Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:41:43 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Giải phẫu một cuộc chiến tranh  (Đọc 112833 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #60 vào lúc: 04 Tháng Chín, 2008, 06:51:28 pm »

VẤN ĐỀ LÀM CÂN BẰNG SỨC MẠNH

Chính trị đã từng là chìa khóa cho chiến tranh Việt Nam kể từ năm 1941 và các vấn đề xã hội và kinh tế là cơ sở tối hậu của cuộc đấu tranh thắng lợi của Đảng Cộng sản cho đến năm 1965. Trên bình diện đó, cuộc chiến tranh là không cân xứng trong đầu những năm 1960 và ngay từ đầu cán cân quân sự giữa Mỹ và Cách mạng ít thuận lợi cho Mỹ hơn nhiều như Mỹ đã đánh giá. Thật vậy, với một số lượng vũ khí nhỏ nhưng quan trọng về chất lượng của Quân đội giải phóng cũng như với nhân lực do Việt Nam dân chủ cộng hòa cung cấp, Mặt trận Dân tộc Giải phóng là một kẻ thù mạnh hơn nhiều so với sự tính toán của Mỹ. .

Nhưng một nhân tố vào cuối năm 1964 làm thay đổi mạnh mẽ sức mạnh của Cách mạng và đưa ra một tình hình xã hội mới mà cả hai bên phải đối phó. Vào năm 1964, chiến tranh ở Nam Việt Nam trở thành khốc liệt và ảnh hưởng sâu sắc đến các tầng lớp của xã hội, làm thay đổi nhanh chóng việc phân bổ nhân dân. Việc nhân dân bị buộc phải bỏ nhà ra đi tìm nơi an toàn làm thay đổi cơ cấu của toàn đất nước và đã tạo ra vô số những vấn đề cho cả hai bên.

Cách mạng thấy rõ tình hình đó ngay tức khắc. Cách mạng tìm cách gần gũi quần chúng nhưng nhiều nông dân phải bỏ làng hoặc vì bản năng muốn sống sót trước mức chiến đấu ác liệt hoặc vì phải ra đi dưới họng súng của Mỹ và Việt Nam cộng hòa. Việc di chuyển của nông dân từ ruộng đất lên thành phố đặt ra nhiều vấn đề và nhiều khó khăn to lớn, đụng chạm đến cơ sở xã hội của Cách mạng.

Việt Nam cộng hòa và Mỹ thì phải giải quyết những khó khăn của việc đô thị hóa nhanh chóng đang gây đau xót cho đất nước. Đầu tiên họ tưởng có thể giải quyết được và xem đó là điều có lợi cho sự nghiệp chống cộng của họ. Nhưng đó lại là một sai lầm tai hại vì Việt Nam cộng hòa không thể chỉ tồn tại về mặt quân sự, Việt Nam cộng hòa phải tìm cách vận động các lực lượng xã hội ở miền Nam để sẵn sàng ủng hộ và hợp pháp hóa họ.

Tóm lại, cả Cách mạng lẫn Mỹ và kẻ phụ thuộc vào Mỹ trong năm 1964-1965 đi vào một giai đoạn chuyển tiếp. Trong khi cả hai bên nhận thức tình hình một cách khác nhau, nhưng chưa bên nào hoàn toàn nắm được tầm quan trọng của tình hình đó đối với kết quả cuộc chiến tranh và tương lai của đất nước.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #61 vào lúc: 04 Tháng Chín, 2008, 06:52:30 pm »

PHẦN BA
CHIẾN TRANH TỔNG LỰC 1965 -1967 VÀ SỰ BIẾN ĐỔI CỦA NAM VIỆT NAM

Chương mười ba
LEO THANG VÀ THẤT VỌNG CỦA NỀN CHÍNH TRỊ MỸ

Chính sách đối ngoại của chính quyền Giôn-xơn vào đầu năm 1965 là sản phẩm của hai thập kỷ theo đuổi những mục tiêu cố định đã bị ảnh hưởng bởi những nỗi thất vọng sau chiến tranh và đã góp phần nhiều trong việc xác định tư tưởng và hành động của chính quyền đó trong ba năm quyết định tiếp theo. Bắt đầu với một ý thức về sức mạnh to lớn và về tự do, nhưng các giai đoạn khó khăn của chiến tranh và sự thất bại trong cố gắng của Mỹ đã làm cho Mỹ không còn những lựa chọn rộng rãi nữa và đến đầu năm 1968, thì đành phải chấp nhận những hạn chế không thể đảo ngược được về quân sự, kinh tế và chính trị mà cuộc chiến tranh kéo dài đã gây ra. Những hậu quả quân sự cán cân lực lượng nông thôn ở Nam Việt Nam, sự biến đổi của chính cơ cấu xã hội và những tổn phí của chiến tranh tất cả kết hợp lại làm thay đổi nội dung của tương lai chiến tranh và những lựa chọn của các nhà lãnh đạo Mỹ.

Cho đến khi họ thấy được những lực lượng và khó khăn đó, từ gánh nặng tài chính của chiến tranh và một công chúng Mỹ ngày càng thù địch cho đến những đồng minh của họ ở Sài Gòn và những kẻ thù ở những nơi khác của Việt Nam, các nhà vạch quyết định của Mỹ đã hành động hoàn toàn trong khung cảnh những mục tiêu và giả định sau chiến tranh với một lòng tự tin đáng kinh ngạc, bất chấp những bài học cay đắng của những cố gắng không hiệu quả trước đây. Những nhận thức của họ về những thất bại trước, từ nguy cơ của chiến tranh trên bộ cho đến sự bế tắc của chiến lược hạt nhân đã làm cho vai trò của Việt Nam trong chính sách đối ngoại sau chiến tranh của Mỹ trở thành càng quan trọng hơn, thúc đẩy các nhà lãnh đạo hành động chứ không phải làm cho họ thận trọng khôn khéo.

Bản năng chống cộng của họ, mối lo sợ về những cuộc nổi dậy không kiểm soát dược của thế giới thứ ba và lòng thiết tha muốn chứng minh hiệu quả của vũ khí đối với hoạt động chống nổi dậy, đã làm cho ý nghĩa của Việt Nam càng trở nên quan trọng đối với những người nắm quyền ở Oa-sinh-tơn. Họ xem đó là những chứng minh mà tất cả các suy xét khác phải phụ thuộc vào cho đến khi chính những thể chế chính trị, xã hội và kinh tế của Mỹ bị lâm nguy vào những tháng đầu của năm 1968. Trước lúc này thì những hạn chế về sức mạnh và về các quyết định trong xã hội Mỹ chưa bộc lộ hoàn toàn bởi vì thực tế xã hội có thể thấy được không phải khi chế độ của xã hội đó còn hoạt động một cách bình thường mà chính là khi nó bị rơi vào khủng hoảng.

Tháng 2 năm 1965, chính quyền Mỹ đã đến gần cái mà Mác Gioóc-giơ Bân-đi coi là "một quyết định phân ranh giới trọng đại", trên cơ sở những cam kết rõ ràng và những xác định về lợi ích kinh tế và chính trị trước đây. Lòng tin vào sức mạnh Mỹ là một sự biện bạch mà Mỹ cho là mầu nhiệm, đã đoàn kết hầu như tất cả những người làm ra chính sách cơ bản. Lòng tin đó có hiệu quả rộng lớn, nhất là đối với Tổng thống Giôn-xơn, người đã đặt nó ngang hàng với kinh nghiệm của thế kỷ hai mươi với hy vọng làm cho những đồng minh của Mỹ khắp nơi yên tâm và tin tưởng vào nhiều hiệp ước an ninh ký với Oa-sinh-tơn.

Lòng tin với tư cách là một chủ đề đã được đề cập đến trong các bị vong lục của Giôn Mác Nâu-tơn nguyên giáo sư luật ở Ha-vớt và hiện là trợ lý bộ trưởng quốc phòng, người đã xem nó là một vấn đề "thanh danh". Còn Ra-xcơ nói với Tổng thống tháng 7 năm 1965 rằng "tính kiên định trong cam kết của Mỹ là trụ cột chính của hòa bình trên khắp thế giới. Nếu cam kết đó không thể tin cậy được thì thế giới cộng sản sẽ rút ra những kết luận dẫn đến sự phá sản của chúng ta và hầu như chắc chắn đến một cuộc chiến tranh thảm họa".

"Sự làm nhục" đối với Mác Nâu-tơn là đồng nghĩa với mất lòng tin. Cả công khai lẫn ở hậu trường, học thuyết đó đã được chấp nhận dưới nhiều hình thức bởi hầu như tất cả các thành viên chính quyền, kể cả những người bên ngoài có ảnh hưởng nhất được tham khảo ý kiến dù cho họ là những nhà chính trị non nớt, nhà lý luận kinh viện hay là những tướng lĩnh hăng hái. Và ngay dù cho họ tranh luận về mức độ hành động để cứu vãn lòng tin, họ vẫn thống nhất với nhau về sự cần thiết cơ bản phải có những cố gắng quyết liệt để bảo vệ lòng tin đó.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #62 vào lúc: 04 Tháng Chín, 2008, 06:53:27 pm »

QUYẾT ĐỊNH LÀM CHIẾN TRANH

Chính quyền Giôn-xơn đưa ra những quyết định trọng yếu tăng lực lượng Mỹ và tăng hoạt động ở Nam Việt Nam giữa tháng 8 năm 1964 và tháng 2 năm 1965. Một số những bổ sung nhỏ nhưng quan trọng cho những chính sách đó trong mùa xuân năm 1965 đã tạo ra một tình hình không thể đảo ngược trước tháng 7 năm 1965, khi Giôn- xơn tăng số quân Mỹ lên 175.000. Với một ý nghĩa nhất định đó là một loạt các quyết định mờ ám, không được công bố, nó bộc lộ phong cách ưa thích của chính quyền, muốn hành động kín đáo và không đưa ra công khai nhằm tránh khỏi mọi ảnh hưởng chính trị.
Đối với Giôn-xơn, làm như vậy có nghĩa là tránh vai trò của một tổng thống chiến tranh để làm vai trò của một nhà cải cách trong nước. Ngược lại, công chúng và Quốc hội ngày càng thất vọng trước sự dính líu ngày càng sâu của Mỹ ở Việt Nam. Chính sự lừa dối đó, cũng như bản thân của sự leo thang đã làm cho nhiều người Mỹ bất bình.

Mặt khác, tại Nam Việt Nam, cuộc tiến công ngày 7 tháng 2 vào PLây Cu bộc lộ rằng các căn cứ Mỹ và hàng trăm máy bay mới ngày càng rất dễ bị tiến công. Vì Việt Nam cộng hòa không đủ sức bảo vệ các căn cứ đó nên MACV cuối tháng 2, yêu cầu cho lính thủy đánh bộ Mỹ vào Đà Nẵng để bảo vệ căn cứ liên hợp khổng lồ ở đó. Như Tài liệu Lầu Năm Góc nhận xét, đó là "một quyết định lớn đưa ra không kèn không trống và cũng không có kế hoạch đấy đủ". Cuộc chiến tranh không quân và vấn đề bình định đã được thảo luận thấu đáo nhưng việc đưa quân vào là một việc làm về sau, chủ yếu là do kết quả tất nhiên của cuộc chiến tranh không quân tiến công. .

Hai tiểu đoàn lính thủy đánh bộ đổ bộ vào ngày 8 tháng 3 và ba tuần sau đó là một sự cho phép không được công bố của Tổng thống rằng quân Mỹ có thể chiến đấu trong phạm vi 85 ki-lô-mét quanh căn cứ. Một lữ đoàn lục quân đến sân bay Biên Hòa khổng lồ tháng 5 với cùng mục đích. Bảo vệ căn cứ đã trở thành lý do chính của việc triển khai quân đội bởi vì Oa-sinh-tơn nhận thức rằng không thể có chiến tranh không quân nếu không có chiến tranh mặt đất. Khoảng một nửa lực lượng trên bộ vào đầu năm 1966 là nhằm để bảo vệ các khu vực căn cứ và đến cuối năm thì tỷ lệ đó là 40 phần trăm, khi quân Mỹ lên đến con số 485.000. Mỹ không hề bao giờ giải quyết được thế khó xử này.

Trong khi một số cố vấn cấp cao như Mác-xoen Tay-lơ bày tỏ sự ngờ vực về chương trình phối hợp không quân và bộ binh đó, nhưng tất cả, trừ Gioóc-giơ Bon, nghĩ rằng sự duy trì nó là cần thiết để giữ lòng tin. Tất cả, bất chấp những bất đồng với nhau, đều tán thành một mức độ leo thang. Ngày 1 tháng 3 năm 1965, Mác Na-ma-ra thảo luận viện trợ cho Việt Nam cộng hòa, dù là dưới hình thức hàng hóa hay dưới hình thức lực lượng Mỹ, và báo cho các bộ trưởng các quân chủng rằng "tôi muốn được hiểu rõ rằng có một ngân khoản không giới hạn để thanh toán viện trợ cho Việt Nam", một "séc để trống" như kế toán trưởng của quân đội về sau gọi như vậy, "mà các nhà lãnh đạo quân sự thường được nhận khi chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh" (xem Lê-ô-na B. Tay-lơ "Sự quản lý tài chính của cuộc xung đột Việt Nam", 1962-1972, Bộ lục quân Mỹ 1974, tr.48). Đầu tháng 4 và giữa tháng 6, việc cho phép đưa quân được tăng lên, và đến cuối tháng 6 thì số nhân viên quân sự Mỹ lên đến 60.000 cộng với 10.000 đã có phép lên đường.

Vào tháng 4 năm 1965, cả Mác Na-ma-ra lẫn Bộ tham mưu liên quân chủ trương những cuộc leo thang lớn về chiến tranh trên bộ cũng như trên không. Cuối tháng 5, W W Rô-xtốp lập luận rằng thắng lợi hoàn toàn có thể đạt được và thắng lợi đã đến gần hơn bao giờ hết, Mác Na-ma-ra nghĩ rằng 200.000 quân hoặc khoảng đó sẽ là con số tối đa cần để đảo ngược tình thế của chiến tranh trước khi giảm lực lượng Mỹ. Vào tháng 6, tính trầm lặng trước đây của Tay-lơ tan biến trước đề nghị của Bộ tham mưu liên quân và của Mác Na-ma-ra đưa số quân lên 175.000, sau đó lên 44 tiểu đoàn. Việc này có thể làm cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng không thể thắng được và làm xoay chuyển cán cân lực lượng vào cuối năm. Mác Na-ma-ra và Oét-mo-len lập luận rằng với việc thêm quân đội trong năm 1966 và 1967 Mỹ sẽ giành thế chủ động. Quân đội càng nhiều, thắng lợi càng sớm. Tổng thống quyết định dừng ở mức 34 tiểu đoàn với số quân là 175.000 và không đáp ứng yêu cầu không được lòng dân của Lầu Năm Góc gọi quân trù bị. Tuy nhiên, tin rằng Mặt trận đang thắng trong cuộc chiến tranh, nên Tổng thống muốn đưa mốt lực lượng Mỹ với số lượng lớn vào để đảo ngược tình thế làm cho ông ta có thể trở lại chương trình trong nước mà không bị lên án gây ra thất bại ở ngoài nước và làm tổn thương đến lòng tin. Vào cuối năm, có 184.000 quân Mỹ ở Nam Việt Nam, và sự leo thang lớn trong cuộc chiến tranh giữa mùa hè năm 1964 và một năm sau đó đã đạt đỉnh cao.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #63 vào lúc: 04 Tháng Chín, 2008, 06:54:31 pm »

NHỮNG THẾ TIẾN LUI ĐỀU KHÓ ĐANG XUẤT HIỆN TRONG VIỆC LÀM RA CHÍNH SÁCH

Để hiểu những mặt tự do và những mặt hạn chế trong việc lựa chọn chính sách của Oa-sinh-tơn, cần so sánh những sự kiện và quyết định của thời kỳ 1964-1967 và thời kỳ sau 1968. Cho đến năm 1968 chiến tranh về phía Mỹ bao gồm việc đối phó với một loạt các thách thức, trước hết là thắng lợi trước mắt của Mặt trận Dân tộc Giải phóng mà chính quyền Mỹ ít có khả năng ngăn chặn hoặc bằng những thể chế hiện có hoặc bằng tinh thần tư tưởng. Sau Tết 1968 chính thực chất kinh tế và chính trị của Mỹ đã bị dính líu vào chiến tranh và cho thấy rõ sự bất lực các thể chế của chế độ khi nó đến gần giới hạn kinh tế và chính trị của nó.

Trong ba năm leo thang, những điểm yếu của chính sách đối ngoại Mỹ đã bộc lộ, chứng minh rằng dù thống nhất như thế nào về những mục tiêu và biện pháp chung giữa các nhà làm ra quyết định, những thực tế cụ thể cuối cùng có thể, cùng với những thất bại ngày càng tăng, gây ra những bất đồng quan trọng về chiến thuật cụ thể và về lựa chọn những ưu tiên.

Tình hình đó nói lên những hạn chế về quyền lực của Mỹ. Những hạn chế cơ cấu của chế độ Mỹ cuối cùng biến thành một cuộc khủng hoảng kéo dài về lãnh đạo do đó mà một nước Mỹ to lớn về vật chất nhưng ngày càng bối rối và mất đoàn kết tự thấy bị những người cộng sản nghèo hơn nhiều về vật chất vượt qua. Vị trí của Việt Nam trong chính sách đối ngoại sau chiến tranh của Mỹ có thể được xem như một bộ phận của một chiến lược nhất quán cũng như của thế tiến lui đều khó liên tục của Mỹ. Đó là tình hình mà chúng ta đang sống ngày nay ở Mỹ La-tinh và ở những nơi khác. Ít người thấy trước được những thất bại có thể xảy ra từ cuộc can thiệp ở Việt Nam và họ giải quyết những tốn thất chính trị và kinh tế một cách khác nhau cho đến năm 1968, khi những lực lượng bên ngoài và những thực tế phũ phàng hạn chế gay gắt những lựa chọn của họ.

Trong giai đoạn chuyển tiếp ngắn ngủi 1965-1967, sự nhất trí về chính sách đối ngoại không loại bỏ được những bất đồng chiến thuật thật sự. Nhưng điều quan trọng hơn nhiều so với những thông báo về những sự kiện xảy ra ở Việt Nam đã từng làm nội dung cho báo chí, kể cả những thất vọng và sự mất lòng tin của những người như Mác Na-ma-ra, thực tế đã là thất bại to lớn của một chế độ. Thất bại đó thuộc về thể chế chứ không phải về cá nhân con người, thuộc về bản chất của chủ nghĩa đế quốc Mỹ, của chính sách đối ngoại sau chiến tranh, của nhận thức của Mỹ về thế giới và về chính bản thân mình, và thuộc về sự không tương xứng giữa ý muốn và lợi ích của Mỹ một bên và những hạn chế về quyền lực của Mỹ bên kia.

Một sự nhất trí về vai trò và mục tiêu của sức mạnh Mỹ và về tính chất của thế giới là một điều kiện tiên quyết trong quá trình làm ra quyết định và khi những chiều cạnh chính sách cụ thể của thế giới quan đó không còn phù hợp với những lợi ích lớn hơn của chế độ, thì thường là sẽ xảy ra một cuộc khủng hoảng về chính sách, về ưu tiên và cả về nhân sự. Sự nhất trí đó không bao giờ có thể loại trừ được những bất đồng về biện pháp của các cá nhân cũng như của các tổ chức vì những lý do từ lợi ích chế độ cho đến tham vọng cá nhân.

Một khi lợi ích hoàn toàn cá nhân đe dọa nhu cầu toàn bộ của chủ nghĩa tư bản Mỹ trong nước cũng như ngoài nước một cách rõ ràng, thì các nhà hoạt động chính trị sẽ bị những người khác thay thế, như đã xảy ra nhiều lần sau Tết 1968. Tuy nhiên, thực tế của chính sách đối ngoại vẫn cho phép một mức độ khác biệt và tham vọng cá nhân nhất định trong khung cảnh của một sự nhất trí. Ý muốn thực hiện chương trình xây dựng trong nước và được bầu lại của Giôn-xơn chẳng hạn đã ảnh hưởng sâu sắc, đến hình thức, tuy không phải là nội dung của chính sách về việt Nam, cho đến khi chính sách đó bị thất bại. Còn Gioóc-giơ Bon thì vì sự nhấn mạnh của ông ta về ưu tiên châu âu, nên đã lập luận chống lại Việt Nam trong chính quyền Mỹ . . .

Tóm lại, khó khăn của Mỹ xuất phát từ việc Mỹ không hiểu biết tập thể cả các lực lượng mà Mỹ phải đương đầu lẫn chính bản thân mình, hai hình thức của sự mù quáng dẫn đến những hành động dễ được cùng nhau chấp nhận. Những lời giải thích chủ quan, ngạo mạn cho những hành động đó là kết quả chứ không phải là nguyên nhân của thế tiến lui đều khó của Mỹ. Những giới hạn về quyền lực của Mỹ đã được bộc lộ trước đó như ở Triều Tiên và Cu-ba cho nên Mỹ thấy là rất cần thiết phải giành thắng lợi ở Việt Nam để bù lại những thất bại đã qua.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #64 vào lúc: 04 Tháng Chín, 2008, 06:55:26 pm »

SỰ XÓI MÒN CỦA SỰ NHẤT TRÍ

Sự nhất trí về chính sách đối ngoại giữa Oa-sinh-tơn, những nhóm quyền lực chủ chốt và công chúng từ sau năm 1950 đã từng là nhân tố thiết yếu cho việc Mỹ theo đuổi cuộc chiến tranh kéo dài, nhưng cũng chính là ở đây chứ không phải trong các cuộc thảo luận quanh co giữa chính quyền và giới quân sự mà Mỹ nhanh chóng bị đẩy vào thế phòng ngự trong một cuộc chiến tranh xâm lược. Tuy thế khó xử đó của Mỹ chủ yếu là do sức dẻo dai của Cách mạng tạo nên, nhưng ở mức độ nhất định cũng là do Nhà Trắng đưa lại. Cuối cùng, những xung đột bên trong và phong cách của chính quyền Giôn-xơn tỏ ra ít quyết định hơn là sự va chạm của chính quyền đó với một bộ phận quan trọng của công chúng trong năm 1968, dẫn đến việc Quốc hội chuyển sang phía đối lập.

Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ làm cho chính quyền Mỹ càng xem thường sự khôn ngoan của quần chúng và khuyến khích nó tiếp tục thao túng dư luận công (chúng và Quốc hội trong khi leo thang. Chính quyền đó có thể che giấu chiến lược đã có sẵn của mình, coi đó như là một phản ứng tức thời trước những khiêu khích của kẻ thù hoặc làm ra vẻ không có tính toán gì trước, khi có một bước leo thang mới, nếu cố gắng quân sự đó giành được thắng lợi. Nếu thất bại, thì quy mô của sự cố tình lừa dối để giành sự ủng hộ đó phải được tăng lên gấp bội. Vì mỗi thất bại của leo thang gây rắc rối cho chính quyền nên chính quyền nhanh chóng bị cột vào một vòng luẩn quẩn của những sự lừa dối. "Khoảng cách về lòng tin" giữa hành động và tuyên bố đã sớm bộc lộ tính thiếu ngay thẳng của chính quyền đưa đến một thách thức trọng yếu.

Nhà Trắng biết rằng dốc sức vào chiến tranh sẽ làm cho Chương trình kinh tế xã hội vĩ đại bị thiệt hại và làm cho những người cộng hòa có thể khai thác chủ nghĩa sô vanh hiếu chiến. Các chuyên gia quan hệ công cộng của Giôn-xơn ngày càng gặp khó khăn để giữ cho chiến tranh không lộ ra ngoài. Những cố gắng thỉnh thoảng đưa ra những tài liệu đề làm hậu thuẫn cho chính sách cũng không thành công. Còn tồi tệ hơn là một bộ phận lúc đầu còn bé nhỏ nhưng ngày càng trở nên quan trọng và tăng lên của công chúng nhận thấy được sự lừa dối của chính quyền và bắt đầu làm xói mòn sự nhất trí quốc gia đối với chính sách đối ngoại.

Một nhà báo bình thường của Oa-sinh-tơn ngay trong tháng 6 đã phải tiết lộ việc sử dụng lính thủy đánh bộ làm các vai trò chiến đấu sau tháng 3 năm 1965, chỉ bởi vì những thiệt hại của họ không thể che giấu được nữa. Những tiết lộ báo chí trong những năm tiếp theo buộc chính quyền phải công khai thừa nhận sự thật nhưng thường là thừa nhận rất chậm sau khi mọi người đã biết. Thậm chí tháng 11 năm 1967, nhóm cố vấn cấp cao của chính quyền, cái gọi là Những người thông thái, thuộc các tập đoàn luật, tài chính và công nghiệp, có nhiều kinh nghiệm ở Oa-sinh-tơn đã tán thành quan điểm của chính quyền cho rằng "vấn đề lớn. . . là làm thế nào xoay chuyển được dư luận Mỹ".

Điều đáng chú ý hơn việc thao túng dư luận công chúng là chính quyền đã tự lừa dối mình bằng việc tin là có thể khai thác thời gian và tính kiên nhẫn để đảo ngược trào lưu của chiến tranh. Họ tin vào việc dùng hỏa lực và các chương trình của mình bất chấp những tổn thất về người và tiền của có hại cho các ưu tiên khác trong nước và ngoài nước. Chính vì lòng tự tin đó, cộng với một ý thức chính trị nhạy cảm của mình, Tổng thống đã không động viên lực lượng trù bị hoặc huy động nền kinh tế trước năm 1968 vì ông ta tin rằng thời gian là ở về phía ông ta. Sự mơ hồ mỉa mai ở cấp bậc cao nhất đó đã đưa đến một thất bại lớn trong cố gắng chiến tranh của Mỹ.

Các chính sách của chính quyền Mỹ và "khoảng cách về lòng tin" đối với chính quyền đó cuối cùng đã ảnh hưởng sâu sắc đến toàn bộ quan điểm chính trị của Mỹ và tiếp tục ảnh hưởng đến vai trò quốc tế của Mỹ trong hàng thập kỷ về sau. Những thúc ép ngày càng tăng về kinh tế và chính trị trong nước đối với chính sách đối ngoại đã bắt đầu diễn biến sau năm 1964, và đến năm 1968 thì dư luận quần chúng đã tự tách ra khỏi sự nhất trí đế quốc bằng nhiều cách phức tạp nhưng cơ bản. Các xu hướng bắt đầu trong những năm 1964-1967 đã đập nát sự nhất trí về chính sách đối ngoại sau năm 1950 và thiết lập lại vai trò của Quốc hội trong việc quyết định chính sách đối ngoại, một vai trò đã từng cản trở việc áp dụng quyền lực của cơ quan hành pháp trong nửa thế kỷ sau năm 1900.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #65 vào lúc: 04 Tháng Chín, 2008, 06:55:50 pm »

Sự chuyển biến này xảy ra bằng nhiều cách song song với nhau không những bằng sự thù địch của quần chúng đối với các vấn đề trực tiếp có liên quan đến chiến tranh mà còn bằng việc ngày càng xa lánh chính phủ nói chung một cách có ý thức. Sự ủng hộ chiến tranh ngày càng giảm. Vào cuối năm 1967 nhiều người Mỹ chống lại quyết định đưa quân sang Việt Nam hơn là người ủng hộ, và việc này tiếp tục cho đến khi quân Mỹ rút khỏi Việt Nam tháng giêng năm 1973 là lúc mà tỷ lệ người chống so với người ủng hộ là hai trên một.

Những người chống chiến tranh nhiều nhất là những người lớn tuổi, lứa tuổi 20 đến 29 là lứa ủng hộ chiến tranh mạnh nhất, công nhân cổ xanh lớn tuổi rất thù địch với chiến tranh. Chính giai cấp công nhân cổ xanh và những nhóm thu nhập thấp, từ năm 1964 đến năm 1970 đã bất bình nhất với chế độ chính trị, kể cả những quyết định chính về kinh tế và chính sách đối ngoại. Lúc đầu, giới trí thức, do có lợi ích trong chính sách đối ngoại, đã ủng hộ chiến tranh, kể cả những người có lợi trong chiến tranh với những hợp đồng hay phù hợp về mặt tư tưởng, v.v. Nhưng những người Mỹ bình thường có con bị bắt lính hoặc bị chết, hay những người phải chịu đựng cảnh hỗn loạn mà chiến tranh bắt đầu đưa lại hoặc chịu đựng lạm phát mà chiến tranh gây ra, những người đó đã bắt đầu hình thành một thái độ thù địch đối với chế độ chủ yếu trên cơ sở những đường lối giai cấp.

Chiến tranh chứng minh rằng sự mất đoàn kết sâu sắc trong xã hội Mỹ sễ đi theo cuộc chiến tranh kéo dài và vào năm 1968, cả Nhà Trắng lẫn Quốc hội không thể không biết thực tế đó. Viện chính quyền bàng quan với sự hoài nghi của công chúng và che giấu những thực tế quan trọng không lợi gì cho họ mà trái lại làm cho họ phải đương đầu với nhóm trí thức chống chiến tranh chưa từng có trong lịch sử, vượt xa về quy mô và về hoạt động một thiểu số ủng hộ chiến tranh.
Nếu chính quyền không thể đoán trước được rằng quần chúng đã thôi ủng hộ chiến tranh trong thời gian giữa năm 1964 và 1968, thì họ lại càng không thể tưởng tượng được rằng một phong trào chống chiến tranh rõ rệt, tập trung ở các trường đại học sẽ xuất hiện để chống lại họ. Cần phải nói rằng phong trào này có một tác động sâu sắc. Kết hợp lại với nhau, các cố gắng chống chiến tranh trở nên rất có ý nghĩa. Những sinh viên và những viện sĩ có thể làm giảm vai trò của trường đại học trong hệ thống chiến tranh, tạm thời ảnh hưởng đến việc tuyển quân và huấn luyện các sĩ quan dự bị cũng như việc nghiên cứu quân sự ở các trường đại học. Phong trào cũng cung cấp tin tức tài liệu chiến tranh cho Quốc hội và có phần cho báo chí. Chí ít phong trào cũng gây ra một tâm lý thích ổn định trong nước hơn là thích thắng lợi ở Việt Nam.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #66 vào lúc: 04 Tháng Chín, 2008, 06:56:39 pm »

Chương mười bốn
SỰ TIẾP TỤC TÌM KIẾM NHỮNG CHIẾN LƯỢC QUÂN SỰ CÓ HIỆU QUẢ

MỸ VÀ THẾ TIẾN LUI ĐỀU KHÓ CỦA TÌNH TRẠNG CHIẾN TRANH

Cuộc chiến tranh Việt Nam là một quá trình hoạt động quân sự có tính chất thách thức nhất trong lịch sử Mỹ. Đó là một sự tổng hợp của chính trị và kỹ thuật, của những di sản các cuộc chiến tranh đã qua, của lô-gích và của chủ nghĩa tượng trưng, tất cả kết hợp với việc sử dụng một hỏa lực kinh khủng và việc pha trộn siêu thực tế của cái hư và cái thực của các nhà lãnh đạo Mỹ. Nó không thể chỉ đơn giản đóng khung trong vấn đề chiến lược và chiến thuật, vấn đề mục tiêu hay những loại giải thích một cách thông thường. Lúc bắt đầu, Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh trong ba năm mà không có hy vọng gì hoặc không quan tâm gì một cách nghiêm chỉnh đến những thúc ép và hậu quả của các chương trình và các chiến lược quân sự của mình. Có nhiều bài học rút ra được từ kết quả quân sự của cuộc chiến tranh, nhưng khả năng của một lực lượng cách mạng có năng lực và quyết tâm đánh bại những người Mỹ giàu hơn nhiều là bài học trọng yếu nhất cho tương lai của kinh nghiệm lịch sử hiện đại.

Chiến lược quân sự của Mỹ bao gồm nhiều nhân tố, cái bi thảm, cái phi lý, cái nguy hiểm, tất cả pha trộn thành một công thức thảm họa cho nước Mỹ và thành cuộc tiến công tàn nhẫn, táng tận lương tâm đối với hầu như toàn bộ nhân dân Việt Nam.

Mỹ luôn luôn tiến hành cuộc chiến tranh Việt Nam trên thế phòng thủ chiến lược, bởi vì nhiệm vụ quân sự của Mỹ là để đạt những mục đích chủ yếu là không quân sự cho nên thường là không rõ ràng trong suy nghĩ của phần đông các nhà chính trị và tướng lĩnh. Cuộc chiến tranh đã được tiến hành để tranh thủ thời gian cho Việt Nam cộng hòa trở thành một thực thể chính trị và quân sự vững chắc, để làm cho những người cộng sản thấy rằng họ không thể thắng, và nhất là, để cho thấy quyết tâm và lòng tin của Mỹ trong việc bảo vệ những tham vọng toàn cầu của mình. Nhưng chính quyền Mỹ tin rằng một thắng lợi quân sự dứt khoát là khó có thể đạt được trong những năm 1965-1967 và Bộ tham mưu liên quân nói chung tán thành nhận định đó.

Cách mạng có thể duy trì thế chủ động chiến lược, tự do thay đổi chiến thuật theo ý muốn của mình bởi vì mục tiêu chính trị của họ là thắng lợi và các cố gắng quân sự của họ đã được sắp xếp để đạt các mục đích chính trị với bất kỳ biện pháp nào cần thiết.

Còn đối với Mỹ, việc pha trộn chiến tranh với chính trị luôn luôn tạo ra những thế tiến lui đều khó và khỉ mà Mỹ ngày càng tập trung vào vũ khí thì họ xem nhẹ các mục tiêu chính trị.

Mỹ dấn thân vào một nhiệm vụ quân sự mơ hồ để tiến hành một cuộc chiến tranh chưa có tiền lệ trong lịch sử. Chỉ khối lượng lớn trang bị của Mỹ tự nó cũng đã đòi hỏi nhiều vấn đế rồi: nó phải được sử dụng, bảo vệ và bảo quản và mối quan hệ của nó với một chiến lược nhất quán thường là ở vào bậc thứ yếu. Sự không ăn khớp giữa các quân chủng, binh chủng và giữa cơ cấu quân sự đòi hỏi một sự dung hòa tỉ mỉ và tốn kém trong chiến lược quân sự của Mỹ: Và vì thế chủ động chiến lược ở chiến trường luôn luôn nằm trong tay Cách mạng, nên giới quân sự Mỹ luôn luôn bị buộc phải đối phó với những thách thức của Cách mạng.

Bất kể những cuộc tranh luận công khai hoặc riêng lẻ về chiến lược quét giữ, tìm và diệt hay chiến tranh tiêu hao như thế nào, trên thực tế Mỹ thực hiện đồng thời các biện pháp nói trên. Ngay từ đầu đã có những điều kiện tiên quyết hạn chế các chiến lược đó. Vì Mỹ không thể có mười người như Oa-sinh-tơn muốn để chọi với một du kích, Mỹ phải dùng hỏa lực và sức cơ động để thay nhân lực. Số lượng to lớn trang bị và hậu cần cần thiết cho một cuộc chiến tranh như vậy, có nghĩa là phải có những chốt cụm lớn và các lực lượng Mỹ bị ghìm chặt ở đó.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #67 vào lúc: 04 Tháng Chín, 2008, 06:57:28 pm »

Vào giữa năm 1967 nhân viên quân sự Mỹ ở Đông Nam Á vượt quá nửa triệu, bằng một phần trăm lực lượng lao động trai dân sự của Mỹ trong khi các lực lượng Việt Nam dân chủ cộng hòa ở miền Nam chưa đến hai phần trăm lực lượng lao động trai của họ. Qua những số liệu này, chính quyền Mỹ thấy rằng Cách mạng có thể dễ dàng địch được với những sự tăng quân của Mỹ hoặc là vô hiệu hóa những thắng lợi của họ.

Sau năm 1965, các quan chức Mỹ thảo luận liệu nên tập trung quân thành những cụm trên bờ biển hoặc đưa quân làm nhiệm vụ "tìm và diệt" để quét sạch các khu vực căn cứ của địch. Trên danh nghĩa họ chọn chiến lược thứ hai nhưng vào giữa năm 1966, việc bảo vệ căn cứ chiếm gần một phần ba số quân Mỹ mới đến và các lực lượng Nam Triều Tiên, và chiếm gần một nửa số quân Mỹ có thể dùng cho các hoạt động tiến công. Khi trang bị được đưa thêm vào thì nhu cầu bảo vệ các căn cứ lại tăng lên và không quân xem việc rút quân bảo vệ như là một mối nguy hiểm cho họ vì Mặt trận có thể dùng đặc công, súng cối và rốc-két tiến công vào các sân bay.

Nhưng Oét-mo-len cũng tập trung được lực lượng làm nhiệm vụ "tiêu hao" kẻ thù mà đỉnh cao là ba tháng đầu năm 1967 trong cuộc tiến công "Gian-xơn Xi-ti" lớn nhất của cuộc chiến tranh. 35.000 quân Mỹ và Việt Nam cộng hòa hành quân dọc theo biên giới Cam-pu-chia, tây-bắc Sài Gòn, nhưng "chẳng có gì nhiều để trình bày cho cố gắng của họ", như một tường thuật chính thức về sau đã thừa nhận. Với một ý nghĩa quan trọng, chức năng chủ yếu của quân đội hành quân trên khắp đất nước là để phát hiện những mục tiêu cho hỏa lực tập trung của Mỹ. Một tướng lục quân kết luận: "Đừng đánh tay đôi với anh ta.

Phát hiện và tránh. Rồi trút lửa vào anh ta và kiểm soát sau đó". Mục tiêu chủ yếu của chiến tranh tiêu hao là phá hủy nhân lực và thiết bị của kẻ thù với một tốc độ không thể thay thế kịp đồng thời tăng cường sức mạnh của Mỹ nhất là của Việt Nam cộng hòa. Dù lý thuyết như thế nào, trên thực tế chiến lược của Mỹ sử dụng những chiến thuật thụ động và xông xáo cùng một lúc bằng cách kết hợp sức cơ động với hỏa lực.

Vào giữa năm 1966, khi quân Việt Nam dân chủ cộng hòa tiến vào Nam với số lượng lớn hơn, thì lính thủy đánh bộ Mỹ bị cột chặt vào quân khu I, thực hiện đúng ý đồ của Quân đội nhân dân kéo quân Mỹ ra tận phía bắc để cho các lực lượng Mặt trận Dân tộc Giải phóng có thể tập trung hoạt động ở các khu đông dân. Mỹ biết rõ những nguy hiểm này, nhưng hy vọng thương vong Mỹ gây cho kẻ địch sẽ bù lại việc Mỹ mất thế chủ động và cho quân đội Việt Nam cộng hòa đủ thì giờ để củng cố sự kiểm soát của mình ở các khu đông dân.

Oét-mo-len và Bộ tham mưu liên quân ra sức bênh vực chiến tranh tiêu hao đó vì họ muốn biện bạch cho những năm leo thang và cho việc xin quân và xin tiền của họ. Nhưng đầu năm 1967 các nhân vật quan trọng ở Oa-sinh-tơn đều qua CIA và báo cáo của Lầu Năm Góc mà biết rõ rằng chiến lược đang thất bại. Tuy Mỹ thắng một số trận và Quân giải phóng và Quân đội nhân dân chịu một số thương vong, nhưng suốt trong giai đoạn đó Cách mạng chiếm ưu thế trong toàn bộ tình hình quân sự.

Số quân Mỹ và Việt Nam cộng hòa cộng lại chiếm ưu thế so với lực lượng Cách mạng kể từ sau năm 1965 và đến năm 1967 thì tỷ lệ đó là 4,7 trên một. Trong cùng năm, vì Cách mạng ghìm Mỹ và đồng minh Mỹ trong những vị trí tĩnh tại, cho nên Cách mạng vượt họ về số quân chiến đấu dành cho các cuộc hành quân tiến công. Dù cho Mỹ xác định chiến lược của họ như thế nào, những lực lượng nhỏ hơn nhiều của Cách mạng vẫn giữ được quyền chủ động chiến thuật cũng như chiến lược.

Vào giữa năm 1967, gần bốn phần năm các trận đụng độ giữa Mỹ và Cách mạng xảy ra vào lúc và nơi do Cách mạng lựa chọn, và tình trạng này kéo dài trong suốt phần còn lại của cuộc chiến tranh. Điều này có nghĩa là Cách mạng có thể kiểm soát những tổn thất của mình vào mức có thể chịu đựng được, và đến cuối năm 1968, thì Cách mạng quyết định được mức thương vong của Mỹ và Việt Nam cộng hòa. Ngay từ đầu, chiến tranh tiêu hao của Mỹ đã thất bại bởi vì hỏa lực và sức cơ động không quyết định trong các điều kiện quân sự, càng không quyết định trong chính trị.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #68 vào lúc: 06 Tháng Chín, 2008, 11:53:54 am »

MỘT CUỘC CHIẾN TRANH - BA QUÂN CHỦNG MỸ


Trên một mức độ nhất định, chính tính chất của tổ chức quân sự Mỹ đã làm cho chiến tranh cực kỳ tốn kém, lãng phí và làm cho các mục tiêu không thể đạt được về mặt chính trị càng thêm bấp bênh. Bởi vì, đáng ra phải hoạt động như một tổ chức hoàn toàn thống nhất và có hiệu quả thì ba quân chủng của quân đội Mỹ tiêu phí bao nhiêu thời gian và tiền của trong những cuộc tranh luận phô trương và hào nhoáng về pháp lý và quyền lực.

Cơ cấu chỉ huy Mỹ ở Việt Nam phức tạp một cách đáng ngạc nhiên. Ngày càng có sự kình địch giữa lục quân, không quân, hải quân và lính thủy đánh bộ vì những kỹ thuật quân sự chồng chéo lên nhau và vì sự tranh giành phần hơn về kinh phí. Lợi dụng sự chia quyền như vậy, Nhà Trắng thích giữ nguyên trạng hơn là có một tư lệnh chiến tranh hùng mạnh đứng trên một quân đội thống nhất, không phải chỉ để tránh những tranh cãi giữa các quân chủng mà chính là để loại trừ một thách thức chính trị có thể có của một vị tướng duy nhất, như đã xảy ra trong chiến tranh Triều Tiên. Dây chuyền chỉ huy, như tôi đã giải thích trước đây, chạy từ Nhà Trắng đến Bộ tham mưu liên quân, đến Tổng tư lệnh Mỹ Thái Bình Dương (CINCPAC) ở Ha-oai và rồi xuống đến các Bộ tham mưu dày đặc ở trong và quanh Đông Dương.

Nguồn lớn nhất của cuộc tranh cãi giữa quân đội với nhau là quân chủng lính thủy đánh bộ. Họ thấy Việt Nam là cơ hội phô trương chức năng vừa thủy vừa bộ, phát huy danh tiếng của họ ở Quốc hội và thậm chí giành thêm tiền để xây dựng một sư đoàn nữa cho lực lượng của họ. Họ đồng ý chiến đấu như một đơn vị ở vùng chiến thuật I, nhưng họ có hệ thống hậu cần riêng và không quân chiến thuật riêng mà họ dùng một cách rất tốn kém để thay thế cho pháo lớn. Như vậy là hai lực lượng không quân chiến thuật riêng rẽ hoạt động trên một chiến trường, gây ra bao nhiêu tốn kém và nhầm lẫn. Đồng thời lục quân và không quân tranh cãi với nhau về những máy bay có cánh cố định (có trên năm nghìn vào năm 1960) và những máy bay lên thẳng của lục quân. Không quân muốn kiểm soát cả hai loại máy bay này trên khắp thế giới.

Tháng 4 năm 1966, các quân chủng giải quyết cuộc tranh chấp thường là gay gắt đó, lục quân giữ máy bay lên thẳng của mình nhưng trong tương lai không đòi những kiểu máy bay có cánh cố định mới nữa. Toàn bộ không quân đóng ở Nam Việt Nam nằm dưới sự kiểm soát của Bộ chỉ huy viện trợ quân Mỹ ở Việt Nam (MACV) nhưng trên lãnh thổ Việt Nam dân chủ cộng hòa thì cả hải quân và không quân đều đòi hoạt động độc lập. Cuối cùng Việt Nam dân chủ cộng hòa được chia ra thành những khu vực mục tiêu cho mỗi quân chủng, hải quân hoạt động dưới quyền của Hạm đội Thái Bình Dương và không quân dưới quyền của Không quân Thái Bình Dương, B52 hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam dân chủ cộng hòa nằm dưới sự kiểm soát của Bộ chỉ huy không quân chiến lược, cho đến những tuần cuối của năm 1972. Ở Lào thì Không quân, CIA và Đại sứ quán tất cả đều vướng vào nhau và thường là bất hòa nghiêm trọng với nhau.

Với sự phân quyền kiểu thái ấp đó, Nhà Trắng ít phải lo ngại về những tướng lĩnh tham lam. Thật vậy, uy tín của bất kỳ tư lệnh nào đối với một cố gắng thực sự thống nhất có thể dễ dàng làm yếu những kiềm chế của Oa-sinh-tơn đối với những hành động quân sự phiêu lưu; nhất là có nguy cơ xung đột với Trung Quốc. Nhưng tác động quan trọng nhất của tình trạng này là nó làm cho chiến tranh tốn kém hơn nhiều, vào lúc mà sự tốn kém có ảnh hưởng quyết định đối với thời gian và cường độ của cuộc chiến tranh.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #69 vào lúc: 06 Tháng Chín, 2008, 11:54:29 am »

SỰ CÙNG TỒN TẠI CỦA CÁCH MẠNG VỚI CÁC KẺ THÙ CỦA MÌNH

Riêng quy mô của cơ cấu quân sự và chính trị của Cách mạng ở miền Nam cũng đã đòi hỏi địa phương phải tổ chức tài tình về hậu cần, và khả năng chiến đấu của chủ lực sẽ yếu đi rất nhiều nếu các cán bộ địa phương và các tổ chức Mặt trận Dân tộc Giải phóng không làm chủ được những vấn đề kinh tế cơ bản. Tuy các giới chính thức Mỹ đang còn tranh cãi gay gắt về quy mô tất cả các lực lượng Cộng sản, nhưng vào năm 1967, người ta ước tính có khoảng từ 221.000 đến 281.000 binh sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam và Quân giải phóng ở Nam Việt Nam. Trong đó khoảng một phần ba là du kích. Thêm vào đó có khoảng 120.000 lực lượng không chính quy và 75.000 đến 90.000 cán bộ chính trị. Quy mô này tồn tại cho đến năm 1972.

Cung cấp lương thực và trang bị cho một lực lượng như vậy là một nhiệm vụ lớn, trọng yếu, có thể thực hiện được chỉ nhờ cố gắng của Đảng sau năm 1955 thâm nhập vào Việt Nam cộng hòa, thành lập những mặt trận hợp pháp và tranh thủ được sự giúp đỡ kinh tế và quân sự từ chế độ mà Đảng tìm cách lật đổ. Cơ cấu mà Đảng thiết lập giữa năm 1955 và năm 1964 đã được nhanh chóng mở rộng để chống lại việc Mỹ ném bom các con đường ở miền Bắc Việt Nam. Việc thu thuế cũng được hoàn thiện và đánh mạnh vào các nhà kinh doanh. Các đơn vị chủ lực sản xuất lương thực ở đâu có thể làm được. Du kích sống ở thôn xã phải giúp nông dân làm mùa và thường là sống với họ. Họ cướp vũ khí và đạn dược của kẻ thù để dùng. Nhưng buôn bán với các vùng do Việt Nam cộng hòa kiểm soát trở nên ngày càng quan trọng.

Năm 1967, ngoài số hàng mua tại chỗ, Mỹ đưa vào trung bình hàng ngày 21.000 tấn hàng cung cấp chung và đạn dược do nhu cầu của chính mình. Tiêu thụ toàn bộ hàng ngày của Quân đội nhân dân Việt Nam và Quân giải phóng năm 1967, theo ước tính của CIA, là 215 tấn, tăng lên 250 tấn năm 1968. Lương thực là hàng tiêu thụ chính. Năm 1968, chỉ 24 phần trăm lương thực được nhập, phần lớn là từ Cam-pu-chia. Thực vậy, chỉ 30 phần trăm vũ khí và hàng cung cấp không phải là lương thực được đưa từ ngoài vào năm 1968 và 16 phần trăm đạn dược được cung cấp từ các nguồn ở miền Nam. Số nhập năm 1968 là 80 tấn hàng ngày, chỉ bằng một phần ba nhu cầu của Cách mạng về trọng lượng. Gộp chung lại, như Lầu Năm Góc ước tính, Cách mạng tự túc được tại Nam Việt Nam khoảng 70 phần trăm các hàng cung cấp mà quân đội của họ cần đến, một con số có lẽ quá thấp.

Cách mạng cũng dùng mối quan hệ cùng tồn tại của mình với Việt Nam cộng hòa cho công tác tình báo. Ngoài một số lớn những người cơ hội hoặc những gián điệp đôi mà CIA năm 1970 đưa ra con số khoảng ba mươi nghìn người trong quân đội và các cơ quan Việt Nam cộng hòa, có những gián điệp thực sự mà chuyên gia đứng đầu của CIA về chuyên đề này cho là khoảng ba nghìn người, một con số gần với sự thật. Từ những người này, Mặt trận Dân tộc Giải phóng có được những tin báo trước vô cùng giá trị về nhiều cuộc hành quân của quân đội Việt Nam cộng hòa và của Mỹ, kể cả cuộc xâm chiếm tai họa Lào của quân đội Việt Nam cộng hòa tháng 2 năm 1971. Và Mặt trận cũng đạt được những dịp hòa giải với quân đội Việt Nam cộng hòa ở một số vùng vì những sắp xếp như vậy là có lợi ích cho cả hai bên nhưng cũng có khi vì nhờ sự có mặt của những người của Mặt trận được cài lại ở những khu vực chủ chốt. Sự cùng tồn tại của Mặt trận Dân tộc Giải phóng với Việt Nam cộng hòa trong mọi lĩnh vực đã trở thành một phương tiện thiết yếu để Mặt trận kéo dài chiến tranh và giữ vững quyền chủ động.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM