Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:29:40 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Giải phẫu một cuộc chiến tranh  (Đọc 112851 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #20 vào lúc: 25 Tháng Tám, 2008, 08:21:13 pm »

Trong hoàn cảnh của sự đau khổ không bờ bến đó của con người, tháng 3 năm 1945 Việt Minh đã quyết định lấp lỗ trống chính quyền mà việc Nhật gạt Pháp đã gây ra và kêu gọi quần chúng chiếm các kho thóc. Quần chúng đã đáp ứng một cách nhanh chóng và quyết liệt. Vào một lúc nhất định, Mặt trận đoàn kết của Việt Minh đã trở thành tổ chức của hành động và của đất nước. Điều rõ ràng cho phần đông người Việt Nam là phong trào vừa xây dựng lại kinh tế và thậm chí để giành sự sống còn về thể chất, vừa giành độc lập phải do Việt Minh lãnh đạo chứ không phải do ai khác. Những đối thủ của Việt Minh đều rối loạn, thỏa hiệp, chia rẽ, không quyết tâm, hoặc nhỏ bé. Trong mùa xuân năm 1945, Việt Minh động viên đông đảo nông dân trên suốt Bắc Kỳ và đối phó với nạn đói, trong khi vẫn chuẩn bị cho những người ủng hộ mới đó của mình sẵn sàng đấu tranh kiểm soát Việt Nam vào lúc người Nhật sụp đổ. Ngay những phần tử đô thị mà trước đây luôn luôn dao động bây giờ cũng thấy rằng Việt Minh là lực lượng duy nhất đủ khả năng đối phó với những vấn đề của đất nước, và vấn đề lương thực kích động và đoàn kết đất nước hơn bất cứ điều gì khác trước đó.

Vài ngày sau khi người Nhật tuyên bố đầu hàng, ngày 12 tháng 8, Việt Minh kêu gọi một cuộc tổng khởi nghĩa, thì hàng triệu nhân dân phấn khởi xuống đường ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn và hàng chục các thành phố khác tạo điều kiện cho việt Minh chiếm các thôn xã và đô thị khắp nơi, biến một dân tộc bị tê liệt thành một lực lượng khởi nghĩa trên thực tế không được vũ trang.

Lực lượng mà lúc ban đầu mới chỉ là một phong trào quần chúng của nông dân, nay đã kết hợp với nhân dân đô thị để đánh vào các cơ quan trọng yếu của chế độ thực dân trong các thành phố. Đó là một lực lượng tổng hợp đưa lại một mô hình lâu dài cho chiến lược tương lai của Đảng. Sự nhiệt tình và sức mạnh của quần chúng đưa lên nắm chính quyền một Đảng đã tự xem vừa là một tác nhân của lịch sử vừa là một người sáng tạo ra biến đổi lịch sử. Nỗi đau khổ của chiến tranh đã giúp Đảng biến một dân tộc thành một lực lượng có ý thức và đưa đến sự biến đổi của lịch sử Việt Nam.

Cao trào phát triển của cuộc khởi nghĩa đó tỏ ra không thể nào cưỡng lại được trong nhiều thập kỷ, bởi vì tuy có những khía cạnh ngẫu nhiên của sự kiện to lớn đó nhưng rõ ràng có nhân tố trọng yếu của sự lãnh đạo và sự kiểm soát tình hình của Đảng. Một Đảng đã từng luôn luôn bị đàn áp, gồm chỉ năm nghìn đảng viên tháng 8 năm 1945, đã phạm nhiều sai lầm nhưng cũng đã học được nhiều bài học. Đảng hiểu rõ được những hạn chế của tình hình lịch sử đến mức Đảng hiểu thấu những khả năng của mình, bởi vì hoạt động của con người bao gồm những giới hạn và những khả năng cùng một lúc.

Ngày 2 tháng 9 năm 1945, khi Việt Minh tuyên bố sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, thì Đảng Cộng sản đã đạt được một mức độ trưởng thành cao về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Đảng sẽ cần tất cả các đức tính đó và cần nhiều hơn nữa, khi Đảng bước từ giai đoạn tổ chức bí mật sang sự bắt đầu một cuộc chiến tranh sẽ trở thành dài nhất trong thế kỷ XX.

TẠO THÀNH MỘT LIÊN HIỆP DÂN TỘC

Mười lăm năm tiếp theo là một thời kỳ phát triển và thử thách trọng yếu của Đảng về mặt tri thức, tư tưởng và tài lãnh đạo chính quyền, nhưng trên một trình độ quyền lực quốc gia rộng lớn hơn nhiều và ngày càng có quan hệ với các lực lượng thế giới. Vào cuối thời kỳ đó, khoảng năm 1961, Cách mạng phải đối đầu với Mỹ trong một hoàn cảnh mới, vừa ở trong nước vừa trên thế giới.

Thực chất của chiến lược cách mạng là huy động quần chúng mà nghị lực và những cam kết trong một nước nghèo có thể là những tài sản vật chất và là tổ chức lâu dài duy nhất cho sự tiến bộ trong mọi lĩnh vực của cuộc sống. Cuộc Cách mạng tháng Tám chống lại sự kiểm soát của nước ngoài có thể sẽ không xảy ra, nếu không có hành động của quần chúng vì nhu cầu của quần chúng, bất kể tình hình quốc tế như thế nào, và bất kỳ chiến lược chính trị nào cũng phải kết hợp như trong quá khứ, những lực lượng và sức ép bên ngoài với những hoạt động xã hội bên trong. Với một ý nghĩa cơ bản, Đảng vẫn còn cân nhắc chương trình xã hội của mình, đặc biệt là vấn đề cải cách ruộng đất vì Đảng rất muốn duy trì một mặt trận đoàn kết dân tộc bao gồm tất cả các giai cấp chừng nào vẫn còn nguy cơ can thiệp của nước ngoài. Đảng đã thành công trong cách giải quyết vốn là bấp bênh đó cho đến năm 1953.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #21 vào lúc: 25 Tháng Tám, 2008, 08:21:50 pm »

Chiến lược mặt trận đoàn kết đã đưa Đảng đến việc tuyên bố tháng 11 năm 1945 rằng Đảng đã tự giải tán để chỉ còn là một hội nghiên cứu, một hành động hư cấu mà Đảng đã xóa bỏ năm 1950 khi Đảng xuất hiện trở lại thành Đảng Lao động.

Sự có mặt của 150.000 quân Trung Quốc (Tưởng Giới Thạch) ở bắc vĩ tuyến 16 và các đội quân Anh và Pháp ở nam vĩ tuyến 16 không nghi ngờ gì đã thúc đẩy cử chỉ đó. Trước tính chất còn rất mong manh của vị trí quân sự của mình và trước khả năng sắp xảy ra chiến tranh với Pháp, mặc dù hiệp định Pháp - Việt Nam dân chủ cộng hòa tháng 3 năm 1946 đã đưa lại 9 tháng trì hoãn, Đảng xem sự tranh thủ thời gian để củng cố sức mạnh quân sự và chính trị của mình là ưu tiên cao nhất. Sự thận trọng trong quá khứ đã được đền bù bằng những thắng lợi trong hiện tại, và lòng tin của Đảng rằng thời gian luôn luôn đứng về phía những người cách mạng biết cân nhắc như thế nào những hành động của mình và biết đánh giá những chỗ yếu của kẻ thù, lòng tin đó càng củng cố cách tính toán vô cùng chính xác nói trên.

Năm 1946 một sự nhất trí trong toàn quốc ủng hộ Việt Minh, và như Nguyễn Cao Kỳ nhắc lại 30 năm sau: "Hồ Chí Minh trở thành anh hùng dân tộc". Sự nhất trí ở thời điểm đó là vốn quý nhất trong chương trình của Việt Minh được hướng vào bảo vệ nó. Nhiệm vụ cấp bách nhất của Việt Minh, do đó là giải quyết nạn đói và thành lập một cơ cấu chính quyền có hiệu quả trên cơ sở sự động viên rộng lớn đã từng đưa mình lên nắm quyền. Bởi vì chừng nào Đảng còn chấp nhận lựa chọn đó thì Đảng còn hoạt động một cách thành công thông qua mặt trận đoàn kết, dựa chiến lược của mình vào một sự phân tích giai cấp của xã hội Việt Nam và nhận thức rõ chỗ yếu tạm thời và chỗ mạnh tiềm tàng của những đảng viên mới được kết nạp. Vì vậy Đảng làm cho vấn đề ruộng đất trở nên thứ yếu, hy vọng tránh việc bỏ chạy của những phần tử giàu có, đang ủng hộ Chính phủ lâm thời do Đảng kiểm soát và tài sản kinh tế của họ còn quan trọng cho nước Việt Nam dân chủ cộng hòa non trẻ. Thời gian là rất thiết yếu để chuẩn bị các lực lượng quân sự của Việt Minh nhằm đối phó với cuộc xung đột của người Pháp và để biến những đảng viên mới từ những người yêu nước đơn giản thành những người cộng sản sẵn sàng tham gia cuộc kháng chiến lâu dài mà Đảng thấy là đang tới gần.

Cố gắng diệt nạn đói sau tháng tám năm 1945 được đi đôi với cuộc vận động diệt dốt rộng lớn với 95 phần trăm nông dân còn mù chữ. Cứu sống và làm cho chục triệu người biết chữ và gắn liền hai cố gắng này với cuộc đấu tranh chống Pháp, đã gây ra một biến chuyển kinh tế và văn hóa to lớn trực tiếp và gián tiếp củng cố thêm vị trí của Đảng. Những cuộc vận động diệt đói và diệt dốt thành công đã làm cho những cơ cấu tổ chức và con người có tính chất hợp tác có thể xuất hiện trong những tháng căng thẳng cho đến tháng 12 năm 1946, khi mà người Pháp và Cách mạng tìm cách kiểm soát các cơ quan chính quyền, tượng trưng cho quyền lực và tiến hành thương lượng với nhau, trong khi vẫn chuẩn bị để chiến đấu nếu cần thiết. Động viên quần chúng thông qua các mặt trận, kết nạp đảng viên và tiến hành một cuộc cách mạng văn hóa sơ bộ, đã trở thành những cơ sở của chiến lược đầu tiên của Đảng khi nắm quyền. Vào tháng 12 năm 1946, sau khi người Pháp bắn phá Hải Phòng ngày 23 tháng 11, và sau khi chính phủ mới rút vào khu vực căn cứ được chuẩn bị kỹ lưỡng, Đảng đã củng cố một cách vừng chắc quyền lực của mình.

Hiến pháp năm 1946 của Việt Nam dân chủ cộng hòa bảo đảm quyền sở hữu cá nhân và các xí nghiệp tư nhân song song tồn tại với khu vực nhà nước trong những vùng giải phóng sau khi cuộc chiến tranh với người Pháp bắt đầu tháng 12 năm 1946. Đảng phải luôn luôn đối phó, tránh hoặc giải quyết vô số các thách thức nội bộ, các cạm bẫy tiềm tàng và những vấn đề phức tạp. Thách thức đầu tiên là từ Cao Đài mà trong những năm 1945-1946 đã chuyển từ ủng hộ Nhật Bản sang ủng hộ Việt Minh, nhưng khi sức mạnh quân sự Pháp tăng lên thì Cao Đài lại đưa lực lượng bán quân sự của mình theo Pháp từ năm 1947 làm cho chính quyền thực dân trực tiếp kiểm soát Cao Đài. Một khó khăn khác là các đảng nhỏ được Trung Quốc ủng hộ muốn đánh Pháp ngay để kéo dài sự chiếm đóng quân sự của Trung Quốc. Đảng cũng phải thành lập một đội quân và xác định một chiến lược quân sự, một vấn đề có tầm quan trọng hàng đầu. Bất kỳ một cách giải quyết không đúng nào đối với các khó khăn đó sẽ đưa lại những mạo hiểm nghiêm trọng. Nhưng vấn đề gai góc nhất là cuộc đấu tranh giai cấp về ruộng đất.

Mặc dù những khó khăn ngày càng tăng, cố gắng của Đảng cho đến năm 1950 nhằm huy động nhân dân và vô hiệu hóa sự chống đối bằng một mặt trận đoàn kết đã đánh dấu một giai đoạn đầy tài tình, khéo léo. Cục tình báo trung ương Mỹ (CIA) năm 1949 đã báo cáo rằng "Những người Cộng sản đang thắng" trong chiến lược đối nội của họ. "Đa số rộng rãi" nhân dân kể cả một đa số của những người Thiên chúa giáo nói chung là chống cộng, đã ủng hộ Hồ Chí Minh trong cuộc đấu tranh chống người Pháp.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #22 vào lúc: 25 Tháng Tám, 2008, 08:22:50 pm »

ĐẢNG VÀ THẾ TIẾN LUI ĐỀU KHÓ CỦA CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT

Đảng tìm cách trì hoãn vấn đề ruộng đất chừng nào Đảng cảm thấy không an toàn về mặt quân sự và chừng nào còn có thể làm được như vậy. Nhưng cơ sở xã hội tối hậu của Đảng là nông dân, nhất là một khi Pháp đã kiểm soát tất cả các đô thị sau năm 1947. Sớm hay muộn, những hậu quả của vấn đề ruộng đất và nông dân phải đụng đến các chính sách cơ bản về chính trị, quân sự và kinh tế và đó chắc chắn là một trong những vấn đề tế nhị nhất Đảng phải đương đầu trong tám năm tới. Nói một cách đơn giản thì vấn đề là liệu Cách mạng có thể theo đuổi một cuộc chiến tranh kéo dài bằng cách khêu gợi quần chúng với lòng yêu nước mà không nói đến giai cấp được không.

Tháng 11 năm 1945 Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa bắt buộc giảm tô 25 phần trăm, và chia lại ruộng đất của người Pháp và của những địa chủ đã cộng tác với Pháp hoặc đã bỏ lại ruộng đất. Nhưng quyết định này đã được áp dụng một cách không đồng đều hoặc không được áp dụng gì cả trong nhiều vùng và trong năm 1946, Đảng bộ Nam Kỳ đã phải khuyên bần nông không nên tìm cách chia ruộng của những địa chủ còn thờ ơ với chính trị. Trong cả năm 1946 và 1947, Đảng chống lại mọi chính sách ruộng đất có thể đẩy các địa chủ vào phe Pháp, nói rõ rằng không có chỗ cho những cuộc thí nghiệm của "cánh tả". Cách mạng tháng Tám là một cuộc cách mạng dân tộc dân chủ. Trường Chinh, Tổng bí thư Đảng công bố như vậy và không ủng hộ một cuộc "cách mạng ruộng đất". Sau tháng tám năm 1945 địa chủ còn nắm quyền ở nhiều xã, thậm chí một số tham gia Đảng và đóng vai trò có ý nghĩa trong việc thực hiện những chính sách có liên quan đến chính lợi ích vật chất của họ. Tháng giêng năm 1948, Đảng buộc phải giải quyết vấn đề đó càng ôn hòa càng tốt, đòi áp dụng luật năm 1945 về giảm tô và tạm thời chia lại đất công điền (chỉ có ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ) cho bần cố nông và những người trong quân đội. Ưu tiên là cho những người đang chiến đấu, và ruộng đất bắt đầu được sử dụng với quy mô tương đối nhỏ nhằm khuyến khích những người sẵn sàng hy sinh trong chiến đấu. Đồng thời, tiền công cho lao động nông nghiệp, lúc đó rất hiếm và có thể đòi những điều kiện tốt hơn, đã bị kiểm soát để cho địa chủ khỏi bị thiệt thòi quá nhiều. Cho đến tháng 7 năm 1949 chiến lược của Đảng trên thực tế là cố gắng tranh thủ nông dân và địa chủ hết lòng hoạt động trong mặt trận đoàn kết rộng rãi.

Chỗ yếu của cách làm đó bộc lộ rõ trong năm 1948 khi người Pháp bắt đầu chiếm lại các vùng nông thôn của Bắc Kỳ và khi nhiều địa chủ, kể cả một số đã từng ủng hộ Cách mạng, trở thành những kẻ cộng tác với Pháp. Sự thờ ơ và xa lánh đó càng ngày càng đe dọa thuế nông nghiệp mà đã trở nên quan trọng cho quỹ tiền của Cách mạng. Quan trọng hơn là nông dân cũng cần một sự đền bù lớn hơn cho mạo hiểm mà họ phải gánh chịu.

Chủ nghĩa cơ hội của Cao Đài ở miền Nam và của địa chủ ở miền Bắc cho thấy rằng Đảng không thể tin vào sự ủng hộ của họ đối với Việt Minh một cách lâu dài và Đảng không thể tách riêng mặt chính trị với mặt kinh tế của việc động viên quần chúng. Càng không kém quan trọng là thái độ chờ đợi của nhiều người muốn để mình tùy tiện trôi theo trào lưu chính trị và quân sự để được chắc chắn là đứng vào phía đang thắng. Thái độ đó trở thành một trở ngại nghiêm trọng, kéo dài cho đến năm 1975, cho việc đánh giá sự ủng hộ thực sự mà Đảng giành được và cho việc xác định ai là người Đảng có thể dựa vào. Có lẽ điều gay cấn nhất là một chính sách hòa giải không giành được sự ủng hộ nhiệt tình của giai cấp đông đảo hơn.

Nghiên cứu tình hình một cách chặt chẽ, Đảng thấy rằng trên hai phần ba số địa chủ không tôn trọng các luật cải cách. Tháng 7 năm 1949 Đảng đưa ra một đường lối kiên quyết hơn để thực hiện các đạo luật trước đó, quy định bần và cố nông được ưu tiên trong việc chia ruộng đất. Tuy nhiên, trong hai tầng lớp đó thì ai làm việc cho Cách mạng hoặc tham gia chiến đấu, hoặc gia đình của họ nếu họ đã hy sinh, sẽ được ưu tiên hơn. Tháng 5 tiếp đó, Đảng tiến công vào tệ cho vay nặng lãi và xóa tất cả các món nợ trước tháng Tám năm 1945. Mặc dù ruộng đất của các địa chủ ủng hộ Cách mạng hoặc đứng trung lập không bị đụng chạm đến, nhưng do số người cộng tác với Pháp tăng lên nên số ruộng đất có thể chia cũng tăng lên, tuy rằng sự có mặt của Pháp làm cho việc chia lại ruộng đất trở nên khó khăn hơn. Vì sợ mặt trận đoàn kết bị tan rã, nên Đảng còn do dự trong việc dùng ruộng đất làm vũ khí động viên chủ yếu. Nhưng bây giờ Đảng cũng đã bắt đầu sử dụng vấn đề ruộng đất bên cạnh những lời kêu gọi lòng yêu nước một cách trừu tượng và Đảng đã hiểu tất hơn tầm quan trọng và tiềm lực của vấn đề đó.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #23 vào lúc: 29 Tháng Tám, 2008, 06:00:30 pm »

Tuy các con số thống kê còn nhiều chuyện phải nói, nhưng hình như 254.000 héc-ta ruộng đất của người Pháp và tay sai đã được phân chia lại trong năm 1949-1950 cho khoảng nửa triệu nông dân. Phần lớn ruộng đất đó là ở Nam Kỳ. Ở Bắc Kỳ rất ít ruộng đất không phải là công điền đã được chia trước tháng 7 năm 1949 nhưng giữa năm 1949 và năm 1953 một số đất tư cũng bị lấy để chia, tuy rằng địa chủ và phú nông đến năm 1953 còn chiếm 59 phần trăm số ruộng đất thuộc quyền sở hữu trước kia của họ. 

Diễn biến của lập trường ruộng đất của Đảng, phân tích đến cùng, nói lên chỗ yếu của Đảng trong việc tính toán về mặt trận đoàn kết và về các động cơ của những giai cấp khá giả. Ngay khi Đảng không còn có thể bỏ qua những mặt bất lợi của chiến lược mặt trận, Đảng cũng chỉ tạm thời trì hoãn để rồi lại trở lại với chiến lược đó về sau. Căng thẳng giữa đấu tranh giai cấp và mặt trận đoàn kết vẫn luôn luôn là thế tiến lui đều khó của Đảng, một thế mà chính quần chúng tạo ra.

Giữa năm 1948, Trường Chinh lập luận rằng cuộc xâm lược của Pháp đã sản sinh ra "nhiều giai cấp cách mạng" ở Việt Nam, dù cho giai cấp công nhân là giai cấp cách mạng nhất. Đến năm 1951, ông ta ít dứt khoát hơn, khi mà một số đáng kể các thành viên không cộng sản của mặt trận đoàn kết chuyển sang cộng tác với Pháp hoặc rút ra khỏi chính trị. Giai cấp tư sản dân tộc chủ yếu là có tinh thần dân tộc và dân chủ; tuy có những bộ phận lập lờ, nước đôi và tuy là một đồng minh "có điều kiện", "giai cấp tư sản dân tộc nói chung là có cảm tình với kháng chiến". Giai cấp tiểu tư sản của những người buôn bán nhỏ, thợ thủ công và trí thức là phần tử ít chống đối nhất của mặt trận và là một đồng minh "đáng tin cậy".

Trên thực tế, Đảng có biết chủ nghĩa cơ hội của những đồng minh trước kia của mình nhưng chưa bao giờ phân tích sâu sắc và đầy đủ, bởi vì trong một đất nước không có nền công nghiệp quan trọng, và có rất ít hoạt động kinh tế phi nông nghiệp quy mô lớn nằm trong tay những người không phải là Trung Quốc, cho nên khái niệm về một giai cấp tư sản dân tộc là một di sản tư tưởng của thời kỳ 1920 - 1940 của Đảng, một khái niệm nó trở đi trở lại để ảnh hưởng và làm khó khăn cho chiến lược của Đảng. Tuy nhiên, về mặt chiến thuật trong thời gian huy động quần chúng cho cuộc đấu tranh vũ trang thì việc nói suông tỏ ra rất tai hại. Đảng đã nhấn mạnh đến giai cấp nông dân, "đồng minh trung thành nhất và hùng mạnh nhất" của giai cấp công nhân bởi vì "không có sự tham gia của giai cấp nông dân, cách mạng Việt Nam chắc chắn không có thể thành công". Trong nông dân, bần và cố nông là quan trọng nhất. Mặc dù giai cấp vô sản còn nhỏ, chỉ chiếm bốn phần trăm số dân nhưng lại là giai cấp duy nhất có đủ khả năng lãnh đạo cách mạng và mặt trận đoàn kết. Tuy nhiên do những thành viên của giai cấp đó vẫn có quan hệ với ruộng đất cho nên làm cho nó "chưa được thuần túy vô sản".

TIẾN TỚI MỘT CHIẾN LƯỢC QUÂN SỰ CÁCH MẠNG

Cùng với lúc mà vũ khí ruộng đất trở nên sắc bén và những rắc rối của chiến lược mặt trận đoàn kết đã được giải quyết, Đảng cũng phải xây dựng một cơ cấu và một học thuyết quân sự. Với một ý nghĩa cơ bản nhất, các vấn đề huy động quần chúng và huy động quân sự là một và giống nhau. Cũng quan trọng như vậy là việc xây dựng một số sức mạnh quân sự trong khoảng thời gian sau tháng 9 năm 1945, khi Đảng đã từ một nhóm nhỏ biến thành một tổ chức quy mô.

Lý thuyết và thực hành của lực lượng quân sự, Đảng đã được biết rõ. Những đơn vị vũ trang đầu tiên mà Võ Nguyên Giáp lãnh đạo năm 1941 là những nhóm chính trị làm nhiệm vụ tổ chức với con số lên đến năm nghìn người được vũ trang chỉ một phần, vào mùa xuân năm 1945. Những quy tắc quân sự chủ yếu đã được xác định ngay từ đầu theo sự nhấn mạnh của Hồ Chí Minh là không được hành động hấp tấp. Nếu nói một cách đơn giản thì học thuyết quân sự của Đảng là dựa vào quần chúng để có nhân lực và sự ủng hộ và chỉ đánh khi có khả năng đạt được mục tiêu. Kỹ thuật quân sự mà một tiền đề chính trị hóa cao như vậy đưa lại, tất nhiên là phải phát triển và thay đổi theo sự thay đổi của khả năng và mục tiêu của Đảng qua các thập kỷ. Nhưng nhìn chung lại sự thay đổi chỉ có tính chất là số lượng mà thôi. Cái khung chính trị từ ban đầu trở thành quyết định cho các hoạt động, các mục tiêu và thực chất của quân sự. Quan trọng hơn nữa, vai trò trọng yếu nhất của sức mạnh quân sự từ 1945 cho đến 1975 là nhằm tạo ra một tấm chắn an ninh để bảo vệ những hoạt động chính trị và không quân sự của những đảng viên.

Trong giai đoạn 1946 - 1948, việc đó đặc biệt quan trọng. Những sức mạnh tối hậu của quân sự là sự ủng hộ và những hy sinh của nhân dân, mà nhờ có họ, quân đội mới đi lại được và nếu không có họ thì quân đội sẽ không có nhân lực, vật lực, sự che chở và tin tức tình báo. Trong bối cảnh có liên quan với con người như vậy, không có quân đội nào không gắn liền sâu sắc với chính trị, không trước tiên là chính trị rồi mới đến quân sự, mà có thể hy vọng đạt được những mục tiêu của mình. Và để chống lại kẻ thù mà quân đội phải đương đầu, một cuộc chiến tranh nhân dân có tính chất chính trị là loại chiến tranh duy nhất đưa lại hy vọng thắng lợi. 

Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #24 vào lúc: 29 Tháng Tám, 2008, 06:05:55 pm »

Chương bốn
THẾ GIỚI BÊN TRONG CỦA CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN VIỆT NAM:
LÝ THUYẾT VÀ THỰC HÀNH

Khả năng đối phó với tất cả các thách thức phi thường của cuộc chiến tranh với Mỹ của Đảng Cộng sản là kết quả, ở một mức độ trọng yếu, của sự phát triển một tổ chức và một phương pháp phân tích trong thập kỷ đầu nắm quyền của Đảng. Hiểu rõ lý thuyết và thực hành của Đảng trong giai đoạn đó là cần thiết để hiểu những lý do của sự cứng rắn, của tính bền bỉ và của thắng lợi sau năm 1960.

SỰ PHÁT TRIỂN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN

Năm nghìn đảng viên vào lúc xảy ra Cách mạng tháng Tám là những nhà chính trị sâu sắc mà tri thức, đức tính và sự liên tục vẫn còn là một vốn quý cho Đảng. Nhận thức chính trị cách mạng, với hình thức thuần túy nhất của nó, là vấn đề nhận thức cá nhân đối với cuộc sống và cam kết của mình. Chỉ những người từ bỏ sung sướng cá nhân, luôn luôn chịu nguy hiểm của tù đày và thậm chí chết chóc và sẵn sàng chấp nhận khổ cực triền miên và thiếu thốn mọi điều mới có thể xây dựng được một nhiệt tình và một lòng tin vào động cơ của nhau.

Cho đến Cách mạng tháng Tám những đảng viên là những người thuộc nguồn gốc hiếm có và đặc biệt như vậy của những nhà cách mạng chân chính. Họ rất ít về số lượng vì không có nước nào, không có thời đại nào, có nhiều người sẵn sàng cống hiến cuộc sống của mình cho những sự nghiệp có ít khả năng thành công như vậy trong khi chắc chắn phải chịu đựng hy sinh về nhiều mặt trong cuộc đời. Nhiều người thuộc những gia đình khá giả và đáng ra có thể dễ dàng chọn những con đường ít vất vả hơn cho cuộc sống của mình. Một tỷ lệ lớn trong số họ là những người có học thức cao và tất cả đều là những nhà mác-xít rất tận tụy, bởi vì những năm trong tù đã cho họ cơ hội để rèn luyện ý chí và cũng để học tập nghiên cứu và thảo luận. Tất cả đều hiểu tầm quan trọng của khung cảnh quốc tế mà trong đó tương lai của Việt Nam sẽ được hình thành.

Nhiều người tham gia Đảng sau tháng 8 năm 1945 cũng có những đức tính cá nhân tương tự. Đa số thuộc các gia đình tiểu tư sản. Nhưng trong một nước mà giai cấp vô sản quá nhỏ nên việc Đảng đề ra cho giai cấp vô sản vai trò lãnh đạo tất cả các giai cấp khác đã gặp một thế rất khó xử. Vì vậy cho đến năm 1961, ai tham gia Đảng đều được xem như "tham gia hàng ngũ giai cấp công nhân". Tuy nhiên không thể che giấu được thực tế rằng Đảng bây giờ đã có một mức độ quyền lực nhất định và có tiềm năng để giành hoàn toàn quyền lực đó, cho nên đối với một số người, tham gia Đảng là một phương tiện để thăng quan tiến chức. Và bất kể những động cơ của các đảng viên mới nhiều màu nhiều vẻ như thế nào, tất cả đều được giao những trách nhiệm hành chính và quân sự trọng yếu. Họ có ít thì giờ để nghiên cứu điều mà các nhà lãnh đạo đã dày công tiếp thụ trong một thời gian dài hơn nhiều. Vai trò và quan niệm lê-nin-nít của Đảng trên thực tế, đã thay đổi nhiều, tính chất tinh hoa đã giảm dần do việc phải huy động quần chúng và việc thành lập một bộ máy nhà nước.

Số lượng đảng viên đã tăng từ 5.000 tháng Tám năm 1945 lên 20.000 cuối năm 1946, 50.000 cuối năm 1947 và 180.000 cuối năm 1948 trong đó có 66.000 ở miền Nam. Cuối năm 1949, Đảng có 700.000 đảng viên. Nguồn gốc giai cấp của những thành viên mới phần lớn là không được chú ý đến, học thức cũng bị bỏ qua, và sức ép phải kết nạp đảng viên, nhất là ở miền Nam và trong các đô thị lớn, trở nên lớn hơn nhiều so với ý muốn duy trì những tiêu chuẩn cao.

Ban lãnh đạo của Đảng nhanh chóng nhận thức được những nguy hiểm trong đa số công chức ngày càng tăng của mình và vào tháng 10 năm 1945, Hồ Chí Minh đã khiển trách một số thành viên trong các ủy ban nhân dân, kể cả những người trong Đảng vì lạm dụng quyền hành, thiên vị và đồi trụy.

Tháng 9 năm 1946, Trường Chinh phàn nàn rằng quá nhiều người đã được lấy từ những công chức trước đây của chế độ cũ. Năm 1948, Hồ Chí Minh công khai thừa nhận rằng nhiều cán bộ đã được tuyển nhọn quá nhanh và không được rèn luyện tốt. Đó là một vấn đề mà Người thường nhắc lại luôn. Nhưng năm 1951, khi Đảng đã được xem là vững chắc, Đảng dùng cơ hội khó khăn về tài chính để bắt đầu cho thôi việc ít nhất một phần ba nhân viên chính quyền không quân sự của đất nước trong khoảng thời gian hai năm. Vào năm 1960, số đảng viên cũng được giảm theo tỷ lệ tương tự.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #25 vào lúc: 29 Tháng Tám, 2008, 06:07:07 pm »

Chính trong hoàn cảnh như vậy mà ban lãnh đạo Đảng buộc phải xác định tính chất và ý nghĩa của Đảng. Từ năm 1946 cho đến suốt mười lăm năm tiếp theo Đảng đã công khai và một cách có phương pháp xây dựng hệ thống lý luận độc đáo của chính mình. Cuộc chiến tranh với Pháp cũng đã ảnh hưởng đến hình thức và nội dung của quan niệm của Đảng, nhất là đối với vấn đề phát triển Đảng.

Thực vậy, sự kế thừa hệ tư tưởng lê-nin-nít của Đảng phải được kết hợp với những đòi hỏi của cuộc đấu tranh lâu dài để giành chính quyền, với những trách nhiệm để lãnh đạo cuộc đấu tranh đó và với sự hiểu biết đã giành được qua kinh nghiệm. Sự tổng hợp đó đã được giải thích cho nhiều đảng viên, một cách kiên trì và liên tục, với hy vọng rằng họ có thể nắm được và áp dụng những công cụ phân tích mác-xít đặc biệt vào những điều kiện của Việt Nam và lãnh đạo cuộc sống để có thể sản sinh ra một nền văn hóa cách mạng và những con người xã hội chủ nghĩa. Vào khoảng năm 1960, khi mọi đường nét đã được vạch ra một cách đầy đủ thì những giá trị và lý tưởng đó đã trở thành thiết yếu cho chiến lược và chiến thuật trong cuộc chiến tranh vĩ đại chống Mỹ.

QUAN ĐIỂM VỀ ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG

Hồ Chí Minh có nhiều hoài bão trong cuộc vận động cho đạo đức cách mạng. Người khẳng định "muốn làm cách mạng, người ta trước nhất phải tự rèn luyện mình". Tư cách đạo đức cá nhân nghiêm túc và kỷ luật xuất phát từ một đức tin là một thành phần tiêu chuẩn của nhiều nền văn hóa trong các giai đoạn khác nhau của lịch sử văn hóa. Sự tồn tại của những giáo huấn Khổng Tử về nhiều vấn đề tương tự là một mối tương quan chứ không phải là một nguyên nhân, tuy Hồ Chí Minh khai thác di sản của học thuyết Khổng Từ còn rơi rớt lại trong các nhà trí thức để ủng hộ những ý kiến của Người.

Đạo đức cá nhân Đối với một cán bộ Đảng không phải là điều ngẫu nhiên cho việc thực hiện chức năng của anh ta mà là một tiền đề cho thắng lợi, và anh ta khó thành công trong việc kêu gọi kẻ khác mạo hiểm và hy sinh, trừ phi anh ta đi trước bằng chính gương của mình. Công việc của Đảng, trước hết, là dựa vào những hy sinh, nhường nhịn cá nhân, không phải chỉ nhất thời mà là lâu dài, và vào sự sẵn sàng đặt "lợi ích của Đảng lên trên tất cả". Ngoài những nguy hiểm cho cuộc sống, còn phải xa cách lâu gia đình và thiếu tiền của và phương tiện để làm việc. Lạc quan cách mạng mà không có đạo đức cách mạng sẽ nhanh chóng dẫn đến tiêu cực và mệt mỏi trừ phi Đảng chỉ rõ rằng không thể bảo đảm cho tính lạc quan nếu không có những hy sinh cá nhân. Những đạo đức như vậy là rất thiết yếu để động viên quần chúng; nhưng ngay đối với những người phụ trách chính quyền của một nước rất nghèo, chỉ tồn tại cho đến năm 1954 với một thâm hụt to lớn về tài chính, một ý thức về tiết kiệm và khiêm tốn là tiền đề tuyệt đối cho sự sống còn về mặt tổ chức. Một Đảng trong cuộc đấu tranh cách mạng có liên quan đến những vấn đề sống và chết, không thể chấp nhận nhiều người vô tích sự, đó là thực tế cơ bản đưa đến cuộc vận động cho đạo đức cách mạng.

THÀNH LẬP MỘT TỔ CHỨC

Nhận thức của Đảng về phương pháp và tổ chức đã diễn biến và thay đổi trong 15 năm qua sau năm 1945, đôi khi tự đảo ngược lại, linh động và thích nghi với những nhu cầu lớn hơn của cuộc đấu tranh chống người Pháp và về sau, chống người Mỹ. Những thúc bách từ bên ngoài đó cũng như lòng ao ước, đã được kết hợp với kiến thức giành được sau năm 1945 để sản sinh ra một Đảng mà vào năm 1961 đã đủ sức thích nghi với những thách thức còn lớn hơn nhiều.

Sự sẵn sàng đáp ứng của Đảng Cộng sản đối với thực tế ý muốn của Đảng tranh thủ sự ủng hộ của quần chúng và định nghĩa riêng của Đảng và chủ nghĩa Bôn-sê-vích đã buộc Đảng phải đối phó với những vấn đề khác nhau về tổ chức. Đảng phải tìm con đường để vượt qua những nguy hiểm của chế độ tập quyền quan liêu và của quyền chủ động địa phương nhưng Đảng lại phải duy trì những vốn quý của cả hai chế độ đó; Đảng phải ủng hộ một vai trò sáng tạo của nhân dân, ngay cả khi Đảng đang hoàn hảo vị trí của mình. Đảng đề ra phê bình và tự phê bình trong Đảng và trong quần chúng, nhưng phạm vi và mức độ thì không thể xác định trước một cách chính xác được. Về lâu dài, Đảng đã khá thành công trong việc cân đối những căng thẳng vốn có trong những mục tiêu của mình và tuy sau năm 1960, Đảng vẫn tiếp tục làm việc đó nhưng đến lúc này thì Đảng đã tỏ ra rất thành thạo.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #26 vào lúc: 29 Tháng Tám, 2008, 06:09:52 pm »

Đảng cho rằng kỷ luật mà Đảng đòi hỏi ở các đảng viên không phải để nhằm hạn chế tự do của họ mà nhằm phục vụ lợi ích của một giai cấp hoặc thậm chí của đất nước, Đảng cũng cho rằng thực tế chính trị đòi hỏi hành động tập thể, coi đó là một điều kiện tiên quyết cho tự do và tiến bộ xã hội và cá nhân. Vấn đề thực sự của Đảng sau năm 1945 không phải là bảo vệ tính chính đáng của nền chính trị đúng đắn trong một thế giới nghiêm chỉnh mà là đối phó với thực tế rằng chỉ tổ chức và kỷ luật đơn thuần là không đủ. Một vấn đề thiết yếu nữa là phát minh và sáng kiến có tính chất sáng tạo nhưng không được vượt qua các chính sách của Đảng, bởi vì sáng tạo trong các tình huống đặc biệt ở địa phương là rất cần thiết để đưa lại hành động có hiệu quả và đó là hiện tượng thường xuyên xảy ra. Giải quyết các mối căng thẳng một cách thực tiễn là thành công quan trọng nhất về mặt tổ chức của Đảng, nó cũng là điều sống còn để đạt tất cả các mục tiêu chính trị và kinh tế của Đảng.

Đảng có học thuyết về tổ chức của chủ nghĩa Bôn-sê-vích và có thể là thuần nhất từ trên xuống dưới, nhưng một khi Bộ Chính trị xác định mục tiêu và chính sách chung, thì cũng thường phải đáp ứng, thích nghi với những điều mà quần chúng mong muốn. Hiểu được những mong muốn đó của quần chúng cũng là điều quan tâm lớn của các nhà lãnh đạo Đảng. Tóm lại, một đảng có ý thức về sức mạnh và về hạn chế của bản thân mình, mới có thể có khả năng đối phó với tình hình một cách tốt hơn. Nhận thức đó thấm sâu vào cách tự nhìn mình của ban lãnh đạo Đảng và làm cho ban lãnh đạo đó quan tâm một cách sâu sắc đến trạng thái của quần chúng, trạng thái mà các đảng viên có thể không phản ánh đầy đủ và do đó mà các nhà lãnh đạo không biết được rõ.

Chìa khóa của nhiệm vụ tế nhị nhằm khắc phục các hạn chế về mặt tổ chức đó là cố gắng liên tục trau dồi đảng viên, nhất là cán bộ. Cán bộ là sợi dây liên lạc của Đảng với quần chúng, với đa số đảng viên, binh sĩ và chính quyền. Dù cho sức mạnh và sự yếu kém của đảng viên như thế nào, cán bộ với tỷ lệ chiếm từ một phần mười cho đến một phần năm của tổng số, phải là những người xuất sắc bởi vì họ là lớp tinh túy của Đảng và có trách nhiệm chính thức với Đảng. Về phía mình số cán bộ đó gồm một thiểu số nhỏ những cán bộ cấp cao và một thiểu số những cán bộ cấp giữa. Phần đông cán bộ được giao những vai trò tổ chức hoặc nghề nghiệp, nhưng cấp càng cao thì cán bộ càng trở nên chung chung, có thể nhận nhiều nhiệm vụ cùng một lúc.

Người cán bộ được coi như là tượng trưng cho những đức tính của đạo đức cách mạng tức là chủ nghĩa lạc quan và chủ nghĩa anh hùng. Năm 1957, đại tướng Nguyễn Chí Thanh thừa nhận rằng đảng viên và cán bộ không nên cho rằng họ không có quyền có "lo lắng nhỏ nào đó cho công việc riêng của mình", kể cả gia đình của họ, và chính sự thiếu đời sống gia đình là một chỗ yếu của chính sách cán bộ. Cán bộ làm cho Cách mạng hoạt động, nhưng những nhân tố chính làm cho họ có thái độ đúng đắn là quần chúng nhân dân và, thường xuyên hơn, là chế độ tự phê bình.

Cuộc vận động tự phê bình bắt đầu không lâu sau Cách mạng tháng Tám, chủ yếu là để đáp ứng lại việc kết nạp rộng rãi các đảng viên. Quá nhiều cán bộ đã được giao trách nhiệm quá nhanh chóng, tháng 4 năm 1948 Hồ Chí Minh đã phàn nàn như vậy, và khuyến khích các cán bộ chính trị trong quân đội làm những nhiệm vụ đặc biệt phải cư xử như "một người anh và một người bạn thân thiết của chiến sĩ". Những lời khuyên răn như vậy đã được tiếp tục đưa ra khá thường xuyên như là một bộ phận của quá trình liên tục rèn luyện cán bộ và Đảng thông qua tự phê bình và tiến công vào tệ quan liêu.

Tự phê bình luôn luôn là một mặt của phong cách giao lưu và quan hệ giữa con người và con người ở các cấp trong Đảng và khả năng thực hiện tốt tự phê bình đi đôi với làm việc tốt và học tập tốt là đặc tính của người cán bộ tốt. Nhận thức về Đảng như là một cộng đồng của con người là rất thiết yếu cho thành công của Đảng và chính thành tựu của Đảng đã duy trì tinh thần cá nhân để vượt qua một số giai đoạn khó khăn và có tính chất thử thách. Đảng, từ chi bộ trở lên, đã trở thành gia đình và cái nôi của mỗi đảng viên.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #27 vào lúc: 29 Tháng Tám, 2008, 06:15:07 pm »

Sự giao tiếp giữa tất cả các cấp của Đảng, và giữa Đảng với quần chúng, là rất sống còn cho vai trò của Đảng, với tư cách vừa là một nhà lãnh đạo am hiểu tình hình vừa là một người phản chiếu nguyện vọng và tình cảm của quần chúng. Tự phê bình và phê bình là nhằm duy trì quá trình giao tiếp đó tiếp tục tồn tại và do đó cũng làm giảm bớt những nguy cơ của "tệ mệnh lệnh", tham nhũng, lãng phí, tự phụ và tệ quan liêu các kiểu. Trách nhiệm của những cán bộ là "duy trì quan hệ chặt chẽ với nhân dân và học tập ở họ".

Những phiên họp thường kỳ, những công việc hàng ngày trở thành những đề tài phân tích, trao đổi trong các nhóm nhỏ, đều được nhằm vừa cải tiến công việc và trao đổi giữa đảng viên và cán bộ các cấp, vừa giáo dục và tranh thủ lòng tin của quần chúng để được họ phát biểu ý kiến và công khai phê bình cán bộ.

Sai lầm của cán bộ cũng như sai lầm của những người khác là "rất dễ hiểu và thậm chí là đương nhiên" bởi vì không có siêu nhân. Điều quyết định trong việc thừa nhận những giới hạn bình thường của con người là một cách tốt hơn. Khả năng thừa nhận và đưa ra sự phê bình vô tư trước những người khác là thước đo cá nhân và thường đụng đến những mặt thầm kín của nhân loại: cái tôi và lòng tự trọng, lòng tự hào, động cơ kín đáo, tham vọng cũng như cam kết xã hội tích cực.

Với tình trạng không tự thỏa mãn, day dứt và dai dẳng đó, đôi khi nghiêng ngả, Đảng tìm một giải pháp để bù lại những thiếu sót không thể tránh khỏi của con người và của các cơ chế. Bất kể lý thuyết và thực tiễn tổ chức của Đảng như thế nào, Đảng luôn luôn lấy cuộc vận động chống quan liêu làm vấn đề bao trùm. Đảng lo nghĩ về việc số lượng và chất lượng đảng viên đã đưa lại những biểu hiện quan liêu như thế nào và về tổn thất kinh tế và chính trị của những biểu hiện đó. Đảng luôn luôn tìm cách khắc phục những hạn chế của các cơ cấu chính thức và đưa vào đó sáng kiến và tính năng động của sự phát minh sáng tạo. Phê bình trong hàng ngũ cán bộ và đảng viên được trực tiếp gắn vào vấn đề đó. Như Hồ Chí Minh đã phàn nàn năm 1951: "Dân chủ trong nội bộ Đảng chưa được thực hiện rộng rãi". Để khắc phục những thiếu sót dó, đại tướng Nguyễn Chí Thanh cảnh cáo năm 1957: "Khi Đảng phạm một sai lầm, Đảng phải chịu trách nhiệm và chấp nhận những ý kiến phê bình".

Tất nhiên vấn dề quan liêu là phổ biến, có trước Cách mạng Bôn-sê-vích. Mối đe dọa của nó đối với các đảng xã hội chủ nghĩa lại càng lớn hơn bởi vì các mục tiêu xã hội của các đảng đó rất lớn và nó là một cái bẫy mà vô số nhà nước xã hội dân chủ và lê-nin-nít bị rơi vào. Nhưng do tính chất cố kết hơn và tập trung hơn của các đảng lê-nin-nít, cho nên nguy cơ của tệ quan liêu càng lớn hơn nếu không có một bộ máy để đối phó với nó. Một đảng bị tê liệt chắc chắn là thất bại trong một cuộc đấu tranh lâu dài và các nhà lãnh đạo Đảng nhận thức thực tế đó nên đã lấy cuộc vận động chống quan liêu làm một đề tài thường xuyên. Đối với những nhà cách mạng hoạt động độc lập, khả năng hành động theo sáng kiến riêng của mình là thiết yếu cho sự sống còn của họ, và thực tế này đã rõ ràng kể từ 1945. Nhưng tiêu chuẩn và động cơ của họ như vậy phải trở thành tự quản và chủ quan hóa lấy đạo đức cách mạng làm cơ sở. Kỷ luật là như sắt, nhưng cũng là "tự nguyện”, "tự lực" làm tiêu chuẩn bên trong và bên ngoài của cuộc kháng chiến trường kỳ, Hồ Chí Minh đã nhận xét như vậy tháng 7 năm 1952.

Với một ý nghĩa nhất định, các nhà lãnh đạo Đảng phải đối phó với sự căng thẳng cổ điển giữa kỷ luật và sáng tạo và Đảng đã cố tìm ra một giải pháp ướm thử bằng cách chấp nhận cả hai, với những mức độ khác nhau và tùy nơi, tùy lúc. Chừng nào Đảng còn là một đảng cách mạng trong một tình hình luôn luôn biến chuyển thì Đảng phải chấp nhận, để mà đấu tranh, "tính khu vực và phân tán vốn có trong cuộc kháng chiến" và đạo lý chống quan liêu là đặc trưng thiết yếu của cuộc kháng chiến và của sự xa cách và thiếu phương tiện liên lạc giữa các cơ quan trung ương và các đảng bộ địa phương. Các nhà lãnh đạo Đảng chưa bao giờ cân bằng được mối lo về "chế độ tập trung quan liêu” với ý muốn phân quyền lãnh đạo cho địa phương. Cuộc kháng chiến và hoạt động bí mật có phong cách hoạt động riêng của nó bởi vì những người quan liêu vừa vô ích vừa nguy hiểm trong một thế giới mà sự thích nghi sáng tạo và sự phản ứng nhanh chóng là những điều kiện tiên quyết của thắng lợi. Nhưng tệ quan liêu chắc chắn trở thành một vấn đề trong khu vực giải phóng rộng lớn của Việt Nam trước năm 1954, rồi trong nước Việt Nam dân chủ cộng hòa sau đó, và Đảng đã công khai thừa nhận điều đó.

Khó khăn của Đảng là nhiều kẻ quan liêu không muốn và không chịu thừa nhận họ đóng vai trò đó với một ý nghĩa xấu xa. Tự phê bình là nhằm sửa chữa vấn đề đó, nhưng năm 1958 Hồ Chí Minh đã buồn rầu nhận xét rằng nhiều đảng viên sẵn sàng phê bình người khác nhưng "không muốn bị phê bình". Cuối cùng Đảng không giải quyết được ngay vấn đề quan liêu nhưng thừa nhận nó như một thách thức không bao giờ chấm dứt đối với đạo đức cách mạng và lợi ích của tổ chức Đảng. Mặc dù Đảng bắt đầu gạt bớt những đảng viên thoái hóa sau năm 1950, Đảng vẫn lấy quá trình phê bình và dư luận quần chúng làm gốc đồng thời đề cao đạo đức cách mạng để kiểm soát tệ quan liêu. Phân tích đến cùng, chính ý thức của đảng viên được xem như là chìa khóa không phải chỉ để chống tệ quan liêu mà còn để thực hiện chính các mục tiêu của Cách mạng.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #28 vào lúc: 29 Tháng Tám, 2008, 06:16:49 pm »

VAI TRÒ CỦA BỘ CHÍNH TRỊ

Tính chất nhiều mặt của Đảng trong thực tiễn, trong sự linh động về lý thuyết và về tổ chức và trong tính sáng tạo trước những khó khăn mới, là do thực tế hệ thống lãnh đạo của Đảng hoàn toàn khác với hệ thống của cả người Xô viết lẫn người Trung Quốc. Quan trọng hơn, đó là một ban lãnh đạo tương đối đoàn kết và có hiệu quả, đối phó êm thấm với vô số những thách thức bên ngoài mà Đảng gặp phải.

Nhờ có đóng góp tối hậu của Hồ Chí Minh mà không xảy ra sự lộn xộn ngay khi có bất đồng có ý nghĩa giữa các nhà lãnh đạo chính của Đảng. So sánh với những nhà lãnh đạo mác-xít lê-nin-nít quan trọng khác của thế giới sau Lê-nin, Hồ Chí Minh là người hiếm có về tất cả các mặt, không phải chỉ vì Người không mắc phải chủ nghĩa vị kỷ mà còn do khả năng thực tiễn phi thường của Người trong việc xác định các vấn đề và cách giải quyết các vấn đề đó. Những người Xô-viết kiên quyết lên án tệ sùng bái cá nhân năm 1956, và Hồ Chí Minh ủng hộ mạnh mẽ quyết định phi thần thánh hóa Xta-lin, và Người tiến công mọi triệu chứng thực hành tệ đó ở Việt Nam.

Tháng 5 năm 1967, vào đỉnh cao điên loạn của Mao và của Cách mạng văn hóa, Đảng đã nhân dịp kỷ niệm ngày sinh lần thứ 77 của Hồ Chí Minh để tự tách xa các sự kiện của Trung Quốc và để xác định vai trò của "các nhà lãnh đạo và của quần chúng", đặc biệt là của Hồ Chí Minh, bằng cách phản ánh chính quan điểm của Hồ Chí Minh. Lịch sử được quần chúng làm ra và việc Đảng thực hành sự lãnh đạo tập thể và tự phê bình là chính do sự tôn trọng của Đảng đối với quy luật mác-xít của lịch sử và do sự cần thiết phải hành động giống như Hồ Chí Minh, như "một đầy tớ của nhân dân". Làm điều gì khác đi sẽ phá hủy lòng tin Đảng của quần chúng.

Phong cách công tác quen thuộc của giới lãnh đạo Đảng là dựa vào lẽ phải. Nhiều nhà lãnh đạo cấp cao đã ở tù nhiều năm và tất cả đều sống trong rừng núi và cùng chịu nguy hiểm với nhau. Không kể bản chất tập thể và đặc biệt của Bộ Chính trị, hai mặt quan trọng khác của phương pháp làm việc nhanh chóng xuất hiện. Mặt có ý nghĩa nhất, như mọi người đều biết là mối quan hệ tế nhị của các nhà lãnh đạo Đảng với những nguyện vọng và nhu cầu của quần chúng và với những phát triển cơ cấu độc lập ở trong nước và ở ngoài nước mà khi cần thiết thì các nhà lãnh đạo đó thích nghi với cả hai. Vì Đảng vừa lãnh đạo vừa phải theo đuôi lịch sử nên các nhà lãnh đạo thường nhận thức rõ những giới hạn về quyền lực của mình và do đó mà thấy rõ nhu cầu phải đợi thời cơ.

Những thúc ép đối với Hồ Chí Minh cũng áp dụng cho họ. Trừ một vài ngoại lệ còn nhìn chung, họ là những người hết sức khiêm tốn, nhiều người rất tự hào với tình trạng không tên không tuổi của mình; và không có ai hưởng đặc quyền đặc lợi như những người tương đương của họ ở Liên Xô và Trung Quốc thường hưởng. Đặc điểm nổi bật thứ hai của họ là xu hướng mạnh mẽ sau năm 1941 sẵn sàng dàn xếp càng lâu dài càng tốt những bất đồng của họ về những chính sách mà thường là có tính chất chiết trung và đôi khi còn chưa thật ăn khớp giữa họ với nhau.

Các nhà lãnh đạo Đảng hành động thận trọng, luôn luôn nghiên cứu, thảo luận và phân tích các vấn đề, vừa học vừa làm, và nói chung tránh những biện pháp quá quyết định. Họ có thể dành ra một số lớn thời gian và cố gắng để đánh giá các vấn đề cơ bản như trong trường hợp đối với tình hình miền Nam sau năm 1955. Họ thường đưa ra những lựa chọn dễ tin để làm thử sau khi đã thảo luận kỹ và họ tìm cách không bao giờ đóng sập cửa lại sau lưng mình. Tại các cấp cao nhất họ ít khi tự phê bình công khai. Nhưng những tranh luận riêng của họ thì cũng quyết liệt như giữa những người nghiêm chỉnh với nhau. Về những vấn đề chính sách lớn họ tham khảo ý kiến với các cấp thấp hơn của Đảng, kể cả những đảng viên thường. Việc thảo luận những vấn đề như vậy thường được đưa ra trên những báo của Đảng và tin tức mà họ xem xét thường đến từ nhiều thành phần khác nhau của Đảng. 

Cơ cấu lãnh đạo chủ yếu là thận trọng đó phản ánh không phải chỉ tư cách của những nhân vật liên quan mà còn nhận thức tư tưởng cơ bản của Đảng và của việc Đảng hạ thấp đến mức tối thiểu những mặt cá nhân của con người. Mục tiêu của Bộ Chính trị cũng là duy trì bản chất của chính mình và sự đoàn kết. Một cách làm quyết liệt và nổi bật hơn sẽ gây nguy hại cho tính chất thực sự nhiều mặt của giới lãnh đạo, và nó có thể gây ra những sai lầm không sao sửa chữa được. Một chế độ như vậy là thống nhất nhưng tương đối chậm chạp. Không bị ràng buộc bởi những nhược điểm của bất kỳ một con người đơn lẻ nào, và giữ vững được tính ổn định, và rất hợp lý về phương diện thể chế, chế độ đó tỏ ra rất tích cực và thành công trong những thập kỷ tiếp theo.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #29 vào lúc: 29 Tháng Tám, 2008, 06:21:23 pm »

SỰ TÌM KIẾM MỘT CHẾ ĐỘ VIỆT NAM

Vào cuối những năm 1950, Đảng bắt đầu hình thành một phương pháp tiếp xúc bao quát đối với các vấn đề trọng yếu nhằm động viên một xã hội và huy động những phương tiện cách mạng để đối phó với vô số những khó khăn về tổ chức và về con người. Có nhiều điều phải thực hiện về mặt phát triển chính trị và kinh tế trong nước và có quá nhiều thách thức từ nước ngoài nên một sự tổng hợp là rất cấp bách. Sự phê bình, những đảng viên tiến bộ, sự lãnh đạo tập thể, việc chống quan liêu và sự chuyển biến đạo đức của cá nhân là những bộ phận quan trọng của cố gắng chung.

Muốn giải quyết những khó khăn vật chất thì những vấn đề tổ chức thực tiễn và những nhiệm vụ đang thực hiện phải biến lý thuyết thành thực tiễn và kinh nghiệm. Hồ Chí Minh thừa nhận sự cần thiết của lý luận nhưng một lý luận gắn liền với thực tiễn và sát với thực tế. Hồ Chí Minh biết rằng việc thiếu sách lý luận Việt Nam sẽ dẫn đến sự phụ thuộc vào sách các nước khác như Liên Xô và nhất là Trung Quốc và lý luận mà không gắn với những điều kiện Việt Nam có thể không những vô ích nhưng còn tai hại. Sẵn sàng tôn trọng đúng mức những đồng minh lớn của mình một cách công khai, Hồ Chí Minh tha thiết muốn có một nhận thức đặc biệt Việt Nam. "Chúng ta không học thuộc lòng mỗi câu, mỗi chữ và áp dụng kinh nghiệm của các nước anh em một cách máy móc".

Chủ nghĩa mác-xít lê- nin-nít chỉ có thể áp dụng vào "những hoàn cảnh của một thời gian nhất định và một không gian nhất định". Tuy nhiên, Hồ Chí Minh nói tiếp, quá nhấn mạnh sự khác biệt của Việt Nam là phạm sai lầm xét lại và Hồ Chí Minh nhắc nhở chiều hướng quốc tế trong nguồn gốc trí thức của Đảng. "Tuy chúng ta có nhiều kinh nghiệm phong phú của các nước anh em, chúng ta không thể áp dụng một cách máy móc bởi vì nước chúng ta có những tính riêng biệt. Không quan tâm đến những tính riêng biệt của đất nước mình trong khi học tập những kinh nghiệm của những nước anh em là một sai lầm nghiêm trọng, là giáo điều". Trong khi cố tìm một sự tổng hợp riêng biệt của chính mình, người Việt Nam, bằng một cách rất có ý thức, đã xây dựng nên kiểu mẫu riêng của mình.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM