 của Đảng không phải là dựa vào sức mạnh quân sự mà là vào khả năng chính trị và tổ chức của Đảng nhằm đối phó với tác động vô cùng tai hại của bộ máy chiến tranh Nhật - Pháp đối với xã hội và nền kinh tế Việt Nam. Tạm thời, quyền lực của Đảng lúc này là một quyền lực bị động: Đảng tránh những ảo tưởng, và hiểu rõ những lý lẽ phải hành động khiêm tốn bằng cách chỉ tập trung vào việc hoàn chỉnh tổ chức để có đủ khả năng đưa ra quyết định thích hợp có thể thực hiện được. Các quá trình khách quan thời chiến, lúc đầu nằm ngoài sự kiểm soát của Đảng, về sau hòa vào những cố gắng có ý thức của Đảng nhằm làm chủ các sự kiện, khi mà sự đàn áp và sự chống lại chồng lên nhau và từ đó một hành động chính trị tiềm tàng cấp tiến xuất hiện. 

« Sửa lần cuối: 25 Tháng Tám, 2008, 08:19:21 pm gửi bởi SaoVang » Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #19 vào lúc: 25 Tháng Tám, 2008, 08:20:12 pm »

Chương ba
VIỆT NAM: TỪ CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945 ĐẾN CHIẾN TRANH KÉO DÀI
[/b]

CÁCH MẠNG THÁNG TÁM

Cách mạng tháng Tám chuẩn bị vũ đài cho Đảng Cộng sản lên nắm quyền. Tháng 12 năm 1944, Việt Minh thành lập các đơn vị vũ trang đầu tiên của mình, chủ yếu với những mục tiêu vận động chính trị. Và khi đã kiểm soát được sáu trong các tỉnh hẻo lánh biên giới phía bắc vào tháng 6 năm 1945 và khi các lực lượng vũ trang tiếp tục mở rộng thì sức mạnh quân sự của Việt Minh vẫn còn không đáng kể. Bản thân Cách mạng tháng Tám chỉ ngẫu nhiên mới là công việc của những người vũ trang. Nói chính xác hơn, đó là một cuộc tổng khởi nghĩa của nhân dân trong suốt đất nước do Cộng sản lãnh đạo, trong đó quần chúng đóng vai trò của một tập thể không vũ trang bước vào một khoảng trống chính trị do thất bại của Nhật Bản để lại.

Hồ Chí Minh can ngăn bất cứ hành động quân sự nào có khả năng làm nguy hại đến công việc tổ chức và an toàn của những đảng viên. Người và những người cộng tác đã đánh giá kỹ lưỡng cán cân lực lượng thế giới và vị trí của Pháp, của Nhật, đồng thời hoàn toàn đánh giá đúng những căng thẳng giữa chúng với nhau và những tác động do thất bại của phe
Trục đối với chủ nghĩa thực dân. Họ đã chịu tổn thất quá nhiều ở Nghệ Tĩnh và Nam Kỳ nên không thể mạo hiểm thêm những phiêu lưu hấp tấp nữa. Vào lúc người Nhật chính thức gạt Pháp tháng 3 năm 1945 ra khỏi sự kiểm soát danh nghĩa ở Đông Dương, vì trên thực tế người Pháp từ năm 1940 đã đáp ứng mọi yêu sách của Nhật, những sự kiện trọng yếu hơn đang xác định tương lai của Việt Nam.

Huy động quần chúng là chìa khóa nắm quyền của những người mác-xít. Vì chính sách mặt trận đoàn kết không cho phép có hành động triệt để về vấn đề ruộng đất, Đảng đã do dự cho đến khi chính quyền thuộc địa gây ra vấn đề kích động đụng chạm đến đa số nhân dân. Trước đó tuy có một số thắng lợi tương đối, Việt Minh chỉ có thể củng cố và vạch kế hoạch để sử dụng khoảng trống quyền lực có thể xảy ra vào cuối chiến tranh. Việt Minh làm việc đó bằng cách cho phép các nhóm Việt Minh địa phương xác định nên hành động như thế nào vào lúc quyết định, nhưng không ngờ được rằng hàng triệu người sẽ hành động theo mình và trên thực tế bảo đảm những thắng lợi và sự độc quyền trong việc chiếm chính quyền. Thực vậy, Việt Minh thậm chí còn cho rằng một cuộc đổ bộ của Đồng minh là thiết yếu cho chiến lược của họ, vì họ không dự đoán được khi nào thì chiến tranh kết thúc và không ngờ rằng Nhật Bản lại giao quyền một cách dễ dàng như vậy.

Vấn đề có tính chất quyết định về mặt tổ chức lúc bấy giờ là khẩu hiệu "phá kho thóc để cứu đói", và vì độc lập dân tộc phải đi đôi với chống đói nên không thể chỉ lấy lòng yêu nước không thôi để huy động quần chúng. Đối với nông dân nền độc lập chủ yếu là một điều kiện tiên quyết để giải quyết các vấn đề xã hội. Và mặc dù năm 1943 Đảng chưa dự tính hết tầm quan trọng của nạn đói, nhưng Đảng là lực lượng duy nhất trong tất cả các lực lượng lúc bấy giờ, có khả năng đối phó với tình trạng khẩn cấp đó.

Cuộc khủng hoảng lương thực là kết quả của việc Pháp thỏa thuận cung cấp cho Nhật gạo của Việt Nam và đồng thời cung cấp cả những nguyên liệu như bông, đay và hạt dầu, là những thứ đòi hỏi phải lấy ruộng lúa để trồng. Bắc Kỳ là nơi chịu ảnh hưởng đầu tiên của những thỏa thuận đó vì Bắc Kỳ phải nhập gạo của đồng bằng sông Cửu Long. Những nông dân và địa chủ không chịu chuyển ruộng lúa đều bị đánh và bị bắt, thậm chí bị giết nữa. Những ai không thể nộp phần lương thực phải nộp của mình thì phải mua tại thị trường tự do và như vậy là phá sản. Năm 1943 tuy được mùa ở Bắc Kỳ, nhưng vẫn thiếu thóc để nộp; năm 1944 là năm tai họa ở Bắc Kỳ, và do không chuyên chở được từ miền Nam ra, người ta đã dùng gạo và ngô ở đó làm chất đốt cho các động cơ. Những người đầu tiên chịu nạn đói là bần cố nông và năm 1944 số người chết vì nạn đói lan rộng ra khắp miền Bắc và đến tháng 3 năm 1945 lên đến con số tối thiểu là một triệu, và có lẽ đến hai triệu, tức là một phần năm số dân Bắc Kỳ, rất đông người đói di chuyển từ nông thôn lên thành thị để kiếm lương thực.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM