Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 11:17:00 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Giải phẫu một cuộc chiến tranh  (Đọc 112966 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #50 vào lúc: 02 Tháng Chín, 2008, 10:31:35 pm »

GIỚI QUÂN SỰ NẮM QUYỀN

Tám cuộc đảo chính và tranh giành quyền lực đưa lại sự thay đổi trong các chính phủ, và hai cuộc đảo chính thất bại, giữa khi Diệm bị lật đổ và lúc các tướng Nguyễn Văn Thiệu - Nguyễn Cao Kỳ lên nắm quyền ngày 19 tháng 6 năm 1965, đã cho chính quyền Giôn-xơn thấy rằng không thể dựa vào quân đội Việt Nam cộng hòa để thiết lập lòng tin đối với sức mạnh của Mỹ...

Oa-sinh-tơn ủng hộ mạnh cuộc đảo chính không đổ máu của Nguyễn Khánh cuối tháng giêng năm 1964, cho là để gạt những sĩ quan trung lập thân Pháp sẵn sàng cướp quyền. Việc thành lập hội đồng quân sự làm cho Oa-sinh-tơn hy vọng sẽ có ổn định. Nhưng Khánh làm cho hy vọng đó không thành công. Trong năm tiếp theo Mỹ sống trong "ấn tượng kinh khủng” của âm mưu, tính kế, sắp đặt các loại, như Ra-xcơ đã nói đến.

Những tin tức về tình hình hỗn loạn đó dồn dập đổ về Oa-sinh-tơn cùng với những báo cáo rằng quân đội Việt Nam cộng hòa ngày càng mất tinh thần, thôi chiến đấu và trong nhiều vùng đã đạt được những sắp xếp "sống và để nhau sống" với Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Điều làm cho Mỹ lo âu nhất đối với những tướng lĩnh của Việt Nam cộng hòa là sự tồn tại của một nhóm tướng trung lập và thân Pháp mà tướng Đờ Gôn luôn luôn đổ thêm dầu vào bằng những đề nghị thường xuyên về nền trung lập của Việt Nam. Sự kiện Vịnh Bắc Bộ trong tháng tám là nhằm vào việc vừa phô trương sức mạnh của Mỹ vừa bắt đầu quá trình lâu dài chấm dứt chiến tranh bằng cách trừng phạt Việt Nam dân chủ cộng hòa đã đi vào chỗ trống mà đồng minh của Mỹ đã tạo ra. Đó cũng là một cử chỉ để nâng đỡ tinh thần đang sa sút của tập đoàn Khánh. Nhưng Khánh lợi dụng tình hình để tạo ra một chế độ gần như độc tài và chết yểu cho bản thân ông ta.

CIA cho Oa-sinh-tơn thấy một hình ảnh hỗn loạn ở Nam Việt Nam, mà kết quả là sự chán ghét chiến tranh và thái độ trung lập. Khi Khánh phản ứng với thất vọng của Mỹ đối với ông ta và bí mật quan hệ với Mặt trận Dân tộc Giải phóng để thăm dò một giải pháp trung lập cho cuộc chiến tranh thì Oa-sinh-tơn bỏ nhà lãnh đạo ngày càng chống Mỹ đó.

Trong các cuộc thay đổi nội các Sài Gòn sau tháng tám năm 1964, nổi lên một liên hiệp những "gã hung hăng" trong đó Nguyễn Cao Kỳ và Nguyễn Văn Thiệu là những cá nhân quan trọng nhất. Họ bắt đầu xây dựng địa vị của họ như là những môi giới quyền lực cho đến khi một số trong bọn họ chính thức chiếm những chức vụ chiến lược vào tháng sáu tiếp theo. Sau nhiều tháng chìm ngập trong thế giới siêu thực tế của chính trị Sài Gòn và của những cuộc biểu tình đường phố cùng với sự tan rã của chế độ, người Mỹ đồng ý cho nhóm đó lên nắm quyền, nhưng không phải vì thấy nhóm này là một nhóm tốt hơn mà chính vì các đồng minh trước kia đã làm cho Oa-sinh-tơn yếu đi.

Trên thực tế bây giờ Mỹ thấy là phải dựa vào chính sức của mình. Họ không thể còn hy vọng vào quân đội Việt Nam cộng hòa để đạt những mục tiêu của họ với những tổn phí tương đối thấp hơn về người và về của. Mục tiêu của Mỹ và nhận thức về quy mô nhiệm vụ quân sự của họ đòi hỏi họ phải cam kết nhiều hơn nữa về nhân lực và vật lực. Còn đối với các nội các rệu rã ở Sài Gòn, Mỹ ít quan tâm và không hy vọng gì nhiều ở họ vào lúc đó Mỹ hy vọng nền chính trị ở Việt Nam cộng hòa sẽ tốt lên sau khi các lực lượng Mỹ đảo ngược cán cân lực lượng trong cuộc chiến tranh.

Sau cái chết của Diệm, vấn đề mà Mỹ phải đương đầu với những người thay thế hoàn toàn phụ thuộc ở Nam Việt Nam, bao gồm một loạt các vấn đề có quan hệ qua lại chặt chẽ với nhau: nền chính trị của Việt Nam cộng hòa, những tác động quân sự của một đội quân chính trị hóa cao độ, và nhiều vấn đề xã hội và kinh tế có liên quan khác. Muốn thiết lập lại lòng tin đối với Mỹ, cần phải có một cách trả lời đồng thời, có hiệu quả cho những khó khăn cực kỳ đa dạng, và khá khó giải quyết về mặt thể chế, vốn có trong chế độ Việt Nam cộng hòa giả tạo mà Mỹ đang ủng hộ.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #51 vào lúc: 02 Tháng Chín, 2008, 10:32:36 pm »

TẠO RA MỘT NGUYÊN CỚ: NGHỊ QUYẾT VỊNH BẮC BỘ

Điều cốt lõi của khó khăn chính trị cuối cùng của Oa-sinh-tơn là sự xem thường của các nhà làm ra quyết định đối với Quốc hội, báo chí và công chúng, gây ra một sự mất tín nhiệm sâu sắc đi đến điểm cao là Oa-tơ-ghết và sự tan rã của mối đoàn kết giữa giới hành pháp và giới lập pháp. Mác Gioóc-giơ Bân-đi, trợ lý an ninh quốc gia của Ken-nơ- đi ngay từ đầu đã tìm cách thực hiện chính sách đối ngoại càng ít công khai càng tốt và Tổng thống đã khuyến khích ông ta trong việc đó . . .

Cuộc tán loạn năm 1961 ở Cu-ba, những thất bại liên tiếp ở Việt Nam và việc mở rộng chiến tranh giấu giếm đòi hỏi một sự che đậy kỹ càng hơn trong việc thực hiện chính sách đối ngoại. Nhưng mỗi thất bại ở Việt Nam làm tổn thương sự lạc quan trước kia của Mỹ và đòi hỏi tăng thêm cam kết. Cái chết của Diệm và sự mất ổn định triền miên tiếp theo gây ra một nghi ngờ công khai ngày càng tăng về công cuộc ở Việt Nam. Cố gắng lớn của chính quyến nhằm đối phó với sự thù địch trong nước đối với chính sách Việt Nam trong quá trình leo thang là một loạt những sự kiện đưa đến đỉnh cao là nghị quyết Vịnh Bắc Bộ của Quốc hội Mỹ ngày 7 tháng 8 năm 1964.

Cho đến khi Diệm bị lật đổ, chính quyền ít tuyên bố về mối quan hệ của Việt Nam dân chủ cộng hòa với cuộc chiến tranh miền Nam. Nhưng số liệu của chính Mỹ về việc di chuyển người và vũ khí càng xác minh rằng lập luận của họ cho rằng Việt Nam dân chủ cộng hòa áp đặt chiến tranh cho miền Nam là hoàn toàn không đúng. Ngoài việc rêu rao rằng người tập kết dần dần trở lại quê hương họ, Mỹ phải thừa nhận rằng dòng vũ khí vào miền Nam là không đáng kể và Mặt trận Dân tộc Giải phóng thắng chiến tranh chủ yếu là do chính mưu trí và cố gắng của họ. Khi thượng nghị sĩ Mây-cơ Men-xphin từ Việt Nam về cuối năm 1962, sau một chuyến đi do Tổng thống yêu cầu, sự bác bỏ công khai của ông ta về những giải thích của chính quyền đối với tính chất và nguyên nhân của cuộc nổi dậy, càng làm cho vấn đề nói ở đây rõ ràng thêm.

Bất kể sự bất đồng như thế nào về các mặt cụ thể của sự dính líu sâu hơn của Mỹ vào Việt Nam, hầu như tất cả các cố vấn của Giôn-xơn, chỉ trừ một Gioóc-giơ Bon, ít ảnh hưởng, đều tán thành một mức độ leo thang nào đó. Và sự tháo gỡ cho chế độ Khánh cũng đòi hỏi có hành động để ngăn cản sự sụp đổ của nó. Biện pháp đầu tiên được gọi là OPLAN 34A, bắt đầu dưới hình thức những cuộc đánh phá làm lạc hướng vào Việt Nam dân chủ cộng hòa trong tháng 2 năm 1964 của nhóm nghiên cứu và quan sát, viết tắt là SOG, một "đơn vị chiến đấu đặc biệt của chiến tranh không quy ước” cực kỳ bí mật gồm các lực lượng đặc biệt và nhân viên CIA, đứng ra để thuê những kẻ đánh thuê Việt Nam. Tất cả các hoạt động của SOG, được tiếp tục thực hiện trong phần lớn cuộc chiến tranh đều phải được phép của các Bộ Quốc phòng và Ngoại giao cũng như của Nhà trắng. OPLAN 34A, mà chủ yếu là không thành công trong cố gắng đầu tiên, được làm song song với cái mà về sau tướng Oét-mo-len mô tả là "một chương trình liên kết" tức là những cuộc tuần tra "DESOTO" của hải quân Mỹ làm nhiệm vụ tình báo bằng điện tử ở Vịnh Bắc Bộ sát đến khu vực bốn dặm cách bờ biển.

Bên cạnh những biện pháp quấy rối nhỏ đó, ý muốn leo thang mới và quan trọng của Oa-sinh-tơn lên đến đỉnh cao trong cam kết tháng ba của Hội đồng an ninh quốc gia lấy Việt Nam làm nơi thí nghiệm lòng tin đối với Mỹ. Cũng tháng 3, Uy-li-am Bân-đi, trợ lý bộ trưởng ngoại giao và cũng là em của Gioóc-giơ Bân-đi, lập luận rằng những biện pháp trừng phạt nghiêm trọng chống lại Việt Nam dân chủ cộng hòa vì hành động của Mặt trận Dân tộc Giải phóng ở miền Nam, phải được Quốc hội tán thành, và một nghị quyết đã được thảo ra theo mẫu của nghị quyết tháng giêng năm 1955 về các đảo ngoài khơi nhằm phê chuẩn việc bảo vệ Đài Loan. Những nghị quyết tương tự về Cu-ba và Trung Đông cũng còn gây những "khủng hoảng liên tục".

Các cố vấn tổng thống thảo luận những sức ép cụ thể đối với Việt Nam dân chủ cộng hòa tuy biết những sức ép đó không có kết quả gì lớn. Uy-li-am Bân-đi thừa nhận: "Việt cộng có sức lôi cuốn lớn ở miền Nam Việt Nam và dựa nhiều vào vũ khí cướp được của Mỹ", tuy ông ta cũng xem vai trò của Việt Nam dân chủ cộng hòa là rất quan trọng. Còn Mác Na-ma-ra và những người khác thì cho rằng hành động chống Việt Nam dân chủ cộng hòa sẽ có ích cho tinh thần và sức lực sa sút toàn diện của chế độ xuống dốc nhanh chóng của Khánh. Tại một cuộc hội nghị ở Hô-nô-lu-lu trong những ngày đầu của tháng 6, những cố vấn chủ chốt đã tán thành một loạt các kế hoạch dự phòng về tiến công không quân chống Việt Nam dân chủ cộng hòa, kể cả việc chuẩn bị để tiếp tục những cuộc tiến công đó trên cơ sở lâu dài và tán thành việc mở rộng xây dựng quân đội và trang bị Mỹ cho sự bắt đầu của cái rõ ràng sẽ trở thành cuộc chiến tranh lớn hơn, dài hơn.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #52 vào lúc: 02 Tháng Chín, 2008, 10:33:49 pm »

Trong thời gian này, Giôn-xơn chủ yếu là thụ động về Việt Nam bởi vì ông ta nhậm chức với tâm trạng là một nhân vật bối rối, bấp bênh và vì ông ta đang trong giữa cuộc vận động để được bầu cử lại và đạo luật về quyền con người đương được đưa ra trước Quốc hội. Ông ta hoãn lại mọi sáng kiến về chính sách. Trong khi đó thì những trợ lý của ông ta có kế hoạch giáo dục công chúng một cách có hệ thống để xóa bỏ những "ngờ vực cơ bản" làm cản trở một sự cam kết sâu rộng hơn. Anh em Bân-đi thì chuẩn bị những dự thảo khác nhau của một nghị quyết quốc hội, hy vọng tranh thủ những phần tử thân chính quyền như thượng nghị sĩ Men-xphin chẳng hạn, nhưng họ lo ngại rằng vì "không có thay đổi nào quan trọng trong tình hình để nhắc đến" nên rất có thể Thượng viện sẽ chống lại cố gắng đó. Nếu không có một nghị quyết của Quốc hội thì sự "tự do hành động" của chính quyền sẽ vô cùng bị hạn chế, vì vậy họ đề ra mục tiêu là nghị quyết phải được thông qua từ đầu tháng 7 cho đến hết tháng 9 hoặc tháng 11 là chậm nhất, khi có thời cơ thuận lợi.

Cũng cần phải thấy rằng chỉ khi "có một sự chú ý tăng lên ở trong nước và một sự căng thẳng quốc tế mới có thể có lý do để bảo vệ khu vực Đông Nam Á trong mùa hè đến" (xem Ga-rét Poóc-tơ quyển "Việt Nam: một lịch sử bằng tư liệu", Niu Yoóc 1981, trang 278). Cùng thời gian đó, Mỹ nhờ Ca-na-đa cử một nhà ngoại giao được thông báo tình hình một cách đặc biệt đến Hà Nội để báo rằng Oa-sinh-tơn xem cuộc chiến tranh ở miền Nam là một cuộc thí nghiệm chống nổi dậy trên khắp thế giới và họ sẽ ném bom Việt Nam dân chủ cộng hòa một cách rộng rãi nếu Việt Nam dân chủ cộng hòa không chấm dứt cuộc chiến tranh chống chính phủ Sài Gòn. Đảng đã trả lời bằng việc đề nghị thành lập một chính phủ liên hiệp trung lập ở miền Nam, nhưng đồng thời Đảng cũng chuẩn bị để đối phó với vấn đề leo thang.

Vào lúc đó trong khi xem xét các loại lựa chọn, và trong khi Giôn-xơn lao vào cuộc vận động bầu cử cấp bách hơn, thì chính phủ Khánh bắt đầu ép Mỹ giúp việc Bắc tiến để khắc phục các khó khăn mới chớm nở trong nước và nâng cao tinh thần ở miền Nam. Vào những tuần cuối của tháng 7, một sự háo hức thực sự xâm lược Việt Nam dân chủ cộng hòa đã rất rõ ràng trong các giới Sài Gòn và Việt Nam dân chủ cộng hòa biết rõ điều đó. Chính trong giai đoạn tháng 6 tháng 7 đó mà Mỹ nối lại các hoạt động OPLAN 34A trên vùng bờ biển Việt Nam dân chủ cộng hòa, sử dụng, như Tài liệu Lầu Năm Góc về sau đã mô tả, "những nhân viên Nam Việt Nam được thuê và được Mỹ huấn luyện và cung cấp hậu cần".

OPLAN 34A trên thực tế là một kế hoạch của Mỹ và hoạt động vùng biển Việt Nam dân chủ cộng hòa quanh vĩ tuyến 19 khi chiếc tàu Ma-đốc của Mỹ ngày 31 tháng 7 được giao làm nhiệm vụ tuần tra DESOTO với một tổ lái tình báo điện tử đặc biệt. Các nhà chức trách cảnh giác của Việt Nam dân chủ cộng hòa thấy rằng Ma-đốc đang phối hợp với OPLAN 34A nên đã tiến công Ma-đốc, đưa đến cái gọi là sự kiện Vịnh Bắc Bộ ngày 2 tháng 8. Về sau Gioóc-giơ Bon mô tả chính xác các hoạt động DESOTO như là dùng "chủ yếu để khiêu khích". Cuộc tiến công không quân của Mỹ vào các cảng đậu của các tàu tuần tra và vào kho dầu là sự bắt đầu của cuộc chiến tranh không quân chống miền Bắc và việc thông qua ngày 7 tháng 8 nghị quyết Vịnh Bắc Bộ đã được chuẩn bị từ lâu và hầu như không có chống đối, đã cho phép Tổng thống "tiến hành tất cả các bước cần thiết, kể cả việc dùng lực lượng vũ trang để giúp bất cứ quốc gia Đông Nam Á nào”.

Các thượng và hạ nghị sĩ đã bỏ phiếu cho nghị quyết với những nhận thức rất khác nhau. Một số xem như một phản ứng đối với một sự kiện riêng lẻ, những người khác xem như một ủy nhiệm chiến tranh. Trên thực tế, nghị quyết là một tấm séc để trắng, giá tiền phải ghi chưa được chính quyền định trước. Quốc hội chỉ hối tiếc khi xem xét lại ý kiến của mình hoặc sau khi lời hứa kiềm chế của chính quyền đã bị vi phạm. Phần đông các nghị sĩ cuối cùng từ bỏ ủy nhiệm của nghị quyết bởi vì chính sách đã thất bại và bởi vì họ không thể không biết đến những vấn đề về những ưu tiên và những lợi ích quốc gia lớn hơn. Nhưng họ cũng không thể không thấy là họ đã quá ngây thơ vì thực tế chính quyền đã nói dối Quốc hội, và những chi tiết của sự kiện Vịnh Bắc Bộ, che giấu thực tế chính trị rằng chính sách đã được vạch ra sớm hơn nhiều và đi trước xa những phản ứng tại chỗ. Hơn tất cả, Nhà Trắng tuyên bố là đã bị khiêu khích trong khi trên thực tế chính Nhà Trắng là kẻ khiêu khích.

Điều quan trọng với sự kiện Vịnh Bắc Bộ là nó tạo ra một tiền đề cho mối quan hệ của chính quyền với Quốc hội và công chúng. Chính nó đã dần dần làm tổn thương cơ sở trong nước của sự nhất trí đối với chính sách đối ngoại, sự nhất trí đã có gần hai thập kỷ và đã từng là sức mạnh lớn nhất của chính sách đó. Trong gần ba năm sau đó, Nhà Trắng đã bất chấp vai trò quyết định của Quốc hội và công chúng trong việc phủ quyết chính sách đối ngoại của ngành hành pháp. Sự kiện Vịnh Bắc Bộ, trong tất cả các chiều cạnh của nó, về sau được chứng minh là một sai lầm lớn của chính quyền trong việc điều hành cuộc chiến tranh. 
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #53 vào lúc: 02 Tháng Chín, 2008, 10:35:08 pm »

Chương mười
CHIẾN TRANH VÀ NÔNG THÔN VIỆT NAM

RUỘNG ĐẤT VÀ NỘI DUNG ĐẤU TRANH

Trong khi tình trạng rối loạn ở Sài Gòn trong và sau thời kỳ Diệm chỉ làm cho triển vọng của Mặt trận Dân tộc Giải phóng sáng sủa thêm, nhưng chính khả năng của Cách mạng khai thác sự tê liệt chính trị đó để tăng cường sức mạnh của chính mình mới thật là điều quan trọng. Sự phát triển của Cách mạng ở miền Nam sau năm 1960 không thể tách rời ra khỏi những kinh nghiệm trong những năm 1950, trước hết, là mối quan hệ của mặt trận đoàn kết với cuộc đấu tranh giai cấp về ruộng đất...

Khi chiến tranh tiếp tục tiến triển, các chuyên gia Mỹ rất chú ý đến cơ cấu của Mặt trận Dân tộc Giải phóng nhưng không hiểu được rằng chính nhờ mối quan hệ của Đảng với các vấn đề thực tế và với tính linh hoạt về mặt tổ chức mà Đảng luôn luôn giữ được thế bền vững.

Bộ phận miền Nam của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Trung ương Cục miền Nam, chỉ huy toàn bộ cuộc đấu tranh ở miền Nam. Bộ phận đó cũng lãnh đạo các đảng bộ liên tỉnh, tỉnh, huyện và xã của Đảng bộ miền Nam, được gọi là Đảng nhân dân cách mạng kể từ sau tháng giêng năm 1962. Trung ương Cục đóng một vai trò chi phối trong các ủy ban giải phóng của Mặt trận Dân tộc Giải phóng tuy đa số thành viên không phải là đảng viên, và trong các hội giải phóng của quần chúng bao gồm nông dân, sinh viên và phụ nữ. Tất cả các tổ chức đó tồn tại song song nhưng độc lập với nhau và bổ sung cho nhau trong trường hợp một bên bị triệt phá. Một hệ thống cài vào nhau như vậy làm cho mạng lưới của Đảng khó mà bị xóa bỏ. Còn các cán bộ luôn luôn là những người động viên quần chúng rất cần thiết và là những người giải quyết khó khăn bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào . . . 

Hội nông dân giải phóng là tổ chức quần chúng lớn nhất của Mặt trận Dân tộc Giải phóng, và trong nhiều khu cách mạng cũ, hội là chính quyền địa phương thực sự. Vào giữa năm 1965; theo ước tính của CIA, các hội giải phóng có khoảng một nửa triệu hội viên. Những ước tính khác của Mỹ cho thấy rằng khoảng một nửa đến ba phần tư xã hội nông thôn, trong các vùng do Mặt trận Dân tộc Giải phóng kiểm soát, tham gia bằng nhiều cách công việc của chính quyền, so với một phần năm trong các vùng "tranh chấp" và còn ít hơn trong những vùng vững chắc của Việt Nam cộng hòa. Những cán bộ đều luôn luôn có mặt, chia sẻ cuộc sống của nhân dân, làm cho Đảng luôn luôn gắn liền với lo âu và ước vọng của quần chúng.

Những người Mỹ nghiên cứu vai trò của cán bộ ở thôn xóm, đều thấy họ được lòng dân và được kính trọng với tư cách vừa là người lãnh đạo vừa là con người với con người. Chính quyền cách mạng địa phương rất quan tâm đến nhu cầu của thôn xóm và chính sách của họ phản ánh thái độ đó. Tuy thuế ở vùng giải phóng được quy định năm 1963 là từ 6 đến 10 phần trăm của số lúa thu hoạch, nhưng tỷ lệ nộp của cá nhân phải "tùy theo ý muốn của người ta và không được buộc phải theo" những con số trên. Ở vùng tranh chấp tỷ lệ đó thấp hơn. Vào đầu năm 1967, chỉ 18 phần trăm thu nhập của Mặt trận Dân tộc Giải phóng là do thuế nông nghiệp đưa lại. Mỹ xem cố gắng đó của Mặt trận là nhằm tránh trút gánh nặng vào nông dân nghèo. Động viên chính trị luôn luôn là mối quan tâm hàng đầu.

Sự được lòng dân của Mặt trận Dân tộc Giải phóng là do chính sách xã hội của họ. Nông dân nghèo ủng hộ bởi vì họ được lợi. Đồng thời chính sách tuyển quân của Mặt trận cũng nhẹ nhàng hơn phía Việt Nam cộng hòa. Đối với một người nông dân, việc một đứa con trai ra đi không phải chỉ là một sự hy sinh về tình cảm mà còn ảnh hưởng tai hại đến tài sản và nền kinh tế gia đình của anh ta. Năm 1960 quân chính quy của Việt Nam cộng hòa lên đến 146.000 và bốn năm sau thì tăng gấp đôi, trong khi lực lượng Mặt trận Dân tộc Giải phóng cuối năm 1962 chỉ từ 23.000 đến 34.000, đó là theo những ước tính khác nhau của Mỹ. Những người do Việt Nam cộng hòa bắt lính có nguy cơ bị đưa đi xa mà không được đền bù gì. Nhiều người muốn tham gia lực lượng du kích địa phương của Mặt trận vì được ở gần nhà và được cấp ruộng. Chính sách ruộng đất là chìa khóa để tuyển quân và Mặt trận thành công trong việc động viên con của bần, cố nông là những người được lợi nhất trong cuộc đấu tranh. Cuối cùng, cuộc đấu tranh đó chính là cách mạng của họ.

Uy tín của Mặt trận Dân tộc Giải phóng ở cơ sở làm cho kẻ thù luôn luôn tìm cách tiến công. Để tự vệ, Mặt trận sẵn sàng vi phạm chính sách của Đảng mà cách ít rắc rối nhất là ám sát những kẻ thù của mình. Đảng cho rằng khủng bố là "vũ khí của kẻ yếu”. Đảng không khuyến khích việc đó tuy rằng hầu hết những kẻ bị trừng trị đều bị địa phương hết sức thù ghét. Đảng đề ra những thủ tục rõ ràng để ngăn chặn sự trừng phạt độc đoán như phải được Đảng cấp tỉnh cho phép, sự trừng trị mới có giá trị. Nhưng trên thực tế ít nhất là hai phần ba và có thể là bốn phần năm các cuộc trừng phạt không được chuẩn y trước. Đảng thường xuyên phàn nàn về tình hình đó, nhưng việc các tổ chức Mặt trận địa phương thanh toán các quan chức mất lòng dân của Việt Nam cộng hòa đều được quần chúng hoan nghênh.

Uy tín của Mặt trận cũng làm cho Mặt trận có thể tự xây dựng lại mình hết lần này đến lần khác và đặt Mỹ trước thực tế đáng thất vọng là dù Việt Nam cộng hòa có thành công đến đâu, cũng không sao diệt trừ được Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Mặt trận dựa vào chính sách ruộng đất ở miền Nam. Vào khoảng năm 1961, cải cách ruộng đất của Việt Nam cộng hòa đã ngừng hoạt động, trên hai phần năm ruộng đất lấy lại đã không được chia và các nhà chức trách Sài Gòn trở thành những địa chủ lớn nhất của đất nước. Chính sách hạn chế đó không được thực hiện và các quan chức Việt Nam cộng hòa tha hồ thu tô cho túi tiền của mình và cho Việt Nam cộng hòa.

Trong khi đó thì chính sách ruộng đất của Mặt trận Dân tộc Giải phóng nói chung rất thành công. Mặt trận huy động một phần lớn nông dân trực tiếp tham gia việc chia ruộng đất làm cho họ có lợi ích thiết thân trong sự thành công của Cách mạng. Chính vì vậy mà Mặt trận được bảo vệ trước bất kỳ kiểu gian nan thử thách nào. Đó là nhân tố cơ bản trong việc tuyển quân mà tinh thần và sự kiên định trước khó khăn không có gì có thể vượt qua được. Nó làm cho hàng nghìn thôn xã trở thành những cơ sở của Mặt trận và nó thỏa mãn nguyện vọng tha thiết nhất của nông dân là có quyền sở hữu ruộng đất.

Ngay cả ở nơi Mặt trận chưa có khả năng thực hiện việc chia lại ruộng đất hoặc không định chia ruộng đất, toàn bộ chế độ tô tức cũng phải chịu tác động của sự đe dọa hoặc của chỉ sự có mặt của Mặt trận. Ở những nơi mà Việt Nam cộng hòa kiểm soát chặt chẽ và không có sự thách thức của Mặt trận thì tá điền phải trả tô gấp đôi số tô được chính thức qui định, trái lại những nơi khác thì họ có thể trả tô ít hơn. Vì vậy tá điền rất mong muốn sự có mặt của Mặt trận và do đó quần chúng rất trung thành về chính trị và sẵn sàng ủng hộ Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Bằng cách đó, ngay từ đầu, Cách mạng đã nắm được quyền chủ động trong chiến tranh.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #54 vào lúc: 02 Tháng Chín, 2008, 10:35:56 pm »

MỸ VÀ TÌNH TRẠNG TIẾN LUI ĐỀU KHÓ CỦA VẤN ĐỀ BÌNH ĐỊNH

Trong suốt thời gian dính líu của mình vào Việt Nam, Mỹ chưa hề bao giờ xác định vấn đề "bình định" một cách nghiêm chỉnh trong những điều kiện xã hội và kinh tế lúc bấy giờ. Mỹ cố tình đánh giá rất thấp những giải thích rằng sức mạnh của Cách mạng là Do Cách mạng biết đáp ứng nguyện vọng và nhu cầu của quần chúng. Vấn đề liệu quân đội Việt Nam cộng hoà phải đánh một cuộc chiến tranh quy ước hay một cuộc chiến tranh du kích là một vấn đề trọng yếu đối với các cố vấn quân sự Mỹ hơn là các vấn đề khác quan trọng hơn, như vấn đề tại sao lại xảy ra cuộc chiến tranh, vấn đề lòng trung thành thật sự là những nguyện vọng của nhân dân, hay vấn đề những hậu quả của bạo lực của nhân dân đối với cam kết chính trị của Mỹ. Về thực chất, chống nổi dậy và bình định là hai khái niệm đồng nghĩa với nhau, tập trung vào các biện pháp quân sự và kỹ thuật để kiểm soát nhân dân về mặt thể chất. .

Chính cái lô-gích của cách suy nghĩ đó đã đẩy Mỹ và Việt Nam cộng hòa chống lại nhân dân và về lâu về dài, thay đổi sâu sắc cơ cấu dân cư và trật tự xã hội của đất nước. Và sự thay đổi đó là nhân tố quan trọng nhất xác định cách đánh cuộc chiến tranh và kết quả của nó. Tuy rằng phản ứng đầu tiên của nhân dân chống lại đàn áp làm cho Cách mạng mạnh lên, nhưng cuộc đột biến rộng lớn về xã hội, về dân cư và về con người mà chiến tranh gây ra cũng trở thành những thách thức tai họa cả cho Mỹ lẫn cho Đảng, tuy tính chất thì hoàn toàn khác nhau.

Ngay từ đầu Diệm tìm cách làm cho Mỹ đứng ngoài các vấn đề xã hội nông thôn và ruộng đất. Chương trình khu dinh điền tai họa của ông ta trong những năm 1959- 1960 đã huy động nhân dân cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng hơn bất kỳ chương trình nào khác và đã được Mỹ ủng hộ trong chừng mực có liên quan đến vấn đề chống nổi dậy. Năm 1962 chính quyền Mỹ chuyển viện trợ kinh tế cho các cơ quan dân sự. Từ 1960 đến 1965, không có viện trợ tài chính và cố vấn về cải cách ruộng đất cho Việt Nam cộng hòa. Điều quan trọng đối với Mỹ và Sài Gòn là kiểm soát về thể chất nhân dân mà những nguyện vọng và nhu cầu đều bị bóp nhỏ. Nhưng chính sự thay đổi về cơ cấu dân cư và sự thay đổi xã hội chứ không phải hành động quân sự nào đã xác định nội dung cho kết quả của cuộc chiến tranh.

Mùa xuân năm 1962 theo gợi ý của Rô-bớt G.K. Tom-xơn, một chuyên gia Anh nhiều ảnh hưởng, Diệm đưa ra chương trình "ấp chiến lược" xây dựng những công sự chung quanh đa số 11.300 ấp của Nam Việt Nam và tập trung nhân dân vào đó. Cảnh sát, các đơn vị tự vệ cũng như bộ máy bí mật của Việt Nam cộng hòa ở mỗi ấp làm nhiệm vụ kiểm soát sự đi lại của nhân dân và triệt phá cơ sở hạ tầng của Mặt trận Dân tộc Giải phóng nhằm xây dựng những cụm ấp an toàn để từ đó mở rộng ra các cụm khác.

Đối với nhóm cố vấn viện trợ quân sự Mỹ (MAAG) thì chương trình ấp chiến lược nhấn mạnh nhiều hơn đến quân chính quy và hỏa lực, và việc di dân cũng triệt để hơn. Dân được đưa ra khỏi những "khu vực chết" mà về sau được gọi là khu "tự do bắn phá". Cái chung của cả Diệm lẫn Mỹ là kiểm soát dân với hy vọng vô hiệu hóa ảnh hưởng của Mặt trận Dân tộc Giải phóng, hoặc nếu không, thì cũng làm cho Việt Nam cộng hòa tiếp xúc được với phần đông dân chúng, xóa bỏ cơ sở quần chúng của Mặt trận.

Diệm muốn có kết quả nhanh chóng nên huy động toàn bộ quân đội của ông ta để ép tạo ra những ấp chiến lược. Tháng 9 năm 1962, Diệm rêu rao rằng một phần tư tất cả các ấp đã được tổ chức và một năm sau thì con số đó lên ba phần tư.
Một nhà chiến lược cấp cao quân đội Việt Nam cộng hòa mô tả ấp chiến lược như "một trại tập trung lộn xộn” (xem Hoàng Ngọc Lung, Chiến lược và chiến thuật, Chuyên khảo Đông Dương, tr.27). Nông dân bị buộc phải bỏ nhà cửa, ruộng đất để vào những địa điểm mới, xa cách. Tiền mặt và vật liệu cho họ không bao giờ đủ nên họ phải bỏ ra nhiều lao động và tiền của. Các quan chức Việt Nam cộng hòa cai trị họ thì luôn luôn "cướp bóc truy thu thuế, đặt lại những địa chủ và đàn áp nhân dân như trung tá Uy-li-am R.Coóc-xơn, một chuyên gia bình định cho biết. Khi nhân dân không chịu vào ấp chiến lược thì quân đội Việt Nam cộng hòa dùng phi pháo để buộc họ phải chạy vào ấp để tránh.

Kết quả có thể thấy trước được đó là việc những người đến tuổi nhập ngũ trốn ra ngoài để tham gia các lực lượng của Mặt trận; đó là một làn sóng bất bình rộng lớn, lần này vượt quá các vấn đề ruộng đất để đòi quyền sở hữu và đòi một xã hội nông thôn ổn định. Đầu năm 1963 Mặt trận dành ưu tiên cho việc triệt phá chương trình ấp chiến lược. Vào tháng 9 năm 1963 Mặt trận phá hủy 2.500 ấp chiến lược gây thiệt hại nặng cho 1.000 ấp khác và có ảnh hưởng sâu trong số 2.500 ấp còn lại.

Với cái chết của Diệm, chương trình ấp chiến lược cũng bị hoãn lại và mặc dù có những chương trình tiếp theo nhưng đến tháng 2 năm 1966 thì những cố gắng kiểm soát nhân dân nông thôn không được cả Mỹ lẫn bất kỳ tập đoàn nào của Sài Gòn chú ý đến nữa. Vì các thất bại dồn dập trong tất cả các lĩnh vực của các chế độ tiếp theo làm cho Oa-sinh-tơn tính đến thất bại cuối cùng cho nên Oa-sinh-tơn quay sang việc dựa vào sức mạnh quân sự ào ạt của chính mình.

Tháng 11 năm 1964 tướng Uy-li-am C. Oét-mo-len, tư lệnh Bộ chỉ huy viện trợ quân sự Mỹ ở Việt Nam (MACV) thừa nhận rằng bình định "không tiến hành tốt”. Còn Bộ trường quốc phòng Rô-bớt Mác Na-ma-ra thì thảo một bị vong lục cho Tổng thống ngày 13 tháng 3 năm 1964 nói rằng Mặt trận Dân tộc Giải phóng khống chế khoảng 30 phần trăm lãnh thổ Nam Việt Nam, nhưng ba ngày sau thì đưa con số đó lên 40 phần trăm.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #55 vào lúc: 03 Tháng Chín, 2008, 09:24:50 pm »

Chương mười một
SỰ THÁCH THỨC TRONG VIỆC XÁC ĐỊNH CÁC CHIẾN LƯỢC QUÂN SỰ

TÌM KIẾM NHỮNG VŨ KHÍ VÀ TỔ CHỨC CÓ HIỆU QUẢ

Trong khi Mặt trận Dân tộc Giải phóng nghĩ rằng hành động quân sự mà không có cơ sở chính trị vững chắc là nóng vội, Mỹ và Diệm thì ngày càng dựa mạnh vào các biện pháp quân sự để bù vào những yếu kém chính trị đã sâu sắc và ngày càng tăng của họ . . .

Từ năm 1961 cho đến khi Diệm đổ, Mỹ tìm kiếm một học thuyết và những loại vũ khí thích hợp cho mình, một cố gắng thường chia rẽ giới lãnh đạo của họ, tuy họ thống nhất với nhau về những mục tiêu chính trị của sự can thiệp ngày càng tăng. Cuộc thảo luận về cách tổ chức lực lượng quân sự Việt Nam cộng hòa đã có phần phản ánh thế khó xử về sau của Mỹ.

Từ đầu, Nam Việt Nam được dùng làm phòng thí nghiệm để thử những suy nghĩ, những chiến lược và trang bị mới của Mỹ dùng cho chiến tranh chống nổi dậy ở các nơi khác. Họ dùng quân đội Việt Nam cộng hòa một phần để thử những vũ khí và những suy nghĩ đó. Nhưng về phần mình, Mặt trận cũng bắt đầu học được cách đối phó với những âm mưu và hành động của lính Mỹ. Về quân đội Việt Nam cộng hòa, Diệm muốn mở rộng quy mô của nó. Còn các cố vấn cấp cao của Mỹ thì bất đồng với nhau trong thời gian đó, về việc liệu quân đội Việt Nam cộng hòa có nên được xây dựng để đánh cuộc chiến tranh du kích hay là để đánh cuộc chiến tranh qui ước.

Trong năm 1960-1961 cơ cấu của quân đội đã được chấn chỉnh để có thể đánh cả hai thứ chiến tranh, nhưng trên thực tế thì chẳng đánh được cuộc chiến tranh nào một cách có hiệu quả cả. Các lực lượng chính quy và dân quân địa phương của Việt Nam cộng hòa càng ngày càng đi vào nhiệm vụ đóng quân tại chỗ để giữ đất, do đó phải dựa nhiều hơn vào kỹ thuật và sức cơ động để bù lại. Trong hoàn cảnh như vậy quân đội Việt Nam cộng hòa hoàn toàn phụ thuộc vào sức cơ động bằng không vận và vào hỏa lực của Mỹ, kể cả không quân chiến lược.

Lầu Năm Góc kết luận cuối năm 1961 rằng máy bay lên thẳng là vô cùng trọng yếu để giúp cho quân đội Việt Nam cộng hòa nhanh chóng tập trung quân lực và hỏa lực khi kẻ thù xuất hiện. Điều này đã làm cho hậu cần Việt Nam cộng hòa bị hoàn toàn buộc chặt vào "học thuyết Mỹ, trang bị Mỹ và tiền của Mỹ". Nó cũng đòi hỏi phải có cố vấn Mỹ mà số lượng đã tăng lên năm lần giữa cuối năm 1961 đến cuối năm 1963, để điều khiển hệ thống đó.

Trong thời gian này, Mỹ quyết định thành lập một cơ cấu chỉ huy cho các lực lượng của mình hoạt động tại Việt Nam hoặc gần Việt Nam. Cơ cấu này tồn tại cho đến năm 1973. Bất kể không quân, hải quân và lục quân của Mỹ thống nhất với nhau gì gì đi nữa, vần đề phân chia quyền lực và ngân sách luôn luôn tỏ ra là một nguồn gốc bất đồng giữa họ với nhau.
Tình trạng đó ảnh hưởng sâu sắc đến các chiến lược, thậm chí đến các cuộc chiến đấu mà họ tiến hành. Việc này càng trở nên một thất vọng lớn vì năm 1962, Oa-sinh-tơn không cho rằng sự can thiệp của mình vào Việt Nam là một vấn đề lớn hoặc có thể kéo dài nhiều. Vì lúc đầu xem nó như một vấn đề hành chính nhỏ, Lầu Năm Góc năm 1962 đặt Bộ chỉ huy viện trợ quân sự ở Việt Nam (MACV) ở Sài Gòn dưới thẩm quyền của Tổng tư lệnh Thái Bình Dương (CINCPAC) ở Ha-oai chứ không phải trực tiếp dưới quyền của Bộ tham mưu liên quân ở Oa-sinh-tơn.

CINCPAC kiểm soát tất cả các lực lượng ở Thái Bình Dương và do hải quân điều khiển, nhưng hải quân lại ít có việc làm ở Việt Nam hơn là bất cứ quân chủng nào khác. Hệ thống chỉ huy này càng trở nên phức tạp khi máy bay lên thẳng trở thành thiết yếu cho cuộc chiến tranh và khi trách nhiệm toàn bộ về "không vận" đã được giao cho lục quân. Không quân đã phản đối cách sắp xếp này cho đến năm 1966 mới thôi. Cách làm gây lộn xộn này lại càng thêm trầm trọng với việc không quân chia thành ba bộ chỉ huy hoàn toàn riêng biệt của ba bộ phận máy bay lên thẳng, không quân lính thủy đánh bộ và không quân hải quân. Tóm lại, với mỗi một cuộc leo thang mới, những vấn đề có tính chất pháp lý đó đã trở nên trầm trọng thêm cho đến khi trở thành nguồn gốc của những cuộc tranh cãi gay gắt và ác liệt mà thời gian làm cho càng thêm nghiêm trọng.

Trong tình trạng tổ chức như vậy ở các quân chủng, các hệ thống vũ khí mới được đem ra thí nghiệm ở Việt Nam. Thuốc diệt cỏ đã được thí nghiệm đầu tiên ở Việt Nam, bắt đầu tháng 8 năm 1961. Cuộc thảo luận về việc dùng thuốc làm trụi lá cây đã dẫn ngay đến mối lo sợ bị "lên án là dã man vì thực hiện một hình thức của chiến tranh hóa học". Nhưng lập luận của những người dân sự trong Lầu Năm Góc đã thuyết phục Tổng thống và tháng 11 năm 1961 chương trình đó đã được bắt đầu và đánh cả vào mùa màng nhưng còn trên cơ sở được kiểm soát một cách chặt chẽ. Vì lý do có liên quan đến dư luận công chúng nên chương trình được giữ bí mật và vì vậy mà không bị tiết lộ ở Mỹ cho đến cuối năm 1965. Năm 1962 chương trình đó rải thuốc xuống 6.000 mẫu Anh (mỗi mẫu Anh khoảng 0,4 héc-ta - ND) lên đến đỉnh cao 1,7 triệu mẫu Anh năm 1967; trong khoảng thời gian chín năm, 20 phần trăm rừng nói chung và 36 phần trăm rừng đước bị rải thuốc độc, riêng năm 1965 thì 42 phần trăm thuốc là rải xuống mùa màng lương thực. Năm 1963, Mỹ bắt đầu nghiên cứu chất da cam là chất được dùng nhiều nhất và nghi là gây ra ung thư, quái thai và nhiều vấn đề nghiêm trọng khác, một nghi ngờ đã được xác nhận năm 1967 nhưng vẫn không hề ảnh hưởng gì đến chính sách của Mỹ.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #56 vào lúc: 03 Tháng Chín, 2008, 09:28:00 pm »

Ngoài việc làm cho mặt đất trở nên trơ trụi và phá hủy mùa màng, việc làm rụng lá cây còn nhằm buộc nhân dân phải vào vùng do Việt Nam cộng hòa kiểm soát. Nhưng chương trình đó đã làm cho một số lớn nông dân tức giận và xa lánh. Ở vùng rừng núi thì tuy đo CIA, các lực lượng đặc biệt và dân quân của Việt Nam cộng hòa thực hiện, chương trình đó đã bị sụp đổ một phần vì đã phá hoại nặng nề mùa màng trong khi rải thuốc xuống rừng núi.

Sự tham nhũng của các quan chức Việt Nam cộng hòa khi thực hiện một chương trình nhỏ để bù vào thất thu của người miền núi càng làm cho nhân dân rất căm ghét Mỹ và Việt Nam cộng hòa, và một bản nghiên cứu bí mật của Ran-đơ cho . Lầu Năm Góc năm 1967 kết luận rằng việc phá hoại mùa màng là phản tác dụng cả về mặt chính trị lẫn mặt quân sự. Cuối cùng chính quyền Ních-xơn buộc phải chấm dứt chương trình, không phải vì sự phản đối mãnh liệt của quần chúng hoặc vì những suy nghĩ về đạo đức nào mà vì nó gây ra sự thiếu thuốc để dùng trong nước Mỹ và vì năm 1968 Thiệu đã thấy rằng tác động chính trị đối với nhân dân trong nước và đối với thế giới là quá tiêu cực.

Những đề nghị kỳ lạ, nực cười và bi thảm đã được nghiên cứu để tìm ra một con đường tắt đi đến thắng lợi, trong đó có những đề nghị về đô thị hóa hoặc sử dụng các giáo phái. Người ta đổ tiền của vào các chương trình nghiên cứu khoa học xã hội này mà kết quả trước mắt duy nhất là tạo ra một hình thức học viện, nhiều kinh phí, có thanh thế, làm cho chiến tranh trở nên hợp pháp trong đầu óc những người ở Oa-sinh-tơn và gây hy vọng thắng chiến tranh cho Mỹ. Trong khi đó thì Mỹ tiếp tục dựa vào máy bay lên thẳng, na-pan và hỏa lực đề "làm cho Việt cộng thực sự biết kính sợ Chúa" như tướng Pôn D.Hác-kin, người đứng đầu MACV lúc bấy giờ, nói năm 1962.

Lúc đầu máy bay lên thẳng có giúp được cho quân đội Việt Nam cộng hòa vừa đóng quân tại chỗ để giữ đất vừa có thể nhanh chóng đưa quân và hỏa lực đến những nơi cần thiết. Nhưng năm 1962, quân đội Mặt trận Dân tộc Giải phóng bắt đầu nghiên cứu chiến thuật máy bay lên thẳng. Thực vậy lực lượng vũ trang giải phóng nhân dân nghiên cứu rất có hệ thống mọi thứ vũ khí hoặc hệ thống vũ khí đưa vào cuộc chiến tranh. Đó là đội quân đầu tiên phải đánh một kẻ địch được không vận.

Năm 1962, họ tìm được cách bắn máy bay lên thẳng và đoán trước những nơi đổ quân, đặt sẵn súng cối, cắm chông tre và các loại cọc khác. Yếu tố bất ngờ của máy bay lên thẳng đã mất, nhưng các cố vấn Mỹ tìm cách trả lời lại các biện pháp của quân đội Mặt trận. Cách có hiệu quả nhất và cũng rất tốn kém là hộ tống máy bay lên thẳng vận tải bằng máy bay lên thẳng vũ trang. Chiến thuật này rất tốn kém và rất phức tạp, phải dùng nhiều chất đốt, phải bảo quản nhiều máy bay và phải chống lại súng phòng không từ mặt đất. Mỹ kết luận rằng nếu không có sẵn lực lượng của mình ở mặt đất thì máy bay lên thẳng sẽ dễ bị lâm nguy.

Tháng 1 năm 1963, lực lượng giải phóng nhân dân ở vùng trung tâm đồng bằng sông Cửu Long chọn Ấp Bắc làm nơi thử sức với quân đội Việt Nam cộng hòa và hệ thống máy bay lên thẳng của địch. Với việc để lộ khoảng một trăm quân, họ kéo đến được một lực lượng trên ba tiểu đoàn bộ binh do máy bay lên thẳng đổ xuống. Sau một trận chiến đấu chớp nhoáng năm máy bay lên thẳng bị phá hủy, chín chiếc khác bị hư hại và khoảng 400 lính chết và bị thương. Phía Quân đội giải phóng chỉ có 9 người được xác định là chết.

Mặc dù bài học quan trọng đó về khả năng của quân đội và vũ khí của mỗi bên, các cố vấn Mỹ chưa mất lòng tin vào vũ khí và kỹ thuật mà họ đã triển khai. Lòng tin này tất nhiên đưa đến kết luận rằng cũng là vũ khí đó mà nằm trong tay Mỹ chứ không phải trong tay Việt Nam cộng hòa thì đã cứu được lòng tin vào sức mạnh của Mỹ.

Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #57 vào lúc: 03 Tháng Chín, 2008, 09:30:08 pm »

QUYẾT ĐỊNH LEO THANG CỦA MỸ

Những sự kiện đưa đến vấn đề Vịnh Bắc Bộ làm cho Mỹ tin rằng muốn khỏi thất bại phải dùng sức mạnh nhiều hơn và nghị quyết Vịnh Bắc Bộ đã mở đường cho việc leo thang chiến tranh kéo dài. Tình trạng đen tối của các ấp chiến lược và những khả năng quân sự của Việt Nam cộng hòa, cuộc đấu tranh giành quyền lực không bao giờ chấm dứt của các tướng Sài Gòn và sự nhận thức ngày càng tăng rằng Mặt trận Dân tộc Giải phóng là một kẻ thù đáng gờm, đã buộc chính quyền Mỹ trở lại vấn đề cơ bản là lợi ích của Mỹ là gì trong tình hình này. Duy trì một chính phủ thân Mỹ ở Sài Gòn chỉ là một phương tiện cho mục đích của Mỹ mà thôi; nó không phải tự nó là một mục tiêu chính. Nói đến cùng, vấn đề là lòng tin và sức mạnh của Mỹ ở toàn khu vực.

Một khi mà quyết định ném bom Việt Nam dân chủ cộng hòa đã được đưa ra, thì toàn bộ cái lô-gích nguy hiểm và cứng nhắc của lòng tin lại được gắn với nó. Một khi đã bắt đầu, quá trình leo thang không thể chấm dứt được nếu nó chưa thành công, bởi vì nếu không thành công nó sẽ tỏ ra là một công cụ đáng ngờ và không hiệu quả, do đó mà làm mất tính đe dọa và vai trò như một răn đe của sức mạnh quân sự Mỹ. Tất cả điều mà sự tan rã không thể tránh khỏi của Việt Nam cộng hòa đưa lại, là phải có một sự leo thang tiếp tục bởi vì ý nghĩ cho rằng quân đội Việt Nam cộng hòa có thể thay thế cho lực lượng trực tiếp của Mỹ bây giờ đã ngày càng trở thành hão huyền. Dù các cố vấn Mỹ chủ chốt muốn gắn sự leo thang với sự tiến bộ của Việt Nam cộng hòa như thế nào, cuối cùng họ cũng phải trở về thực tế rằng nếu Mỹ buộc phải rời Nam Việt Nam thì tác động đối với vị trí toàn cầu của Mỹ sẽ rất "tai hại" như bản thân Tay-lơ đã nói lên như vậy.

Quyết định chính thức của chính quyền Mỹ ném bom lặp đi lặp lại Việt Nam dân chủ cộng hòa, nhất là để trả lời những cuộc tiến công ở miền Nam, đã được đưa ra ngày 9 tháng 9 năm 1964, chủ yếu là vì sự tổng hợp lòng tin và thuyết đô-mi-nô với cái cho là lợi ích toàn cầu của Mỹ. Chính lập luận này sẽ làm hậu thuẫn cho những cam kết lớn hơn, bất chấp những thay đổi luôn luôn gây trì trệ của nền chính trị Sài Gòn.

Mùa hè năm 1964, cuộc bầu cử tổng thống đòi hỏi phải tạm thời ngừng mọi hành động thêm nữa. Khi ngày 1 tháng 11 một cuộc tiến công phối hợp giữa đặc công và súng cối phá hủy năm máy bay B57 và làm hư hỏng 15 chiếc khác tại căn cứ không quân Biên Hòa đã gây ra một tổn thất ngang với những tổn thất tồi tệ nhất trong Chiến tranh thế giới thứ hai, nhưng vẫn còn chưa thuận tiện để trả đũa. Mùa thu năm đó, Mỹ gắn việc leo thang chiến tranh không quân với sự cộng tác của Việt Nam cộng hòa, nhưng chẳng có gì xảy ra. Người ta đã biết rằng ngay dù cho Việt Nam dân chủ cộng hòa không gửi gì thêm nữa vào miền Nam, cuộc chiến tranh vẫn sẽ tiếp tục bởi vì như CIA đã thừa nhận "những thành phần cơ bản của lực lượng Cộng sản ở miền Nam vẫn là thành phần địa phương". Vào lúc đó chính quyền Mỹ cũng tán thành sự tin tưởng của Đảng rằng chiến tranh sẽ sớm chấm dứt nếu Mỹ không nhảy vào với quân đội của chính mình. Chiến tranh không quân chống Việt Nam dân chủ cộng hòa, một mình nó sẽ không đủ.

Đầu tháng 12 chính quyền Mỹ khẳng định lại quyết định tháng 9 của mình ném bom Việt Nam dân chủ cộng hòa để trả đũa bất cứ hoạt động lớn nào của Mặt trận Dân tộc Giải phóng ở miền Nam. Khả năng một cuộc leo thang hơn nữa, kể cả một cuộc phong tỏa Việt Nam dân chủ cộng hòa bằng hải quân đã được thông qua, nhưng còn tùy thuộc vào tiến bộ của Việt Nam cộng hòa. Nhưng sự xói mòn chính trị ở Sài Gòn và tình hình hỗn loạn không ngừng đó đưa Khánh trở lại chính quyền ngày 27 tháng 1 năm 1965 đồng thời với khả năng một giải pháp trung lập, làm cho Mỹ hoặc là chấp nhận một thất bại hầu như hoàn toàn về ngoại giao hoặc là tính đến khả năng của một thắng lợi quân sự. Vì trên 23.000 nhân viên quân sự được trang bị thật đầy đủ của Mỹ vào cuối năm 1964 gánh ngày càng nhiều chức năng quân sự, nên những cuộc tiến công vào các căn cứ của họ là tất yếu và có thể thấy trước được. Và cũng rõ ràng từ đó muốn tiếp tục chiến tranh thì Mỹ phải đưa người của mình vào chiến đấu trực tiếp. Một sự biểu lộ đầu tiên của cái lô-gích đó đã xuất hiện cuối tháng 1, khi không cần chờ bất cứ một sự khiêu khích cụ thể nào, Nhà Trắng đã quyết định cho phép máy bay phản lực Mỹ tiến công các lực lượng Mặt trận Dân tộc Giải phóng.

Xuất phát từ chính sách định sẵn như vậy, phản ứng của chính quyền đối với cuộc tiến công bằng đặc công và súng cối của Mặt trận vào căn cứ cố vấn Mỹ ở PLây Cu ngày 7 tháng 2 là hoàn toàn đoán trước được. Mác Gioóc-giơ Bân-đi lúc đó ở Sài Gòn với Oét-mo-len. Ông ta hành động "quyết liệt vội vã và có phần tự phụ" như Oét-mo-len về sau thừa nhận. Ông ta gọi điện cho Nhà Trắng yêu cầu Tổng thống trả đũa Việt Nam dân chủ cộng hòa và Tổng thống đã thực hiện tức khắc.
Không có nhân vật quan trọng nào ở Oa-sinh-tơn tán thành việc rút cố vấn hoặc cắt viện trợ. Họ không suy tính đến việc làm thế nào chiến thắng quân sự có thể làm cho Việt Nam cộng hòa tồn tại lâu dài hoặc thay đổi bản chất cơ bản là giả tạo của nó. Cũng không ai nêu lên câu hỏi làm thế nào người Mỹ có thể ở lại lâu dài trong hoàn cảnh khó khăn như vậy, bởi vì đó là một vấn đề không hợp pháp. Thực vậy, thật là rất tình cờ rằng lúc đó Mỹ đã nhận được nhiều tính toán thận trọng về những hạn chế của chiến tranh không quân chống Việt Nam dân chủ cộng hòa và về khả năng của Mặt trận Dân tộc Giải phóng có thể tiếp tục chiến đấu dù cho không có viện trợ từ miền Bắc. Nhưng cuối năm 1964 Mỹ vẫn còn chắc rằng những khả năng vật chất và kỹ thuật mà Mỹ có, là đủ để thắng chiến tranh. Bởi vì nếu Mỹ không đủ để thắng những lực lượng chỉ được trang bị sơ sài trong một nước cực kỳ nghèo, thì sức mạnh của Mỹ có tác dụng gì đối với các nước khác? Thách thức này chỉ là một biến tướng của luận thuyết về lòng tin đối với sức mạnh của Mỹ mà Oa-sinh-tơn luôn luôn bị ám ảnh từ cuối năm 1945. Vấn đề vào đầu năm 1965 chỉ còn lại là cần thiết phải có bao nhiêu thì giờ và phải cố gắng đến mức nào mà thôi. 
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #58 vào lúc: 03 Tháng Chín, 2008, 09:42:48 pm »

Chương mười hai
MỸ, CÁCH MẠNG VÀ NHỮNG THÀNH PHẦN CỦA CUỘC ĐẤU TRANH

NHỮNG THÀNH PHẦN CỦA CUỘC ĐẤU TRANH VÀ SỰ THAY ĐỔI CHÍNH TRỊ

Những quyết định của mỗi bên trong cuộc chiến tranh Việt Nam phản ánh hệ tư tưởng cũng như khả năng vật chất của họ, và vì cuộc chiến tranh bây giờ là giữa một trong những nước nghèo nhất của thế giới với nước giàu nhất trong toàn bộ lịch sử, cho nên cuộc đấu tranh còn liên quan, ngoài các vấn đề khác, đến tính thích hợp của các học thuyết chính trị cạnh tranh nhau đối với lịch sử nhân loại và đến khả năng con người làm chủ các lực lượng xã hội.

Những sự kiện ở nửa sau năm 1964 làm cho sự lạc quan quân sự dè dặt của Mỹ trở thành một sự bi quan ngày càng sâu sắc, đạt đỉnh cao khi Mác Gioóc-giơ Bân-đi và Mác Na-ma-ra đầu năm 1965 tin rằng "Chính sách hiện nay của chúng ta chỉ có thể dẫn tới thất bại thảm khốc". Mặt kinh tế và chính trị của cuộc đấu tranh nay nhiều lắm mới chỉ được Mỹ coi là có tầm quan trọng thứ yếu. Dựa vào vũ khí là một vấn đề tất nhiên bởi vì ở những nơi khác vũ khí rất có ích để chống lại nổi dậy. Hơn nữa những đồng minh chính trị tiềm tàng không gây cho Mỹ bao nhiêu hứng thú. Họ không thể đối phó với những vấn đề chính trị cơ bản của cuộc chiến tranh. Mi-ca-en Pho-re-xton cảnh cáo tháng 5 năm 1964: "Chúng ta đang cố gắng làm cho công cụ quen thuộc và cách làm của chúng ta phù hợp với một vấn đề mà chúng ta chưa hề thực sự phân tích".

Vấn đề xem xem tại sao lại có cuộc chiến tranh lúc ban đầu đã bị coi như là không thích hợp lúc này so với vấn đề định ra chiến thuật của chiến tranh ví dụ như vận động chiến, chiến tranh quy ước hay bất kỳ một phương thức quân sự nào đó. Bản chất của chế độ Mỹ xác định mục tiêu của Mỹ và cả nhận thức của Mỹ về thực tế, và bản thân những thứ đó lại hạn chế hành dộng có thể có của Mỹ. Ý thức của Mỹ là xuất phát từ nhu cầu và lợi ích chủ quan của mình chứ không phải xuất phát từ nhận thức thực tế qua tiêu chuẩn khách quan và khoa học, bởi vì sự quan tâm của chế độ đó không phải là vì chân lý mà vì sức mạnh, và chính điều đó một phần là nguyên nhân của những mâu thuẫn và thất bại của Mỹ.

Do vậy, Cách mạng được hầu như độc quyền về chính trị và về đánh giá sâu sắc các nhân tố xã hội. Vì Cách mạng có ít sức mạnh quân sự và tài sản kinh tế nên vốn quý của Cách mạng là nhận thức của mình và sự chính xác trong lập luận và phân tích để làm cơ sở cho cách chỉ đạo chiến tranh. Nếu không thì Cách mạng chắc chắn trở thành nạn nhân của so sánh lực lượng tự nhiên khách quan, nó đánh một cách không thương tiếc vào kẻ yếu nếu hành động của kẻ yếu đó không đủ sáng suốt và đúng đắn. Ngoài những chiều cạnh về thể chất và về quân sự rất đặc biệt của Việt Nam, kẻ thù đó của Mỹ còn có những vốn quý về chính trị và về tri thức rất nguy hiểm cho Mỹ bởi vì phương pháp luận sáng tạo của Cách mạng có thể áp dụng không phải chỉ ở Việt Nam mà còn ở khắp nơi khác nữa. Mỹ đã chọn nhầm một nước để thử lòng tin của mình.

Khi Mỹ tăng vai trò của mình ở Nam Việt Nam năm 1961, các nhà lãnh đạo Đảng thấy có nhiều lựa chọn trong cuộc đấu tranh sáp tới và chuẩn bị cho những lựa chọn dó. Chính trị vẫn được xem như cơ sở cho cuộc chiến tranh kéo dài, chính trị là đối trọng có hiệu quả nhất nếu Mỹ leo thang quân sự. Thời gian là một tài sản quyết định mà Cách mạng dùng để đối phó với cả Mỹ lẫn Việt Nam cộng hòa...

Trong quá trình đánh giá các mục tiêu và những vai trò tiềm tàng của Mỹ với tư cách là một nước đế quốc và những triển vọng so sánh lực lượng thế giới, xu hướng của Đảng là lạc quan một cách thận trọng đối với hành động có thể có của địch bởi vì Đảng luôn luôn đặt những mục tiêu của Mỹ trong bối cảnh quốc tế mà các nhà vạch quyết định ở Oa-sinh-tơn cho là rất quan trọng. Dường như các nhà phân tích của Đảng không chắc lắm rằng Mỹ sẽ đầu tư quá nhiều sức mạnh của mình vào Việt Nam, rất có hại cho lợi ích toàn cầu khác. Tuy vậy, Đảng vẫn chuẩn bị cho trường hợp xấu nhất.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #59 vào lúc: 03 Tháng Chín, 2008, 09:56:33 pm »

NHỮNG THÀNH PHẦN QUÂN SỰ CỦA CUỘC ĐẤU TRANH

Toàn bộ chính sách đối ngoại sau chiến tranh của Mỹ là luôn luôn dựa vào việc sử dụng vũ khí để bù lại thất bại của chiến lược chính trị của Mỹ và của những đồng minh Mỹ. Mỹ trở thành ngày càng phụ thuộc vào những đồng minh đó để duy trì cố gắng đạt sự bá quyền toàn cầu, và Nam Việt Nam không phải là trường hợp đầu tiên hoặc trường hợp cuối cùng của sự phụ thuộc lẫn nhau mong manh về bản chất đó. Do bản chất của nó, mặt chính trị của mối quan hệ đó sản sinh ra những chế độ yếu, không ổn định và sự can thiệp vũ trang của Mỹ là điều tất nhiên không thể tránh khỏi được.

Vào năm 1964 và đầu năm 1965, chiến tranh hầu như đã thất bại. Quân đội giải phóng nhân dân của Mặt trận nắm quyền chủ động. Như Oét-mo-len về sau nhắc lại: nếu lúc đó Mỹ leo thang chiến tranh dữ dội bằng không quân thì có nguy cơ gây ra một sự gia tăng có ý nghĩa về hoạt động của Mặt trận; nó sẽ đưa Mặt trận lên nắm chính quyền. Do đó cuộc leo thang đầu tiên phải từ từ. Năm 1964 Cách mạng, tuy vậy, cũng chưa sẵn sàng với việc Mỹ đưa nhiều quân vào bởi vì việc này đòi hỏi phải có quân đội Việt Nam dân chủ cộng hòa, phải xây dựng hệ thống hậu cần tốt, và phải tăng tiến trang bị quân sự của mình. Lúc đó Cách mạng cũng không có khả năng đưa vào một số lớn chủ lực của mình để giành thắng lợi đã ở gần trong tầm tay. Vấn đề thời gian đã trở nên trọng yếu cho cả hai bên.

Vào năm 1964, cuộc đấu tranh của Việt Nam đã trên hai mươi năm và các nhà lãnh đạo đã biết rõ những chỗ mạnh và những chỗ yếu của lòng kiên nhẫn; họ có thể đợi hai mươi năm nữa nếu cần. Các nhà lãnh đạo Đảng, nhất là trong quân đội, bắt đầu thảo luận ngay những chiến lược khác nhau để khai thác thế chủ động mà họ đã nắm giữ năm 1965. Cuối cùng họ dựa vào những nguyên tắc cổ truyền của sự phân tán, bất ngờ và linh hoạt, bất kể chiến thuật lúc đó là như thế nào. Trên thực tế, mặc dù các nhà lãnh đạo Đảng sẵn sàng chấp nhận chiến tranh kéo dài, nhưng họ cũng tìm cách thắng chiến tranh trong một thời gian ngắn nếu có thể được.

Về phía Mỹ, Mỹ tin nhiều vào nguyện vọng của Đảng duy trì và mở rộng những thành quả kinh tế đã giành được một cách vất vả ở miền Bắc. Trên cơ sở đó, phần đông ở Oa-sinh-tơn nghĩ rằng một cuộc chiến tranh không quân từ từ sẽ giành được những nhượng bộ quan trọng để tránh thất bại cho Việt Nam cộng hòa. Điều mà Mỹ không thấy được là các nhà lãnh đạo Đảng dựa vào tính chất nông dân của nền kinh tế Việt Nam dân chủ cộng hòa, cho nên thời gian trở nên vô hạn định và là nhân tố bảo đảm cuối cùng cho thắng lợi. Các nhà lãnh đạo Đảng hiểu rõ những giới hạn của thời gian đối với Mỹ hơn là chính quyền Mỹ hiểu. Trong một xã hội công nghiệp thì giờ là tiền của, và Mỹ năm 1964 không thể tưởng tượng rằng một cuộc chiến tranh kéo dài một thập kỷ hay hai có thể hoặc là cần thiết hoặc là có thể làm được. Cả xã hội Mỹ, cả nền văn hóa Mỹ là không thể tiếp thu được khái niệm đó. Học thuyết quân sự của Mỹ không cho phép dùng chiến thuật thụ động. Những nguyên tắc chiến lược của quân đội Mỹ đòi hỏi một người chỉ huy "không được tự để hoàn cảnh sai khiến hành động của mình, mà phải quyết định lấy hoàn cảnh", nghĩa là phải tiến công và nắm quyền chủ động.

Liệu chính quyền Mỹ có làm được điều này hay không phụ thuộc không phải chỉ vào chiến lược của Việt Nam mà còn vào việc thử nghiệm những hệ thống vũ khí của chính Mỹ và vào những phương pháp mới của chiến tranh chống nổi dậy. Kết quả của việc thử nghiệm vũ khí từ bom na-pan, các cây điện tử, thuốc làm trụi lá cây cho đến nhiều loại vũ khí sáng tạo của nền khoa học Mỹ, đến năm 1965 còn chưa có kết luận. Sức mạnh không quân mà Mỹ sẵn sàng áp dụng đã trở nên ghê gớm một cách đáng sợ, nhưng cuộc tiến công tháng 11 năm 1964 của một số ít người vào căn cứ không quân Biên Hòa là một sự kiện "không có tiền lệ trong không quân", như một nhà viết sử của không quân về sau kể lại. Khi đưa không quân tham gia hoạt động chống nổi dậy từ năm 1961, người ta "không tính đến việc kẻ địch đánh vào các căn cứ không quán", một vấn đề không kém phấn quan trọng. Một giai đoạn mới của chiến tranh xuất hiện khi Mỹ chuẩn bị chuyển từ việc dựa vào quân đội Việt Nam cộng hòa sang việc dùng lực lượng của chính mình và các binh sĩ Cách mạng cũng phải tìm cách vô hiệu hóa càng nhiều càng tốt những việc làm của Mỹ. Làm nhanh chóng được việc này là vô cùng thiết yếu cho mỗi bên, nhất là đối với chính quyền Mỹ mà những điểm yếu ở cả Mỹ lẫn Việt Nam làm cho thời gian trở nên thực chất.

Cán cân thực sự của các lực lượng quân sự đến năm 1965 vẫn còn chưa rõ ràng ở Oa-sinh-tơn bởi vì Mỹ không thể đánh giá được tầm quan trọng cuối cùng của các nhân tố về tổ chức, kinh tế và chính trị ở Việt Nam và, sau đó, ở cả trong nước Mỹ nữa. Nhưng Mỹ đã tự tin và cho rằng lực lượng cơ động và hỏa lực của mình có thể lấp lỗ trống mà các thất bại trước kia của Mỹ cũng như của Việt Nam cộng hòa đã tạo ra. Thế là thế tiến lui đều khó cổ truyền sau chiến tranh của Mỹ định dựa vào vũ khí và học thuyết để đối phó với những thực tiễn chính trị hay thay đổi ở các nước ngoài, lại một lần nữa xuất hiện trở lại.
« Sửa lần cuối: 04 Tháng Chín, 2008, 06:50:47 pm gửi bởi SaoVang » Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM