Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 09:53:36 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Giải phẫu một cuộc chiến tranh  (Đọc 112737 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #80 vào lúc: 07 Tháng Chín, 2008, 11:03:48 am »

THIỆU THÀNH LẬP MỘT BỘ MÁY

Khi Thiệu lên nắm quyền tháng 9 năm 1967, ông ta bắt đầu xây dựng bằng nhiều cách chính thức và không chính thức một bộ máy quyền lực chủ yếu là cá nhân bao gồm giới quân sự, cơ cấu chính trị và kinh tế. Hệ thống đó rất phức tạp trên một số mặt, nhưng lại quá đơn giản ở một số mặt khác, nhưng bảo đảm được rằng số phận của Việt Nam cộng hòa sau năm 1968 gắn liền với những tham vọng, quyền lực và thậm chí những chỗ yếu của Thiệu. Thiệu đã tạm thời buộc các giai cấp phục tùng lợi ích của ông ta. Ông ta tập hợp những phần tử giai cấp tham lam và tập đoàn Hoa kiều giàu có quanh một mẫu số chung: tiền bạc và đặc quyền. Một tóm tắt của Ran-đơ Coóc-pô-rê-sơn về quan điểm của 27 sĩ quan và quan chức cấp cao sau chiến tranh đã viết: "Đặc điểm chủ yếu của chế độ Nam việt Nam... là tham nhũng". Nhưng những sĩ quan cấp cao, các nhà tư bản Hoa kiều và những nhà chính trị dân sự Việt Nam luôn luôn chia rẽ nội bộ và Nguyễn Văn Thiệu chỉ có thể kiểm soát được quyền lực từ năm 1969 đến năm 1973 (chứ không phải sau đó). Tất nhiên Thiệu sử dụng gia đình của mình càng nhiều càng tốt và sức mạnh thực sự của ông ta là khả năng phát hiện và hậu đãi những tướng sẵn sàng hợp tác với ông ta một cách trung thành trong việc quản lý các vấn đề quân sự và chính quyền. Một chiến lược hợp tác như vậy chỉ thành công chừng nào còn có những gì đó đủ để mà chia cho nhau.

Cả Cách mạng lẫn chính phủ Mỹ có một số nhà phân tích cố gắng đánh giá cơ cấu quyền lực trong Việt Nam cộng hòa. Công việc của họ cũng như của những quan chức Việt Nam cộng hòa trước kia rất giống nhau về phương pháp và kết luận. Các bên đều quy một tầm quan trọng đặc biệt cho những nhà tư bản Hoa kiều trong việc điều khiển chế độ. Nhưng không ai có thể gán cho họ trách nhiệm gây ra hậu quả bởi vì chính người Pháp và sau đó là người Mỹ mới là những người kiểm soát chế độ cộng tác với mình. Không có họ, Thiệu không thể làm được nhiều; tốt và nhanh như vậy. Nhưng, trong khi sự thật là trong những năm 1960, Hoa kiều là tầng lớp trên cổ truyền còn các tướng lĩnh rõ ràng là những người mới, thế nhưng sức mạnh chính trị của các tướng lại làm cho những người Hoa kiều phụ thuộc nhiều vào ân huệ của họ. Có thể kiếm được nhiều tiền trong nền kinh tế và trong các hoạt động của nhà nước và người Hoa kiều chiếm một phần lớn và một phần quan trọng trong hai loại hoạt động nói trên. Những cơ hội tham nhũng có thể nói là nhiều vô kể và các sĩ quan, các quan chức chính quyền chủ chốt chiếm phần lấn át trong tệ nạn này.

Cuối cùng Thiệu đã làm chủ được toàn bộ trật tự xã hội trong bốn năm. Do nắm được tiền, ông ta giữ được sự đoàn kết trong tầng lớp trên của quân đội và làm cho các nhà dân sự cấp cao trở nên dễ bảo cho đến năm 1973. Cơ cấu quyền lực của Thiệu là một sự tổng hợp hết sức cá nhân hóa của Thiệu với một liên minh của các tướng trung thành cũng như với tầng lớp trên của các nhà kinh doanh Hoa kiều. Không cần phải xác định tầm quan trọng tương đối của các thành phần nói trên bởi vì thành phần này sẽ không có nghĩa lý gì nếu không có thành phần kia. Làm giàu là sự nhất trí chung đoàn kết họ lại với nhau, và vì Thiệu lợi dụng lòng tham lam của họ nên bộ máy của ông ta có tất cả các đặc điểm chủ quan, độc đoán mà người ta liên kết với việc làm tiền bằng phương pháp chính trị và bằng tham nhũng trong một cuộc chiến tranh hoàn toàn do nước ngoài ủng hộ.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #81 vào lúc: 07 Tháng Chín, 2008, 11:04:37 am »

CÁC THÀNH PHẦN CẤU TẠO CỦA CHẾ ĐỘ THIỆU

Một khía cạnh cốt yếu của việc Mỹ cung cấp tiền cho chế độ Thiệu là việc Mỹ trả tiền công và phụ cấp cho những người làm công. Khi Diệm bị lật đổ, Việt Nam cộng hòa dùng 121.000 người làm công dân sự; vào năm 1965, con số đó lên đến 179.000, và tăng rất chậm cho đến năm 1968 (khi Thiệu nắm hoàn toàn bộ máy hành chính của đất nước). Từ 208.000 năm 1968, bộ máy hành chính phình ra đến 337.000 năm 1972 (cảnh sát chiếm 38 phần trăm con số đó). Bộ máy dân sự tỏ ra không ổn định và bất lực trước cơn bão tố của nền chính trị sau Diệm. Thiệu tìm cách biến nó thành một công cụ đáng tin cậy cho quyền lực của ông ta. Tuy lương danh nghĩa là thấp và tiếp tục giảm xuống nhưng Thiệu để cho người của mình hoàn toàn tự do tham nhũng nhằm duy trì lòng trung thành của họ. Thông thường nhất là phải hối lộ để xin những giấy tờ cần thiết từ giấy tờ giao dịch, tài liệu chứng nhận cho đến trì hoãn nhập ngũ cộng với vô số hình thức quỹ đen. Đâu cũng có tham nhũng và tham nhũng tăng thêm mầu mỡ cho bộ máy quan liêu ở tất cả các cấp.

Giới sĩ quan cấp dưới cũng trở thành nguồn ủng hộ lớn của Thiệu, bởi vì Thiệu thỏa mãn lòng tham của họ hơn bất kỳ ai trước Thiệu. Quân đội chính quy phát triển nhanh từ năm 1961 đến năm 1965, nhưng sĩ quan cấp dưới không theo kịp sự phát triển đó. Khi Thiệu lên nắm quyền, ông ta tăng số thiếu úy từ 8.764 năm 1968 lên 17.353 hai năm sau đó và số đại úy từ 4.793 lên 10.654 trong khi số quân tăng dưới một phần năm. Các sĩ quan này cũng được phép tham nhũng để bù vào lương thấp của họ. Họ được đề bạt thường là vì họ hàm ơn một sĩ quan cấp cao nào đó hoặc đơn giản hơn là vì họ mua được ông ta. Kiểu làm tiền của họ thường là lặt vặt, từ việc thu khẩu phần gạo và tiền lương của những binh lính chết hoặc đào ngũ cho đến việc bán xăng dầu và hàng cung cấp quân sự ra các thị trường địa phương, trong đó một số đã được Mặt trận dân tộc Giải phóng mua. Cùng với các quan chức chính trị, một số sĩ quan cũng cho vay nặng lãi mà dưới thời kỳ Thiệu lãi lên đến từ 50 đến 90 phần trăm hàng tháng.

Phó tổng thống Trần Văn Hương của Thiệu thừa nhận rằng "chúng ta trên thực tế sẽ chẳng còn ai để thực hiện cuộc chiến tranh nếu tất cả các chỉ huy tham nhũng bị khởi tố hay đuổi việc". Thiên tài của Thiệu là đã chuyển hướng được tham vọng giành quyền lực thực sự của nhóm sĩ quan cấp cao do ông ta lựa chọn, và làm cho họ "chỉ biết có tiền", như hai tướng cũ về sau nhớ lại. Nếu ước tính một cách dè dặt nhất thì cũng tròn hai phần ba tất cả các tướng và tá đều tham nhũng.

Hệ thống chính quyền của Việt Nam cộng hòa đi từ gần như hỗn loạn trước khi Thiệu lên cầm quyền đến trên thực tế là độc tài vào cuối cuộc chiến tranh, và các tổ chức quân sự và chính trị giẫm chân lên nhau, chồng chéo với nhau mà người ngoài khó phân biệt được. Chính vì lòng trung thành của giới quân sự được mua bằng những đặc ân kinh tế, nên toàn bộ bộ máy quyền lực quấn quít lấy nhau, dựa dẫm vào nhau.

Trong thời kỳ sau Diệm các tư lệnh của bốn vùng chiến thuật bắt đầu chọn lấy những tỉnh trưởng riêng của mình, tạo ra một tình trạng phân quyền cát cứ, nhất là ở vùng chiến thuật I ở phía bắc. Sau một năm nắm quyền, sau khi đã đánh bại các đồng minh của Kỳ, Thiệu giành lại thế độc quyền đối với giới quân sự và cảnh sát và nắm chắc rằng những kẻ thù tiềm tàng của ông ta ở trong tình trạng chia rẽ. Một trong bốn tư lệnh vùng chiến thuật là đồng minh cũ của ông ta và tiếp tục duy trì nhiệm vụ. Còn những người khác là những người do ông ta lựa chọn một cách kỹ lưỡng để giúp ông ta chọn 43 tỉnh trưởng và ngay cả những huyện trưởng mà một nửa đã được thay thế, tính đến mùa xuân năm 1970. Những tướng chỉ huy ba sư đoàn ở Sài Gòn cũng đã được chọn với sự thận trọng đặc biệt.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #82 vào lúc: 07 Tháng Chín, 2008, 11:05:07 am »

Bốn tư lệnh vùng chiến thuật nhận lệnh trực tiếp từ cá nhân Thiệu. Họ có thể, nếu cần, phối hợp các hoạt động quân sự của các tỉnh trưởng trong vùng chiến thuật của họ nhưng nhất thiết họ không được cộng tác trực tiếp với nhau về bất kỳ vấn đề nào nếu không thông qua văn phòng của Thiệu. Lệnh cấm này đã được áp dụng cho đến khi chiến tranh kết thúc. Thiệu chọn các tư lệnh, chủ yếu là trên cơ sở lòng trung thành của họ đối với ông ta. Tài năng quân sự hoàn toàn là thứ yếu. Bởi vì chỉ sự cộng tác của tư lệnh vùng chiến thuật, mới huy động đủ lực lượng có thể đe dọa Thiệu và việc này trở nên hết sức khó khăn và không sao tránh khỏi bị lộ với Thiệu.

Các tỉnh trưởng cũng trực tiếp chịu trách nhiệm trước Thiệu. Vừa là tư lệnh quân sự, vừa là nhà cai trị dân sự, họ ít khi bị các bộ ở Sài Gòn kiểm soát. Tuy nhiên, họ được hưởng lợi một cách rộng rãi, họ bán những chức vụ béo bở và những đặc quyền trong tỉnh họ, giúp đỡ gia đình và bạn bè và thậm chí, duy trì công tác kinh doanh của chính họ. Vì thời gian nắm quyền là cơ hội lớn nhất của họ để làm giàu trước khi chuyển trở lại các đơn vị quân sự ban đầu, cho nên ít có ai không lợi dụng thời gian đó.

Song song với toàn bộ cơ cấu quân sự là bộ tổng tham mưu do tướng Cao Văn Viên đứng đầu, một tướng quá ư dễ bảo, ngờ nghệch một cách bất thường, một người ăn chay không tham lam, làm việc một cách thụ động cho Diệm. Người ta nói ông ta tham nhũng qua bàn tay của vợ. Thiệu giữ Viên lại chính bởi vì ông ta vô hại. Bộ tổng tham mưu cũng là chỗ chứa các sĩ quan không được tin cậy lắm và cũng chưa có thể xếp vào vị trí nào. Thiệu sử dụng Hội đồng an ninh quốc gia mà ông ta thành lập năm 1970 theo kiểu riêng của ông ta. Thường là ông ta tham khảo ý kiến của trợ lý an ninh của ông ta, trung tướng Đặng Văn Quang mà Thiệu hoàn toàn tin cậy. Vào cuối chiến tranh, Thiệu có thói quen đòi các tư lệnh vùng chiến thuật và một nhóm riêng trong đó có Quang, cung cấp báo cáo. Không bao giờ ông ta hỏi ý kiến về chính sách và tất cả các quyết định chủ chốt hoàn toàn do tay ông ta làm ra.

Bộ máy quân sự và chính trị ngày càng tập trung vào tay ông ta và không thể nào hoạt động được nếu không có ông ta. Điều này quan trọng hơn nhiều cho số phận cuối cùng của Việt Nam cộng hòa, so với vấn đề liệu nên đánh chính quy hay đánh du kích. Chức năng đầu tiên của cơ cấu quân sự là duy trì chính quyền Thiệu và việc Mỹ có thể chống lại Cách mạng hay không là phụ thuộc vào sự tồn tại của một chế độ mà một tướng của Thiệu mô tả là "độc tài, đàn áp và đầy rẫy âm mưu". Đến năm 1971, các quan chức Mỹ đã biết một điều mà phải đợi cho đến mùa xuân năm 1975 mới được hoàn toàn bộc lộ. Đó là: tài năng của Thiệu với tư cách là một nhà lãnh đạo quân sự may lắm mới được coi là tầm thường. Vai trò của ông ta là chính trị và Oa-sinh-tơn ủng hộ ông ta cũng chỉ vì chính trị.

Thiệu hiểu rõ rằng bằng cách cho phép tham nhũng, thậm chí khuyến khích tham nhũng, ông ta có thể tranh thủ được sự trung thành. Một trợ lý trích lời nói của ông ta rằng: "Đó là cách tốt nhất để tránh đảo chính...". Nhưng thế tiến lui đều khó cho cuộc thập tự chinh chống cộng của Mỹ vẫn tiếp tục tồn tại. Cái gì ở miền Nam cũng gắn với cá nhân của Thiệu chứ không gắn với một thể chế chính thức nào. Ngay đối với tổng tuyển cử, Nguyễn Cao Kỳ cũng rút ra từ kinh nghiệm bản thân mình khi trúng cử phó tổng thống năm 1967 đều cho rằng đó là "một sự mất thì giờ và tiền của. Bầu cử là một trò đùa. Nó được dùng để thiết lập một chế độ không có gì dính dáng đến nhân dân, một chế độ vô tích sự và tham nhũng”. Quốc hội mà Diệm nặn ra cũng chẳng có thực quyền và Thiệu không ngó ngàng gì tới. Một nhà phân tích Mỹ có cảm tình nhất cho rằng ít nhất một phần ba đại biểu quốc hội là những kẻ tìm cách làm giàu và thường là Thiệu để cho họ làm như vậy.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #83 vào lúc: 07 Tháng Chín, 2008, 11:05:41 am »

CƠ CẤU CỦA GIỚI THƯỢNG LƯU VIỆT NAM CỘNG HÒA

Phân tích về mặt cơ cấu thì phần chóp của chế độ Thiệu là một tập đoàn nhỏ các sĩ quan và quan chức dân sự then chốt không quá vài nghìn người. Ngay dưới họ là một số lượng lớn hơn nhiều những quan chức và sĩ quan thấp hơn. Trực tiếp liên minh với tầng lớp trên đó, là những nhà buôn, những nhà thầu khoán, những nhà kinh doanh, kể cả một số địa chủ. Họ đưa tiền bạc của họ ra, vào các cấp cao thông qua các hợp đồng, các giấy phép nhập khẩu, v.v. Tuy không ước tính được quy mô, nhưng những chuyên gia của Cơ quan phát triển quốc tế thuộc tầng lớp trên của chế độ đó đã kết luận rằng: "Nhiều ngành công nghiệp lớn ở miền Nam Việt Nam là do một số nhỏ liên minh của những nhà kinh doanh Trung Hoa hợp tác với nhân viên chiến lược của chính phủ Việt Nam kiểm soát". Theo các quan chức Mỹ, người Phúc Kiến là những người hùng mạnh nhất, Lý Lương Thân là lãnh tụ quan trọng nhất của họ và họ kiểm soát hoặc có cổ phần lớn trong các ngành dệt, phế liệu, xây dựng, ngân hàng, bảo hiểm, chế biến thực phẩm và nhập khẩu.

Tất cả các bản phân tích của những người chủ chốt trong chế độ này chỉ đưa ra con số trăm cho số sĩ quan, và quan chức cấp cao có liên quan, và những đồng minh tư bản của họ, mà đa số lớn là người Trung Hoa, cũng không thể quá con số một hoặc hai nghìn. Một thành phần nhỏ nhưng trọng yếu như vậy đã nắm phần lớn tư bản tích lũy và tư bản lưu động. Trực tiếp dưới họ là một nhóm mới những người giàu dựa vào tài sản của nhà nước, mà chủ yếu là những người Trung Hoa. Họ làm giàu nhờ việc Mỹ đưa càng ngày càng nhiều lực lượng vào Việt Nam. Tầng lớp dưới này vào khoảng 35.000 đến 70.000 người. Những người sống bằng hối lộ nhỏ trong hệ thống quân sự và dân sự của Thiệu là vào khoảng một phần tư triệu người. Lấy 80.000 xí nghiệp hàng chế tạo, buôn bán, xây dựng, vận tải và dịch vụ năm 1968 sử dụng 750.000 người, làm cơ sở thì có thể thêm khoảng 200.000 đến 500.000 người dân sự coi như hưởng lộc của bộ máy Thiệu. Ước tính một triệu người được hưởng trong chế độ của Thiệu là quá cao. Tổng số người trong và ngoài bộ máy nhà nước trực tiếp kiếm được những số tiền lớn không quá 100.000. Người theo đạo Thiên chúa chiếm một phần mười nhân dân miền Nam, một phần lớn số này có động cơ rõ rệt về hệ tư tưởng và ủng hộ Thiệu một cách có ý nghĩa. Tính tổng cộng, những người ủng hộ Thiệu, so với những đối thủ chống cộng khác của ông ta có thể hơn một phần tám nhân dân miền Nam. 

Thiệu không bao giờ tìm cách xây dựng một cách nghiêm chỉnh một cơ sở giai cấp rộng rãi cho chế độ của ông ta. Cơ sở giai cấp cũ, mong manh mà Pháp đã xây dựng và Diệm đã từng làm xói mòn, bây giờ trở nên càng yếu hơn, trước sự thay đổi của cơ cấu số dân, trước sự tan rã của xã hội. Thành phần mới của những kẻ đầu cơ chiến tranh đã phá hoại di sản cuối cùng của giai cấp tư sản dân tộc và giai cấp tiểu tư sản, đẩy họ vào những cuộc khủng hoảng kinh tế và tinh thần. Do hoàn toàn phụ thuộc vào đồng tiền và sự ủng hộ của Mỹ để làm cho Việt Nam cộng hòa tồn tại, những kẻ đầu cơ mới đó không thể có tính chân chính dân tộc và văn hóa cho nền chính trị của họ. Điều này chính là điều họ không thể nào thay đổi được. 
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #84 vào lúc: 10 Tháng Chín, 2008, 03:12:26 pm »

Chương mười tám
THẾ TIẾN LUI ĐỀU KHÓ CỦA SỰ PHỤ THUỘC KINH TẾ VÀ CHẾ ĐỘ VIỆT NAM CỘNG HOÀ

MẶT KINH TẾ CỦA SỰ PHỤ THUỘC

Tuy nền kinh tế của Nam Việt Nam dưới thời Diệm là hoàn toàn phụ thuộc vào viện trợ của Mỹ, nhưng sau 1964, nó lại càng mong manh hơn nhiều. Cuộc chiến tranh được đẩy mạnh và việc tăng quân Mỹ theo cấp số nhân đã đưa lại những thách thức kinh tế tai họa một cách tiềm tàng cho lòng tham lam của Mỹ. Bởi vì nền nông nghiệp đang bị xóa bỏ, còn nhân dân thì bị đẩy vào đô thị và chính quyền không đủ khả năng tiếp thu họ với tài nguyên địa phương.

Mục tiêu của chính sách kinh tế Mỹ là cầm máu các vết thương kinh tế đủ lâu để đạt được những mục tiêu quân sự mơ hồ của mình vào một lúc mà Cơ quan phát triển quốc tế buồn rầu thừa nhận là "không có ai nghĩ rằng cuộc chiến tranh có thể kéo dài 10 năm, đừng nói gì đến việc nó sẽ bị thua". Tổn thất cho Mỹ, dù những giả định quân sự là có giá trị, thì cũng có thể chịu đựng được chỉ trong một thời gian ngắn thôi. Nhưng cắt giảm những tổn thất thì lại có nghĩa là đầu hàng quân sự. Đó là điều không thể nghĩ tới được. Trong khi đó thì những giải pháp kinh tế tạm thời của Oa-sinh-tơn, đưa lại những cơ hội kỳ lạ cho tham nhũng ngày càng tăng mà tác động là củng cố thế chính trị cho Thiệu. Thực vậy, Việt Nam cộng hòa chỉ tồn tại khi có đầy đủ viện trợ kinh tế và quân sự.

Cơ quan phát triển quốc tế kết luận một cách chính xác năm 1975 rằng "giai đoạn 1965-1967 ở Việt Nam không giống bất kỳ giai đoạn nào đã trải qua ở một nước kém phát triển". Những bộ máy khác nhau mà Mỹ sử dụng có thể tỏ ra là phức tạp cho những người không chuyên môn, nhưng thực chất, chúng chỉ biểu hiện một chính sách đơn giản. Một cuộc chiến tranh leo thang đang phá hủy nền kinh tế hiện có, và Oa-sinh-tơn thấy rằng cần thiết phải ngăn chặn lạm phát vì nó chỉ làm cho nhân dân thêm cấp tiến và thất bại thêm chắc chắn. Chiến tranh Triều Tiên, tuy nhỏ hơn nhiều về mặt số quân tham chiến cũng như về mặt phạm vi chiến trường, nhưng đã gây ra một sự lạm phát tăng vọt mà ký ức ở Oa-sinh-tơn đến năm 1964 vẫn còn như mới nguyên. Vì vậy để chống lạm phát Mỹ quyết định mở rộng nhập khẩu đến mức tối đa, làm giảm tác dụng của việc chi tiêu quá nhiều đô-la cho nửa triệu quân, cho việc mở rộng các căn cứ và xây dựng quân sự. Sự phồn vinh bề ngoài của Việt Nam cộng hòa hết sức hão huyền đối với đa số đất nước là kết quả hoàn toàn của chiến lược đó.

Sản xuất nông nghiệp năm 1968 thấp hơn trung bình đã thấp của những năm 1961-1965 đến một phần tư. Phải đến năm 1970, nó mới vượt được, tuy sản lượng đầu người không bao giờ bằng được lúc đó. Sản xuất công nghiệp chủ yếu để phục vụ những nhu cầu của quân đội Mỹ và để cung cấp vật liệu xây dựng, đã tăng lên trong thời gian 1964-1967, và giảm xuống mạnh năm 1968. Nhập khẩu năm 1964-1967 tăng một trăm phần trăm, và nhập khẩu trong những năm 1969-1971 đã vượt xa xuất khẩu. Vào năm 1967, khoảng 40 phần trăm tổng sản phẩm quốc dân của Việt Nam cộng hòa gồm những hàng nhập hoàn toàn phụ thuộc vào viện trợ Mỹ và đến năm 1970 thì tỷ lệ đó đã gần 50 phấn trăm. Phần của tổng sản phẩm quốc doanh dành cho công nghiệp chế tạo đã giảm sút nhiều trong thời gian dó, làm cho Nam Việt Nam trở thành nước châu Á duy nhất trải qua hình thức phi công nghiệp hóa như vậy và có tỷ lệ công nghiệp chế tạo thấp nhất. Nền kinh tế của Nam Việt Nam đã chuyển từ sản xuất hàng hóa, tức là cơ sở của sự phát triển kinh tế thực sự, sang làm công việc dịch vụ tức là làm cho nền kinh tế rất yếu về cơ cấu và không tránh khỏi một khủng hoảng kinh tế, khi người Mỹ bắt đầu rút đi. Phần của chính phủ trong tổng sản phẩm xã hội đã tăng từ 15 phần trăm năm 1960 tức là lúc đã phụ thuộc nhiều vào viện trợ, lên 21 phần trăm năm 1964 và 34 phần trăm năm 1972. Phần lớn sự tăng nhanh chóng khu vực dịch vụ cũng là kết quả của viện trợ Mỹ cũng như sự có mặt của Mỹ. Cùng với phần của chính phủ trong sản phẩm xã hội, khu vực dịch vụ tăng từ 56 phần trăm năm 1960 lên 78 phần trăm năm 1972. Giá cả từ 1964 đến 1972 tăng 10 lần, và lạm phát vẫn là một vấn đề kinh tế và xã hội nghiêm trọng mặc dù có viện trợ hào phóng của Mỹ. Ngân sách của Việt Nam cộng hòa từ năm 1966 trở đi thường là do viện trợ cung cấp đến 85 phần trăm. Khi viện trợ không đủ, Việt Nam cộng hòa dựa vào việc in tiền, mà năm 1965 chiếm đến gần một phần tư ngân sách. Phần lớn của ngân sách là dành cho quân sự, lên đến hai phần ba năm 1970 và không hề bao giờ có đủ tiền thu nhập bên trong để trả cho chiến tranh. Các cố vấn kinh tế Mỹ nhất trí rằng "Việt Nam cộng hòa không có một chế độ thuế có hiệu lực" và tiền khi cho số nhân viên thu thuế khá đông của họ còn tốn nhiều hơn số thuế thu được.

Nền kinh tế của Việt Nam cộng hòa vì vậy mà gặp khó khăn nghiêm trọng trong suốt lịch sử của mình và sẽ tiếp tục là như vậy ngay khi không có nạn tham nhũng. Khi lạm phát làm cho thu nhập thực tế giảm giá trị thì sự phụ thuộc vào viện trợ Mỹ lại tăng lên không ngừng.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #85 vào lúc: 10 Tháng Chín, 2008, 03:13:12 pm »

THAM NHŨNG VÀ THẾ TIẾN LUI ĐỀU KHÓ CỦA MỘT NỀN KINH TẾ GIẢ TẠO

Ngay từ khi chiến tranh bắt đầu, tất cả các quan chức Mỹ cấp cao đều biết, như Mác Na-ma-ra nói tháng 10 năm 1966 là có "nạn tham nhũng cả ở trên cao, cả ở dưới thấp". Lúc đầu nó làm cho nhiều người lo ngại, nhưng họ nhanh chóng quen đi và thậm chí một số bắt đầu thấy giá trị chính trị và thậm chí kinh tế của nó. Ac-tơ Xmi-thi nhận xét trong bản phân tích kinh tế năm 1970 của ông ta cho Oa-sinh-tơn rằng "Nói chung Việt Nam được thừa nhận là tham nhũng, nhưng không có bằng chứng rằng nó tham nhũng hơn các láng giềng Đông Nam Á của nó. Nếu nó có là như vậy, thì lý do có thể là chiến tranh và các chính sách thời chiến tạo ra nhiều cơ hội cho tham nhũng". Nhưng vấn đề tham nhũng không thể tách rời ra khỏi "ý nghĩa chính trị" của những người có lợi nhờ nó, ra khỏi vai trò là một "chất nhờn" chính trị, như Xmi-thi nói một cách tài tình như vậy, và ra khỏi tác động đưa lại đoàn kết và ổn định của nó. Các quan chức Mỹ không ai che giấu việc họ thích Thiệu, và việc đó gạt bỏ mọi ý nghĩ muốn ngăn chặn tham nhũng.

Tuy nhiên, khi chiến tranh chấm dứt, báo cáo nội bộ cuối cùng của AID là rất rõ ràng: "Tham nhũng lan tràn ở tất cả các cấp trong suốt thời kỳ dính líu của Mỹ”. Hoạt động quốc tế của AID làm cho họ tiếp xúc với tất cả các mức độ tham nhũng trên thế giới, nhưng về Việt Nam cộng hòa họ kết luận "Dù với tiêu chuẩn nào, mức độ tham nhũng là cao quá mức". Nó "vượt xa" công việc "đút lót bình thường" của nhà nước và "thường dính líu đến những số tiền vô cùng to lớn có liên quan đến các quan chức chóp bu và các tướng lĩnh”.

Các quan chức Mỹ phụ trách các vấn đề kinh tế tỏ ra rất thất vọng. Chính đại sứ En-ước Bân-cơ đầu năm 1970 cũng cho rằng "các vấn đề kinh tế trở nên nghiêm trọng hơn đe dọa quân sự và nếu không giải quyết thì chúng có thể làm mất tất cả các thành tựu đã đạt được". Việt Nam hóa chiến tranh chứa đựng một kế hoạch quân sự nhằm thay thế sự có mặt của Mỹ, nhưng mục tiêu nhằm làm cho Việt Nam cộng hòa tự túc về kinh tế là một thách thức còn phức tạp hơn nhiều nhưng lại bị việc giảm quân Mỹ và giảm chi tiêu làm cho càng nghiêm trọng. Tình hình lại càng khó khăn thêm bởi vì Mỹ "tạm thời" ra sức chuyển toàn bộ một nền kinh tế, và cả bộ máy chính trị điều khiển nó, sang vấn đề nhập khẩu. Họ đi xa đến mức cố ý giảm vai trò của nông nghiệp mà trong quá khứ đã đem lại nhiều lợi nhất, và làm cho phần nông nghiệp còn lại quá ham dùng phân bón nhập khẩu hơn bất kỳ nước nào ở Nam Á hoặc Đông Nam Á. Việc Mỹ trợ cấp nhập khẩu cho Việt Nam cộng hòa đã "ngăn cản sự phát triển ở nhiều lĩnh vực của cả công nghiệp lẫn nông nghiệp". Nhưng mâu thuẫn mà Mỹ phải đương đầu sau năm 1970 là nếu không phát triển được nền kinh tế thì sẽ làm cho Việt Nam cộng hòa vĩnh viễn phụ thuộc vào viện trợ, có thể đưa đến phá hủy công cuộc Việt Nam hóa các mặt quân sự của chiến tranh. Các cố vấn Mỹ quen thuộc với vấn đề này đều dự đoán rằng Việt Nam cộng hòa sẽ cần nhiều viện trợ, khoảng nửa tỷ đô la mỗi năm, cho ít nhất một hoặc hai thập kỷ nữa.

Những chuyên gia Mỹ có ảnh hưởng nhất nghĩ rằng không chắc Việt Nam cộng hòa có thể khắc phục được những vấn đề kinh tế của mình. Họ đều cho rằng chiến tranh đòi hỏi phải động viên quân sự một cách vô thời hạn và Xmi-thi không cho rằng Việt Nam cộng hòa có thể trông chờ một cách lâu dài vào khoản viện trợ kinh tế 700 triệu đô la hàng năm hoặc từ Mỹ hoặc từ bất cứ nước nào khác. Mùa thu năm 1971, khi ủy ban đối ngoại Thượng viện đưa ra vấn đề cắt viện trợ cho Đông Dương, nói lên sự bất bình nghiêm trọng ở Quốc hội, thì việc tìm biện pháp thay thế trở nên rất cấp bách. Trong khi các cố vấn Mỹ nghĩ rằng Việt Nam cộng hòa phải gia nhập nền kinh tế tư bản thế giới, tránh chế độ bảo hộ mậu dịch nội địa quá mức và tránh làm khó dễ cho đầu tư nước ngoài, thì Xmít-thi cảnh cáo rằng tư bản nước ngoài không đầu tư vào nơi mất ổn định quân sự. Hai năm sau các chuyên gia Mỹ chủ chốt phàn nàn rằng hầu như Thiệu không quan tâm gì đến sự sống còn kinh tế của chế độ ông ta. Vì những lý do thực tiễn, ông ta tính vào việc mãi mãi xin tiền của Mỹ và của nước ngoài.

Các chuyên gia Mỹ đưa ra vấn đề khai thác dầu ở Nam Việt Nam để khuyến khích đầu tư nước ngoài. Nhưng sức ép của các nhóm chống chiến tranh và của các nghị sĩ Quốc hội đầu năm 1971 làm cho phần lớn các công ty dầu rút vào thế phòng ngự. Các chuyên gia cũng đưa ra vấn đề viện trợ đa phương và quốc tế và muốn có một công-xoóc-xi-om viện trợ của Ngân hàng thế giới, Ngân hàng phát triển châu Á và Quỹ tiền tệ quốc tế. Nhưng mùa thu 1971, khi nhận thấy rằng quân đội Việt Nam cộng hòa tiếp tục giữ số lượng lớn và chiến tranh sẽ còn kéo dài thì việc đa phương hóa viện trợ càng trở nên khó khăn hơn. Thật là một ảo tưởng nếu muốn dùng kiểu viện trợ này để thay thế cho viện trợ Mỹ để làm một phương tiện duy trì nền kinh tế Việt Nam cộng hòa và cả chiến tranh nữa. Tạo ra một cơ sở kinh tế vững bền cho Thiệu ở Nam Việt Nam là thiết yếu cho sự thành công của cố gắng chiến tranh của Mỹ, nhưng chính những biến dạng xã hội, chính trị và kinh tế xảy ra trong toàn bộ quá trình chiến tranh và chính nhu cầu phải giữ Thiệu ở lại chính quyền đã làm cho mục tiêu nói trên rất là mong manh. Với thời gian, ý nghĩa quyết định của thách thức quan trọng này sẽ trở nên ngày càng rõ ràng.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #86 vào lúc: 10 Tháng Chín, 2008, 03:14:07 pm »

Chương mười chín
SỰ XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI VIỆT NAM CỘNG HOÀ VÀ CUỘC ĐẤU TRANH DÀNH NÔNG THÔN NAM VIỆT NAM

MỸ VÀ VIỆT NAM CỘNG HÒA TRƯỚC VẤN ĐỀ QUÂN SỰ

Sau năm 1965, Mỹ bị bẫy vào một thế tiến lui đều khó. Các nhà lãnh đạo của họ cho rằng sự can thiệp ào ạt của họ là nhằm tranh thủ thời gian cho Việt Nam cộng hòa củng cố quyền lực của mình ở Nam Việt Nam. Mọi người ở Oa-sinh-tơn đều hiểu rằng nếu không làm được như vậy sẽ buộc phải mở rộng và kéo dài sự có mặt của Mỹ. Ngay dù cho các tướng Sài Gòn không chịu từ bỏ sự quan tâm chính trị của họ, Mỹ cũng buộc phải giao cho quân đội Việt Nam cộng hòa những nhiệm vụ quân sự quan trọng và phải tăng cường lực lượng cho nó. Nhưng mỉa mai thay, quân đội và vũ khí Mỹ ào ạt đưa vào Việt Nam sau giữa năm 1965 đã tạo điều kiện cho Việt Nam cộng hòa càng đi vào cạnh tranh nồi da nấu thịt.

Ngay từ đầu, Mỹ không nắm chắc được học thuyết chiến lược và các nhiệm vụ của quân đội Việt Nam cộng hòa. Ngoài việc muốn giành càng nhiều lãnh thổ càng tốt, Việt Nam cộng hòa không có chiến lược riêng của mình trừ chiến lược mà người Mỹ giao cho và lấy đó làm cơ sở để trang bị. Vào giữa năm 1965, quân đội Việt Nam cộng hòa đứng trên vực thẳm của thất bại, bị cột chặt vào những vị trí cố định để chống lại một kẻ thù chỉ bằng một phần ba lực lượng của mình. Khi lực lượng Mỹ đổ vào miền Nam và xây dựng các căn cứ thì người ta chờ mong quân đội Việt Nam cộng hòa làm nhiệm vụ bảo vệ nhưng ngay từ đầu, họ đã làm một cách rất là tồi. Vai trò mở rộng của Mỹ càng làm cho quân đội Việt Nam cộng hòa trở nên bất động cả về mặt chức năng chính thức lẫn về mặt tâm lý.

Bằng sự thỏa thuận chung với Mỹ, sau năm 1965 quân đội Việt Nam cộng hòa làm ba chức năng quân sự. Vai trò thứ nhất là đảm bảo an ninh bằng việc bảo vệ các căn cứ, đô thị và những nơi tương tự. Hoạt động chiến đấu tuy là ít quan trọng hơn nhưng vẫn còn là một nhiệm vụ lớn mặc dù Mỹ chịu trách nhiệm về phần lớn các cuộc hành quân tiến công. Bình định các thôn xã cũng là một nhiệm vụ trọng yếu. Cách phân công lao động này đã gây rắc rối cho Mỹ trong ba năm tiếp theo.
Mọi phát triển ở Nam Việt Nam từ năm 1964 trở đi làm cho quân đội Việt Nam cộng hòa trở thành một đội quân tĩnh tại, phòng ngự không có khả năng giành quyền chủ động. Các sĩ quan cấp cao của nó luôn luôn bận tâm với các vấn đề chính trị và công cuộc làm giàu cho bản thân mình. Các cố vấn Mỹ đầu tiên huấn luyện quân đội Việt Nam cộng hòa để tiến hành một cuộc chiến tranh quy ước nhưng kết quả cuối cùng nó chẳng tiến hành được bất kỳ loại chiến tranh nào. Những chức năng tiến công của các lực lượng Mỹ cũng như công cuộc bình định ở các thôn xã đã đẩy quân đội Việt Nam cộng hòa vào một vai trò phòng thủ với việc kiểm soát dân là nhiệm vụ hàng đầu, vì Mặt trận Dân tộc Giải phóng không bao giờ bỏ lỡ cơ hội lấp những chỗ trống đã được tạo ra. Nếu quân đội Việt Nam cộng hòa còn chút cơ động chiến thuật nào thì đó là phụ thuộc phấn lớn vào máy bay lên thẳng và hậu cần do Mỹ cung cấp. Tỷ lệ cao về lực lượng cơ động và khả năng duy trì được quyền chủ động chiến lược của Cách mạng là những thực tế mà người Mỹ không thể khắc phục được.

Cố gắng của Mỹ nhằm chỉnh đốn những nhược điểm của quân đội Việt Nam cộng hòa hầu như là cả một quá trình thất vọng. Huấn luyện trong năm 1966 hầu như là không có và khả năng thực hiện các cuộc hành quân với đơn vị nhỏ, ban đêm hay phục kích của quân đội đó được xem là tồi và cuối năm 1968 không khá gì hơn lúc quân Mỹ mới bắt đầu vào. Thói ngủ buổi trưa thường lệ của họ làm cho các sĩ quan Mỹ tức giận. Mãi đến cuối năm 1969, quân đội Việt Nam cộng hòa mới kiểm soát khá hơn trọng pháo và máy bay lên thẳng của chính họ, nhưng thời gian trung bình luyện tập của một tiểu đoàn cũng chỉ có 3 giờ một tuần. Cách thông thường nhất của họ là cố tránh tiếp xúc với các lực lượng dịch, đó là điều mà các sĩ quan Mỹ rất khinh thường. Suốt năm 1966 và 1967, phần đông các sĩ quan Mỹ đều thống nhất với nhau rằng chính sự có mặt của quân đội Mỹ đã làm cho quân đội Việt Nam cộng hòa, đừng nói gì đến 300.000 lực lượng địa phương và dân quân, chiến đấu ít đi. Quân đội Mỹ do đó phải lấp vào chỗ trống mà quân đội Việt Nam cộng hòa để lại.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #87 vào lúc: 10 Tháng Chín, 2008, 03:14:36 pm »

Cố gắng của Mỹ xác định một vai trò quân sự cho các lực lượng vũ trang của Việt Nam cộng hòa luôn luôn bị xem thường và đầy tính bi quan. Tuy chính quyền Mỹ có ý định tranh thủ thời gian cho tay chân của mình nhưng không sao thực hiện được chính sách chuyển gánh nặng chiến đấu lên vai họ. Thú nhận điều này có nghĩa là tuyên bố rằng Mỹ hoặc là sẽ ở lại Việt Nam vô thời hạn hoặc là buộc phải rút lui với thất bại hoàn toàn. Năm 1965-1967, không có ai sẵn sàng thừa nhận rằng khả năng của chính quyền thực hiện được những mục tiêu và chiến lược để thắng các cuộc chiến tranh cục bộ, lại phụ thuộc vào một đội quân hào nhoáng nhưng bị lãnh đạo một cách hỗn loạn.

Nếu không kể những bận tâm riêng của các sĩ quan cấp cao thì bản thân quân đội Việt Nam cộng hòa cũng có nhiều vấn đề, từ nhỏ cho đến có tính chất cơ cấu và tất cả kết hợp lại làm thất bại cố gắng của Mỹ. Quan hệ của quân Mỹ với quân đội Việt Nam cộng hòa cũng không tốt và sự hợp tác ở cấp trên với nhau cũng xấu. Trước những khó khăn như vậy, các cố vấn Mỹ muốn lấy số lượng thay cho chất lượng của quân đội Việt Nam cộng hòa. Các lực lượng vũ trang Việt Nam cộng hòa tăng 129.000 giữa năm 1964 và 1967, và năm sau đó tăng thêm 177.000 nữa để lên đến 820.000 và đạt đỉnh cao 1.048.000 năm 1972. Nhưng Oét- mo-len viết năm 1968 rằng: "Thách thức lớn là phải thay đổi hình ảnh của một quân đội thất bại, mất tinh thần". Quân đội Việt Nam cộng hòa, chiếm năm phần trăm số dân nam giới của Nam Việt Nam năm 1956, lên bảy phần trăm năm 1964 và 11 phần trăm năm 1972, đã gây ra những thách thức to lớn cho trật tự xã hội Việt Nam cộng hòa tuy nó đưa lại cho người Mỹ những bia thịt mà Mỹ cho là thiết yếu.

Bằng cách nêu gương của mình và cũng bằng huấn luyện, ngay từ đầu Mỹ đã dạy cho quân đội Việt Nam cộng hòa dựa vào hỏa lực. Tất nhiên hỏa lực phụ thuộc vào kỹ thuật, tiền và một hệ thống hậu cấn có hiệu quả. Như một tướng cấp cao của Việt Nam cộng hòa mô tả về sau, hệ thống hậu cần lấy "học thuyết Mỹ, trang bị Mỹ và tiền Mỹ" làm nền tảng. Bộ Ngoại giao Mỹ tổng kết cuối năm 1974 rằng điểm "cơ bản của học thuyết chiến đấu Mỹ mà chúng tôi đã truyền đạt một cách thành công cho người Nam Việt Nam là đạt kết quả tối đa với tổn thất về người tối thiểu. Điều đó đòi hỏi sử dụng cao trang bị và chi tiêu lớn về hậu cần. . . Cách tiến hành chiến tranh của Nam Việt Nam (và Mỹ) tốn nhiều tiền hơn..." (xem Hồ sơ Quốc hội, 20-8-1974 và Hosmer, Sự sụp đổ của Nam Việt Nam, tr. 103-104). Sau năm 1964, quân đội Việt Nam cộng hòa sáp nhập một cách đơn giản vào bộ máy chiến tranh của Mỹ như là một bộ phận phụ thuộc nghèo hơn, và nó đã làm theo các chiến thuật đang thua của Mỹ.

Các tướng cấp cao của Việt Nam cộng hòa là những nhà đấu đá chính trị nội bộ tài tình hoặc là những nhà kinh doanh xuất sắc nhưng là những nhà lãnh đạo quân sự rất tồi, và đó chính là thực chất của chế độ xã hội Việt Nam cộng hòa. Nhưng thách thức đối với Mỹ lại còn lớn hơn nhiều; sự cần thiết tranh thủ thời gian để củng cố Việt Nam cộng hòa còn đặt ra một câu hỏi khó trả lời là ai sẽ đánh cuộc chiến tranh và đánh trong bao lâu. Thực vậy, việc Việt Nam cộng hòa sau năm 1968 giành được một cơ cấu chính trị ổn định dưới một chế độ độc tài quân sự chỉ làm mạnh thêm tính chất chính trị của hệ thống quân sự do đó mà chiến đấu trở nên khá là phụ. Chính tính chất này, còn hơn là sự phụ thuộc vào kỹ thuật, đã làm cho các lực lượng vũ trang của Việt Nam cộng hòa trở nên quá mong manh như vậy. Trong khi đó thì những nhu cầu quân sự và những thất bại của đội quân đó đã trở thành một vật xốp hút tiền của, lực lượng và thì giờ của Mỹ. Vào cuối năm 1967, chính quyền Giôn-xơn không thấy rõ mình có thể chịu được bao nhiêu những thứ đó nữa.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #88 vào lúc: 10 Tháng Chín, 2008, 03:15:15 pm »

CÔNG CUỘC BÌNH ĐỊNH CỦA MỸ VÀ VIỆT NAM CỘNG HÒA VÀ CHIẾN LƯỢC NÔNG THÔN

Trong bối cảnh quân sự như nói trên, Mỹ và Mặt trận Dân tộc Giải phóng đấu tranh để làm chủ nông thôn, nhiệm vụ "bình định" chủ yếu là giao cho các thành phần khác nhau của các lực lượng vũ trang Việt Nam cộng hòa. Những cố gắng liên tục dưới chế độ Diệm nhằm lùa nhân dân nông thôn vào các khu vực dành riêng, đặt ra cho người Mỹ một câu hỏi liệu công cuộc bình định tiếp tục được duy trì chỉ là một biện pháp kiểm soát nhân dân về thể chất và là một biện pháp chống nổi dậy như dưới thời Diệm, hay là đưa đến những thay đổi tư tưởng xã hội khả dĩ làm cho Cách mạng mất hiệu lực. Tranh thủ thời gian cho những người kế tục của Diệm có thể giải quyết những vấn đề đó, đã trở thành nhiệm vụ chiến lược của các lực lượng vũ trang Mỹ.

Đối với những người vạch kế hoạch chiến tranh, điều cần thiết là phải tách Cách mạng ra khỏi quần chúng nông thôn. Vào khoảng năm 1965, họ dựa chủ yếu vào hỏa lực để làm việc đó và họ nóng lòng muốn "bình định" nhân dân. Đối với Mỹ, chiến tranh Việt Nam và chương trình bình định là gần như đồng nghĩa với nhau tuy các nhà lãnh đạo dân sự Mỹ biết rằng, nó còn phải hơn thế nữa nếu muốn đánh bại Mặt trận Dân tộc Giải phóng.

Đầu năm 1966 chương trình không quân sự của Mỹ bị sa lầy vào sự rối loạn và bế tắc. Thế nhưng, Giôn-xơn vẫn còn tin rằng với tiếng tăm là một nhà cải cách, bắt đấu với chương trình "chiến tranh chống nghèo đói" ở trong nước, ông ta còn có quyền được kính nể. Cải cách ở Nam Việt Nam có thể đưa lại cho chiến tranh tính chính đáng rất cần thiết trước một công chúng và một quốc hội ngày càng thiếu thiện chí. Năm 1966, tại hội nghị Hô-nô-lu-lu đầu tháng 2 và hội nghị Ma-ni-la 24-25 tháng 10, Giôn-xơn gặp Thiệu và Kỳ, và trong các thông cáo chung, đã làm cho chiến tranh có vẻ như cần thiết để tạo lập một trật tự tự do ở Đông Nam Á. Sau hội nghị Hô-nô-lu-lu, các chương trình bình định của Mỹ có vẻ phối hợp tốt hơn. Tháng 3 năm 1967, Rô-bớt Cô-mơ được giao thực hiện cố gắng bình định lớn hơn nhiều. Ông ta đã đánh giá một cách chính xác những hạn chế chính trị, kinh tế và tổ chức làm cho chương trình của ông ta không thành công. Thất bại của chương trình đã làm cho Mác Na-ma-ra và các nhà dân sự ở Lầu Năm Góc thất vọng. Họ tin rằng các lực lượng Mỹ không tránh khỏi phải ở lại Nam Việt Nam lâu hơn nhiều.

Những mâu thuẫn trong chương trình bình định làm cho nó thất bại một cách rõ ràng trong những năm 1966- 1967. Rõ nhất là sự ủng hộ của Mỹ đối với chế độ Thiệu - Kỳ, một chế độ đưa lại sự ổn định chính trị trên cơ sở tham nhũng ngày càng tăng kể cả tham nhũng trong chương trình bình định. Khi buộc phải chọn giữa sự ổn định và sự hiệu quả của hoạt động, thì chính quyền Mỹ đều chọn sự ổn định. Quan trọng hơn nhiều là tác động của các hoạt động quân sự của Mỹ đối với cơ cấu nông thôn và mâu thuẫn không thể điều hòa được giữa các chính sách xây dựng và các chính sách phá hoại của Mỹ.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #89 vào lúc: 10 Tháng Chín, 2008, 03:16:20 pm »

NHỮNG MÂU THUẪN GIỮA TÌNH TRẠNG CHIẾN TRANH VÀ SỰ ỔN ĐỊNH CỦA MỘT XÃ HỘI NÔNG THÔN

Đến năm 1965, một thập kỷ của nổi dậy kéo dài đã phá hoại vế thể chất nông thôn Nam Việt Nam, làm cho nông dân trở nên cấp tiến và cơ cấu cộng đồng của họ tan rã. Mọi cố gắng xây dựng lại nông thôn đòi hỏi phải chấm dứt hỏa lực ào ạt đang đe dọa cuộc sống của nông dân và đang tạo ra một làn sóng di tản rộng lớn. Chưa lúc nào Oa-sinh-tơn nghĩ đến việc không nhấn mạnh đến vũ khí. Đối phó của họ với Cách mạng là di chuyển dân đi nơi khác, gây ra cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng một số vấn đề nhưng lại gây ra cho Mỹ và Việt Nam cộng hòa nhiều vấn đề mới hơn. Trong bối cảnh như vậy, bình định vẫn là một điều hão huyền cho đến cuối năm 1968 khi mà các hậu quả quân sự, chính trị và kinh tế của chiến tranh đã phá hủy mọi hy vọng mong manh còn sót lại của những cố gắng yếu đuối đó.

Vấn đề tị nạn hầu như chiếm hết tài sản của Mỹ và Việt Nam cộng hòa dành cho phát triển nông thôn, tất nhiên là trừ đi số tiền tham nhũng mà mọi chương trình đều phải gánh chịu. Oa-sinh-tơn kết luận rằng di chuyển nhân dân ra khỏi vùng của Mặt trận Dân tộc Giải phóng đến vùng Việt Nam cộng hòa kiểm soát là dễ và ít nguy hiểm hơn nhiều so với việc vào các vùng đó để bình định và làm chuyển hóa nhân dân. Việc sử dụng chất diệt cỏ chống lại cây lương thực, mà Bộ Ngoại giao và Lầu Năm Góc luôn luôn ủng hộ, là một mặt của chính sách đó. Như lịch sử chính thức của không quân mô tả lập trường của Bộ tham mưu liên quân vào cuối năm 1967 là: "Sau khi mùa màng trong các khu vực mục tiêu bị chết trụi thì những nhóm dân sự di chuyển vào các khu vực do chính phủ kiểm soát sẽ làm trầm trọng thêm vấn đề nhân lực của du kích".

Tất cả các cơ quan làm ra quyết định ở Oa-sinh-tơn và Sài Gòn đều hoàn toàn hiểu rằng chiến đấu và hỏa lực gây đau khổ cho nhân dân và buộc họ rời bỏ nơi sinh sống đưa số di cư lên đến ba triệu người vào cuối năm 1967. Sự việc này là một món nợ chính trị của vấn đề bình định nhưng đồng thời cũng làm cho Mỹ kiểm soát về mặt thể chất kẻ thù tiềm tàng thực sự của mình là nông dân. Tuy chính sách gây ra vấn đề tị nạn không thấy ghi trong các tài liệu của Bộ chỉ huy viện trợ quân sự Mỹ ở Việt Nam, nhưng "sự cần thiết của nó được thừa nhận công khai như là một đòi hỏi thực tiễn...".

Bình định, ít nhất là về mặt kết hợp chính trị và chiến tranh, là nạn nhân của chiến lược chiến tranh cục bộ của Mỹ. Theo kiểu riêng của mình, Mỹ tìm cách áp dụng nhiều chương trình cùng một lúc. Vì Mỹ không tìm được một lý thuyết phù hợp với thực tế hành động của mình, nền Mỹ đã bào chữa cho sự khủng bố ác liệt từ trên không và sự phá hoại cả một đất nước nông thôn, bằng những lời lẽ tự do hoa mỹ. Người Mỹ vạch ra và trả tiền, định ra mọi thứ hoạt động mà họ cho là đặc biệt quan trọng, từ việc tăng thêm chương trình Phượng hoàng và cuối năm 1967 để vây ráp và "vô hiệu hóa" cơ sở hạ tầng chính trị của Mặt trận Dân tộc Giải phóng cho đến thành lập các trạm phát thuốc ở nhiều thôn xã để tranh thủ nhân dân. Họ đặt ra một hệ thống đánh giá các ấp để theo dõi mức thành công của công tác bình định. Hệ thống này có lẽ đã trở thành chỉ số quan trọng nhất của Oa-sinh-tơn để chỉ đạo chiến tranh. Mùa xuân năm 1965, hệ thống đánh giá đó báo cáo rằng Cách mạng chỉ kiểm soát có 24 phần trăm nhân dân. Các chính quyền nối tiếp nhau đã sử dụng hệ thống này để công khai bảo vệ tính hiệu quả chính sách chiến tranh của họ bởi vì phần đông những người Mỹ chủ chốt không hiểu tính chất của chiến tranh cách mạng càng ít hiểu chính sách của Mặt trận Dân tộc Giải phóng thâm nhập vào và cùng sống chung với các cơ cấu Việt Nam cộng hòa hiện có. Cuối năm 1968, khi hệ thống đánh giá các ấp báo cáo rằng 73 phần trăm nhân dân sống trong những vùng tương đối an toàn và 13 phần trăm trong vùng tranh chấp, thì cả CIA lẫn Bộ Ngoại giao Mỹ lại báo cáo riêng rằng Mặt trận Dân tộc Giải phóng còn có ảnh hưởng một cách có ý nghĩa đến ít nhất là hai phần ba của nhân dân nông thôn. Ngay cuối năm 1972, khi hệ thống đánh giá cho rằng 90 phần trăm nhân dân nằm dưới quyền kiểm soát của Việt Nam cộng hòa, thì những nhà phân tích của Lầu Năm Góc cho rằng cơ sở hạ tầng của Mặt trận Dân tộc Giải phóng bao. gồm 71 phần trăm nhân dân. Những báo cáo của hệ thống đánh giá luôn luôn là không đúng. Phần đông các người Mỹ đi lấy số liệu không nói được hoặc nói rất ít tiếng Việt, họ dựa vào những người Việt Nam thường là ngồi tại nhà để điền số liệu chứ không xuống các ấp.

Bình định không thể đo bằng số liệu và chiến tranh là một sự kiện xã hội, chính trị vô cùng to lớn của con người mà những tác động phải được nghiên cứu hết sức kỹ càng tỉ mỉ. Thế mà trách nhiệm thắng một cuộc đấu tranh chính trị và tư tưởng lại được giao cho Việt Nam cộng hòa.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM