Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:35:13 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Giải phẫu một cuộc chiến tranh  (Đọc 112800 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #70 vào lúc: 06 Tháng Chín, 2008, 11:55:16 am »

Chương mười lăm
THẾ TIẾN LUI ĐỀU KHÓ TRONG CÁCH TIẾN HÀNH CHIẾN TRANH CỦA MỸ

CHIẾN LƯỢC CỦA KỸ THUẬT VÀ HỎA LỰC

Cuộc khủng hoảng trong học thuyết chiến lược của Mỹ sau Triều Tiên là rất trọng yếu đối với tính chất, hình thức và kết quả của cuộc chiến tranh Việt Nam. Do có động cơ muốn vượt những thế tiến lui đều khó của chiến tranh hạn chế đang ám ảnh của cuộc thảo luận chiến lược của Mỹ sau 1953, Oa-sinh-tơn biến Việt Nam thành nơi thí nghiệm cho học thuyết và vũ khí của họ. Nhưng những tiền đề của hành động Mỹ phản ánh một phạm vi toàn cầu, và những hệ thống vũ khí lớn của họ chủ yếu là để dùng ở các nước tiến bộ về kỹ thuật còn nếu được dùng trong các cuộc can thiệp ở Thế giới thứ ba thì chẳng qua chỉ là tình cờ. Vì những điều trải qua ở Việt Nam làm căng thẳng tài lực của họ, nên nỗi thất vọng chiến lược của Mỹ đã tăng lên, thúc đẩy họ lao vào những cam kết không thể thay đổi được để duy trì không chỉ lòng tin vào ý chí hành động của mình mà còn vào khả năng vật chất có thể thắng bất kỳ ở đâu trên thế giới nếu tham gia vào chiến tranh. Nhưng Việt Nam nhanh chóng đã làm lộ nền tảng kỹ thuật của sức mạnh Mỹ trên thế giới, kể cả những hạn chế sâu sắc của nó, chứng minh những chỗ yếu không phải chỉ về mặt chính trị hoặc đạo lý mà còn cả về mặt quân sự nữa. Việt Nam không những không giải quyết được cuộc khủng hoảng sau chiến tranh về học thuyết chiến lược của Mỹ mà còn làm cho nó thêm sâu sắc.

Chiến lược quân sự sau năm 1945 của Mỹ bị gắn một cách cứng nhắc vào kỹ thuật cao và không thể đáp ứng được những mặt cụ thể của chiến tranh cục bộ. Oa-sinh-tơn đã phản ứng về mặt quân sự ở Việt Nam chủ yếu là theo cách mà họ có thể phản ứng đối với bất kỳ cuộc chiến tranh thông thường nào trên thế giới.

Mức độ dựa ngày càng tăng vào kỹ thuật cao và hỏa lực ào ạt đó có thể thấy được qua số lượng đạn dược mà mỗi người lính dùng khi chiến đấu. Giữa Chiến tranh thế giới thứ hai của Chiến tranh Triều Tiên số lượng đạn dược mỗi người lính dùng đã tăng tám lần, nhưng trong Chiến tranh Việt Nam, con số dó là hai mươi sáu lần so với thời gian 1941-1945. Nói một cách khác, trong suốt Chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ đã dùng một tổng số là bảy triệu tấn đạn dược, trong thời gian 1964-1972, Mỹ đã dùng gần mười lăm triệu tấn. Trong thời gian này không quân và hải quân trở nên quan trọng hơn. Tỷ lệ lính chiến đấu trong lục quân giảm từ 36 phần trăm xuống còn 22 phần trăm. Chỉ một mình không quân chiến thuật vào cuối chiến tranh Việt Nam đã sử dụng gần một phần tư toàn bộ ngân sách quân sự, chưa kể không quân chiến lược và trọng pháo.

Ở Việt Nam người lính chiến đấu Mỹ chủ yếu chỉ là con mồi mà đằng sau là một khổng lồ kỹ thuật. Tướng Uy-li-am W Môm-yơ, người đứng đầu không lực ở Việt Nam trong đỉnh cao của chiến tranh, về sau viết: "Chính sách của chúng ta là sau khi tìm được địch, lực lượng trên bộ của chúng ta rút lui vào một khoảng cách đủ để cho không quân và trọng pháo được sử dụng một cách không giới hạn. Sau đó quân đội mới trở lại tiến công"... Vì vậy, một mình không quân chiếm gần một phần ba chỉ tiêu của chiến tranh. Một nhà nghiên cứu không quân khác tuyên bố. "Việc sử dụng hỏa lực chưa từng có và hoang phí để thay cho con người là một đặc điểm nổi bật của các chiến thuật quân sự Mỹ trong chiến tranh Việt Nam" (xem Rô-bớt M.Kipp, Chống nổi dậy từ 30.000 bộ, tạp chí Air University, tháng 2-1968, tr.17). Vào năm 1964, đó là kiểu chiến tranh duy nhất mà Lầu Năm Góc có thể tiến hành và tình hình đó vẫn tiếp tục tồn tại cho đến ngày nay.

Mỹ đưa ra thí nghiệm ở Việt Nam cơ sở quân sự của bá quyền Mỹ và tính hiệu quả của cả cơ cấu kỹ thuật rộng lớn của họ. Việc này đã động viên giới quân sự đứng vững sau cuộc chiến tranh và ủng hộ việc dựa vào hỏa lực, thậm chí sau khi hỏa lực đã tỏ ra là thất bại. Bộ tham mưu liên quân lập luận rằng đến một lúc nhất định số lượng hỏa lực sẽ biến thành chất lượng và đảo ngược chiều hướng, làm cho chiến thuật trở thành chiến lược. Giới quân sự xem cuộc chiến tranh không quân chống Việt Nam dân chủ cộng hòa là để thuyết phục miền Bắc hoặc là thôi ủng hộ Mặt trận Dân tộc Giải phóng hoặc là thương lượng, đồng thời để duy trì tinh thần của Việt Nam cộng hòa. Họ dùng không quân ở miền Nam là với hy vọng đảo ngược tình hình quân sự trên bộ. Ngay khi vì sức ép chính trị mà Mỹ phải chấm dứt một phần ném bom Việt Nam dân chủ cộng hòa, họ chỉ việc chuyển máy bay sang Lào và số bom trên toàn chiến trường Đông Dương không bao giờ giảm xuống. Lào và Việt Nam dân chủ cộng hòa đã chịu một nửa toàn bộ các phi vụ.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #71 vào lúc: 06 Tháng Chín, 2008, 11:56:01 am »

Không quân đã sử dụng một nửa số đạn dược Mỹ dùng trong cuộc chiến tranh, và máy bay ném bom chiến lược B52 đã được thêm vào máy bay chiến thuật tháng 6 năm 1965 khi người ta nhận thấy rằng máy bay chiến thuật không thể nhanh chóng ném bom rải thảm xuống những khu vực lớn làm cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng không kịp phân tán. Thực vậy, không quân chiến thuật đã tỏ ra "tương đối không có hiệu lực" đối với các lực lượng ẩn náu trong hầm. Còn máy bay B52 thì thả số lượng 27 tấn bom của chúng từ độ cao 30.000 bộ (trên 9.000 mét) xuống những mục tiêu mà về sau được biết là một nửa không có Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Tóm lại, đó là những vũ khí khủng bố không chính xác giết hại nhiều dân thường và phá hủy tài sản của họ.

Theo những con số chính thức vô cùng dè dặt của Lầu Năm Góc thì Mỹ đã mất 3.689 máy bay có cánh vào cuối năm 1972, cộng với 4.857 máy bay lên thẳng, với giá tổng cộng trên 10 tỷ đô-la. Nhưng giá của máy bay chiến thuật tiêu chuẩn bấy giờ năm đến bảy lần đắt hơn trong Chiến tranh Triều Tiên. Hoạt động của máy bay rất không chính xác và chỉ gây tổn thất cho dân thường. Vì nó không ảnh hưởng nhiều đến những cuộc chiến đấu lớn hơn nên không có tác động căn bản đến cán cân chiến lược và tổn phí của nó bắt đầu làm xói mòn khả năng kinh tế để đánh một cuộc chiến tranh kéo dài. Về sau nó cũng gây ra sự chống đối chính trị rộng lớn.

Ngay từ đầu, cuộc chiến tranh không quân chống Việt Nam dân chủ cộng hòa đã là một thất bại và 80 phần trăm thương vong là dân sự. Ngay dù cho Mỹ có thể tăng cường những cuộc tiến công không quân chống miền Bắc thì cũng chỉ làm giảm các cuộc tiến công không quân ở miền Nam mà thôi và nền kinh tế Mỹ cũng sẽ không chịu đựng nổi những tổn phí lớn đó, chiến tranh không quân bị giảm tác dụng là do Mặt trận Dân tộc Giải phóng có thể tự túc về hậu cần. Mặt trận không những thỏa mãn được phần lớn nhu cầu của mình mà còn biết cách "liệu cơm mà gắp mắm" nhưng lại vẫn giữ được quyền chủ động chiến lược của mình.

Mỹ không thể chặn đứng được luồng tiếp tế hậu cần trên đường mòn Hồ Chí Minh. Đường mòn là một sản phẩm kỳ diệu của tài năng, sự kiên nhẫn và sự hy sinh không bờ bến của con người. Mọi thứ từ sức mạnh của chân tay và trâu bò cho đến xe ủi đều giúp vào việc giữ cho đường mòn tồn tại, bất chấp bom, mìn và mọi thứ dụng cụ, thiết bị có thể nghĩ ra được. Khả năng của Quân đội nhân dân sửa đường nhanh chóng đã vượt xa khả năng tiến công phá hoại có hiệu quả của không quân Mỹ. Rất mỉa mai là việc ném bom đã đào lên nhiều đất đá mà quân đội cần để sửa đường. Vào năm 1966, hệ thống phòng không dọc theo phần biên giới Lào hiệu quả đến mức đã phá hủy được một phần tư các máy bay gắn súng đánh vào các xe vận tải. Việc dùng các máy bay này đã được dừng lại giữa năm 1966 cho đến đầu năm 1969, và lại tạm ngừng nữa sau năm 1971. Hàng hóa vận chuyển trên đường mòn năm 1967 tăng lên hai phần ba so với năm 1966, nhưng số xe vận tải bị phá hủy vẫn giữ nguyên mức cũ. Các chuyên gia Mỹ không bao giờ có nghi vấn gì về khả năng của Việt Nam dân chủ cộng hòa vận chuyển đầy đủ số hàng cung cấp họ cần đến.

Việt Nam dân chủ cộng hòa có một hệ thống phòng không rất hiện đại và được điều khiển một cách tài giỏi, do đó cũng cản trở sự leo thang của Mỹ. Một mạng lưới ra-đa dày đặc, một hệ thống kết hợp giữa tên lửa đất đối không và súng phòng không với các máy bay chiến đấu đã gây khó khăn ngày càng lớn cho những kẻ xâm lược. Không lực Việt Nam dân chủ cộng hòa làm ra vẻ tiến công các máy bay Mỹ để buộc chúng trút bom xuống những vùng trống trải và chỉ thực sự đánh vào chúng khi được huấn luyện đầy đủ. Vào mùa hè năm 1972 thì Mỹ mất hai F4 mới hạ được ba MIG của Việt Nam dân chủ cộng hòa.

Cuộc chiến tranh không quân chống Việt Nam dân chủ cộng hòa cũng không thể thắng lợi dù cho Mỹ có đủ máy bay và hậu cần để thẳng tay sử dụng ngay từ đầu cuộc chiến tranh. Nhưng Mỹ làm như vậy vì các giới cao nhất hầu như nhất trí với nhau từ đầu rằng chiến tranh không quân chống miền Bắc không thể nào thay đổi một cách có ý nghĩa cán cân lực lượng ở miền Nam, Mác-xoen Tay-lơ, người xem việc ném bom chỉ là một biện pháp gây tổn thất và xây dựng lòng tin, cho rằng cuộc chiến tranh không quân một mình nó chỉ là chuyện hão huyền. Tháng 2 năm 1965, CIA báo trước rằng Việt Nam dân chủ cộng hòa sẽ thiết lập một hệ thống phòng không hiện đại và trong suốt bốn năm tiếp theo CIA cung cấp tài liệu cho biết rằng không lực không bao giờ quyết định cả.

Còn đối với việc buộc Việt Nam dân chủ cộng hòa phải dùng nhân lực của mình để sửa đường sá và các nơi bị thiệt hại mà ước tính chiếm khoảng từ 500.000 đến 800.000 người năm 1968 thì các chuyên gia của Lầu Năm Góc kết luận rằng chín phần mười của số đó được bổ sung bằng sự phát triển tự nhiên của số dân. Một báo cáo của Lầu Năm Góc thừa nhận rằng viện trợ của các đồng minh cho Việt Nam dân chủ cộng hòa vượt xa những thiệt hại do Mỹ gây ra và việc ném bom đã đoàn kết và động viên nhân dân hơn bao giờ hết. Còn đối với việc máy bay Mỹ bị bắn hạ ở miền Bắc, tháng 6 năm 1971 giám đốc nghiên cứu của Lầu Năm Góc thừa nhận rằng "rất rõ ràng là chúng ta đã bị súng phòng không và tên lửa đất đối không của họ gây tổn thất nhiều hơn số tiền họ bỏ ra cho các hệ thống đó".
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #72 vào lúc: 06 Tháng Chín, 2008, 11:56:40 am »

Ở miền Nam, Cộng sản vô hiệu hóa một phần không lực Mỹ bằng đặc công, bằng sử dụng đường hầm và ban đêm và bằng cách buộc kẻ thù dùng nhiều máy bay để bảo vệ các căn cứ. Điều này càng thấy rõ khi Mặt trận Dân tộc Giải phóng sau tháng 2 năm 1967 đã dùng rốc-két 140 mi- li mét tầm xa đánh lần đầu tiên vào căn cứ Đà Nẵng phá hủy và làm thiệt hại mười một máy bay, nói lên khả năng có thể đánh vào bất cứ sân bay nào ở miền Nam. Chậm nhất là vào mùa hè năm 1967, Mặt trận Dân tộc Giải phóng đã có một hệ thống báo trước tương đối có hiệu quả về các cuộc tiến công của B52, có lẽ bằng cách nhận các thông tin của Mỹ và cũng có thể là Liên Xô giúp đỡ.

Trong tất cả các hệ thống vũ khí mới và các sáng kiến Mỹ dùng ở Việt Nam, máy bay lên thẳng tỏ ra là quan trọng nhất và ở mức độ nhất định, hoạt động quân sự đã trở nên phụ thuộc vào nó. Oét-mo-len tuyên bố rằng nếu không có nó, thì phải thêm một triệu quân Mỹ nữa để làm cùng nhiệm vụ, chủ yếu là vận chuyển bộ binh đến những nơi xa để phát hiện Mặt trận Dân tộc Giải phóng và dùng hỏa lực Mỹ. Vào cuối năm 1968, đã có 3.500 máy bay lên thẳng ở Nam Việt Nam, ít hơn nhiều con số mà Cộng sản đã phá hủy tính cho đến khi Mỹ rút khỏi Việt Nam.

Máy bay lên thẳng rất dễ bị phục kích; và trong khi đưa lại sức cơ động, nó cũng đồng thời tiết lộ số lượng quân và địa điểm. Cũng giống như máy bay chiến thuật, nó làm mất yếu tố bất ngờ. Chiếc UH-IS chỉ chở được 8 đến 10 lính chiến đấu, nên quân đội cần rất nhiều thứ máy bay đó. Vì bị bắn hạ nhiều nên chi tiêu đã vượt quá một gánh nặng. Mỗi một giờ bay đòi hỏi tám giờ chăm sóc dưới đất và nhiên liệu tiêu thụ rất lớn. Vào cuối những năm 1960, lục quân cắt việc sử dụng máy bay lên thẳng xuống một phần năm đỉnh cao trong chiến tranh Việt Nam và công khai thừa nhận sai lầm nghiêm trọng trong việc sử dụng kỹ thuật đó.

Trọng pháo còn là một vũ khí thông thường hơn so với máy bay lên thẳng, và nó đã tiêu thụ một nửa số đạn dược sử dụng. Ngay từ đầu cuộc chiến tranh, Mỹ đã dùng rộng rãi trọng pháo cho mỗi một cơ hội có thể có và trừ thời gian tiến công Tết 1968 Lầu Năm Góc ước tính rằng 70 phần trăm đạn trọng pháo Mỹ đã được bắn "vào lúc cường độ chiến đấu hoặc nhẹ hoặc không có". Nhưng trọng pháo có sức tàn phá lớn. Việc bắn "quấy rối và ngăn chặn" vào những nơi mà các quan chức Mỹ cho là có địch gây ra thương vong dân sự lớn và rất tốn kém cho Mỹ. Nhưng về mặt quân sự thì như một phó tư lệnh của lục quân Mỹ ở Việt Nam về sau thừa nhận, nó "trên thực tiễn không gây thiệt hại cho địch".

Trọng pháo không hề bao giờ có giá trị quân sự quyết định. Nó cũng báo trước cuộc tiến công trên bộ sắp đến nên làm mất yếu tố bất ngờ. Hệ thống hầm hố chống trọng pháo cũng rất được phát triển và những viên đạn không nổ được sử dụng làm những bẫy mà Mặt trận điều khiển rất tài tình. Các lực lượng Cách mạng đối phó với trọng pháo bằng cách đánh vào các căn cứ cố định hoặc dã chiến. Bộ máy thống kê của Lầu Năm Góc nhận thấy rằng vào đầu năm năm 1969, trung bình có năm cuộc tiến công của đặc công mỗi tháng vào các căn cứ Mỹ, mỗi cuộc gây ít nhất một triệu đô-la thiệt hại. Nhưng điều quan trọng nhất là vì sợ các cuộc tiến công của đặc công mà Mỹ phải đầu tư nhiều thì giờ và tiền của cho việc bảo vệ các căn cứ.

Một cách rất mỉa mai, cố gắng của Mỹ đi vào tiến công chiến lược bằng hỏa lực lại đòi hỏi một tư thế ngày càng phòng thủ, thụ động vì hậu cần và nhân lực cần thiết cho cố gắng đó giữ chân một bộ phận lớn của lực lượng Mỹ đóng quân tại chỗ. Cách mạng nhận thức được thế tiến lui đều khó đó và thích nghi đúng với mỗi vũ khí. Cùng với việc dùng những biện pháp phân tán, phòng thủ đơn giản và rẻ tiền như sử dụng thời tiết, ban đêm và với một khả năng sáng kiến tuyệt vời, Cách mạng lại có một số lượng nhỏ vũ khí và những hệ thống phòng không tiên tiến, nên đã hạn chế rất nhiều sự tự do dùng hỏa lực của Mỹ. Hầu như tất cả các hệ thống vũ khí lớn của Mỹ nhanh chóng bị vô hiệu hóa một phần.

Cuối năm 1966 một nhà báo Lầu Năm Góc gần gũi với giới quân sự có thể kết luận rằng bộ sậu to lớn của trang bị và vũ khí Mỹ là không đủ: "Sức mạnh trí tuệ của Mỹ phải chịu khuất phục trước những người Việt cộng mưu trí và tháo vát đang tiến hành cuộc chiến tranh của mình một cách ít tốn kém" (Xem Momyer, Airpower, 81-82, tt. 106-7). Bây giờ, người Mỹ lao vào một cuộc chiến tranh tàn phá mà thắng lợi thì xa vời nhưng tổn thất thì rõ ràng là không giới hạn về mặt tiền của, ưu tiên quốc gia và nhân lực.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #73 vào lúc: 06 Tháng Chín, 2008, 11:57:28 am »

KỸ THUẬT VÀ SỐ LIỆU: THỰC TẾ, ẢO TƯỞNG VÀ TỔN THẤT

Giữa năm 1965 và năm 1967 Mỹ bị rơi vào một thế tiến lui đều khó hết sức phức tạp, ảnh hưởng lớn đến tính chất và tương lai của sức mạnh quân sự và chính trị Mỹ trên thế giới. Tình thế đó là do chính Mỹ tự gây ra. Một mặt là cái lô-gích cứng đờ của lòng tin và những hành động tương tự, mặt khác là những tham vọng và những lợi ích cụ thể ở Thái Bình Dương, cùng với sự tìm kiếm giày vò đau xót máy móc và ngày càng vô bổ một biện pháp quân sự có hiệu quả để khẳng định sức mạnh của Mỹ trên khắp trái đất. Có một sự mỉa mai cay đắng và nguy hiểm trong xâm lược của Mỹ ở Việt Nam ngay từ đầu. Với những dè dặt và tính toán nhất định, những người lãnh đạo chính sách của Mỹ không hề bao giờ tin rằng họ có thể giành được một thắng lợi quân sự dứt khoát. Tuy vậy họ vẫn tiến hành cuộc chiến tranh như họ dã làm, gây ra những tàn phá và chết chóc không thể tưởng tượng cho nhân dân, đất nước và nền văn hóa của Việt Nam.

Mục tiêu của chính quyền Mỹ trên chiến trường là tranh thủ thời gian để Việt Nam cộng hòa lớn mạnh đủ để chia cắt đất nước và có lẽ dùng chiến tranh để tạo thế trong thương lượng. Nhưng tin tức đưa về Mỹ thì rất không xác thực. Vấn đề quan trọng là trước năm 1968, họ không thể chấp nhận tin tức chính xác để làm cơ sở cho chính sách.

Chiến tranh Việt Nam đòi hỏi một cố gắng tình báo to lớn, mà muốn phân tích phải có một khả năng nhận thức cao hơn nhiều so với việc phân tích các cuộc xung đột trước kia bởi vì đó là một cuộc chiến tranh không có những mặt trận theo lối cổ truyền. Có những mười ba tổ chức tình báo dẫm chân lên nhau, cạnh tranh với nhau trong các vùng của Việt Nam, và số tài liệu thu thập được trong chưa đầy một năm, trong những năm 1966-1967, đã lên tới trên ba triệu trang, mà một phần mười, tức một nghìn trang mỗi ngày đã được dịch và tổng hợp. Vào đầu năm 1967, chỉ một mình lục quân ở Việt Nam sản xuất một nghìn bốn trăm cân Anh báo cáo hàng ngày (khoảng 635 ki-lô-gam). Có lẽ đánh giá toàn bộ lý thú nhất là

Báo cáo phân tích Đông Nam Á, mà Cơ quan phân tích hệ thống của Lầu Năm Góc xuất bản sáu tuần một lần, bắt đầu từ tháng giêng năm 1967. Khoảng 350 bản sao mật được chuyển cho các quan chức chủ chốt ở mỗi một cơ quan có liên quan đến chiến tranh. Qua phân tích và đánh giá các xu hướng quân sự chính trị và kinh tế, báo cáo đó đã nhanh chóng trở thành nguồn gốc của sự bi quan sâu sắc, và Bộ tham mưu liên quân đã nhiều lần tìm cách cản trở việc lưu hành. Mỗi khi các phần tử trong chính quyền thách thức những nhận định quân sự về cuộc chiến tranh, dù cho về sự hiệu quả của những nhiệm vụ tìm và diệt, về sự ném bom Việt Nam dân chủ cộng hòa hay về sự tin cậy của các thống kê, Cơ quan phân tích hệ thống, theo cách nói của Tài liệu Lầu Năm Góc, là "người tiên phong của sự phản ứng”.

Nhưng khi những thực tế không phù hợp với hành động, thì không sớm thì muộn, những người làm ra chính sách sẽ buộc phải có phản ứng dù cho họ có thiết tha đến đâu đối với sự nhất trí và đối với sự nghiệp của họ Mác Gioóc-giơ Bân-đi chẳng hạn đã lặng lẽ từ chức tháng 3 năm 1966 và Mác Na-ma-ra rút lui, hay là bị đẩy ra, tháng 11 năm 1967. Đó là hai người đã làm nhiều nhất để đưa Mỹ dính líu vào Việt Nam vì những lý do tư tưởng và kỹ thuật vô bổ. Những người còn lại càng ngày càng thấy rằng Mỹ không thắng nhưng không ai từ chức công khai để chống lại những chính sách rất nguy hiểm cho thế giới và ngày càng nguy hiểm cho nước Mỹ. Sự nghiệp tương lai của họ sẽ không tồn tại sau khi họ dám làm như vậy.

Giám đốc nghiên cứu của Lầu Năm Góc nói với Quốc hội tháng 3 năm 1967: "Cuộc xung đột Việt Nam đang thí nghiệm... hầu như tất cả trang bị và khái niệm quân sự chiến thuật (và một số là chiến lược) đã được triển khai trong hai mươi năm nghiên cứu và phát triển vừa qua". Quân sự đã dùng mọi kỹ thuật kỳ lạ và mới mẻ từ thiết bị ngửi hơi người gắn vào máy tính điện tử cho đến những máy bay cực kỳ tinh vi F111 giá đến 15 triệu đô-la một chiếc. Từ năm 1946, Mỹ đã ngày càng chuẩn bị cho chiến tranh, dùng kỹ thuật phức tạp hướng vào việc sử dụng hỏa lực lớn. Quy mô siêu hiện thực của cuộc chiến tranh Việt Nam chắc chắn đưa lại những tổn phí và phức tạp lớn cộng với những tổn thất mà cách mạng gây cho Mỹ ở nông thôn và vùng rừng núi. Kỹ thuật và hỏa lực cao là một hứa hẹn nhưng đồng thời nó tỏ ra là một cái bẫy, một nguồn gốc của những việc phù phiếm vô bổ và của những ảo tưởng nguy hiểm về những cuộc chiến tranh chống nông dân trong thời hiện đại.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #74 vào lúc: 06 Tháng Chín, 2008, 11:57:59 am »

NHỮNG TỔN PHÍ CỦA CUỘC CHIẾN TRANH KÉO DÀI

Chiến tranh Việt Nam trở thành cơn ác mộng cho những nhà quản lý vô cùng tự tin của Lầu Năm Góc mà hiện đang bị cột chặt vào một tình thế trong đó thắng lợi không thể có và thất bại thì ngày càng có khả năng. Những chuyên gia chương trình và ngân sách mà Mác Na-ma-ra đưa vào Lầu Năm Góc đã bị sa lầy vào những mâu thuẫn của chủ nghĩa đế quốc, và bản thân Mác Na-ma-ra là người có tội lớn nhất.

Quyết định mùng 1 tháng 3 năm 1965 của Mác Na-ma-ra cho phép chi tiêu không hạn chế cho chiến tranh Việt Nam đã được đưa ra khi Lầu Năm Góc chưa thiết lập cơ cấu hậu cần nào để thực hiện. Trong hai năm tiếp theo, hỏa lực bị hạn chế không phải vì lý do chính trị mà vì thiếu cơ sở vật chất. Việc xây dựng đã xảy ra một cách chưa từng có trong lịch sử chiến tranh của Mỹ và Lầu Năm Góc đặt mua mọi thứ cần thiết trên cơ sở vội vã. Như một báo cáo chính thức về sau đã nêu lên: "Lòng hăng hái, năng lực và tiền của đổ vào việc trang bị và cung cấp cho các lực lượng Mỹ ở Việt Nam đã đưa lại những đơn đặt hàng đồ sộ, làm tắc nghẽn hệ thống vận tải và đường tiếp tế và trong một thời gian, gây ra việc không còn kiểm soát được các kho tàng ở Việt Nam".

Năm tài chính 1966, cuộc chiến tranh tốn 5,8 tỷ đô- la. Năm 1967 Lầu Năm Góc quy định mức 5,5 tấn hậu cần cho một người một năm, nhưng lục quân thì đòi 9 tấn. Mác Na-ma-ra xác định mức 7,8 tấn, nhưng trong năm tài chính 1967 chiến tranh lên đến 20,1 tỷ đô-la và ngân sách quốc phòng và liên bang bị thâm hụt một cách bất ngờ, buộc chính quyền phải xin thêm Quốc hội 12,3 tỷ đô-la bổ sung cho năm 1967. Tình hình này làm cho cuộc chiến tranh vô cùng phức tạp ở trong nước cũng như ở Việt Nam.

Cuộc chiến tranh kéo dài tương đối ít tốn kém cho người Việt Nam nhưng lại gay go gian khổ nhất cho người Mỹ. Nhưng tiến hành một cuộc chiến tranh của người nghèo trong một thời gian dài sẽ là ngược lại với lô-gích và tiền đề của học thuyết chiến lược sau Chiến tranh thế giới thứ hai của Mỹ và không thể tưởng tượng được rằng người Mỹ có thể sống được ở nông thôn nhiệt đới của Việt Nam mà thiếu tiện nghi đầy đủ. Thời gian là một sự cần thiết cho Cách mạng và sự kiên nhẫn là một vốn quý lớn. Đối với người Mỹ, thời gian không phải chỉ là một sự hoang phí tiền của mà còn ngày càng làm mất sự tự kiểm soát mình về mặt chính trị và tâm lý. Những mục tiêu và những biện pháp của Mỹ đã tạo ra một cái bẫy mà họ phải tìm cách để tự rút ra. Cuối năm 1967, các nhà lãnh đạo ở Hà Nội đã thấy rõ thực tế đó.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #75 vào lúc: 07 Tháng Chín, 2008, 10:59:45 am »

chương mười sáu
CHIẾN TRANH VÀ SỰ BIẾN ĐỔI CỦA XÃ HỘI VIỆT NAM

TÌNH TRẠNG NHÂN KHẨU TRONG CHIẾN TRANH

Việc sử dụng hỏa lực của Mỹ đã làm thay đổi tình trạng nhân khẩu Nam Việt Nam sau năm 1964, làm cho một bộ phận lớn nông dân chỉ còn quan tâm đến một vấn đề duy nhất là sự sống còn về thể chất. Những phản ứng của họ là từ những hành động anh hùng qua cố gắng tập thể chống kẻ xâm lược ngoại lai đến quyết định đơn sơ của cá nhân con người để sống sót bằng mọi biện pháp cần thiết. Muốn hiểu rõ được cả quá trình này là điều không thể làm được bởi vì sự tàn phá, nỗi sầu khổ và đau đớn cá nhân quanh con người cũng như lòng dũng cảm không bờ bến không thể có bút nào tả xiết được.

Mỹ ở Việt Nam đã gây ra một cơn lũ lớn nhất của hỏa lực chưa từng thấy trong lịch sử để chống lại một đất nước. Đau khổ của con người là không bờ bến. Những con số đưa ra về tai họa to lớn này hoàn toàn không đủ, và giữa năm 1968 và năm 1970 hệ thống đưa tin về tị nạn phải ba lần xem xét lại con số của họ. Ước tính cuối cùng của Lầu Năm Góc về con số dân sự bị chết và bị thương những năm 1965 đến 1972 là từ 700.000 đến 1.225.000 trong khi con số của Thượng viện cho cùng thời gian đó là 1.350.000. Số người chết trong hai đánh giá đó là từ 195.000 đến 415.000, số "địch" chết là 850.000 tối thiểu và một bộ phận lớn của số này là dân sự. Con số của Cách mạng cao hơn nhiều. Trong một nước có khoảng 18 triệu dân năm 1970, chiến tranh đã gây một tổn thất vô cùng cao về người chết và bị thương.

Đạn dược là nguyên nhân chính của thương vong, mà phần lớn là do Mỹ và quân đội Việt Nam cộng hòa sử dụng, chiếm hầu hết số đạn trọng pháo và một trăm phần trăm số bom do máy bay thả xuống. Ngoài hỏa lực, Mỹ và Việt Nam cộng hòa còn dùng chất độc làm trụi lá cây để đẩy nông dân vào các trại tập trung. Một bộ phận quan trọng của nông dân bị đẩy ra khỏi ruộng đất của họ làm biến đổi vĩnh viễn tính chất của xã hội Nam Việt Nam. Ước tính đặt ra cho rằng ít nhất một nửa nông dân bị đẩy vào trại tập trung hoặc vào các trung tâm đô thị ít ra là một lần. Một khi đã vào trại tập trung, mức sống người nông dân giảm đi mất hai phần ba, còn mất mát về tâm lý thì không sao kể xiết. Kết quả là đô thị hóa một xã hội nông thôn một cách chưa từng thấy trong thế kỷ này. Trong các đô thị cũ người Trung Quốc chiếm khoảng một phần sáu dân cư đô thị, tức một triệu người nắm độc quyền các hoạt động kinh tế quan trọng cho nên các người mới tới chỉ có thể làm những việc rất phụ. Trong hoàn cảnh như vậy, sau năm 1964, hàng triệu, hàng triệu nông dân buộc phải chạy vào cảnh hỗn loạn đó.

Năm 1960, 20 phần trăm nhân dân Nam Việt Nam sống trong các vùng đô thị. Tỷ lệ đó lên 26 phần trăm năm 1964, 36 năm 1968 và 43 phần trăm năm 1971, một tốc độ tăng gấp năm lần so với tất cả các nước kém phát triển trong cùng thập kỷ. Sự tăng số dân ở Sài Gòn tuy rất lớn nhưng lại rất nhỏ trong nội thành so với Cần Thơ, Đà Nẵng, Biên Hòa, Huế và các thành phố khác gần chiến trận hơn. Đà Nẵng và Nha Trang tăng bốn lần giữa năm 1960 và 1971, chủ yếu là sau năm 1964, trong khi Cần Thơ tăng ba lần. Đến năm 1971 số dân ở Sài Gòn chiếm 43 phần trăm toàn bộ số dân đô thị ở miền Nam, nhưng nếu không tính vùng ngoại ô, thì tỷ lệ đó là một phần năm. Nhìn chung sự phát triển dân số đô thị là sản phẩm của việc tránh các vùng chiến đấu để tìm an ninh cho bản thân mình, còn lý do kinh tế thì rất phụ. Vào năm 1971, ba phần tư những người dân đô thị không phải sinh ra ở đô thị.

Việc đô thị hóa tạo ra một khoảng cách lớn giữa đời sống xã hội và con người ở vùng nông thôn và ở thành thị gây ra nhiều tác động chính trị, kinh tế và con người. Ngay trong khu vực đô thị cũng có nền văn hóa hai mặt: đa số là những nông dân buộc phải vào những trung tâm tị nạn chán ngắt và đông đúc và buộc phải thích nghi với không khí phồn hoa. Trong khi ở đô thị có những người thực sự là người đô thị trước khi Mỹ can thiệp và những người ở vùng chung quanh bụi bặm, lộn xộn mà chiến tranh đã tạo ra, bao vây các tỉnh lỵ cũ. Bên cạnh khu vực đô thị hoàn toàn mất trật tự đó là thành phố Sài Gòn cũ, một thành phố mà người Mỹ biết một cách rất tường tận và trở nên khác biệt một cách rất kỳ lạ với đời sống đô thị nói chung ở miền Nam và cả với đời sống của nông dân, một thành phố đặc quyền đặc lợi, đầy rẫy quyền lực và xa hoa.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #76 vào lúc: 07 Tháng Chín, 2008, 11:01:05 am »

BIÊN GIỚI CỦA ĐÔ THỊ

Những người nông dân ở thôn xã, mặc dù có những khác biệt với nhau như thế nào, vẫn có mối quan hệ sâu sắc với cộng đồng của họ và với các thành viên cộng đồng đó mà nhiều người có quan hệ với nhau trong suốt cả cuộc đời của mình. Gia đình, trên hết là đơn vị hoạt động kinh tế cơ sở và mối quan hệ mẫu mực, thông thường giữa con người với nhau thường là cơ sở cho sự sống còn tập thể trong một thế giới mong manh.

Đô thị thách thức sâu sắc vai trò cá nhân, sự cố kết gia đình, đặc biệt là mối liên hệ với một cộng đồng của người nông dân. Đô thị, với mớ hỗn loạn của tiếng động, với sự tắc nghẽn đông nghịt, với những thách tức muôn vẻ, là nơi chạm trán khốn khổ. Những khu đô thị mới nói chung là những khu nhà lụp xụp tồi tàn, có ít hoặc không có những điều kiện vệ sinh và những ngành phục vụ đời sống vật chất.

Vấn đề cấp bách nhất cho người nông dân mới đến một đô thị là làm sao sống sót được về mặt kinh tế. Cho nên việc đầu tiên là phải có lương thực và nơi dung thân. Không có những số liệu cụ thể về vấn đế này cho toàn các đô thị nhưng nghiên cứu riêng Sài Gòn, tuy không phải là nơi điển hình, thì thấy rằng một phần năm người mới đến nhanh chóng trở thành dân buôn đường phố: bán thực phẩm, bán rong mọi thứ hàng hóa, đánh giầy và làm những nghề nghiệp tương tự. Thất nghiệp là số phận của khoảng một phần ba số người chạy vào Sài Gòn. Vào năm 1974, kinh tế vỉa hè là nguồn thu nhập lớn nhất của những người dân sự không phải là nông nghiệp ở Nam Việt Nam.

Trong phạm vi toàn quốc, công việc xây dựng và phục vụ phát triển mạnh mẽ. Người Mỹ dùng 160.000 công nhân trực tiếp năm 1969 chủ yếu phục vụ nhu cầu binh lính của họ và xây dựng các căn cứ. Mãi dâm dưới mọi hình thức chiếm ít nhất 200.000 phụ nữ. Binh lính và cảnh sát Việt Nam cộng hòa vào khoảng 1,2 triệu tổng số. Một gia đình muốn tồn tại như một đơn vị phải có thu nhập nhiều nguồn, nếu không thì rất khó khăn, trừ một số gái mãi dâm. Trẻ con lang thang trên đường phố, mẹ thì bán rong vỉa hè hoặc làm người hầu cho lính Mỹ. Còn cha nếu không phải là lính, mà là người may mắn thì có thể làm công nhân không lành nghề hoặc làm nghề khuân vác. Thường là anh ta bị thất nghiệp hoặc cũng sống bằng kinh tế vỉa hè. Tình cảnh thất thường và tạm bợ đó đẩy một số nông dân trở về lại thôn xã của họ để gìn giữ sự thống nhất của gia đình.

Mức tiêu thụ tính theo đầu người từ năm 1960 đến năm 1970 tăng rất ít. Cơ quan phát triển quốc tế (AID) của Mỹ ở Sài Gòn thừa nhận rằng sự dồn dập đưa hàng tiêu dùng lâu bền vào Nam Việt Nam đã "gây ảo tưởng" rằng mức tiêu thụ tính theo đầu người đã tăng lên với một mức "choáng váng” nhưng trên thực tế nó đã làm cho mức sống của một số người đã giảm sút. Cơ quan đó cho rằng nếu không có chiến tranh, mức sống của người Việt Nam có thể sẽ cao hơn. Chỉ sau năm 1972, sự giảm sút mức sống ở đô thị mới mở ra cho Đảng khả năng tác động đến quần chúng đô thị về các vấn đế kinh tế. Nhưng nhờ trợ cấp của Mỹ nên mức tiêu thụ lương thực chưa bị giảm sút và thậm chí đầu những năm 1970, Nam Việt Nam có mức tiêu thụ ca-lo cao nhất tính theo đầu người ở Đông Nam Á.

Nhìn chung lại, tổng sản phẩm xã hội từ năm 1965 đến 1973 không thay đổi, cho nên chỉ việc phân phối thu nhập không công bằng mới làm cho một số tăng được mức tiêu thụ. Các nhà kinh tế Mỹ ở Sài Gòn kết luận rằng những người làm việc trong các khu vực công cộng không thu nhập được bao nhiêu, nhưng những nhà buôn thì phát đạt. Những nhà buôn hàng tiêu dùng lâu dài thì phất như diều, chủ yếu vì hai nhân tố: trước tiên là Mỹ dùng hàng tiêu dùng để đối lại với lạm phát mà sự có mặt quân sự dày đặc của Mỹ đã gây ra. Hai là chính sách rõ rệt của Oa-sinh-tơn làm cho máy phát thanh và vô tuyến truyền hình được bán tự do và rẻ tiền gây tâm lý thuận lợi trong chiến tranh...

Sự thật đằng sau bộ mặt đó là hoàn toàn khác. Sự đô thị hóa ép buộc đó không những đã sản sinh ra một nền kinh tế Việt Nam cộng hòa hoàn toàn không thể đứng vững được mà còn tạo ra một trật tự hỗn loạn sâu sắc về con người với mọi tác động chính trị rộng lớn. Nhìn một cách khách quan thì nước Mỹ trong chưa đầy một thập kỷ đã gây thiệt hại cho toàn bộ một xã hội nhiều hơn các nước thực dân khác hoặc bất cứ quá trình đô thị hóa nào trong nhiều thế hệ. Không ai, kể cả Cách mạng, lúc ban đầu, có thể nhận thức được quy mô của cuộc tiến công văn hóa này, nó đụng chạm đến vấn đề cơ bản của tính chất nền chính trị và những cam kết cá nhân trong khung cảnh xã hội của cuộc khủng hoảng cá nhân và gia đình. Nông dân lớn tuổi bị đẩy vào đô thị không chịu được nền văn hóa và xã hội đã rơi vào sự thống trị của những người Mỹ, là những kẻ làm hư hỏng con trai, con gái của họ, nuôi dưỡng những tập đoàn liên tiếp nhau, và tàn phá đất nước và truyền thống của họ. Quần chúng đô thị, như các công trình nghiên cứu của những chuyên gia Mỹ cho thấy, rất bực bội về tình hình ở Sài Gòn: trộm cướp, rác rưởi và nhiều vấn đề khác như vấn đề nhà cửa làm cho mọi người lo nghĩ vào năm 1971, đa số những dân cư đô thị nghĩ rằng Việt Nam cộng hòa điều khiển tồi các vấn đề kinh tế. Năm 1969, ít nhất là hai phần ba những người tỵ nạn ở lứa tuổi trưởng thành muốn trở về nhà hơn là ở lại thành phố, và chỉ một thiểu số nhỏ năm 1972 cho rằng ở Sài Gòn, thành phố thịnh vượng nhất, tốt hơn là ở nông thôn.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #77 vào lúc: 07 Tháng Chín, 2008, 11:01:35 am »

Tổn thất lớn nhất cho những người nông dân bị đẩy vào đô thị là về con em của họ. Chúng không có những kinh nghiệm và giá trị chính trị của bố mẹ chúng. Rất dễ bị ảnh hưởng bởi sự có mặt của Mỹ, nhiều đứa lớn lên trong nền văn hóa hè phố ồn ào, tắc nghẽn, đầy bụi bặm trở thành nạn nhân của mọi tệ xấu: tội ác và đồi trụy, nghiện ngập, mãi dâm, tạp hôn, ích kỷ. Những đứa con này sống phần lớn cuộc đời của chúng trên đường phố và ít được giáo dục. Một số là mồ côi, và những cháu không phải mồ côi cũng hoàn toàn bị bỏ rơi. Chúng ít có cơ hội có công ăn việc làm và những trẻ dưới 20 tuổi chiếm 60 phần trăm số dân miền Nam năm 1972, so với con số 38 phần trăm ở Mỹ. Lính Mỹ làm hư hỏng một số lớn những phụ nữ và làm lóa mắt những đàn ông với áo quần, xe máy và phong cách bề ngoài của họ. Cách mạng không thể tiếp xúc với số người lộn xộn đó và họ ngày càng cung cấp nhân lực cho quân đội Việt Nam cộng hòa. Đầu năm 1968 đa số những người tình nguyện và được tuyển là từ tầng lớp đó. Các sĩ quan của họ hầu như có nguồn gốc đô thị và điều này tăng cường thêm tính chất đô thị của quân đội và chiến lược Việt Nam cộng hòa.

Việc đô thị hóa là lô-gích không tránh khỏi của chiến tranh hỏa lực cao và hoàn cảnh văn hóa xã hội đã bị ảnh hưởng vì hơn hai triệu lính Mỹ đã có mặt trên khắp đất nước. Nhiều người ở Mỹ và Sài Gòn xem việc phân bổ lại dân chúng như vừa là một thời cơ vừa là một điều may mắn kín đáo. Nhưng việc Oa-sinh-tơn không hiểu kịp thời những tác động chính trị và kinh tế trọng yếu của tình hình phân bổ dân cư của chiến tranh là một trong những tính toán sai lầm lớn nhất của họ trong chiến tranh.

Công cụ hùng mạnh nhất mà cả Mỹ lẫn Việt Nam cộng hòa dùng để củng cố ảnh hưởng của họ trong quần chúng nhân dân là đồng đô-la, một vũ khí có tác dụng với những thanh niên sống trên hè phố nhưng lại cũng tỏ ra là hạn chế cả về số lượng lẫn về hiệu lực. Cuộc tiến công của đồng đô-la vào nền văn hoá, dù nền văn hóa tryền thống hay nền văn hóa cách mạng, đều đã làm cho một thành phần quan trọng của những người dân đô thị thực sự, đặc biệt là sinh viên và trí thức, xa lánh, vì họ có thì giờ để quan sát và suy nghĩ về hiện tượng đó. Số học sinh trung học và đại học từ năm 1954 đến năm 1970 đã tăng lên 10 lần, đến con số khoảng 680.000 như Việt Nam cộng hòa đã tuyên bố. Nhiều con em của giai cấp tiểu tư sản, nhà buôn thậm chí của những quan chức Việt Nam cộng hòa, đã thoát ly khỏi địa vị giai cấp của mình và sống theo kiểu riêng như các con em của những nông dân bị dồn vào đô thị đã sống.

Trí thức cũng vậy, cũng mong manh ở miền Nam như ở tất cả các nơi khác, có nhiều tâm trạng, nhiều thay đổi, lắm lập lờ, nước đôi, nhưng nhiều người đã ngày càng có tình cảm với Mặt trận Dân tộc Giải phóng khi họ quan sát điều mà Mỹ đã làm cho đất nước và nền văn hóa của họ, nhưng vẫn còn một bộ phận quan trọng của trí thức làm theo điều mà những kẻ cầm quyền đòi hỏi. Nhiều người trong bọn họ, nhất là những nhà giáo, được trả lương rất ít. Các sinh viên đã phản ứng lại đối với cơn ác mộng của sự thoái hóa con người quanh họ và một số đã giữ quyền hành động của mình. Cũng có một số rút vào thế giới đặc quyền riêng của họ. Tất nhiên là Mặt trận Dân tộc Giải phóng tăng thêm ảnh hưởng của mình trong các tầng lớp xã hội đó và một bộ phận lớn của họ tách ra khỏi Việt Nam cộng hòa và Mỹ.

Cuộc đấu tranh của Pháp chống Cộng sản trước kia đã không làm thay đổi cơ cấu, tính chất và những giá trị xã hội ở nông thôn một cách cơ bản nào. Ngay trong toàn bộ nền thống trị thực dân của họ, chỉ một thiểu số nhỏ nhân dân bị ảnh hưởng về mặt tư tưởng. Nhưng kiểu chiến tranh của Mỹ gây thiệt hại nhiều hơn cho tính chất và sự tồn tại của nhân dân, Mỹ hầu như không thể điều hòa các mâu thuẫn kinh tế và chính trị trong chính sách của họ. Cuối cùng những tác động tích lũy của việc đô thị hóa đối với hệ thống kinh tế, chính trị và quân sự của Việt Nam cộng hòa đã góp phần to lớn vào sự sụp đổ của chế độ đó.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #78 vào lúc: 07 Tháng Chín, 2008, 11:02:25 am »

Chương mười bảy
NGUYỄN VĂN THIỆU VÀ CƠ CẤU QUYỀN LỰC CỦA VIỆT NAM CỘNG HOÀ

GIỚI QUÂN SỰ VÀ GIAI CẤP TRONG VIỆT NAM CỘNG HÒA

Việc Đảng Cộng sản thực tế giữ độc quyền trong công cuộc chống chủ nghĩa đế quốc Pháp và Mỹ nói lên tác động của chủ nghĩa thực dân đối với cơ cấu giai cấp và sự diễn biến của nó. Tất cả những đối thủ tiềm tàng thách thức Đảng đều quá chia rẽ, quá bè phái và quá tham lam nên không thể lấp được lỗ trống trong chế độ chính trị, và những bất đồng về tôn giáo, đặc biệt là ở miền Nam đã làm cho phe đối lập không mác-xít yếu đi một cách nghiêm trọng. Việc Hoa kiều tuy chiếm lĩnh nền kinh tế và có lợi nhất trong việc giữ nguyên trạng, nhưng không làm được gì nói lên rằng họ trực tiếp không có quan hệ chính trị với phần còn lại của chế độ. Tình hình này cho thấy không có giới lãnh đạo nào có cơ sở giai cấp hùng mạnh ở Nam Việt Nam. Lỗ hổng về quyền lực và về chính trị đó đã được bổ sung bằng những thể chế trong đời sống ngắn ngủi của Việt Nam cộng hòa trong tay hai con người, hình thành những giới thượng lưu nhất thời không có cơ sở giai cấp độc lập và hoàn toàn phụ thuộc vào sự ủng hộ nước ngoài. Sự thống trị gần một thập kỷ của Diệm trong giai đoạn đầu cuộc sống gần hai mươi hai năm của Việt Nam cộng hòa với những cuộc tiến công có hệ thống vào di sản của bộ máy mong manh của Pháp và vào các giới thượng lưu giàu có, đặc biệt là Hoa kiều, đã thu hẹp hơn nữa cơ sở xã hội của nền thống trị và làm cho nó chỉ còn lại là tập đoàn của ông ta và giới quân sự mà ông ta không thể hủy bỏ hoặc giảm chức năng. Nói một cách đơn giản, giới quân sự là tầng lớp không cộng sản duy nhất có đủ khả năng thừa kế Diệm và lên nắm quyền.

Vị trí của Việt Nam cộng hòa cũng giống như vị trí của nhiều nước thuộc Thế giới thứ ba nằm ngoài châu Á, đang phụ thuộc vào viện trợ nước ngoài hoặc làm vai trò tư sản mại bản cho chủ nghĩa đế quốc. Trong hoàn cảnh như vậy giới quân sự thường làm nhiệm vụ chính trị và là công cụ cho việc duy trì kế tục chính quyền, tuy rằng Mỹ, nước cho viện trợ trong trường hợp này, cũng muốn dùng giới quân sự để duy trì ảnh hưởng nước ngoài của mình. Nếu chức năng chính trị trở nên mối quan tâm hàng đầu của quân sự thì công cụ bạo lực chỉ được dùng cho đấu tranh nội bộ của quân sự và những lo nghĩ về đe đọa bên ngoài đối với đất nước trở nên thứ yếu. Và lúc nào cơ cấu chính trị quân sự hóa đó quan tâm đến phát triển kinh tế thì tham nhũng sẽ xói mòn những khả năng chiến đấu. Tóm lại quan tâm đến chính trị nội bộ sẽ làm giảm khả năng quân sự một cách quyết định. Vì vậy ở miền Nam, nhà nước, nền kinh tế, giới quân sự và sức mạnh chính trị quấn quít vào nhau và đó là thế tiến lui đều khó của Mỹ khi Mỹ biến miền Nam phụ thuộc vào mình. Nhưng kết quả cuối cùng là Mỹ lại trở thành phụ thuộc vào kẻ phụ thuộc mình để hòng đạt những mục tiêu quốc gia của chính Mỹ.

Trong hoàn cảnh này, tính chất xã hội và chức năng của các sĩ quan trở thành một vấn đề cơ bản. Và nguồn gốc giai cấp cũng như quan hệ của họ có một ý nghĩa lớn trong việc xác định vai trò xã hội và kinh tế cũng như những nguyện vọng cá nhân của họ.

Các sĩ quan trong các lực lượng vũ trang Việt Nam cộng hòa, khoảng 25.000 năm 1967 cũng như một số nhỏ sĩ quan cấp cao từ thiếu tá trở lên, tỏ ra đồng nhất một cách kỳ lạ. Các sĩ quan cấp dưới gồm khoảng 95 phần trăm tổng số sĩ quan là rất trẻ. Vì họ phải có tối thiểu một bằng cao học nên họ được đô thị hóa và sinh ra từ những gia đình khá giả có thể nuôi họ đi học. Binh sĩ không thể qua hàng ngũ của mình mà lên sĩ quan được. Một phần tư tổng số sinh ở miền Bắc và tỷ lệ người theo đạo Thiên Chúa là gấp đôi tỷ lệ trung bình ở miền Nam. Điều này nói lên rằng quân đội là nơi quan trọng tiếp thu những người di cư miền Bấc vào sau năm 1954. Về kinh tế mà nói, các sĩ quan được trả lương thấp, thiếu úy chỉ được 55 đô-la một tháng năm 1967 và có ít bổng lộc. Đối với phần đông những người có gia đình, thì tình hình này trở nên là một khó khăn cho chức năng thực sự của họ. Các sĩ quan thường phân biệt với nhau vế trường đào tạo và về năm tốt nghiệp. Học viện quân sự quốc gia Đà Lạt đào tạo 13 phần trăm các sĩ quan trong quân đội năm 1967, nhưng 30 phần trăm cấp tướng là tốt nghiệp ở học viện đó trong khi đó học viện Thủ Đức đào tạo hai phần ba các sĩ quan nhưng chỉ có năm phần trăm là cấp tướng.

Lấy 60 tướng năm 1972 làm một mẫu để nghiên cứu thì một phần ba là con địa chủ, một phần tư khác là con các quan chức chính phủ và trên một phần tư là con sĩ quan, các nhà chuyên nghiệp đô thị và các thành phần thuộc giai cấp trên và giữa. Họ đang trong thời kỳ dễ được đề bạt và gia đình họ chưa phải là quan trọng nhưng đang bước vào lúc sắp trở thành quan trọng. Tình hình này ảnh hưởng sâu sắc đến việc sử dụng quyền lực của họ. Thiệu chẳng hạn, là con một địa chủ nhỏ và ông ta tốt nghiệp học viện Đà Lạt. Đa số những tướng này đã tốt nghiệp ở Đà Lạt, 14 phần trăm ở Thủ Đức. Hầu như tất cả bắt đầu sự nghiệp của mình dưới thời Pháp thuộc.

Động cơ của các sĩ quan cấp cao sau khi Diệm chết là rất đơn giản: quyền lực dưới hình thức chức vụ và tiền. Đó cũng là động cơ của một lô các đảng "mi-ni", các phe phái hoặc giáo phái luôn luôn nhảy vào nhảy ra hết liên minh này đến liên hiệp kia hoặc tha hồ sáng chế ra mọi thứ mưu đồ ở đâu không có lợi ích giai cấp hoặc lợi ích về hệ tư tưởng thì ở đó không có cơ sở cho hành động và trách nhiệm tập thể, và lợi ích cá nhân trở thành động cơ của nền chính trị, đưa đến những tham nhũng cá nhân trong xã hội.

Người Mỹ luôn luôn theo dõi tình hình rối loạn này với mối hoài nghi cao độ. Có lẽ khía cạnh nguy hiểm nhất của giai đoạn này là cố gắng của phái dân sự khuyến khích và câu kết với giới quân sự, dẫn đến một sự hỗn loạn triền miên và, vào năm 1966, là tình trạng cát cứ của những tướng quân phiệt ở mức độ khác nhau trong bốn vùng chiến thuật của miền Nam, nhất là vùng chiến thuật I ở phía bắc. Sau khi nhiều nhóm quân sự nối tiếp nhau nắm quyền ở Sài Gòn thì tất nhiên xảy ra mối nghi ngờ lẫn nhau trong một cảnh hỗn độn kéo dài giữa những người mà Mỹ ủng hộ. Nhưng dù sao cũng không thể để cho tình trạng này tồn tại mãi nên các sĩ quan cấp cao đã chọn Nguyễn Văn Thiệu.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #79 vào lúc: 07 Tháng Chín, 2008, 11:03:15 am »

SỰ XUẤT HIỆN CỦA NGUYỄN VĂN THIỆU

Chắc chắn Thiệu là nhà chính trị có khả năng nhất của lịch sử Việt Nam cộng hòa, và việc ông ta chuyển từ đạo Phật sang đạo Thiên Chúa để thỏa mãn danh vọng địa vị của mình, tỏ ra rằng ông ta là một con người vô cùng cơ hội. Ông ta là một thành viên của tập đoàn tháng 6 năm 1965 đại diện cho nhóm "Trẻ hung hăng" và không có quan hệ quá khứ chặt chẽ với Pháp và Diệm. Từ đó ông ta tiến lên mà không hề bị cản trở để tìm cách đối phó với các đối thủ tiềm tàng và, trước hết, tìm cách khoét sâu những chỗ yếu của những ai chống lại ông ta. Khác với Diệm, ông ta không có những kỳ vọng nghiêm chỉnh về hệ tư tưởng, chìa khóa ban đầu của thắng lợi của ông ta là ông ta sẵn sàng phân chia bổng lộc. Ông ta muốn giành sự kiểm soát quyền lực một cách vững chắc hơn là giành độc quyền và sau năm 1973 ông ta muốn giành toàn quyền vào tay mình.

Sau cái chết của Diệm, một trong những nhân tố quan trọng nhất để Thiệu nổi lên là ông ta được giới thượng lưu kinh doanh Hoa kiều giúp dỡ. Chị vợ của Thiệu lấy Lý Lương Thân người Hoa kiều giàu nhất ở Sài Gòn, có một hộ chiếu Mỹ trong tập hộ chiếu các loại của mình và là một nhân vật then chốt của bang Phúc Kiến. Thân giới thiệu Thiệu với Phrăng-xít Cô, bí thư thứ nhất đại sứ quán Đài Loan ở Sài Gòn và là một nhân vật cấp cao của giới tình báo SEATO. Phrăng-xít Cô chọn Thiệu để phục vụ cho cộng đồng Trung Hoa đang lâm trận, tạo điều kiện tiếp xúc và cung cấp tiền của cho ông ta để ông ta nâng cao địa vị của mình. Khi Nguyễn Cao Kỳ, đối thủ chính của ông ta xử tử một Hoa kiều (tên là Tạ Vinh) đầu năm 1966 để cảnh cáo những nhà đầu cơ tích trữ khác, giới kinh doanh Hoa kiều cho Thiệu rất nhiều tiền bạc và thay cho ông ta để can thiệp với các quan chức Mỹ. Thiệu là một người hoạt động khôn ngoan và tiền của đã giúp ông ta tiến lên thuận buồm xuôi gió. Ông ta có tài xoay xở và nhiều tiền hơn Kỳ. Sự nóng lòng muốn duy trì thống nhất đoàn kết trong giới quân sự đã làm cho Mỹ đưa Thiệu lên nắm quyền, nhưng quan hệ của Thiệu với tập đoàn Hoa kiều chắc chắn sẽ quyết định việc chế độ Thiệu phân phối những quyền lợi kinh tế như thế nào.

Năm 1967 Thiệu là tướng duy nhất đủ tài năng để sống sót sau tình hình hỗn loạn của nền chính trị Sài Gòn và tạo lập được một bộ máy chính trị hùng mạnh. Tháng 6 năm 1967, tập đoàn quân sự cử Thiệu làm tổng thống mới sau khi ông ta hứa hẹn làm theo ý muốn của một giới lãnh đạo tập thể. Ngay khi hùng mạnh nhất, Thiệu cũng đối xử với những đối thủ quân sự và dân sự của mình một cách hòa nhã hơn là Diệm, cố phân chia bổng lộc rộng rãi hơn nhằm tranh thủ thời gian để hưởng đặc quyền của quyền lực và nhất là để tránh những mối đe dọa của những chỉ huy quân sự cấp cao khác đối với bộ máy vững chắc của ông ta. Còn đối với cộng đồng Hoa kiều, một trong những hành động đầu tiên của Thiệu năm 1967 là để cho họ lập lại các bang và trả lại cho họ những tài sản đã bị tịch thu.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM