Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 11:17:22 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Giải phẫu một cuộc chiến tranh  (Đọc 112969 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #130 vào lúc: 16 Tháng Chín, 2008, 09:21:09 am »

SỰ MẤT TINH THẦN VÀ SỰ KHÁNG CỰ TRONG CÁC LỰC LƯỢNG VŨ TRANG

Dù cho những phản ứng cá nhân của người lính Mỹ đối với sự thất vọng của họ như thế nào, trước năm 1968, vấn đề tinh thần chưa gây ấn tượng là một vấn đề thực sự cho các sĩ quan cấp cao. Trong năm 1968 - 1969, tinh thần của quân đội bắt đầu giảm sút một cách rõ rệt và từ năm 1970 trở đi thì sự sụp đổ con người của người Mỹ ở Việt Nam không còn đơn giản là một vấn đề cá nhân và tâm lý nữa mà trở thành một vấn đề lớn về tổ chức được đưa ra công khai rộng rãi bao gồm vấn đề kỷ luật và cuối cùng là chính khả năng hoạt động của các lực lượng vũ trang Mỹ.

Những khó khăn bắt đầu với ma túy, vị thuốc an thần của lính Mỹ trước những giây phút và ngày giờ khiếp sợ và buồn chán. Lợi nhuận về ma túy rất là to lớn khi quân Mỹ được đổ vào sau năm 1965. Cả thống chế không quân Nguyễn Cao Kỳ lẫn hải quân Việt Nam cộng hòa là những nguồn chính đưa ma túy vào đất nước. Thiệu đóng một vai trò còn nhỏ hơn. Ngừng việc buôn bán ma túy có nghĩa là đương đầu với cơ cấu chính trị của Việt Nam cộng hòa. Vì vậy Đại sứ quán và Bộ chỉ huy viện trợ quân sự của Việt Nam ở Sài Gòn có thái độ thụ động đối với vấn đề đó.

Tuy nhiên, cũng có nhiều người Mỹ cấp cao không thể tưởng tượng rằng việc dùng ma túy có thể lan rộng đến như vậy. Sự đồng lõa của họ trong việc bảo vệ những đồng minh chính trị địa phương và việc CIA lặng lẽ giúp đưa thuốc phiện từ Lào về đã có chứng cớ đầy đủ. Các loại ma túy còn rẻ tiền và rất sẵn có trong năm 1968 khi việc sử dụng mới bắt đầu tăng lên mạnh.

Bệnh dịch ma túy tiếp theo có phần là do sự buồn nản của binh lính vì những ngày dài ở căn cứ thay cho các cuộc hành quân tìm và diệt. Một số tướng ở Sài Gòn xem việc sử dụng ma túy của binh lính chỉ là một vấn đế cá nhân nghiêm trọng nhất, tuy rằng Lầu Năm Góc giữ yên lặng càng lâu càng tất, cho đến lúc báo chí và Quốc hội đưa vấn đề này ra vào giữa năm 1971, Lầu Năm Góc vẫn cố mà chứng minh rằng chỉ 5 phần trăm binh lính dùng loại ma túy nặng. Năm 1973 Lầu Năm Góc nhận rằng 35 phần trăm toàn binh sĩ ở Nam Việt Nam đã dùng bạch phiến và khoảng 20 phần trăm đã bị nghiện một thời gian trong khi làm nhiệm vụ ở Việt Nam. Một số ước tính khác còn cho con số cao hơn. Vì Bộ chỉ huy viện trợ quân sự. không muốn và không có khả năng chấm dứt việc buôn bán ma túy, đầu năm 1972 một số căn cứ chủ chốt của Mỹ đã cho phép gái điếm vào doanh trại với hy vọng làm giảm nạn ma túy.

Xung đột chủng tộc giữa quân đội cũng phát triển từ những di sản chồng chất mà người da đen Mỹ ở Việt Nam nhận thức được. Bị đẩy ra chiến đấu hoặc vào những công việc hầu hạ kẻ khác quá nhiều lại có rất ít sĩ quan người da đen, người da đen ở Việt Nam chịu ảnh hưởng những trào lưu cấp tiến có tính chiến đấu nhiều hơn những đồng nghiệp người da trắng của mình. Sự tự hào về màu da của mình là một quy tắc đối với họ: En-đrit-giơ Cli-vơ, Man-com X, và Ca-xi-ut Clê là những anh hùng được ca ngợi nhất của họ.

Một phần năm những lính da đen ở Nam Việt Nam tuyên bố năm 1970 là họ ghét người da trắng, và hơn một phần ba không thích nhưng vẫn còn tìm cách sống với nhau. Người da đen là nhóm có ý thức nhất về chính trị trong binh lính Mỹ và cũng là những người thường dùng ma túy nhất.

Khoảng năm 1968, các sĩ quan cấp cao báo cáo với Lầu Năm Góc: "Những sự rắc rối và nhiễu loạn chủng tộc đã trở thành một vấn đề nghiêm trọng và bùng nổ". Quân đội cũng không chối là thực sự đã có vấn đề chủng tộc nhưng lập luận bừa rằng đó là là điều thâm căn cố đế trong xã hội Mỹ chứ không phải là việc do chính họ gây ra. Tuy vậy, vì những người vũ trang là để đánh kẻ thù chung chứ không phải để đánh lẫn nhau, cho nên vấn đề chủng tộc đã trở thành một nhân tố làm yếu kỷ luật và tinh thần của những binh lính vốn đã bất mãn.

Những cuộc nổi dậy có ý nghĩa đã bắt đầu ngay từ năm 1968, lan đến hải quân năm 1972. Một phần của phản ứng quân đội là tìm cách hạn chế tinh thần dân tộc của người da đen.

Sự kết hợp của việc binh lính xem thường sĩ quan, của việc sĩ quan muốn đẩy những người dưới mình ra chiến đấu với vấn đề ma túy và vấn đề chủng tộc, đã gây ra một sự tan vỡ sâu sắc và sự xuất hiện những mưu đồ của binh lính sát hại sĩ quan, thường là bằng lựu đạn.

Những cuộc tiến công của binh lính vào sĩ quan đã xảy ra trong hai cuộc chiến tranh thế giới khi binh lính không muốn đương đầu với những nguy hiểm của chiến đấu. Trong chiến tranh Việt Nam, những cuộc tiến công của lính da đen chống lại các sĩ quan da trắng vì những lý do chủng tộc và cả những cuộc tiến công của những người buôn và sử dụng ma túy trong quân đội để khỏi bị kỷ luật. Con số những cuộc tiến công đó, nhất là loại đầu, khó mà xác định, nhưng con số tối thiểu cho năm 1969 - 1972 là 788 vụ đã được xác định, gây ra 86 người chết. Thống kê chính thức nâng con số đó lên 1.016 vụ và một số ước tính khác lại đưa con số lên gấp đôi. Những con số này cao hơn các cuộc chiến tranh khác nhiều, tuy các cuộc chiến tranh đó, số người tham gia lại nhiều hơn. Chỉ một phần mười số vụ đó bị đưa ra tòa.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #131 vào lúc: 16 Tháng Chín, 2008, 09:21:46 am »

Những hành động binh biến, không phục tùng, không tuân lệnh đã từ 252 năm 1968 lên gần gấp đôi năm 1971, và chính những vụ này đã ảnh hưởng sâu sắc đến những sĩ quan. Một tướng phàn nàn năm 1972: khi các sĩ quan là những nhà lãnh đạo vững vàng, họ "thường liều mạng của họ để chỉ huy vì có thể xảy ra những vụ lựu đạn". Vào cuối cuộc chiến tranh, những cuộc tiến công đã đe dọa một số lớn các sĩ quan và quan hệ của họ với binh lính cũng hình thành theo chiều hướng như vậy.

Cũng rất đáng lo âu là sự không tuân lệnh đã lan ra đến hải quân và không quân. Trong hải quân, sự chống đối diễn ra dưới hình thức phá hoại trong năm 1972, đặc biệt là trên các tàu có liên quan đến chiến tranh. Một đám cháy lớn xảy ra trên chiếc tàu sân bay Pho-re-xton tháng 7, những điều trần chống chiến tranh với một nghìn chữ ký trên một chiếc tàu khác và vô số sự kiện dẫn đến cuộc điều tra của Hạ viện với kết luận như sau: "Tiểu ban đã nhận một bảng kê hàng trăm vụ gây tổn thất cho tài sản hải quân mà trong đó rất đáng nghi là có phá hoại... Quy mô của vấn đề... là đáng lo sợ".

Càng đáng lo âu hơn nữa là sự mất tinh thần của không quân trong những tháng cuối năm 1972. Tư lệnh của căn cứ B.52 ở Gu-am nói: "Đó là một việc làm không liên quan đến riêng cá nhân nào". Người lính không quân làm công việc của mình mà "không cần phải thắc mắc liệu có giết ai ở mặt đất hay không. Tôi không nghĩ rằng việc đó đi vào suy nghĩ của anh ta". Tuy vậy, các phi công không quân chiến thuật lo rằng họ có thể là người cuối cùng phải chết vì súng phòng không tuyệt diệu của Việt Nam dân chủ cộng hòa. Đến tháng 11 thì một số đã bắt đầu bay chệch những phi vụ của họ ra khỏi những mục tiêu đã định trước. Khi B.52 được đưa ra để ném bom Hà Nội lễ Giáng sinh năm 1972, trong một hành động cuối cùng của chiến tranh thì không quân chiến thuật không làm được nhiệm vụ tiến công các cơ sở phòng không và 15 B.52 đã bị bắn hạ. Ít nhất là một người chỉ huy B.52 bị xét xử vì không chịu bay, nhưng nhiều người khác đe dọa làm theo anh ta. Theo một tài liệu nghiên cứu chính thức thì đã xảy ra một cuộc "gần như binh biến" trong một số tổ lái B.52 mà chỉ nhờ việc ký Hiệp định Pa-ri mới tránh được.

Trong phong trào chống sự có mặt của Mỹ ở Việt Nam, có một phong trào chống chiến tranh có tổ chức chưa hề có tiền lệ trong lịch sử của cơ cấu quân sự Mỹ. Ngay dù các binh lính da trắng Mỹ lúc đầu không đến nỗi chống chiến tranh với ý thức chính trị đầy đủ như họ chống việc phải đi Việt Nam vì những lý do cá nhân, nhưng càng ngày sự chống đối đó càng bắt đầu chuyển sang hình thức của thái độ chính trị. Trong khi "phong trào binh lính Mỹ" không tạo ra cuộc tiến công cơ bản là chống quân sự này, nhưng chắc chắn là nó đã thêm sức mạnh và có lúc làm cho cuộc tiến công đó trở nên rất chặt chẽ. Chính những nhà dân sự có học thức cao thuộc các màu sắc chính trị khác nhau đã bắt đầu phong trào này.

Công việc đầu tiên của phong trào diễn ra quanh các căn cứ ở Mỹ, kêu gọi các binh lính Mỹ có ít nhiều học thức đại học, bằng cách dùng báo chí và hàng chục quán cà phê. Với hiệu quả còn rất nhỏ lúc ban đầu, phong trào bị Lầu Năm Góc theo dõi chặt chẽ và thâm nhập vào. Bất chấp các phe phái trong phong trào khác nhau như thế nào về hệ tư tưởng, những binh lính Mỹ tiếp thu bằng ý kiến mới làm phong phú thêm nhận thức của họ. Đến năm 1971, các tổ chức dân sự bắt đầu cung cấp cho lính Mỹ những luật gia để bào chữa cho họ khi cần thiết. Chính sự phá hoại và phản đối trong hải quân năm 1972 là thành tựu quan trọng nhất của phong trào binh lính Mỹ.

Dù kết quả huy động binh lính Mỹ còn nhỏ như thế nào, nó vẫn là một mối gây phiền toái cho quân sự. Với tư cách là một biểu tượng cho sự tan rã của ba quân chủng, phong trào đó đã làm trầm trọng thêm các vấn đề khác về kỷ luật và chỉ huy. Trong một không khí không đi theo ý muốn, sự tồn tại của một cố gắng có ý thức nhằm lật đổ cơ cấu quân sự, rõ ràng là một triệu chứng của sự khủng hoảng toàn bộ chế độ của Mỹ.

Tầm quan trọng của sự xói mòn của các quân chủng, đặc biệt là của lục quân, đối với sự diễn biến quân sự và chính trị của cuộc chiến tranh, không được đánh giá thấp. Trong khi các nhà lãnh đạo chính trị ở Oa-sinh-tơn không biết các điều phát triển này, các tướng và đô đốc hoàn toàn nhận thức được chúng. Tướng về hưu Ha-min-ton H.Hao-de, một trong những nhân vật cao nhất của lục quân viết năm 1971: "Dù sao, người lính cộng sản Việt Nam vẫn có động cơ cao cả. Một lực lượng không có kỷ luật tốt sẽ thất bại khủng khiếp trước một lực lượng có kỷ luật tốt".

Lục quân có thể được dùng lại nếu cần ở Nam Việt Nam không? Trước công chúng, Lầu Năm Góc tránh vấn đề đó, nhưng Pi-tơ R.Can, phóng viên có thẩm quyền ở Sài Gòn của tờ Phố On, tháng 11 năm 1971 nói lên cảm giác chung là "bị mất hết nhuệ khí vì các vấn đề ma túy, chủng tộc, kỷ luật và tinh thần, khả năng chiến đấu của quân sự Mỹ, nếu buộc phải chiến đấu, càng ngày càng trở thành một vấn đề đáng nghi ngờ". Hơn nữa, vào lúc đó Lầu Năm Góc công khai thú nhận rằng chiến tranh đã làm yếu khả năng vật chất và tinh thần lục quân trên khắp thế giới, một phần bởi vì các lính Mỹ ở Nam Việt Nam đã chuyển thói quen và thái độ của họ ra khắp nơi.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #132 vào lúc: 16 Tháng Chín, 2008, 09:22:17 am »

Theo quan điểm của càng ngày càng nhiều những nhà dân sự và quân sự trong Lầu Năm Góc thì cần thiết phải đưa đại bộ phận lực lượng của Mỹ ra khỏi Nam Việt Nam và xây dựng lại toàn bộ cơ cấu nhân sự càng nhanh càng tốt. Đến cuối năm 1972, khi những hoạt động căng thẳng của hải quân và không quân bẻ gãy tinh thần và kỷ luật của hai quân chủng đó thì các tướng và đô đốc hầu như nhất trí rằng giải quyết các vấn đế đó là một điều kiện tiên quyết để làm cho sức mạnh quân sự Mỹ trên thế giới lại được tin cậy trở lại một lần nữa.

Việc rút quân do đó không phải chỉ thiết yếu cho việc tranh thủ thời gian chính trị trong nước mà còn là để cứu ngành quân sự khỏi có những vấn đề nghiêm trọng hơn nữa. Nếu Ních-xơn tìm cách lật ngược lại quá trình và Le-đơ chắc chắn sẽ không để ông ta làm như vậy một phần vì những lý do đó, thì có nhiều khả năng ông ta đưa lại một thất bại nghiêm trọng hơn cho quyền lực Mỹ. Những nhận thức như vậy về tình trạng của ngành quân sự có tác động đến các công việc chính trị và ngoại giao trong thời gian còn lại của chiến tranh Việt Nam. Kỹ thuật đã từng là ảo tưởng và đe dọa nhất của Mỹ, nhưng bây giờ nó đang tan rã vì con người trong bộ máy không còn tin và vâng lời nữa.

Trước Việt Nam, dù cho cuộc khủng hoảng của chiến lược học thuyết và vũ khí của Mỹ thể hiện trong học thuyết chiến tranh hạn chế có thế nào đi chăng nữa, thì nó vẫn còn kém hơn cuộc khủng hoảng xảy ra sau mười năm cố gắng. Bởi vì quan niệm về sức mạnh của Mỹ hoàn toàn lấy sự tồn tại và khả năng của chiến thuật và của vũ khí để làm cơ sở chứ không lấy tài năng và quan điểm của những người sử dụng chúng; không có những con người toàn tâm toàn ý thì nước Mỹ, với tất cả các loại vũ khí của mình, có thể tỏ ra là bất lực. Không có ở đâu xem xét kỹ những bước dẫn đến thất bại to lớn đó, dù cho trong các hội thảo chiến lược của quân sự, hay trong các trường đại học hoặc trong các bản phân tích của toàn bộ cơ cấu chính sách đối ngoại.

Bây giờ mà cái không thể tưởng được lại là sự thực, những thúc ép đối với những người cầm quyền lại càng lớn hơn, thì thất bại sắp đến của họ lại càng đồ sộ hơn nữa. Sự sụp đổ của tài trí thông thường của con người đã tỏ ra là hoàn toàn, khi chiến lược vũ khí tinh vi và những nhà chính trị và tướng lĩnh bảnh bao tỏ ra là không phù hợp và yếu đuối trước kẻ thù Việt Nam giàu tài năng và kiên cường. 
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #133 vào lúc: 16 Tháng Chín, 2008, 09:22:55 am »

Chương hai mươi chín
CHÍNH SÁCH QUÂN SỰ CỦA CÁCH MẠNG
(1969 – 1971)

Tác động của cuộc tiến công Tết đã thay đổi sâu sắc cách nhìn của Oa-sinh-tơn về cuộc chiến tranh cũng như khả năng duy trì nó, và Việt Nam hóa và sự xói mòn của quân đội Mỹ vẫn tiếp tục thay đổi cán cân lực lượng. Khả năng quân sự của Đảng Cộng sản cũng đã diễn biến nhanh chóng trong suốt thời kỳ sau Tết, và ban lãnh đạo Đảng phải đánh giá những thay đổi của hai bên và định ra kế hoạch tiến tới thắng lợi như thế nào trong một tương lai tương đối gần.

Cuộc tiến công Tết là một thắng lợi của lòng dũng cảm, cho thấy rõ tầm quan trọng của nghệ thuật quân sự của Cách mạng trong tài kết hợp sáng tạo sự bất ngờ, sự phân tán và sự lựa chọn chiến thuật với thực tế để xem có thể đạt được đến đâu. Đẩy quá xa và quá mạnh có thể sẽ đưa một chiến lược xuất sắc vào một thảm họa hoàn toàn và tác động tức khắc của Tết lúc đó sẽ đẩy Cách mạng vào một vị trí yếu đi về chiến thuật.

Sự sáng tạo đòi hỏi phải có một trình độ cao của óc thực tế và mọi sai lầm nhất định sẽ thuộc phạm vi của sự tính toán thận trọng bởi vì bất kể so sánh lực lượng hiện có hoặc tiềm tàng như thế nào, khách quan mà nói thì Mỹ vẫn còn khả năng gây ra những tổn thất nặng nề cho quân đội bị để lộ.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #134 vào lúc: 16 Tháng Chín, 2008, 09:23:27 am »

ĐẢNG ĐÁNH GIÁ LẠI MỸ VÀ BẢN THÂN MÌNH

Đánh giá tình trạng khó khăn của Mỹ là một trong những trách nhiệm dễ dàng nhất của các nhà lãnh đạo Đảng. "Mức độ của những khó khăn quân sự, chính trị, kinh tế và tài chính mà chiến tranh gây ra cho người Mỹ ở Việt Nam, ở chính Mỹ và trên thế giới , theo nhận định của Đảng, sẽ là biến số then chốt để xác định độ dài và kết quả của chiến tranh.

Việt Nam hóa chiến tranh sẽ chắc chắn thất bại bởi vì quân đội Việt Nam cộng hòa không sao giành được thắng lợi mà quân đội Mỹ ưu việt hơn nhiều đã không giành được. Năm 1969 Đảng sẵn sàng mô tả Mỹ còn rất mạnh, nhưng chính sách "quét và giữ” nhằm củng cố sự thống trị của họ trên các khu vực và tránh tổn thất về nhân lực, việc giảm dần các lực lượng và sự bị cô lập trên thế giới, đã đưa Mỹ vào một thế bị động về chiến lược mà Cách mạng sẽ nhân đó để giành thắng lợi "từng bước" bất chấp những khó khăn của chính mình.
Xét tất cả các nhân tố đó các nhà lãnh đạo cách mạng kết luận tháng 7 năm 1969 rằng chiến tranh sẽ chấm dứt với "một giải pháp chính trị" chứ không phải với một thắng lợi quân sự dứt khoát, lần đầu tiên nhận rõ ràng rằng Mỹ có khả năng ảnh hưởng đến hình thức nếu không nói là đến kết quả cuối cùng của cuộc đấu tranh. Dù cho việc đánh giá chiến lược của Mỹ chính xác đến đâu, việc đánh giá các quyết định chiến thuật của họ đòi hỏi phải linh hoạt và là một công việc khó hơn.

Trong những năm 1969 và 1970 Ban Chấp hành Trung ương Đảng đưa ra những tuyên bố hướng dẫn chính sách thường xuyên hơn là những năm trước. Nghị quyết 9 tháng 7 năm 1969 mà Trung ương Cục đưa ra đã đánh giá toàn bộ mặt chính trị của cuộc chiến tranh và phê phán những thắng lợi và thất bại đã qua. Từ năm 1969 trở đi có sự nhất trí lớn hơn vế chiến lược do hai nhân tố, một là hiểu rõ hơn những khó khăn chính trị và quân sự của Mỹ và hai là hiểu rõ thực tế, khả năng của chính mình. Sự thống nhất chiến lược bao gồm hai điểm trọng yếu: tính chất và ý nghĩa cuộc chiến tranh kéo dài và các hình thức của hoạt động quân sự.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #135 vào lúc: 16 Tháng Chín, 2008, 09:24:35 am »

TẠO RA MỘT SỰ CÂN BẰNG QUÂN SỰ MỚI

Chiến tranh kéo dài đã được chấp nhận như một hình thức cơ bản của chiến tranh cách mạng chống lại một kẻ thù tốt hơn về mặt kỹ thuật. Đảng biết rằng chiến tranh kéo dài tăng thêm tốn kém cho Mỹ nhưng Đảng cũng phải trả giá cho sự tổn thất về người và cho sự phát triển kinh tế. Năm 1970 Đảng phác họa ra những cải cách kinh tế ở Việt Nam dân chủ cộng hòa để tăng thêm hiệu quả của khu vực không nông nghiệp. Và mọi người đều thống nhất phải chớp lấy mọi thời cơ mới để đẩy nhanh sự kết thúc chiến tranh.

Các nhà lãnh đạo Đảng lặp lại một chiến lược trung dung: quân chủ lực trang bị với vũ khí hiện đại kết hợp với quân du kích với vũ khí bình thường để tạo ra một khả năng tiến công hết sức linh hoạt. Đảng tiếp tục duy trì thế chủ động trong chiến tranh, và chuẩn bị để chiến đấu trong tương lai mà chủ yếu là xây dựng vị trí của mình ở miền Nam sau những tổn thất của Tết và để cho Mỹ có cơ hội tiếp tục rút quân, đồng thời Đảng có những biện pháp làm cho quân Mỹ còn lại bị căng mỏng và mất cân đối. Các lực lượng địa phương không cho địch tập trung khi chủ lực làm công tác củng cố lực lượng và chủ lực thì kéo các đơn vị cơ động của địch ra khỏi những vùng mà lực lượng địa phương còn yếu.

Hoạt động quân sự của Cộng sản cũng được duy trì ở mức gây đủ thương vong cho Mỹ để duy trì sức ép chính trị trong nước, đòi rút quân. Năm 1971, Đảng có quân chiến đấu nhiều hơn kẻ thù tuy quân đội Việt Nam cộng hòa và quân đội Mỹ cộng chung lại gần gấp sáu lần quân cách mạng. Đó là vì quân cách mạng là cơ động, trong khi quân Việt Nam cộng hòa đóng quân tại chỗ để giữ đất. Quân cách mạng là một đội quân mạnh hơn nhiều và hoàn toàn hồi sức, đủ khả năng đóng những vai trò dự định trong năm 1969. Đầu năm 1970, xe tăng của Quân đội nhân dân Việt Nam và hỏa ]ực được cải tiến rất nhiều, bắt đầu xuất hiện trên cao nguyên Trung Bộ.

Sự thông thạo của Quân đội nhân dân Việt Nam trong việc sử dụng những đơn vị nhỏ đã làm cho người Mỹ ngày càng thất vọng, cho đến lúc Mỹ chấm dứt những hoạt động trên bộ của họ vào năm 1971. Nếu bắt gặp được những đơn vị lớn của Quân đội nhân dân Việt Nam thì tức thì họ phân tán và không tham gia chiến đấu trừ khi không còn cách nào khác.

Những kỹ thuật đơn giản cũng tỏ ra rất thành công và cả Mỹ lẫn Việt Nam cộng hòa không sao đối phó được với mìn và biệt kích. Những kho đạn là những mục tiêu ưa thích và đầu năm 1969 một mình một căn cứ Mỹ đã mất 12.000 tấn đạn. Các căn cứ của quân đội Việt Nam cộng hòa năm 1972 mất 24.000 tấn đạn. Việt Nam cộng hòa thừa nhận rằng đó là "một chiến thuật rất có hiệu quả" thực hiện một cách rất thông thạo, hạn chế tổn thất về người đến mức tối thiểu mà gây thiệt hại vật chất và tâm lý tối đa cho kẻ thù.

Cũng gây thiệt hại to lớn cho kẻ thù là khả năng phòng không của Cách mạng. Chỉ trong một năm kết thúc vào tháng giêng năm 1970, 130 trong số 223 máy bay của phi đoàn không quân số 16 Mỹ đã bị súng mặt đất bắn rơi. Không những kỹ thuật không đưa lại thắng lợi mà Cách mạng và phong trào chống chiến tranh còn huy động dư luận thế giới thành một vũ khí chính trị hùng mạnh chống lại hệ thống vũ khí dã man, bừa bãi, từ vũ khí hóa học đến bom bi và đạn dược dùng một cách tập trung đến mức bão hòa.

Sức mạnh thực sự của một đội quân cách mạng là khi nó phân tán ra những đơn vị nhỏ mà vẫn tồn tại được trong lòng nhân dân, ví như ở đồng bằng sông Cửu Long. Nhất là sau khi Mỹ và Việt Nam cộng hòa thâm nhập Cam-pu-chia tháng 5 năm 1970, các lực lượng cách mạng ở các vùng chiến thuật III và IV sống chủ yếu bằng hậu cần địa phương mà cơ sở chính trị hạ tầng và những người ủng hộ trong quấn chúng nhân dân cung cấp. Do vai trò quan trọng của đồng bằng, lực lượng Mặt trận Dân tộc Giải phóng ở đó là một vốn quý quân sự to lớn. Đồng bằng đã kìm chân quân đội Việt Nam cộng hòa hơn bất kỳ khu vực nào khác làm cho các lực lượng cách mạng ở những nơi khác có thì giờ và rảnh tay phát triển khả năng quân sự của mình.

Do đó chính trị bổ sung cho cố gắng quân sự một cách hết sức trọng yếu và đó là những cơ sở Đảng ở thôn xóm gồm những người với tấm lòng kiên nhẫn tuyệt vời. Cuối cùng, dù phương trình quân sự thay đổi như thế nào, chính cơ sở chính trị đó đã làm cho Cách mạng có thể thực hiện được chiến lược tiến công của mình. Bởi vì sức mạnh của Cách mạng không phải là số lượng và vũ khí mà là sự cơ động, và sự linh hoạt quyết định của Cách mạng là hoàn toàn dựa vào sự sẵn sàng của hàng nghìn du kích và cán bộ chính trị địa phương, toàn tâm toàn ý để làm cho các lực lượng Việt Nam cộng hòa và Mỹ bị lúng túng, bị đánh lạc hướng và dễ bị tổn thương.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #136 vào lúc: 16 Tháng Chín, 2008, 09:25:34 am »

CHÍNH QUYỀN NÍCH-XƠN BUỘC CÁCH MẠNG PHẢI HÀNH ĐỘNG

Đặc điểm của những kế hoạch và hành động của Cách mạng sau năm 1968 là tính thận trọng và thực dụng. Bằng một ý nghĩa nghiêm túc, có thể nói rằng thế chủ động chiến lược đã tạm thời chuyển sang kẻ thù, và chính từ kinh nghiệm này mà Đảng có thể bắt đầu đánh giá một cách chính xác những hạn chế và những khả năng của mình.

Kỳ lạ thay, quyết định tháng 4 năm 1970, đưa ra một cách nông cạn của Mỹ biến cuộc chiến tranh ở Nam Việt Nam thành cuộc đấu tranh cho toàn Đông Dương, đã phán quyết trước thất bại cho Việt Nam cộng hòa. Ngoài tác động chính trị của nó ở Mỹ ra, cố gắng đó đã rải mỏng quân đội vốn đã mong manh của Sài Gòn ra một khu vực rộng hơn, đúng vào lúc Mỹ rút quân, phơi bày những nhược điểm của chương trình Việt Nam hóa.

Chiến dịch chống Cam-pu-chia tháng 5 năm 1970 đã buộc chặt không lực và tiềm lực kinh tế, quân sự Mỹ trong hơn ba năm và tạm thời kìm lực lượng xâm lược của Việt Nam cộng hòa trong một thời gian để cho chế độ Lon Non có thì giờ củng cố quyền lực. Tuy cuộc tiến công này có giúp Mỹ tranh thủ được một số tháng cho công cuộc Việt Nam hóa nhưng nó ấp ủ một số ảo tưởng về hầu như tất cả các mặt của chiến tranh và khuyến khích Mỹ đánh vào Lào và Cam-pu-chia một lần nữa năm sau.

Cuộc tiến công đầu tiên vào Cam-pu-chia đã làm cho quân đội cộng sản bất ngờ, nhưng những kế hoạch cho chiến dịch Lam Sơn 719 tháng 2 năm 1971 ở Lào và sau đó cuộc tiến công nhỏ hơn vào Cam-pu-chia lần nữa, đã bị lọt đến Cách mạng một cách chi tiết khá lâu trước cuộc tiến công và thậm chí trước khi được Mỹ thông qua. Tuy vậy chính quyền Mỹ tin rằng nó có thể tranh thủ được ít nhất hai năm cho quân đội Thiệu nếu phá hủy được đường mòn Hồ Chí Minh.

Sự yểm trợ của Mỹ cho chiến dịch này bị giới hạn chỉ vào việc vận chuyển bằng máy bay lên thẳng và việc ủng hộ bằng không quân. Cuộc tiến công của quân đội Việt Nam cộng hòa bị rơi vào một cái bẫy khổng lồ của Quân đội nhân dân Việt Nam được bố trí cẩn thận và phối hợp tuyệt vời với việc dùng  lần đầu tiên xe tăng T.54 và trọng pháo 130 mi-li-mét cùng với một hệ thống phòng không bảo vệ có thể bắn rơi máy bay lên thẳng. \

Bắt đầu từ ngày 8-2-1971, mười bảy nghìn quân thiện chiến nhất của Việt Nam cộng hòa được đưa đến Nam Lào để thực hiện một cuộc tiến công cơ động mà họ chưa quen. Thiệu đưa ra những chỉ thị bí mật ngày 12 tháng 2 để ngừng cuộc tiến công khi ba nghìn quân đã bị loại ra ngoài vòng chiến đấu và vào khoảng ngày 8 tháng 3, khi tổn thất về người và vật lực tăng lên, Thiệu ra lệnh rút lui mà không báo trước cho người Mỹ. Vào lúc đó chỉ có sự yểm trợ ào ạt của không quân Mỹ mới tránh được một thảm họa hoàn toàn cho các đơn vị ưu tú của Việt Nam cộng hòa phối hợp tồi và bị khiếp sợ.

Dù vậy, quân đội Việt Nam cộng hòa mất chín nghìn bị giết và bị thương và hai phần ba số xe cơ giới và trên bảy trăm máy bay lên thẳng và máy bay có cánh bị phá huỷ hoặc bị hư hại. Chiến dịch đã chuyển thành một thất bại khổng lồ cho ý đồ của chính quyền Mỹ và cho cả các kế hoạch họ đã vạch ra cho Việt Nam cộng hòa.

Cùng thời gian đó, bắt đầu từ ngày 8 tháng 2, một lực lượng quân đội Việt Nam cộng hòa vượt vào Cam-pu-chia để phá hủy các cơ sở và các kho tàng của Cách mạng ở trong hoặc quanh đồn điền cao su Chúp. Tư lệnh của cuộc hành quân bị giết trong một máy bay lên thẳng ngày 27 tháng 2 và vào giữa tháng 4, cuộc hành quân này cũng rút về trong thất bại.

Kít-xin-giơ nhận thấy Lam Sơn 719 là một thất vọng buồn thảm, và "Lào đã bộc lộ nhiều thiếu sót dai dẳng của họ (Việt Nam cộng hòa)". Thiệu đã tỏ ra là lừa dối và là một nhà lãnh đạo quân sự tồi. Các đơn vị tốt nhất của quân đội Việt Nam cộng hòa thiếu sự phối hợp, bị lãnh đạo tồi và hoàn toàn phụ thuộc vào không lực và hậu cần của Mỹ. Việt Nam cộng hòa không mạnh gì hơn trước khi Việt Nam hóa. Tình hình này làm mất tinh thần những người ủng hộ Việt Nam cộng hòa.

Các tướng Mỹ chắc chắn rằng chỉ có việc sử dụng đúng lúc và ào ạt sức mạnh không quân mới tránh được một sự tán loạn hoàn toàn. Nhưng trong khi các quan chức Mỹ có thể thừa nhận những điểm nói trên, lúc đó cũng như về sau, thì Tổng thống và Kít-xin-giơ bênh vực chiến dịch là đúng lúc để tranh thủ thời gian, cố ý không biết rằng chính Cộng sản mới có lợi nhất trong dịp này.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #137 vào lúc: 16 Tháng Chín, 2008, 09:26:13 am »

Quy mô của thất bại tất nhiên làm cho không thể nào chấp nhận được về mặt chính trị cũng như về mặt cá nhân, nhưng đồng thời nó cũng bộc lộ chỗ yếu tai hại của các nhà chiến lược Mỹ và của những người phụ thuộc họ. Lam Sơn 719, một cuộc chiến đấu trọng yếu của Việt Nam hóa là một thất bại hoàn toàn. Trên thực tế, những ảo tưởng cuối cùng của chính quyền Ních-xơn về tiềm lực của Việt Nam cộng hòa đã đưa họ đến việc mở chiến dịch Lào, Cam-pu-chia và vì thế mà phơi bày những điểm yếu quân sự nghiêm trọng của Việt Nam cộng hòa trong cuộc chiến tranh mà bây giờ đã được mở rộng ra toàn Đông Dương; những ảo tưởng đó cũng đưa lại những khó khăn chính trị ngày càng tăng cho Tổng thống ở trong nước.

Ngược lại các nhà lãnh đạo Đảng nghĩ rằng cuộc tiến công Lào đưa lại cho Cách mạng "kinh nghiệm rất cơ bản trong việc chỉ đạo, tổ chức và phát triển các lực lượng vũ trang nhất là quân chủ lực". Bây giờ đã thật rõ ràng cho họ rằng Việt Nam hóa không thành công trong khi những khả năng của Quân đội nhân dân Việt Nam tiến bộ rất lớn. Chỉ còn sức mạnh không quân Mỹ là đang cản trở thắng lợi. Quyết định tiến công và thất bại của Mỹ càng tăng thêm lòng tự tin của Bộ Chính trị sau hai năm củng cố lực lượng và hành động thận trọng.

Tháng 5 và đầu tháng 6, Bộ Chính trị họp để xem xét thời cơ chiến lược và quyết tâm "giành một thắng lợi quyết định trong năm 1972 và buộc đế quốc Mỹ chấm dứt chiến tranh bằng thương lượng từ một thế thất bại". Vì so sánh lực lượng chuyển mạnh sang có lợi cho mình, các nhà lãnh đạo quân sự của Đảng cho phép vạch kế hoạch cho một chiến dịch lớn để khai thác những điểm yếu và thế phòng ngự của Mỹ và Việt Nam cộng hòa.

Trong khi khẳng định lại sự quan tâm đến các cuộc chiến tranh song song ở Cam-pu-chia và Lào cũng như cuộc chiến tranh du kích ở Nam Việt Nam và cuộc đấu tranh đô thị, Bộ Chính trị nhấn mạnh việc chuẩn bị cho một cuộc tiến công của quân chủ lực, sử dụng vũ khí và sức cơ động đã bắt đầu được thí nghiệm trong chiến dịch Lam Sơn 719. Mục tiêu chủ yếu là tiêu diệt chủ lực của quân đội Việt Nam cộng hòa.

Cuối tháng 11, báo chí Mỹ đưa tin về các đoàn xe lớn đi vế phía nam và người ta bắt đầu phỏng đoán về thời gian và quy mô của cuộc tiến công. Phần đông các quan chức tiên đoán một cách sai lầm rằng vào khoảng tháng 2 sẽ là một cuộc tiến công nhỏ hơn nhiều và ngắn hơn nhiều so với cuộc tiến công Tết.

Thật kỳ lạ, nhiều người trong bọn họ, tuy khá thực tế đối với khả năng của Việt Nam cộng hòa lại ngờ vực về khả năng của Cộng sản và tin rằng Đảng còn quá yếu để có thể gây ra một thách thức lớn. Một số khác lại còn không chịu hiểu quy mô những điểm yếu của Việt Nam cộng hòa.

Trong khi đó thì báo chí của Việt Nam dân chủ cộng hòa và những chỉ thị của Đảng đầu năm 1972 đều hướng vào việc chuẩn bị tư tưởng cho công chúng đón nhận tình hình mới và những khả năng mới. Các sự kiện của năm 1971 đã được tổng kết kỹ lưỡng từ việc giảm quân Mỹ và tinh thần sa sút của họ cho đến việc xây dựng lực lượng du kích ở miền Nam và thất bại của bình định. Nhưng điều quan trọng nhất là Lam Sơn 719 và thất bại của Việt Nam hóa cũng như việc mở rộng chiến tranh ra Lào và Cam-pu-chia gây thành "những biến đổi sâu sắc" có lợi cho Cách mạng trên chiến trường.

"Những thắng lợi của năm 1971 đã tạo ra một thế chiến lược mới cực kỳ vững chắc... Khi chúng ta bước vào năm 1972 chúng ta đứng trước một thời cơ lớn và có thể phát triển nó một cách vô cùng đẹp đẽ". Điều duy nhất mà Đảng không nói về cuộc tiến công sắp đến là quy mô, địa điểm và thời gian của nó.

Nhận thức của Đảng về những chỗ yếu của mình và về sức mạnh của kẻ thù, đã làm cho Đảng tự kiềm chế sau năm 1968. Chỉ sau khi người Mỹ, vì tự lừa dối mình, đã hành động và phơi bày tình trạng mong manh của quân đội Việt Nam cộng hòa, Đảng mới có thể phân tích chính xác sức mạnh thực sự của chính mình và những lựa chọn tiềm tàng có thể có. Chính nhờ sự bộc lộ của những điều kiện mới, xác định so sánh lực lượng đó mà Đảng đã vượt qua được tính thận trọng của mình và đưa lại một điểm ngoặt trọng yếu trong chiến tranh.

Tất nhiên, vấn đề là ở chỗ liệu các ảo tưởng của Mỹ có tiếp tục che lấp khả năng nhìn thấy được thực tế của họ hay không hoặc là liệu họ có khả năng ngoại giao và chính trị nào để thay thế hay không. Năm 1972 tỏ ra là một năm có thể thanh toán về mặt quân sự nhưng trong một cuộc xung đột có ý nghĩa toàn cầu và chống lại một nước giàu và mạnh như vậy, không thể hoàn toàn chắc rằng cán cân sức mạnh quân sự sẽ tỏ ra là nhân tố trọng yếu duy nhất. Như Bộ Chính trị đã hoàn toàn đoán trước, năm 1972 có thể chỉ mở cửa cho các phát triển khác, nhất là cho thương lượng. Và như vậy có thể tạo ra một kiểu trận đấu khác.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #138 vào lúc: 18 Tháng Chín, 2008, 10:20:49 am »

Chương ba mươi
MỸ VÀ VIỆT NAM CỘNG HOÀ: NHỮNG MÂU THUẪN CỦA VIỆT NAM HOÁ

Việt Nam hóa chiến tranh đã tăng thêm sự phụ thuộc của Oa-sinh-tơn vào một nhóm nhỏ những người ở Sài Gòn. Số phận cuối cùng của cố gắng rộng lớn của Mỹ nhằm tạo ra một cơ cấu có thể thay thế cho Cách mạng phụ thuộc vào chỗ mạnh và chỗ yếu của nhóm người đó cũng như vào hệ thống chính quyền và quân sự của họ. Thách thức cơ bản cho công cuộc to lớn của Mỹ là không rõ những nhà chiến thuật chính trị sắc sảo và tham lam đang cai trị Việt Nam cộng hòa có dùng quyền lực của họ để giải quyết các vấn đề không bờ bến của Việt Nam cộng hòa hay là cứ tiếp tục theo đuổi lợi ích cá nhân của chính mình.

Nhà Trắng tin rằng Việt Nam hóa trong một khung cảnh ngoại giao đúng đắn có thể đủ để cho Việt Nam cộng hòa sống sót mặc dù có những điểm yếu kém rõ ràng của họ. Về mặt chính trị, Nhà Trắng đã đặt số phận toàn bộ chính sách Việt Nam của mình vào một con người duy nhất, Nguyễn Văn Thiệu với hy vọng đạt được sự ổn định trong một thế giới đầy rẫy mưu đồ chính trị của Việt Nam cộng hòa.

Còn Lầu Năm Góc thì lại cố gắng tạo ra một đội quân với kỹ thuật tiên tiến dựa theo học thuyết và kiểu mẫu của Mỹ, tuy đã rõ ràng rằng kiểu mẫu đó là không thích hợp. Vì củng cố chế độ hiện có là điều thiết yếu nên quân đội phải phục vụ cho việc đó. Khi xảy ra mâu thuẫn giữa mục tiêu quân sự và mục tiêu chính trị, nghĩa là giữa lợi ích quân sự và việc giữ Thiệu nắm quyền, thì chính trị luôn luôn được ưu tiên.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #139 vào lúc: 18 Tháng Chín, 2008, 10:21:52 am »

MẶT QUÂN SỰ CỦA VIỆT NAM HÓA

Để thực hiện cam kết của Mỹ tạo ra một cơ cấu chống lại Cách mạng, việc xây dựng các lực lượng vũ trang của Việt Nam cộng hòa là rất cần thiết. Vào năm 1970, không có một cơ sở học thuyết nào nhất quán cho cố gắng đó mà chỉ đi theo một quá trình quen thuộc của giới quân sự Mỹ. Về chức năng, thì mục tiêu là xây dựng một đội quân có khả năng kiểm soát càng nhiều quần chúng càng tốt, nghĩa là một lực lượng khổng lồ làm nhiệm vụ bảo vệ tĩnh tại, biết dùng kỹ thuật và số lớn đạn dược. Ngoài ra cũng phải được huấn luyện và trang bị cho vận động chiến. Kết quả là một đội quân hết sức tốn kém, cả về mặt gây thiệt hại cho nền kinh tế và trật tự xã hội lẫn vế mặt phụ thuộc vĩnh viễn của nó vào viện trợ quân sự to lớn của Mỹ.

Quy mô của các lực lượng vũ trang Việt Nam cộng hòa đạt con số 1,1 triệu năm 1973, thu hút trên một nửa lực lượng nam giới giữa 18 và 35 tuổi. Lầu Năm Góc luôn luôn mở rộng không quân và trọng pháo của Việt Nam cộng hòa trên cơ sở không những quân đội Việt Nam cộng hòa duy trì ưu thế hoàn toàn về không quân mà còn dùng nó như một bộ phận của các cuộc hành quân.

Bắt đầu với chỉ 75 máy bay lên thẳng kiểu cũ năm 1968, Việt Nam cộng hòa có 657 chiếc kiểu mới nhất vào tháng 7 năm 1972. Như vậy là Việt Nam cộng hòa có "một trong những đội máy lên thẳng lớn nhất, tốn kém nhất và hiện đại nhất thế giới (Chú thích: Xem James L. Collins, Jr. "Sự phát triển và huấn luyện quân đội Nam Việt Nam, 1950 - 1972" (Bộ Lục quân Mỹ 1975), tr.113. ). Ngoài ra không quân gồm 740 máy bay, đứng thứ 4 về số lượng trên thế giới. Vào năm 1971, quân đội Việt Nam cộng hòa nhận ít nhất 1.000 pháo bức kích, 1.650 cối hạng nặng, trên 1.000 xe chở quân M113, 300 xe tăng và một hệ thống thông tin liên lạc tiên tiến để nối đội quân rải rộng đó với nhau. Số lượng trang bị mà đội quân đó nhận được là một điều bí ẩn vì sau khi Mỹ rút, Mỹ để lại một số lượng khổng lồ vật liệu.

Việc huấn luyện phi công, thợ máy và các kỹ thuật viên là một nhiệm vụ to lớn, tốn nhiều thì giờ, trong đó việc dạy tiếng Anh rất là quan trong. Khoảng mười hai nghìn người được đưa đi Mỹ và học tiếng là trước tiên. Nhiều trường đặc biệt đã được mở ra ở Nam Việt Nam và học viên phải mất ba mươi sáu tuần để học tiếng Anh. Kiểu này không hề có hiệu quả và trang bị càng hiện đại thì càng chóng hỏng.
Việc chuyển giao các căn cứ Mỹ cho quân đội Việt Nam cộng hòa là một công việc rất phức tạp vì các căn cứ rất rộng lớn và xa hoa lộng lẫy cho nên việc duy trì kỹ thuật là một vấn đề lớn. Hơn nữa cái gì có thể bán được ra thị trường tư nhân đều bị ăn cắp kể cả bóng đèn và vật liệu lợp nhà. Các căn cứ đòi hỏi thêm nhân lực và thời gian, do đó mà làm cho một đội quân đã tĩnh tại càng thêm tĩnh tại. C

Các tướng cấp cao Mỹ thấy trước quá trình hư hỏng sẽ nhanh chóng, nhưng không có cách gì khác nên đành phải chuyển các căn cứ cho quân đội Việt Nam cộng hòa. Hầu như tất cả các sĩ quan Mỹ đều xem các vấn đề bảo quản và hậu cần là những trở ngại không thể nào khắc phục được.

Những kinh nghiệm về Việt Nam hóa như vậy và tình hình chiến đấu thực tế của quân đội Việt Nam cộng hòa đã làm nản lòng những người Mỹ có quan hệ chặt chẽ với các lực lượng vũ trang Việt Nam cộng hòa. Họ có thể đôi khi đưa ra được một vài tiến bộ trong những đơn vị đặc biệt, nhưng vấn đề chính là các lực lượng Mỹ đã rút nhanh hơn quân đội Việt Nam cộng hòa có thể có tiến bộ.

Thật là mỉa mai, sau năm 1967 khi các hàng ngũ binh lính thường càng tăng lên nhiều thì chất lượng lại càng giảm sút; hiệu quả của các đơn vị trọng pháo cũng bị giảm sút và một ít sĩ quan tốt thì bị sử dụng quá mức.

Trang bị mới cũng có những tác dụng tương tự. Số lượng không bao giờ biến thành chất lượng. CIA viết tháng 4 năm 1970: "Thành tích của quân đội Việt Nam cộng hòa trong quá khứ không phải là thành tích gây được lòng tin vào hoạt động tương lai trong chiến tranh của chủ lực".
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM